ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ….…
Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Các đối tượng nghiên cứu
Tất cả bệnh nhân tai biến mạch máu não trong cộng đồng tại tỉnh An Giang năm 2013
Bệnh nhân bị liệt nửa người do tai biến mạch máu não đã được xác định lần đầu tiên thông qua lâm sàng và chụp CT scanner sọ não Trường hợp này đã được điều trị thành công trong giai đoạn cấp tại tỉnh An Giang vào năm 2013.
- Bệnh nhân và gia đình đồng ý tham gia nghiên cứu
- Liệt nửa người do nguyên nhân khác không phải là tai biến mạch máu não như liệt nửa người do chấn thương
Bệnh nhân mắc các bệnh lý nội khoa nặng như suy tim và suy thận, cùng với các bệnh lý khác ảnh hưởng đến chức năng vận động như gút và dị tật, có nguy cơ cao hơn khi bị tai biến mạch máu não Ngoài ra, các vấn đề tâm thần cũng có thể làm tăng mức độ nghiêm trọng của tình trạng sức khỏe này.
2.1.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 01/2013 đến tháng 12/2013 tại tỉnh
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu theo mô tả cắt ngang và nghiên cứu can thiệp
2.2.2 Cỡ mẫu Áp dụng công thức tính cỡ mẫu để ước lượng một tỷ lệ trong quần thể nghiên cứu
- n: Cỡ mẫu nhỏ nhất hợp lý nghiên cứu
Khi α = 0,05, độ tin cậy 95% thì khi đó hệ số tin cậy Z= 1,96
- p: Theo nghiên cứu của tác giả Trần Văn Chương, Lê Thị Thảo năm
2009, nhu cầu phục hồi chức năng của bệnh nhân liệt nửa người sau tai biến mạch máu não là 80,4% [11] Chọn p = 0,8
Sai số mong muốn của nghiên cứu, ký hiệu là d, là khoảng sai lệch giữa tỷ lệ thu được từ mẫu nghiên cứu và tỷ lệ p của quần thể nghiên cứu trước đây Thông thường, giá trị d được chọn là 5% hay 0,05.
Thay vào công thức tính mẫu
Cỡ mẫu cho nghiên cứu được tính là n = 246 Để đảm bảo tính chính xác, chúng tôi nhân với hệ số hiệu ứng thiết kế là 1,5, dẫn đến cỡ mẫu tạm thời là 369 Thêm vào đó, để dự phòng hao hụt, cỡ mẫu sẽ được tăng thêm 10%, tương đương với 37 Do đó, cỡ mẫu cuối cùng cho nghiên cứu là n = 406.
Chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu trên 415 đối tượng được chẩn đoán tai biến mạch máu não thông qua việc thăm khám triệu chứng lâm sàng và kết quả CT scanner Trong số đó, 366 đối tượng đã được chọn để tham gia vào nghiên cứu can thiệp, tập trung vào nhu cầu chăm sóc và phục hồi chức năng vận động.
Tất cả bệnh nhân tai biến mạch máu não có hồ sơ nhập viện tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang trong năm 2013 đã được chọn Sau khi ra viện, những bệnh nhân có nhu cầu chăm sóc và phục hồi chức năng sẽ được khảo sát để đưa vào mẫu nghiên cứu can thiệp.
2.2.4.1 Đặc điểm chung của bệnh nhân tai biến mạch máu não
+ Dưới 60 + Từ 60 tuổi trở lên
+ Nông dân + Hưu và trên 60 tuổi + Nghề khác (dịch vụ, hành chính-sự nghiệp, trí thức, y tế)
+ Nhồi máu não + Xuất huyết não
2.2.4.2 Các nhu cầu chăm sóc và phục hồi chức năng
- Bệnh nhân có nhu cầu khi Barthel Index ≤ 95 điểm
- Đánh giá tình trạng độc lập chức năng thực hiện các hoạt động sống hàng ngày theo Barthel Index được đánh giá qua 10 chỉ số:
+ Ăn uống + Tắm + Kiểm soát đại tiện + Kiểm soát đi tiểu + Vệ sinh cá nhân + Thay quần áo + Sử dụng nhà vệ sinh
+ Di chuyển từ giường sang ghế hoặc xe lăn và ngược lại + Đi bộ trên mặt bằng
+ Đi lên hoặc đi xuống cầu thang bậc thềm nhà
- Thang điểm đánh giá mức độ thực hiện các hoạt động sống hàng ngày Đánh giá thang điểm Barthel (Bảng 2.1):
Hoạt động độc lập được đánh giá từ 95-100 điểm, trong khi hoạt động phụ thuộc ít có điểm số từ 65-90 Hoạt động phụ thuộc nhiều nhận điểm từ 30-60, và hoạt động phụ thuộc hoàn toàn chỉ đạt 0-25 điểm Để thuận tiện cho việc đánh giá, chúng tôi đã gộp mức độ hoạt động phụ thuộc ít và nhiều thành mức độ hoạt động phụ thuộc một phần.
Bảng 2.1 Thang điểm đánh giá theo Barthel
Mục Mức độ thực hiện Điểm chuẩn Ăn uống
- Tự xúc, gắp thức ăn
- Cần sự giúp đỡ một phần
- Đôi lúc cần giúp đỡ
- Đôi lúc cần giúp đỡ
Vệ sinh cá nhân - Tự rửa mặt, chải đầu
- Cần giúp đỡ một phần
Sử dụng nhà vệ sinh
- Đôi khi cần sự giúp đỡ
- Cần giúp đỡ, tự ngồi
- Cần giúp đỡ hoàn toàn
- Đi được 50m có người dìu
- Không bước được phải vịn xe lăn
- Cần giúp đỡ hoàn toàn
* Nhu cầu phục hồi chức năng vận động Đánh giá theo thang điểm Orgogozo và Fugl-Meyer scale
- Nhu cầu phục hồi chức năng được xác định khi điểm đánh giá theo thang điểm Orgogozo ≤ 90 điểm
- Đánh giá di chứng, phục hồi chức năng vận động theo thang điểm Orgogozo với 10 chỉ số:
+ Tri giác + Giao tiếp + Cử động mắt và đầu + Vận động mặt
+ Nâng cánh tay + Vận động bàn tay + Trương lực chi trên + Nâng chân
+ Gấp bàn chân + Trương lực chi dưới
- Đánh giá và nhận định các loại vận động:
- Thang điểm đánh giá mức độ di chứng, phục hồi chức năng vận động
- Đánh giá thang điểm Orgogozo (Bảng 2.2):
+ Phục hồi tốt ít di chứng: trên 90 – 100 điểm + Phục hồi khá tốt: 50 – 90 điểm
+ Phục hồi kém: dưới 50 điểm
Bảng 2.2 Thang điểm đánh giá di chứng Orgogozo
Không thể giao tiếp được 0
Cử động mắt và đầu
Hạn chế đưa 2 mắt vào một điểm 5
Không thể tự quay đầu 0
Vận động mặt Bình thường 5
Khéo léo (có hạn chế sử dụng bàn tay) 10
Còn hữu dụng (còn động tác nắm) 5
Không còn hữu dụng (hoàn toàn không vận động) 0
Trương lực chi trên Bình thường 5
Co cứng hoặc mềm nhũn 0
Chống lại được sức cản 10
Vận động không tải (chống được trọng lực) 5
Không thể thực hiện được 0
Bình thường hay chống lại được sức cản 10
Vận động không tải (chống được trọng lực) 5
Co cứng hoặc mềm nhũn 0
** Đánh giá theo Fugl-Meyer scale
- Nhu cầu phục hồi chức năng được xác định khi điểm đánh giá theo thang điểm Fugl-Meyer scale khi điểm đánh giá vận động ≤ 1
- Đánh giá các động tác:
+ Tự lăn để nằm nghiêng sang hai bên khi nằm
+ Vận động gấp, duỗi được tay và chân liệt khi nằm
+ Tự ngồi dậy khi có người khác giúp
+ Tự ngồi và giữ thăng bằng
+ Tự ngồi và giữ thăng bằng khi có người khác giúp
+ Vận động được chân tay liệt khi ngồi
+ Tự đứng dậy khi có người khác giúp
+ Tự đứng và giữ thăng bằng
+ Tự đứng và giữ thăng bằng khi có người khác giúp
+ Tự vận động tay, chân bên liệt khi đứng
+ Tự đi lại khi có người khác giúp
+ Tự đi lên xuống cầu thang, bậc thềm nhà
+ Tự đi lên xuống cầu thang, bậc thềm nhà khi có người khác giúp
Bảng 2.3 Nội dung đánh giá các loại vận động theo Fugl-Meyer scale Các loại vận động
Ngồi dậy Không ngồi được Cần trợ giúp Tự ngồi Đứng lên Không đứng được Cần trợ giúp Tự đứng Đi Không đi được Cần trợ giúp Tự đi
2.2.4.3 Đánh giá kết quả chăm sóc và phục hồi chức năng
* Đánh giá kết quả chăm sóc trước và sau can thiệp theo thang điểm Barthel
- So sánh kết quả chăm sóc trước và sau can thiệp
* Đánh giá kết quả phục hồi chức năng trước và sau can thiệp theo thang điểm Orgogozo và Fugl-Meyer scale
- Đánh giá kết quả phục hồi chức năng trước và sau can thiệp theo thang điểm Orgogozo
+ So sánh phục hồi chức năng trước và sau can thiệp
- Đánh giá kết quả phục hồi chức năng trước và sau can thiệp theo thang điểm Fugl-Meyer scale
+ So sánh vận động ngồi trước và sau can thiệp
+ So sánh vận động đứng trước và sau can thiệp
+ So sánh vận động đi trước và sau can thiệp
2.2.4.4 Các yếu tố liên quan đến kết quả chăm sóc và phục hồi chức năng
* Yếu tố liên quan đến kết quả chăm sóc
- Liên quan giữa tuổi và kết quả chăm sóc
- Liên quan giữa giới và kết quả chăm sóc
- Liên quan giữa nghề nghiệp và kết quả chăm sóc
- Liên quan giữa bên bị liệt và kết quả chăm sóc
- Liên quan giữa loại tổn thương não và kết quả chăm sóc
* Yếu tố liên quan đến kết quả phục hồi chức năng
- Yếu tố liên quan đến kết quả phục hồi chức năng theo thang điểm Orgogozo
+ Liên quan giữa tuổi và kết quả phục hồi chức năng vận động
+ Liên quan giữa giới và kết quả phục hồi chức năng vận động
+ Liên quan giữa nghề nghiệp và kết quả phục hồi chức năng vận động
Mối liên hệ giữa bên bị liệt và kết quả phục hồi chức năng vận động cho thấy rằng sự phục hồi có thể khác nhau tùy thuộc vào bên cơ thể bị ảnh hưởng Đồng thời, loại tổn thương não cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định hiệu quả của quá trình phục hồi chức năng vận động Các nghiên cứu chỉ ra rằng việc hiểu rõ mối quan hệ này có thể giúp cải thiện các phương pháp điều trị và tăng cường khả năng phục hồi cho bệnh nhân.
- Yếu tố liên quan đến kết quả phục hồi chức năng theo thang điểm Fugl-meyer scale
+ Yếu tố liên quan đến kết quả phục hồi chức năng vận động ngồi
Mối liên hệ giữa tuổi tác và kết quả phục hồi chức năng vận động ngồi cho thấy rằng độ tuổi có thể ảnh hưởng đến khả năng phục hồi Bên cạnh đó, giới tính cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định hiệu quả của quá trình phục hồi chức năng vận động ngồi Cuối cùng, nghề nghiệp của từng cá nhân có thể tác động đến kết quả phục hồi, cho thấy sự cần thiết phải xem xét các yếu tố này trong quá trình điều trị.
++ Liên quan giữa bên bị liệt và kết quả phục hồi chức năng vận động ngồi
++ Liên quan giữa loại tổn thương não và kết quả phục hồi chức năng vận động ngồi
+ Yếu tố liên quan đến kết quả phục hồi chức năng vận động đứng
Mối liên hệ giữa tuổi tác và kết quả phục hồi chức năng vận động đứng cho thấy rằng độ tuổi có thể ảnh hưởng đến khả năng phục hồi Bên cạnh đó, giới tính cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định hiệu quả của quá trình phục hồi chức năng vận động đứng Cuối cùng, nghề nghiệp của từng cá nhân có thể tác động đến kết quả phục hồi, cho thấy sự cần thiết phải xem xét các yếu tố này trong quá trình điều trị.
++ Liên quan giữa bên bị liệt và kết quả phục hồi chức năng vận động đứng
++ Liên quan giữa loại tổn thương não và kết quả phục hồi chức năng vận động đứng
+ Yếu tố liên quan đến kết quả phục hồi chức năng vận động đi
++ Liên quan giữa tuổi và kết quả PHCN vận động đi ++ Liên quan giữa giới và kết quả PHCN vận động đi
++ Liên quan giữa nghề nghiệp và kết quả phục hồi chức năng vận động đi
++ Liên quan giữa bên bị liệt và kết quả phục hồi chức năng vận động đi
++ Liên quan giữa loại tổn thương não và kết quả phục hồi chức năng vận động đi
2.2.5 Phương pháp thu thập và đánh giá số liệu
* Bước 1: Xác định bệnh nhân liệt nửa người do TBMMN
* Bước 2: Xác định bệnh nhân liệt nửa người do TBMMN có nhu cầu chăm sóc và phục hồi chức năng đưa vào bước 3
* Bước 3: Thiết kế bộ câu hỏi và soạn các mẫu biểu
Thiết kế mẫu biểu và bảng điều tra cho bệnh nhân tai biến mạch máu não cần đảm bảo đầy đủ thông tin, ngắn gọn, dễ hiểu và dễ ghi chép để tránh nhầm lẫn Bộ câu hỏi phải phù hợp với trình độ dân trí và phong tục tập quán địa phương, đồng thời đáp ứng yêu cầu nội dung điều tra.
Bước 4 trong quá trình triển khai điều tra cộng đồng là liên hệ với các Trung tâm y tế để được giới thiệu về các Trạm y tế xã, phường, nhằm tìm kiếm những bệnh nhân tai biến mạch máu não (TBMMN) cần chăm sóc và phục hồi chức năng tại địa phương Nhân viên y tế tại các trạm y tế sẽ được tập huấn kỹ lưỡng về nội dung điều tra và yêu cầu thu thập thông tin theo chương trình Đồng thời, cần lựa chọn cộng tác viên có thời gian, nhiệt tình, uy tín và trách nhiệm, cùng với kiến thức về y tế để tuyên truyền và vận động bệnh nhân tham gia.
* Bước 5: Thu thập số liệu, nhập các thông tin thu nhận được vào chương trình đã được viết trước cho nghiên cứu, chờ xử lý thống kê
* Quy trình kỹ thuật phục hồi chức năng cho bệnh nhân TBMMN
- Khám lâm sàng xác định đối tượng nghiên cứu
Sau khi người bệnh được điều trị qua giai đoạn cấp tại khoa Cấp cứu, khoa Hồi sức tích cực và khoa Nội thần kinh của Bệnh viện Đa khoa Trung tâm, quá trình phục hồi tiếp tục được theo dõi và chăm sóc.
An Giang đã lựa chọn bệnh nhân để đưa vào danh sách nghiên cứu Họ tiến hành lập phiếu đánh giá và theo dõi, khảo sát nhu cầu chăm sóc cũng như phục hồi chức năng cho người bệnh khi trở về nhà.
Thực hiện các bài tập phục hồi chức năng phù hợp với tình trạng của người bệnh là rất quan trọng Trong quá trình này, cần hướng dẫn người nhà và bệnh nhân cách chăm sóc người bệnh tai biến mạch máu não ngay từ giai đoạn đầu Các động tác và bài tập thích hợp sẽ giúp phục hồi chức năng do di chứng tai biến, cho phép người nhà và bệnh nhân tự luyện tập tại nhà.
- Bố trí giường nằm cho người bệnh
Bố trí giường nằm hợp lý giúp nửa người bị liệt tiếp xúc nhiều hơn với các kích thích tự nhiên qua thị giác, thính giác, cảm giác và vận động.
++ Bên liệt nằm phía ngoài ++ Tất cả đồ dùng sinh hoạt để phía bên liệt ++ Không kê đầu giường lên quá cao
- Các vị thế nằm đúng của người bệnh theo mẫu phục hồi
Vị thế đúng giúp người bệnh tránh được loét do đè ép và tránh mẫu co cứng tạo thuận lợi cho quá trình phục hồi
Để chăm sóc bệnh nhân hiệu quả, cần thực hiện các tư thế nằm đúng cách Bệnh nhân nên nằm ngửa với tay duỗi dọc theo thân hoặc tay duỗi lên phía đầu Khi nằm nghiêng, cần chú ý nghiêng về phía bên liệt hoặc bên lành Nếu nằm sấp, đầu nên quay về phía lành Thay đổi tư thế cho bệnh nhân thường xuyên mỗi 2-4 giờ là rất quan trọng Tránh sử dụng gối quá cao và đảm bảo vai không bị đè lên, đồng thời khớp vai cần được kéo ra trước và xoay ngoài khi nằm nghiêng.
++ Khi nằm sấp để một gối nhỏ ở cẳng chân bên liệt để gối hơi gấp, tay liệt để phía sau dọc thân, bàn tay ngửa, chân lành duỗi
- Các bài tập vận động chung
+ Tập vận động nửa người bên liệt
Đạo đức trong nghiên cứu
Tất cả bệnh nhân trong các nhóm nghiên cứu đã tham gia một cách tự nguyện, và thông tin cá nhân cũng như tình trạng sức khỏe của họ được bảo mật hoàn toàn.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Tỷ lệ người bệnh có nhu cầu chăm sóc và PHCN vận động
3.1.1 Nhu cầu chăm sóc và phục hồi chức năng vận động
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ bệnh nhân có nhu cầu chăm sóc và phục hồi chức năng
Tổng số người bệnh liệt nửa người doTBMMN là 415
Số bệnh nhân có nhu cầu chăm sóc và phục hồi chức năng vận động là
Số bệnh nhân không có nhu cầu chăm sóc và phục hồi chức năng vận động là 49 người, chiếm tỷ lệ 11,8%
3.1.1.1 Đặc điểm của mẫu nghiên cứu theo nhóm tuổi
Bảng 3.1 Đặc tính của mẫu nghiên cứu theo nhóm tuổi
Nhóm tuổi dưới 60 chiếm tỷ lệ thấp (33%), nhóm tuổi từ 60 trở lên chiếm tỷ lệ cao (67%)
Tuổi nhỏ nhất là 23, Tuổi trung bình là 67,87, Tuổi lớn nhất là 97
3.1.1.2 Đặc điểm của mẫu nghiên cứu theo giới
Bảng 3.2 Đặc tính của mẫu nghiên cứu theo giới tính
Bệnh nhân nữ là 208 chiếm tỷ lệ 50,1%, bệnh nhân nam là 207 chiếm tỷ lệ 49,9%
Tỷ lệ nam và nữ gần tương đương nhau
3.1.1.3 Tỷ lệ của mẫu nghiên cứu theo nghề nghiệp
Bảng 3.3 Tỷ lệ của mẫu nghiên cứu theo nghề nghiệp
Người bệnh là nông dân chiếm tỷ lệ thấp nhất (8,7%), người bệnh là hưu trí, trên 60 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (61%)
3.1.1.4 Đặc điểm của mẫu nghiên cứu theo bên liệt
Bảng 3.4 Tỷ lệ của mẫu nghiên cứu theo bên liệt
Bệnh nhân liệt bên phải chiếm tỷ lệ 48,9%, bệnh nhân liệt bên trái chiếm tỷ lệ 51,1%
Tỷ lệ liệt bên trái và liệt bên phải gần tương đương nhau
3.1.1.5 Đặc điểm của mẫu nghiên cứu theo loại tổn thương
Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ của mẫu nghiên cứu theo loại tổn thương
Tổn thương do nhồi máu não là 319 người chiếm tỷ lệ cao (76,9%), tổn thương do xuất huyết não 96 người chiếm tỷ lệ thấp (23,1%)
3.2 Đánh giá kết quả chăm sóc và phục hồi chức năng sau can thiệp 3.2.1 Đánh giá kết quả chăm sóc trước và sau can thiệp
Bảng 3.5 So sánh kết quả chăm sóc trước và sau khi can thiệp
Trước can thiệp Sau 3 tháng p n Tỷ lệ
Phụ thuộc một phần 118 32,2 198 54,1 Độc lập 10 2,7 21 5,7
Trước can thiệp, 238 bệnh nhân (65%) hoàn toàn phụ thuộc vào các hoạt động sống hàng ngày Sau can thiệp, con số này giảm xuống còn 147 bệnh nhân (40,2%) Trong khi đó, số bệnh nhân hoàn toàn độc lập trước can thiệp chỉ có 10 người (2,7%), nhưng sau can thiệp, con số này đã tăng lên 21 bệnh nhân (5,7%).
Sự khác biệt mức độ phụ thuộc hoàn toàn các hoạt động sống hàng ngày trước và sau khi can thiệp có ý nghĩa thống kê với p < 0,001
3.2.2 Đánh giá kết quả phục hồi chức năng trước và sau can thiệp theo thang điểm Orgogozo
Bảng 3.6 So sánh phục hồi chức năng trước và sau can thiệp
Trước can thiệp Sau 3 tháng n % n % p
Phục hồi tốt ít di chứng 10 2,7 23 6,3
Trước can thiệp, mức độ phục hồi kém là 62,2%, nhưng sau khi can thiệp, con số này giảm xuống còn 39,6% Sự khác biệt này cho thấy mức độ phục hồi chức năng trước và sau can thiệp có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.
3.2.3 Đánh giá kết quả phục hồi chức năng theo thang điểm Fugl-Meyer scale trước và sau can thiệp
Bảng 3.7 So sánh vận động ngồi trước và sau can thiệp
Trước can thiệp Sau 3 tháng p n % n %
Trước can thiệp, khả năng không tự ngồi được là 45,6% Sau can thiệp, khả năng không tự ngồi được giảm còn 8,7%
Sự khác biệt mức độ vận động ngồi trước và sau khi can thiệp có ý nghĩa thống kê với p < 0,001
Bảng 3.8 So sánh vận động đứng trước và sau can thiệp
Trước can thiệp Sau 3 tháng p n % n %
Trước can thiệp, khả năng không tự đứng được là 53% Sau can thiệp, khả năng không tự đứng được giảm còn 14,5%
Sự khác biệt mức độ vận động đứng trước và sau khi can thiệp có ý nghĩa thống kê với p < 0,001
Bảng 3.9 So sánh vận động đi trước và sau can thiệp
Trước can thiệp Sau 3 tháng p n % n %
Trước can thiệp, khả năng không tự đi được của mẫu nghiên cứu là 78,4% Sau can thiệp, khả năng không tự đi được của mẫu nghiên cứu giảm còn 31,1%
Sự khác biệt mức độ vận động đi trước và sau khi can thiệp có ý nghĩa thống kê với p < 0,001
3.3 Một số yếu tố liên quan đến kết quả chăm sóc và phục hồi chức năng 3.3.1 Một số yếu tố liên quan đến kết quả chăm sóc
Bảng 3.10 Liên quan giữa tuổi và kết quả chăm sóc
Phụ thuộc một phần Độc lập p n % n % n %
Mức độ phụ thuộc hoàn toàn ở nhóm tuổi dưới 60 là 0,5%, nhóm tuổi từ 60 trở lên là 39,6% Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001
Bảng 3.11 Liên quan giữa giới và kết quả chăm sóc
Phụ thuộc một phần Độc lập p n % n % n %
Mức độ phụ thuộc hoàn toàn ở phái nữ là 21,3%, ở phái nam là 18,9%
Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05
Bảng 3.12 Liên quan giữa nghề nghiệp và kết quả chăm sóc
Phụ thuộc một phần Độc lập p n % n % n %
Mức độ phụ thuộc hoàn toàn ở nhóm nông dân là 0,8%, ở nhóm hưu và trên 60 tuổi là 37,4%, nhóm nghề khác là 1,9% Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001
Bảng 3.13 Liên quan giữa bên bị liệt và kết quả chăm sóc
Phụ thuộc một phần Độc lập p n % n % n %
Mức độ phụ thuộc hoàn toàn ở bệnh nhân bị liệt nửa người bên phải là 20,5%, trong khi ở bệnh nhân bị liệt nửa người bên trái là 19,7% Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.
Bảng 3.14 Liên quan giữa loại tổn thương não và kết quả chăm sóc
Phụ thuộc một phần Độc lập p n % n % n %
Mức độ phụ thuộc hoàn toàn ở bệnh nhân tổn thương nhồi máu não đạt 28,1%, trong khi ở bệnh nhân tổn thương xuất huyết não chỉ là 12% Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
3.3.2 Một số yếu tố liên quan đến kết quả phục hồi chức năng
3.3.2.1 Một số yếu tố liên quan đến kết quả phục hồi chức năng theo thang điểm Orgogozo
Bảng 3.15 Liên quan giữa tuổi và kết quả phục hồi chức năng
Phục hồi tốt ít di chứng p n % n % n %
Mức độ phục hồi kém nhóm tuổi dưới 60 là 0,3%, ở nhóm tuổi từ 60 tuổi trở lên là 39,3% Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001
Bảng 3.16 Liên quan giữa giới và kết quả phục hồi chức năng
Phục hồi tốt ít di chứng p n % n % n %
Mức độ phục hồi kém ở phái nữ là 21%, ở phái nam là 18,6% Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05
Bảng 3.17 Liên quan giữa nghề nghiệp và kết quả phục hồi chức năng
Phục hồi tốt ít di chứng p n % n % n %
Mức độ phục hồi kém ở nhóm nghề nghiệp nông dân là 0,8%, nhóm hưu và trên 60 tuổi là 37,2%, ở nhóm nghề khác là 1,6% Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001
Bảng 3.18 Liên quan giữa bên liệt và kết quả phục hồi chức năng
Phục hồi tốt ít di chứng p n % n % n %
Mức độ phục hồi kém ở liệt bên phải là 20,2%, liệt bên trái là 19,4%
Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05
Bảng 3.19 Liên quan giữa loại tổn thương và kết quả phục hồi chức năng
Phục hồi tốt ít di chứng p n % n % n %
Mức độ phục hồi kém ở tổn thương nhồi máu não (28,4%), xuất huyết não (11,2%) Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05
3.3.2.2 Một số yếu tố liên quan đến kết quả phục hồi chức năng theo thang điểm Fugl-Meyer scale
* Một số yếu tố liên quan đến kết quả phục hồi chức năng vận động ngồi Bảng 3.20 Liên quan giữa tuổi và kết quả PHCN vận động ngồi
Không ngồi được Cần trợ giúp Tự ngồi p n % n % n %
Tỷ lệ không ngồi được ở nhóm tuổi dưới 60 là 0%, nhóm tuổi từ 60 trở lên là 8,7% Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001
Bảng 3.21 Liên quan giữa giới và kết quả PHCN vận động ngồi
Không ngồi được Cần trợ giúp Tự ngồi p n % n % n %
Tỷ lệ không ngồi được ở phái nữ là 5,2%, ở phái nam là 3,6% Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05
Bảng 3.22 Liên quan giữa nghề nghiệp và kết quả PHCN vận động ngồi
Cần trợ giúp Tự ngồi p n % n % n %
Tỷ lệ không ngồi được ở nhóm nông dân là 0%, ở nhóm hưu và trên 60 tuổi là 8,5%, nhóm nghề khác là 0,3% Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p
Bảng 3.23 Liên quan giữa bên bị liệt và kết quả PHCN vận động ngồi
Không ngồi được Cần trợ giúp Tự ngồi p n % n % n %
Tỷ lệ bệnh nhân không thể ngồi được do liệt nửa người bên phải là 4,6%, trong khi tỷ lệ này ở bệnh nhân liệt nửa người bên trái là 4,1% Sự khác biệt giữa hai nhóm không đạt ý nghĩa thống kê với p > 0,05.
Bảng 3.24 Liên quan giữa loại tổn thương não và kết quả PHCN vận động ngồi
Không ngồi được Cần trợ giúp Tự ngồi p n % n % n %
Tỷ lệ bệnh nhân không thể ngồi được do tổn thương nhồi máu não là 7,9%, trong khi tỷ lệ này ở bệnh nhân tổn thương xuất huyết não chỉ là 0,8% Sự khác biệt giữa hai nhóm không đạt ý nghĩa thống kê với p > 0,05.
* Một số yếu tố liên quan đến kết quả phục hồi chức năng vận động đứng Bảng 3.25 Liên quan giữa tuổi và kết quả PHCN vận động đứng
Không đứng được Cần trợ giúp Tự đứng p n % n % n %
Tỷ lệ không đứng được ở nhóm tuổi dưới 60 là 0%, nhóm tuổi từ 60 trở lên là 14,5% Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001
Bảng 3.26 Liên quan giữa giới và kết quả PHCN vận động đứng
Không đứng được Cần trợ giúp Tự đứng p n % n % n %
Tỷ lệ không đứng được ở phái nữ là 8,2%, ở phái nam là 6,3% Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05
Bảng 3.27 Liên quan giữa nghề nghiệp và kết quả PHCN vận động đứng
Không đứng được Cần trợ giúp Tự đứng p n % n % n %
Tỷ lệ không đứng được ở nhóm nông dân là 0%, ở nhóm hưu và trên 60 tuổi là 14,2%, nhóm nghề khác là 0,3% Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001
Bảng 3.28 Liên quan giữa bên bị liệt và kết quả PHCN vận động đứng
Không đứng được Cần trợ giúp Tự đứng p n % n % n %
Tỷ lệ không đứng được trên bệnh nhân bị liệt nửa người bên phải là 7,4%, trên bệnh nhân bị liệt nửa người bên trái là 7,1%
Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05
Bảng 3.29 Liên quan giữa loại tổn thương não và kết quả PHCN vận động đứng
Không đứng được Cần trợ giúp Tự đứng p n % n % n %
Tỷ lệ không đứng được trên bệnh nhân tổn thương nhồi máu não là 12,6%, trên bệnh nhân tổn thương xuất huyết não là 1,9%
Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05
* Một số yếu tố liên quan đến kết quả phục hồi chức năng vận động đi Bảng 3.30 Liên quan giữa tuổi và kết quả PHCN vận động đi
Không đi được Cần trợ giúp Tự đi p n % n % n %
Tỷ lệ không đi được ở nhóm tuổi dưới 60 là 0%, nhóm tuổi từ 60 trở lên là 31,1%
Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001
Bảng 3.31 Liên quan giữa giới và kết quả PHCN vận động đi
Không đi được Cần trợ giúp Tự đi p n % n % n %
Tỷ lệ không đi được ở phái nữ là 15%, ở phái nam là 16,1% Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05
Bảng 3.32 Liên quan giữa nghề nghiệp và kết quả PHCN vận động đi
Không đi được Cần trợ giúp Tự đi p n % n % n %
Tỷ lệ không đi được ở nhóm nông dân là 0,5%, ở nhóm hưu và trên 60 tuổi là 30,1%, nhóm nghề khác là 0,5% Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001
Bảng 3.33 Liên quan giữa bên bị liệt và kết quả PHCN vận động đi
Không đi được Cần trợ giúp Tự đi p n % n % n %
Tỷ lệ không đi được ở bệnh nhân liệt nửa người bên phải là 15%, trong khi ở bệnh nhân liệt nửa người bên trái là 16,1% Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.
Bảng 3.34 Liên quan giữa loại tổn thương não và kết quả PHCN vận động đi
Không đi được Cần trợ giúp Tự đi p n % n % n %
Tỷ lệ bệnh nhân không thể đi lại sau tổn thương nhồi máu não là 24,9%, trong khi tỷ lệ này ở bệnh nhân tổn thương xuất huyết não chỉ là 6,3% Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.
Một số yếu tố liên quan đến kết quả chăm sóc và PHCN
4.1 Tỷ lệ người bệnh tai biến mạch máu não có nhu cầu chăm sóc và phục hồi chức năng
Nghiên cứu 415 bệnh nhân tai biến mạch máu não tại Tỉnh An Giang năm 2013 cho thấy 88,2% bệnh nhân, tương đương 366 người, có nhu cầu chăm sóc và phục hồi chức năng Tỷ lệ di chứng và tàn tật sau tai biến mạch máu não rất cao, điều này dẫn đến nhu cầu chăm sóc và phục hồi chức năng về thể chất, nhận thức, giao tiếp, tình cảm, xã hội, nghề nghiệp và vận động Người dân hiện nay rất quan tâm đến việc tái hòa nhập cộng đồng và trở lại công việc trước khi bị bệnh.
Nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với nhiều tác giả trong nước, cho thấy nhu cầu phục hồi chức năng của bệnh nhân tai biến mạch máu não là rất cao Cụ thể, Trần Văn Chương (2003) chỉ ra rằng 87,3% bệnh nhân cần hỗ trợ phục hồi chức năng tại nhà Nguyễn Văn Đăng (2008) cho biết tỷ lệ này ở bệnh nhân liệt nửa người dao động từ 92 đến 96% Hơn nữa, Nguyễn Dương Hanh (2012) cho thấy nhu cầu phục hồi chức năng đạt 98,28% ở trẻ em dưới 15 tuổi và 100% ở người khuyết tật trên 59 tuổi Những số liệu này cũng tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Thị Huệ.
[26] (2009) là 80,0% và của Nguyễn Văn Tư [58] (2005) là 97,3%
Trong những năm gần đây, tai biến mạch máu não (TBMMN) đang có xu hướng gia tăng Mặc dù đã có nhiều tiến bộ trong việc cứu chữa và phục hồi chức năng, nhưng bệnh này vẫn rất nặng nề và phức tạp, dẫn đến tỷ lệ tử vong cao và thường để lại nhiều di chứng Những di chứng này gây trở ngại và khó khăn trong cuộc sống, dễ dẫn đến tình trạng tàn tật Trên toàn thế giới, di chứng sau TBMMN được xếp vào loại đa tàn tật.
BÀN LUẬN
Kết quả chăm sóc và phục hồi chức năng sau can thiệp
4.2.1 Kết quả chăm sóc trước và sau can thiệp
Trong nghiên cứu của chúng tôi, trước can thiệp, có 238 bệnh nhân hoàn toàn phụ thuộc vào các hoạt động sống hàng ngày, chiếm 65% Sau 3 tháng can thiệp, số bệnh nhân phụ thuộc hoàn toàn giảm xuống còn 147, tương đương 40,2% Số bệnh nhân có mức độ độc lập hoàn toàn trước can thiệp là 10, chiếm 2,7%, nhưng sau can thiệp, con số này tăng lên 21, chiếm 5,7% Sự khác biệt về mức độ thực hiện các hoạt động sống hàng ngày trước và sau can thiệp có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với nhiều tác giả trong và ngoài nước Cao Minh Châu (2001) đã nghiên cứu trên 269 bệnh nhân TBMMN tại 5 tỉnh Miền Bắc, cho thấy sau 1 năm, số bệnh nhân phụ thuộc hoàn toàn trước can thiệp là 64, chiếm tỷ lệ 23,79%, giảm còn 16, chiếm tỷ lệ 5,95% sau can thiệp Mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày từ 5,2% trước can thiệp đã tăng lên 46,84% sau can thiệp (p < 0,01).
Nghiên cứu năm 2009 trên 102 bệnh nhân liệt nửa người do TBMMN cho thấy 71,4% bệnh nhân có khả năng tập luyện PHCN độc lập trong các hoạt động tự chăm sóc bản thân, trong khi chỉ 31,4% bệnh nhân không được tập luyện PHCN có thể làm điều này (p < 0,05) Lê Huy Cường (2010) ghi nhận sau 3 tháng can thiệp trên 35 bệnh nhân, tỷ lệ phụ thuộc hoàn toàn giảm từ 42,8% xuống 20%, và tỷ lệ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày tăng từ 22,9% lên 60% (p < 0,05) Nguyễn Ngọc Lan (2004) cho thấy trong nghiên cứu trên 331 bệnh nhân, tỷ lệ độc lập hoàn toàn từ 0% trước can thiệp tăng lên 16,1% sau can thiệp, trong khi tỷ lệ phụ thuộc hoàn toàn giảm từ 6,4% xuống 1,6% Trần Thị Mỹ Luật (2008) cũng ghi nhận sau 6 tuần can thiệp trên 62 bệnh nhân, tỷ lệ phụ thuộc hoàn toàn giảm từ 75,8% xuống 12,9%, và tỷ lệ độc lập trong các hoạt động sống hàng ngày tăng từ 1,6% lên 20,9% (p < 0,01).
Nghiên cứu của [60] (1993) trên 180 bệnh nhân liệt nửa người do TBMMN cho thấy có sự cải thiện đáng kể về tỷ lệ thực hiện các hoạt động sống hàng ngày, tỷ lệ trầm cảm và tỷ lệ tái hội nhập cộng đồng trước và sau can thiệp với p < 0,001 Để đánh giá tình trạng độc lập chức năng trong sinh hoạt hàng ngày của người bệnh, chỉ số Barthel được sử dụng, một chỉ số đã được nhiều nhà nghiên cứu như Cao Minh Châu, Lê Huy Cường, Vũ Mạnh Hùng, Trần Thị Mỹ Luật, Nguyễn Văn Triệu, Javier C-A, Hsueh I-P và Jửnsson A-C áp dụng cả ở Việt Nam và trên thế giới.
Chỉ số Barthel bao gồm mười hoạt động sinh hoạt hàng ngày, liên quan đến các biểu hiện lâm sàng và tình trạng mất chức năng vận động Đây là một công cụ đơn giản, dễ sử dụng và cho kết quả đánh giá nhanh chóng.
Hiện nay, nhiều phương pháp phục hồi chức năng cho bệnh nhân tai biến mạch máu não (TBMMN) được áp dụng rộng rãi, trong đó nổi bật là phương pháp Bobath B, dựa trên nguyên tắc ức chế phản xạ Bên cạnh đó, phương pháp học lại chức năng vận động của Carr và Shepard cũng được sử dụng hiệu quả.
Liệt nửa người do tai biến mạch máu não ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng đứng, thăng bằng và đi lại, cũng như việc sử dụng chi trên và bàn tay trong sinh hoạt hàng ngày Bệnh nhân gặp khó khăn trong việc cầm nắm đồ vật và thực hiện các động tác tinh vi do chức năng bàn tay bị giảm sút Tại Việt Nam, phương pháp Bobath đã được các chuyên gia như Trần Văn Chương, Dương Xuân Đạm và Nguyễn Đăng Hà đánh giá là phù hợp cho việc phục hồi chức năng cho bệnh nhân liệt nửa người do tai biến mạch máu não, và khuyến nghị nên áp dụng rộng rãi trong nước.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi áp dụng chương trình tập luyện phục hồi chức năng cho bệnh nhân bị tai biến mạch máu não (TBMMN) sau giai đoạn cấp tại bệnh viện Sau khi xuất viện, bệnh nhân và người nhà được hướng dẫn chi tiết về các biện pháp phục hồi chức năng để tiếp tục tập luyện tại nhà.
4.2.2 Kết quả phục hồi chức năng trước và sau can thiệp
4.2.2.1 Kết quả phục hồi chức năng trước và sau can thiệp theo thang điểm Orgogozo
Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong nhóm bệnh nhân phục hồi kém trước can thiệp, có 229 bệnh nhân (62,6%), sau can thiệp con số này giảm xuống còn 145 bệnh nhân (39,6%) Ngược lại, nhóm phục hồi tốt từ 10 bệnh nhân (2,7%) trước can thiệp đã tăng lên 23 bệnh nhân (6,3%) sau can thiệp Sự khác biệt trong mức độ phục hồi chức năng vận động trước và sau can thiệp có ý nghĩa thống kê với p < 0,001 (Bảng 3.6).
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với nghiên cứu của Vương Thị Kim Chi (2007), cho thấy can thiệp trên 35 bệnh nhân liệt nửa người do tai biến mạch máu não đã cải thiện vận động với điểm số Orgogozo tăng từ 30,8 ± 2,8 lên 50,4 ± 4,1, tương ứng với mức tăng 63,64% (p < 0,01) Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Lan (2003) trên 311 bệnh nhân tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 cho thấy tỷ lệ phục hồi kém giảm từ 6,4% xuống 1,6% sau tập luyện, trong khi nhóm phục hồi tốt tăng từ 0% lên 16,7% Nguyễn Xuân Nghiên (2005) đã nghiên cứu 337 bệnh nhân TBMMN và nhận thấy sự cải thiện có ý nghĩa thống kê về mức độ khiếm khuyết thần kinh sau 1 năm, với OR = 4,17 (p = 0,00000656) giữa nhóm Orgogozo < 25 và nhóm Orgogozo ≥ 25, cũng như OR = 2,07 (p = 0,039) giữa nhóm Orgogozo < 60 và nhóm Orgogozo ≥ 60 Nghiên cứu này tại tỉnh Hải Dương đã đánh giá hiệu quả của phục hồi chức năng đối với bệnh nhân TBMMN.
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Triệu (2005) cho thấy trong số 115 bệnh nhân TBMMN, tỷ lệ bệnh nhân bị khiếm khuyết thần kinh nặng cao ở thời điểm nhập viện, nhưng đã giảm xuống còn 11,6% sau 3 tháng luyện tập phục hồi chức năng (p < 0,01).
Tai biến mạch máu não gây ra nhiều khiếm khuyết nghiêm trọng, ảnh hưởng đến chức năng vận động, ngôn ngữ, trí tuệ và giao tiếp, dẫn đến tình trạng tàn tật cho người bệnh.
Khi đánh giá kết quả điều trị và phục hồi chức năng cho bệnh nhân sau tai biến mạch máu não (TBMMN), cần xem xét toàn diện các yếu tố như khiếm khuyết thần kinh còn lại, khả năng độc lập chức năng, mức độ tàn tật, khả năng tái hội nhập xã hội và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.
Các tác giả đã đề xuất nhiều thang điểm đánh giá kết quả di chứng và phục hồi chức năng vận động cho bệnh nhân liệt nửa người do tai biến mạch máu não, như Orgogozo và Rankin Khi lựa chọn thang điểm đánh giá, cần chú ý đến các yếu tố như tính liên quan đến vấn đề nghiên cứu, độ tin cậy, khả năng đo lường các nội dung cần thiết, tính thống nhất trong sử dụng, và sự đơn giản để dễ dàng phổ biến.
Trong nghiên cứu về di chứng và phục hồi chức năng vận động, chúng tôi đã chọn thang điểm Orgogozo, một công cụ phổ biến được nhiều nhà nghiên cứu như Vương Thị Kim Chi, Đặng Quang Tâm và Nguyễn Văn Triệu áp dụng.
4.2.2.2 Kết quả phục hồi chức năng trước và sau can thiệp theo thang điểm Fugl-Meyer scale