Thực trạng công tác phục hồi chức năng vận động cho người bệnh đột quỵ não liệt nửa người tại Bệnh viện Y học cổ truyền Nghệ An... Người bị đột quỵ thường được cấp cứu và điều trị phục h
Trang 1TBMMN Tai biến mạch máu não
WHO World Health Organization/Tổ chức y tế thế giới
Trang 2DANH MỤC HÌNH, ẢNH
Hình 1.1 Các dạng đột quỵ 5
Hình 1.2 Nằm ngửa 12
Hình 1.3 Nằm nghiêng sang bên liệt 13
Hình 1.4 Nằm nghiêng sang bên lành 15
Hình 1.5 Lăn sang bên liệt 15
Hình 1.6 Lăn sang bên lành 15
Hình 1.7 Lăn sang bên lành 16
Hình 1.8 Di chuyển từ giường sang xe lăn và ngược lại 16
Hình 1.9 Di chuyển từ giường sang xe lăn và ngược lại 16
Hình 1.010 Di chuyển từ giường sang xe lăn và ngược lại 17
Hình 1.11 Nâng hông lên khỏi mặt giường 15
Hình 1.12 Cài hai tay đưa lên phía đầu 16
Hình 2.1 Nhân viên y tế đi buồng……… 28
Hình 2.2 Ông Hoàng Văn B được hướng dẫn tập bước lên bậc……….29
Hình 2.3 Mẫu co cứng……….31
Hình 2.4;2.5 Ông Nguyễn Văn A đang phục hồi vận động khớp khuỷu tay 32
Hình 2.6 Bà Bùi Thị B đang được phục hồi vận động khớp gối, khớp háng 34
Hình 2.7 Người bệnh đang được điện châm kết hợp chiếu đèn hồng ngoại….35 Hình 2.8 Phòng Phục hồi chức năng của bệnh viện………36
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC HÌNH, ẢNH iv
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 3
1.1 Cơ sở lý luận 3
1.2 Cơ sở thực tiễn 18
CHƯƠNG 2:MÔ TẢ VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT 22
2.1 Giới thiệu tổng quan về Bệnh viện Y học cổ truyền Nghệ An 22
2.2 Thực trạng công tác phục hồi chức năng vận động cho người bệnh đột quỵ não liệt nửa người tại Bệnh viện Y học cổ truyền Nghệ An 23
Chương 3:BÀN LUẬN 29
KẾT LUẬN 32
ĐỀ XUẤT 32
TÀI LIỆU THAM KHẢO 35
PHỤ LỤC 38
Trang 4ĐẶT VẤN ĐỀ
Đột quỵ não luôn là vấn đề y học nói chung và y học phục hồi chức năng quan tâm Đây là bệnh lý mạch máu phổ biến nhất hiện nay có tỷ lệ tử vong đứng thứ ba sau các bệnh tim mạch và ung thư [23]
Người bệnh đột quỵ não được cứu sống ngày càng nhiều, nhưng tỷ lệ di chứng tàn tật do đột quỵ vẫn còn cao [14] Người bị đột quỵ thường được cấp cứu và điều trị phục hồi chức năng tại bệnh viện từ một, hai tuần cho đến một, hai tháng, khi trở lại cộng đồng người bệnh vẫn cần được tiếp tục tập luyện phục hồi chức năng
Trên thế giới hiện có khoảng 30,9 triệu người mắc bệnh đột quỵ, các trường hợp tử vong trên 4 triệu người một năm [23] Ở Hoa Kỳ, cứ 100.000 dân thì có 794 người bị đột quỵ, còn ở Pháp trong 1000 dân có 60 người đột quỵ Qua khảo sát thực
tế và đánh giá của nhiều chuyên gia y tế, tỷ lệ đột quỵ ở những người trẻ và trung niên cũng đang gia tăng mạnh mẽ, chiếm 1/3 tổng số các trường hợp đột quỵ Hiện con số thống kê cho nhóm đối tượng này khoảng 83.000 người/ năm [3]
Hiện nay, tỷ lệ người bệnh đột quỵ của nước ta đang ngày càng gia tăng do nhiều nguyên nhân khác nhau như bệnh huyết áp, đái tháo đường, các bệnh van tim, béo phì [3] Theo đánh giá của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2019 đột quỵ là nguyên nhân chính gây tử vong ở Việt Nam chiếm 21,7% với tỷ lệ tử vong hàng năm là 200.000 người [1]
Trên thế giới đột quỵ là nguyên nhân gây ra khuyết tật trầm trọng thường gặp nhất ở người lớn Trên toàn cầu, chỉ có 15-30% người bệnh sống sót sau đột quỵ độc lập về chức năng và khoảng 40-50% độc lập một phần [15] Sự hồi phục sau đột quỵ phụ thuộc vào can thiệp y học, sự hồi phục tự nhiên, PHCN và các dịch vụ xã hội Quá trình hồi phục của mỗi người bệnh khác nhau, tùy theo từng trường hợp mỗi người bệnh cần nhận được dịch vụ PHCN khác nhau Một số người bệnh đột quỵ hồi phục tự phát một phần, nhưng phần lớn cần được PHCN để hồi phục Đột quỵ để lại di chứng liệt thường kéo dài nếu không phục hồi sớm sẽ dẫn tới hậu quả teo cơ, cứng khớp, viêm phổi, loét do nằm lâu v.v…ảnh hưởng nghiêm trọng đến tâm lý sinh hoạt của người bệnh cũng như gánh nặng cho gia đình và xã hội Do đó việc chăm sóc phục hồi chức năng vận động cho người bệnh liệt nửa người sau đột quỵ đóng vai trò rất quan trọng, việc chăm sóc đúng cách giúp người bệnh sớm hòa nhập cộng đồng và hạn chế được nhiều biến chứng nguy hiểm
Trang 5Mặc dù đã có những tiến bộ trong chẩn đoán, điều trị, chăm sóc ban đầu trong thời gian gần đây, nhưng kiến thức về đột quỵ não trong người dân còn hạn chế Do vậy chăm sóc người bệnh liệt nửa người sau đột quỵ não góp phần quan trọng làm gia tăng khả năng độc lập trong sinh hoạt hàng ngày và góp phần cải tiến chất lượng cuộc sống của người bệnh
Trong những năm qua bệnh viện Y học cổ truyền Nghệ An đã khám và điều trị, chăm sóc, phục hồi chức năng cho rất nhiều người bệnh liệt nửa người sau đột quỵ nhưng các đề tài nghiên cứu về chủ đề thực trạng công tác phục hồi chức năng vận động cho người bệnh liệt nửa người sau đột quỵ tại Bệnh viên Y học cổ truyền Nghệ An còn hạn chế do đó tôi tiến hành làm chuyên đề “Thực trạng thực hành phục hồi chức năng vận động cho người chăm sóc chính của người bệnh đột quỵ não liệt nửa người tại Bệnh viện Y học cổ truyền Nghệ An năm 2022” với 2 mục tiêu:
1 Mô tả kiến thức thực hành phục hồi chức năng vận động cho người chăm sóc người bệnh đột quỵ não liệt nửa người tại Bệnh viện Y học cổ truyền Nghệ An năm 2022
2 Đề xuất một số giải pháp để tăng cường thực hành phục hồi chức năng vận động cho người chăm sóc người bệnh đột quỵ não liệt nửa người tại Bệnh viện Y học cổ truyền Nghệ An
Trang 61.1.2 Nguyên nhân [19]
1.1.2.1 Nhóm các yếu tố không thể tác động thay đổi được
Tuổi cao, giới tính nam, chủng tộc, yếu tố gia đình hoặc di truyền
Các đặc điểm của các yếu tố nguy cơ nhóm này như sau:
Giới: nam mắc bệnh nhiều hơn nữ trong mọi nhóm tuổi (tỷ lệ nam/nữ là 2,2/1)
Chủng tộc: người da đen có tỷ lệ mắc đột quỵ cao nhất sau đó đến người da vàng và cuối cùng là người da trắng
Khu vực địa lý: Cư dân Châu Á mắc bệnh nhiều hơn Đông Âu, tỷ lệ mắc bệnh thấp hơn cả là ở các cư dân Tây Âu và Bắc Mỹ Dân thành phố mắc bệnh nhiều hơn nông thôn
Lứa tuổi: Người già mắc bệnh nhiều nhất sau đó đến tuổi trung niên và giảm dần ở lứa tuổi thanh thiếu niên, cuối cùng tỷ lệ mắc bệnh ở trẻ em là thấp nhất 1.1.2.2 Nhóm các yếu tố có thể tác động thay đổi được
Tăng huyết áp, đái tháo đường, tăng Cholesterol máu, thuốc lá, Migraine, thuốc tránh thai, béo phì, nghiện rượu, lạm dụng thuốc, ít vận động
Các nguyên nhân hàng đầu của đột quỵ là tuổi cao, vữa xơ động mạch não, cao huyết áp; sau đó, là nguyên nhân từ tim (viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn, hẹp van hai
lá, rối loạn nhịp tim), các bệnh gây rối loạn đông máu và một số bệnh nội ngoại khoa khác
1.1.3 Phân loại [19]
Có 2 dạng đột quỵ thường gặp hiện nay:
Đột quỵ do thiếu máu cục bộ: bệnh thường gặp sau một cơn đau hoặc cục máu đông có thể hình thành trong các mạch máu của não hoặc trong mạch máu dẫn đến não
Trang 7hay trong các mạch máu ở những nơi khác của cơ thể đi đến não; những cục máu đông chặn lưu lượng máu đến các tế bào của não, dạng này chiếm tỷ lệ cao trên 80% các ca đột quỵ do thiếu máu cục bộ
Đột quỵ do xuất huyết não: xảy ra do một mạch máu não bị vỡ, kết quả là máu thấm vào mô não, gây tổn thương cho các tế bào não, phổ biến nhất của dạng này là kết hợp giữa huyết áp cao với chứng phình động mạch não hay dị dạng mạch máu não bẩm sinh, do rối loạn đông máu hoặc người bệnh đang điều trị bằng thuốc chống đông
Hình 1.1 Các dạng đột quỵ Tùy thuộc vào sự tổn thương của mạch máu não, có thể do sự tắc nghẽn mạch máu não làm ngưng trệ dòng máu lên nuôi não phía sau chỗ tắc, hoặc do sự vỡ mạch máu trong não làm cho máu trong lòng mạch thoát ra bên ngoài tràn vào trong mô não gây phá hủy và chèn ép mô não Hậu quả là phần não có liên quan bị tổn thương không thể hoạt động được dẫn đến phần cơ thể vùng não đó chỉ huy cũng không thể hoạt động được Không giống như nhiều bộ phận khác trong cơ thể, tế bào não không được dự trữ năng lượng cho những trạng thái khẩn cấp, mà phụ thuộc hoàn toàn vào sự cấp máu liên tục tới não Do vậy sự gián đoạn cung cấp máu tới tổ chức não càng kéo dài thì tổn thương não càng nhiều và tình trạng người bệnh càng trầm trọng
Khi đột quỵ xảy ra, chết tế bào não đầu tiên xảy ra ở vùng lõi (core) và tiếp tục lan rộng theo thời gian ra vùng lân cận còn gọi là vùng tranh tối tranh sáng (penumbra) được coi là vùng có thể cứu vãn được vì tổn thương có thể đảo ngược được nếu được cung cấp máu nhanh chóng trở lại
Trang 81.1.4 Hậu quả của đột quỵ
Đột quỵ là bệnh lý nặng nề, diễn biến phức tạp Ngoài việc gây nên tỷ lệ tử vong cao, nếu sống sót cũng để lại nhiều di chứng, khiếm khuyết, giảm chức năng và tàn tật, ảnh hưởng lớn cho xã hội, gia đình và chính bản thân người bệnh Theo tổ chức y tế thế giới, có từ 1/3 đến 2/3 người bệnh sống sót sau đột quỵ mang tàn tật vĩnh viễn Người bệnh đột quỵ thuộc loại đa tàn tật vì ngoài khả năng giảm vận động, người bệnh còn nhiều di chứng khác kèm theo như rối loạn giao tiếp ngôn ngữ, rối loạn cảm giác [24]
1.1.5 Chăm sóc người bệnh đột quỵ [13]
1.1.5.1 Nhận định tình hình
Người bệnh bị đột quỵ thường là một bệnh cấp tính, diễn biến kéo dài, có thể ngày càng nặng dần tuỳ theo nguyên nhân và mức độ tổn thương, nhiều biến chứng rất nguy hiểm có thể đe doạ tính mạng người bệnh nếu chúng ta không điều trị và chăm sóc chu đáo Vì vậy, người điều dưỡng khi tiếp xúc với người bệnh cần phải nhẹ nhàng, ân cần và biết thông cảm
Hỏi bệnh:
Trạng thái tinh thần của người bệnh: lo lắng, sợ hãi
Có biết bị tăng huyết áp không và thời gian bị tăng huyết áp?
Có đi lại được không?
Thuốc và cách điều trị tăng huyết áp như thế nào?
Các bệnh tim mạch đã mắc?
Đã bao giờ bị liệt hay bị yếu tay chân chưa?
Có hay nhức đầu, mất ngủ hay nhìn có bị mờ không?
Gần đây nhất có dùng thuốc gì không?
Có buồn nôn, nôn và rối loạn tiêu hoá không?
Khả năng nói của người bệnh?
Có bị bệnh thận trước đây không?
Có hay bị sang chấn gì không?
Tình trạng đi tiểu: số lượng và màu sắc?
Đánh giá bằng quan sát:
Tình trạng tinh thần của người bệnh: mệt mỏi, tỉnh táo hay hôn mê
Quan sát vận động tay chân của người bệnh
Trang 9Quan sát các tổn thương trên da
Tình trạng miệng và mặt có bị méo không?
Tuổi trẻ hay lớn tuổi?
Tự đi lại được hay phải giúp đỡ?
Người bệnh mập hay gầy?
Khám các dấu hiệu thần kinh khu trú
Khám dấu cơ lực và trương lực của người bệnh Khám mắt và các thương tổn khác Ngoài ra cần chú ý các dấu chứng khác như: tình trạng tim mạch, các dấu hiệu ngoại biên, số lượng nước tiểu, tình trạng phù
Tham khảo hồ sơ bệnh án
Kiểm tra các xét nghiệm, các thuốc và cách sử dụng các thuốc nếu có
Thu thập thông tin qua gia đình, hồ sơ bệnh án
1.1.5.2 Chẩn đoán điều dưỡng
Một số chẩn đoán điều dưỡng có thể gặp ở người bệnh bị đột quỵ:
Nhức đầu do tăng huyết áp
Mất khả năng vận động do liệt
Khả năng giao tiếp bằng lời giảm do đột quỵ
Nguy cơ loét ép do chăm sóc không tốt
Nguy cơ nhiễm trùng hô hấp do nằm lâu
1.1.5.3 Lập kế hoạch chăm sóc
Qua khai thác các dấu chứng trên giúp cho người điều dưỡng có được các chẩn đoán điều dưỡng Người điều dưỡng cần phân tích, tổng hợp và đúc kết các dữ kiện để xác định nhu cầu cần thiết của người bệnh, từ đó lập ra kế hoạch chăm sóc cụ thể Khi lập kế hoạch chăm sóc phải xem xét đến toàn trạng người bệnh, đề xuất vấn đề ưu tiên, vấn đề nào cần thực hiện trước và vấn đề nào thực hiện sau tuỳ từng trường hợp cụ thể
Trang 10Chăm sóc cơ bản:
Để người bệnh nghỉ ngơi, nằm ở tư thế đầu cao, nằm nghiêng về một bên
Giải thích cho người bệnh và gia đình về tình trạng bệnh tật
Ăn đầy đủ năng lượng và nhiều hoa quả tươi
Theo dõi các nguyên nhân gây đột quỵ
Theo dõi một số xét nghiệm như: bilan lipid máu, điện tim, siêu âm, soi đáy mắt Theo dõi tác dụng phụ của thuốc
Theo dõi các biến chứng
Giáo dục sức khoẻ:
Người bệnh và gia đình cần phải biết các nguyên nhân, các yếu tố thuận lợi gây đột quỵ cũng như cách phát hiện các hiệu dấu đột quỵ, cách phòng, điều trị và theo dõi người bệnh đột quỵ
1.1.5.4 Thực hiện kế hoạch chăm sóc
Đặc điểm của người bệnh đột quỵ não là tiến triển kéo dài và ngày càng nặng dần Bệnh để lại di chứng rất nặng nề nếu không được điều trị và chăm sóc một cách đúng đắn Người bệnh có thể tử vong do những biến chứng của bệnh, hoặc do tai biến điều trị
Thực hiện chăm sóc cơ bản:
Đặt người bệnh nằm nghỉ ngơi đầu cao và nghiêng về một bên
Tránh lao động trí óc căng thẳng, lo lắng quá độ
Vận động và xoa bóp tay chân
Thay đổi tư thế mỗi 2 giờ /lần
Động viên, trấn an người bệnh để người bệnh an tâm điều trị
Theo dõi các dấu hiệu sinh tồn, đặc biệt là tình trạng tăng huyết áp Tuỳ theo từng trường hợp cụ thể để theo dõi có thể từ 15 phút cho đến 2 giờ đo một lần
Trang 11Hút đờm dãi khi có ứ đọng đờm dãi
Luôn giữ ấm cơ thể người bệnh
Ăn uống đủ năng lượng, nhiều sinh tố và hạn chế muối dưới 5g/ngày, hạn chế mỡ, các chất béo động vật, kiêng rượu, thuốc lá, chè đặc Đặt sonde dạ dày nuôi dưỡng nếu người bệnh không có khả năng nuốt
Tránh các yếu tố kích thích cho người bệnh
Vệ sinh sạch sẽ: hàng ngày vệ sinh răng miệng và da để tránh các ổ nhiễm khuẩn, phát hiện sớm các ổ nhiễm trùng để có hướng điều trị cho người bệnh áo quần, vải trải giường và các vật dụng khác phải luôn được sạch sẽ
Chăm sóc chống loét bằng đệm hơi hoặc đệm nước, xoay trở người mỗi 2 giờ kèm xoa bóp, tránh viêm phổi (ứ đọng đờm dễ gây viêm phổi) bằng vỗ rung ngực Chống nhiễm trùng hô hấp hoặc đường tiểu do xông tiểu
Dấu hiệu sinh tồn: mạch, nhiệt, huyết áp, nhịp thở phải được theo dõi kỹ
Theo dõi tình trạng liệt
Theo dõi tình trạng thông khí
Theo dõi tình trạng loét ép do nằm lâu
Phòng bệnh
Trang 12Có rất nhiều yếu tố nguy cơ, song đáng chú ý nhất là tăng huyết áp và xơ vữa động mạch, rất thường gặp ở lứa tuổi từ 50 trở lên, nên có thông tin rộng rãi để các đối tượng trên theo dõi huyết áp đều đặn và áp dụng các biện pháp phòng tăng huyết áp như tránh ăn mặn, hạn chế những căng thẳng về mặt tinh thần, tránh ăn nhiều gây mập phì, tránh các chất kích thích như rượu, cà phê, thuốc lá, tránh gió lùa, mặc ấm khi thay đổi thời tiết, nhất là từ nóng chuyển sang lạnh, đang nằm trong chăn ấm tránh ra lạnh đột ngột
Ngoài ra cần phòng thấp tim một cách hiệu quả như tránh ở nơi ẩm thấp, giữ ấm khi trời lạnh để tránh viêm họng, khi bị thấp tim phải được theo dõi và điều trị đúng để tránh tổn thương van tim
Khi đã xảy ra tai biến nhất là tai biến thoáng qua phải tìm các yếu tố nguy cơ trên
để can thiệp tránh xảy ra tai biến hình thành Nếu đã xảy ra tai biến hình thành thì tránh tái phát bằng cách điều trị các bệnh nguyên cụ thể cho từng cá thể
Phòng bệnh cấp 3:
Thay đổi tư thế kèm xoa bóp mỗi 1 - 2 giờ hay nằm đệm nước để tránh loét Vận động tay chân để tránh cứng khớp Kết hợp với khoa phục hồi chức năng hay khoa y học dân tộc để luyện tập, châm cứu cho người bệnh đồng thời hướng dẫn cho thân nhân tập luyện tại nhà
1.1.5.5 Đánh giá quá trình chăm sóc
Tình trạng người bệnh sau khi đã thực hiện y lệnh, thực hiện kế hoạch chăm sóc
so với lúc ban đầu của người bệnh để đánh giá tình hình bệnh tật:
Đánh giá công tác chăm sóc và thực hiện các y lệnh đối với người bệnh
Đánh giá tình trạng liệt có cải thiện không
Đánh giá tình trạng ý thức
Đánh giá tình trạng huyết áp
Đánh giá các di chứng của đột quỵ
Trang 13Phục hồi chức năng là "một nhóm các biện pháp hỗ trợ những người khuyết tật hoặc có nguy cơ khuyết tật [do khiếm khuyết, bất kể xảy ra khi nào (bẩm sinh, sớm hay muộn)] nhằm đạt được và duy trì hoạt động chức năng tối ưu trong mối tương tác với môi trường của họ" "Các biện pháp phục hồi chức năng nhắm vào các cấu trúc và chức năng của cơ thể, các hoạt động và sự tham gia, các yếu tố cá nhân và các yếu tố môi trường" [23]
Các hoạt động chính của chăm sóc PHCN bao gồm:
- Sàng lọc và lượng giá đa ngành
- Xác định các khó khăn về chức năng và đo lường các khó khăn đó
- Lập kế hoạch điều trị thông qua thiết lập mục tiêu
- Cung cấp các biện pháp can thiệp có thể cải thiện người bệnh hoặc hỗ trợ người bệnh ứng phó với thay đổi kéo dài
- Đánh giá hiệu quả của can thiệp
- Báo cáo
1.1.6.2 Mục đích của phục hồi chức năng sau đột quỵ não
- Giúp người bệnh tự mình di chuyển và đi từ nơi này đến nơi khác,
Trang 14- Giúp người bệnh tự làm được những công việc trong đời sống và sinh hoạt hàng ngày
- Giúp người bệnh thích nghi với những di chứng còn lại
- Giúp người bệnh trở lại với nghề cũ hoặc có nghề mới thích hợp với hoàn cảnh hiện tại của họ
1.1.6.3 Nguyên tắc phục hồi chức năng sau đột quỵ não
- PHCN nên bắt đầu càng sớm càng tốt sau đột quỵ, khi tình trạng toàn thân cho phép
- Tập vận động phải cân xứng 2 bên, không sử dụng vận động bên lành bù trừ hoặc thay thế cho bên liệt
- Điều chỉnh trương lực cơ trở lại bình thường hoặc gần bình thường bằng kỹ thuật kích thích hay ức chế
- Sử dụng các kỹ thuật tạo thuận lợi trong tập luyện giúp người bệnh cảm nhận vận động bình thường
- Sử dụng các bài tập liên quan, gần gũi với cuộc sống sinh hoạt thường ngày của người bệnh
- Phát huy tính tích cực, chủ động của người bệnh và gia đình trong tập luyện, hướng dẫn người bệnh và gia đình để họ có thể thực hiện các bài tập vận động Sau khi
ra viện người bệnh cần tiếp tục tập luyện tại nhà với sự giúp đỡ của người thân trong gia đình
1.1.6.4 Quá trình phục hồi chức năng sau đột quỵ não [12]
Việc phục hồi chức năng cần toàn diện, sớm và tuỳ thuộc vào giai đoạn tiến triển của bệnh Ở giai đoạn cấp của bệnh, việc chăm sóc chiếm vị trí quan trọng, phục hồi chức năng cũng đồng thời phải tiến hành ngay Nội dung các hoạt động này bao gồm: giữ tư thế tốt và đúng để tránh cứng khớp và biến dạng khớp, tập luyện để duy trì và tăng cường sức mạnh cơ, giúp người bệnh độc lập tối đa trong sinh hoạt hàng ngày nhờ dụng cụ trợ giúp
* Đặt tư thế người đột quỵ
Người bệnh cần được đặt ở tư thế đúng để giảm bớt mẫu co cứng, đề phòng biến dạng khớp Có các tư thế đặt người bệnh sau:
Trang 15Nằm ngửa
Vai và hông bên liệt được kê gối mềm, khớp
gối gập nhẹ; cổ chân được kê vuông góc với
cẳng chân để tránh biến dạng gập bàn chân về
phía lòng bàn chân
Hình 1.2 Nằm ngửa Nằm nghiêng sang bên liệt
Vai bên liệt gập, cánh tay duỗi vuông
góc với thân, thân mình nửa ngửa, chân liệt
duỗi Tay lành để trên thân hoặc gối đỡ phía
lưng Chân lành gập ở háng và gối
Hình 1.3 Nằm nghiêng sang bên
liệt Nằm nghiêng sang bên lành
Vai và cánh tay bên lành để tự do Chân lành
để duỗi, thân mình vuông góc với mặt giường
Tay liệt có gối đỡ để vuông góc với thân
Chân liệt có gối đỡ ở tư thế gập háng và gối
Hình 1.4 Nằm nghiêng sang bên
lành
* Cách lăn trở người bị đột quỵ
Trang 16Nên hướng dẫn để người bệnh tự lăn trở, nếu khó khăn trong giai đoạn đầu người nhà
có thể hỗ trợ người bệnh lăn trở, cách hỗ trợ như sau:
Lăn sang bên liệt
Nâng tay và chân lành lên Đưa chân và
tay lành về phía bên liệt Xoay thân
mình sang bên liệt
Hình 1.5 Lăn sang bên liệt
Lăn sang bên lành:
Cài tay lành vào tay liệt Giúp người bệnh,
gập gối và háng bên liệt Dùng tay lành
kéo tay liệt sang phía tay lành Đẩy hông
người bệnh xoay sang bên lành
Hình 1.6 Lăn sang bên lành
Ngồi dậy từ tư thế nằm ngửa:
Người nhà ngồi bên cạnh người
bệnh Người bệnh bám hai tay vào cánh
tay của người thân Một tay người nhà
quàng và đỡ vai người bệnh Đỡ người
bệnh ngồi dậy từ từ Hình 1.7 Ngồi dậy từ tư thế
nằm ngửa
Trang 17* Tập hoạt động, sinh hoạt hàng ngày
- Thay quần áo
- Cài khuy áo, buộc dây giày, dép
Di chuyển từ giường sang ghế (xe lăn) và
ngược lại
Giúp người bệnh nâng mông lên khỏi mặt
giường xoay sang phía bên liệt để ngồi xuống
xe lăn hoặc ghế
Để người bị liệt ngồi ở mép giường Xe lăn để
sát cạnh ghế về phía bên liệt
Mặt giường chỉ cao bằng ghế (xe lăn)
Hình 1.8 Di chuyển từ giường
sang xe lăn và ngược lại
Đứng dậy
Khi mới tập đứng dậy từ tư thế ngồi, người
bệnh thường có xu hướng đứng lên bằng chân
lành, khi ấy chân liệt đưa ra phía trước Do vậy,
cần chú ý sửa sao cho khi đứng dậy, người bệnh
phải dồn trọng lượng đều xuống cả hai chân
Hình 1.9 Đứng dậy
Trang 18Đi trong thanh song song
Khi người bệnh đã đứng vững, có thể cho họ
tập đi Lúc đầu nên tập đi trong thanh song
song Cách đo, cách làm và cách sử dụng
thanh song song để tập đi có thể tham khảo
thêm bài các dụng cụ phục hồi chức năng
Có thể đi theo kiểu ba điểm hoặc bốn điểm Hình 1.10 Đi trong
thanh song song
* Tập theo tầm vận động khớp:
Để đề phòng co cứng và biến dạng các khớp, người bệnh cần được động viên thực hiện các bài tập thụ động theo tầm vận động khớp Người bệnh tự làm hoặc có người nhà giúp Bài tập này nên làm hàng ngày Mỗi động tác nên thực hiện từ 10 - 15 lần
Các động tác người bệnh tự tập
Các bài tự tập này sẽ giúp người bệnh dễ dàng di chuyển và đề phòng các di chứng cứng khớp bao gồm các động tác sau:
Nâng hông lên khỏi mặt giường
Người bệnh nằm ngửa, hai tay đặt dọc thân mình, hai chân gấp, đặt hai chân sát nhau
Nâng hông lên khỏi mặt giường, càng cao càng tốt, và càng lâu càng tốt
Để người bệnh đếm 1,2,3,4 đến 15-20 hãy đặt hông xuống giường
Hình 1.11 Nâng hông lên khỏi mặt giường Làm lại khoảng 10 lần
Tập cài hai tay đưa lên phía đầu Tay lành cài vào các ngón tay bên liệt, đưa hai tay duỗi thẳng về phía đầu Cố gắng đưa khuỷu tay hai bên ngang tai Sau đó hạ hai tay về vị trí cũ
Trang 19Hình 1.12 Cài hai tay đưa lên phía đầu Giai đoạn sau, khi người đột quỵ bắt đầu cử động được trở lại, các cơ bị co cứng, việc phục hồi chức năng ngoài những nội dung đã thực hiện kể trên, cần thực hiện thêm các bài tập phục hồi cơ
Tập phục hồi các cơ bên liệt
Chú ý rằng trước khi tập các bài tập cho người bệnh cần đảm bảo giải phóng họ khỏi tình trạng co cứng trước, đối với các trường hợp liệt cứng và có tăng trương lực
cơ
Có thể áp dụng các cách đơn giản sau để ức chế trương lực cơ ở tay và chân Kiểm soát trương lực cơ ở tay: để người bệnh ngồi, tay bị liệt duỗi thẳng (khuỷu duỗi), bàn tay và các ngón tay mở xòe ra đặt trên mặt giường, chống tay cạnh thân mình Giữ ở tư thế đó 5 - 10 phút
Kiểm soát trương lực cơ chân: để người bệnh ở tư thế ngồi, gối chân liệt vuông góc, bàn chân liệt đặt sát trên nền nhà Bảo người bệnh bắt chéo chân lành sang bên chân liệt, cẳng chân bên lành tì đầu gối chân bên liệt xuống Nếu người bệnh không làm được thì người giúp đỡ có thể dùng tay của mình để tì ấn gối bên liệt của người bệnh xuống Giữ tư thế đó 5-10 phút hoặc tới khi chân liệt của người bệnh không run, giật nữa thì ngừng lại
Dùng nẹp chỉnh hình để duy trì tư thế đúng
Nẹp chỉnh hình là các dụng cụ để ngăn ngừa hoặc nắn chỉnh sai lệch tư thế của chi thể Có loại nẹp nắn chỉnh khớp cổ chân gọi là nẹp dưới gối; nẹp nắn chỉnh khớp gối gọi là nẹp khớp gối Nguyên tắc sử dụng các nẹp này là đeo càng nhiều thời gian càng tốt, thường là lúc không vận động, nhưng có thể đeo cả lúc vận động như nẹp dưới gối
Đối với người bị liệt nửa người, các nẹp chỉnh hình hay dùng là:
Nẹp dưới gối: để đề phòng bàn chân thuổng
Nẹp cổ tay: giữ cổ tay khỏi quặp và biến dạng gập
Đai treo cánh tay: đỡ vai khỏi xệ và bán trật khớp
Trang 20Các nẹp này thường được làm từ nhựa, tre, gỗ, vải được đo theo kích thước của chân tay người bệnh Có thể tham khảo phần chế tạo và sử dụng các dụng cụ này ở phần các dụng cụ phục hồi chức năng
* Dụng cụ tập luyện
Có thể làm một số dụng cụ để tập như: ròng rọc, thanh gỗ để tập khớp vai, tạ (hoặc bao cát) để tập mạnh cơ Tuỳ theo mục đích tập mà người bệnh nên được được chọn dụng cụ nào
Nếu tay yếu nắm không chắc, có thể dùng khăn vải buộc vào tay cầm
* Huấn luyện giao tiếp
Có khoảng 30% những người bệnh liệt nửa người bị thất ngôn Đó là rối loạn ngôn ngữ do mất khả năng hiểu hoặc khả năng thể hiện bằng lời nói, chữ viết Để xem các rối loạn này ở dạng nào và mức độ nào và cách thức huấn luyện người bệnh cần tìm hiểu về thất ngôn
1.1.6.5 Phục hồi chức năng về mặt xã hội
Những người bị tai biến mạch não chiếm tỷ lệ khá lớn trong xã hội, do vậy họ cần được xã hội quan tâm và hỗ trợ Quan trọng nhất là tạo cơ hội để họ tiếp cận dịch
vụ công cộng: y tế - phục hồi chức năng, giáo dục, việc làm và các dịch vụ khác như thể thao, văn hoá Những cá nhân này cần được liên kết với nhau để chia sẻ kinh nghiệm và giúp nhau trong quá trình hội nhập xã hội Hội hoặc câu lạc bộ người khuyết tật là một tổ chức có vai trò quan trọng hỗ trợ người khuyết tật hoà nhập cộng đồng
1.1.6.6 Phục hồi chức năng về tâm lý
Người bệnh thường bị rối loạn cảm xúc như: trầm cảm, không ham muốn, thiếu động cơ tập luyện, không cố gắng, nhiều người tự coi mình làm trung tâm sự chú ý và chăm sóc, muốn được phục vụ và quan tâm Do vậy, tuỳ theo tâm lý của người bệnh
mà gia đình, cộng tác viên phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng và những người
Trang 21xung quanh cần hỗ trợ, nâng đỡ, động viên họ, giúp họ tham gia tích cực vào việc tập luyện và phục hồi chức năng
bị, còn ở Pháp, trong 1000 dân có 60 người bị tai biến mạch não
Mỗi năm có 795.000 ca, ba phần tư các trường hợp gặp ở người trên 65 tuổi, cứ thêm 10 tuổi nguy cơ tăng gấp đôi, cứ 40 giây có người bệnh đột quỵ não [18] Theo
số liệu thống kê của WHO năm 2016 ước tính có 2,9 triệu người bị tử vong vì đột quỵ tại châu Á bao gồm 1,3 triệu người ở Trung Quốc, 448.000 người ở Ấn Độ và 390.000 người ở các nơi khác trừ Nhật Bản [23] Người bệnh vào điều trị đột quỵ ở Trung Quốc là 40%, Philipin là 10%, Indonesia là 8%, Việt Nam là 7%, Thái Lan là 6%, Malaysia là 2% [9] Bên cạnh đó, đột quỵ não đang có xu hướng gia tăng ở những người trẻ tuổi, gây ảnh hưởng nhiều đến những người đang trong độ tuổi lao động [17] 1.2.1.2 Việt Nam
Tại Việt Nam với trên 90 triệu dân, mỗi năm có hơn 200.000 người bệnh đột quỵ não, hơn 50% trong số đó tử vong và chỉ có 10% những người sống sót và bình phục hoàn toàn (không có di chứng và không phụ thuộc vào người khác) [3]
Thống kê ở Việt Nam 20 năm qua, tỷ suất đột quỵ tăng đáng kể từ 213,58/100.000 người/năm (1990) lên đến 254,78/100.000 người/năm (2010) Theo thống kê của Trung tâm đột quỵ Bệnh viện Nhân dân 115 thì số người bị đột quỵ não chiếm 85% trong các loại đột quỵ và nhập viện tăng đều qua các năm Nếu như năm
2016 có 10.351 người bệnh thì đến năm 2017 tăng lên 11.244 người bệnh và năm 2018 tăng lên 11.787 người bệnh [1]
Trang 22Tại Việt Nam, theo nghiên cứu của Lê Thị Hương và cộng sự thì tỷ lệ hiện mắc đột quỵ hiện nay đang ở mức khá cao, tỷ lệ này có sự khác nhau giữa các tỉnh, cao nhất tại Cần Thơ và thấp nhất tại Gia Lai Tỷ lệ mắc của cả nước là 1,62% [6]
1.2.2 Tình hình di chứng và tàn tật do đột quỵ
1.2.2.1 Thế giới
Theo WHO có từ 1/3 đến 2/3 người bệnh sống sót sau đột quỵ trở thành tàn tật vĩnh viễn Còn Hakett cho biết 61% người bệnh sống sót sau TBMNN để lại di chứng, 50% phải phụ thuộc người khác trong sinh hoạt hàng ngày Tại Pháp, có 50% tàn phế
do đột quỵ [18]
Theo David [22] các di chứng thường gặp trong bộ máy vận động bao gồm:
Đau khớp vai bên liệt do không cử động được hết tầm chiếm 45% người bệnh liệt nửa người
Gập khớp khuỷu do cơ gập khuỷu ngắn lại chiếm 73%
Gập khớp cổ tay ở phía lòng bàn tay do mất chức năng gập phía lưng bàn tay và duỗi các ngón tay chiếm 92%
Quay sấp cổ tay bên liệt chiếm 75%
1.2.2.2 Tại Việt Nam
Hiện Việt Nam có khoảng 486.000 người còn sống sau đột quỵ; tuy nhiên, chỉ có khoảng 25-30% tự đi lại phục vụ bản thân được, 20-25% đi lại khó khăn, cần sự hỗ trợ của người khác trong sinh hoạt, 15-25% phải phụ thuộc hoàn toàn vào sự phục vụ của người khác [9]
Ngoài ra, theo các thống kê khác, mặc dù tỷ lệ tử vong do đột quỵ tại Việt Nam
kể từ năm 2013 đến nay có giảm (khoảng 17%) so với trước kia nhưng số lượng người bệnh bị tàn tật do đột quỵ lại có xu hướng tăng mạnh (chiếm 90%) với nhiều di chứng nặng nề như: liệt chi, liệt nửa người, viêm phổi, co cứng gân cơ, suy giảm trí nhớ, rối loạn tâm thần dạng trầm cảm, loét vùng xương cùng - cụt và một số vị trí bị tỳ đè do nằm lâu… [5]
1.2.3 Thực trạng chăm sóc phục hồi chức năng vận động cho người bệnh liệt nửa người sau đột quỵ
1.2.3.1 Thế giới
Chopra J.S và cộng sự khi tiến hành chương trình truyền thông về phục hồi chức năng cho người bệnh đột quỵ với thời gian trung bình là 37 ngày Sau khi kết thúc
Trang 23chương trình, có 72% người chăm sóc người bệnh biết được việc tiến hành phục hồi chức năng sớm rất quan trọng, ảnh hưởng đến mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày của người bệnh sau này 63% người chăm sóc thường xuyên quan sát sắc mặt của người bệnh khi tiến hành tập phục hồi chức năng [21]
Trong 3 tháng truyền thông chương trình phục hồi chức năng cho 220 người chăm sóc chính của người bệnh đột quỵ não, Nakayama H và cộng sự đã giúp 68% người chăm sóc biết cách lăn trở người bệnh sang bên lành, lăn trở sang bên liệt 70% trong số đó biết cách tập cho người bệnh ngồi dậy, đứng lên [20]
Đối với người bệnh đột quỵ não lần đầu, người chăm sóc chính của họ rất cần thiết về mặt kiến thức cũng như kiến thức giúp người bệnh phục hồi Việc đưa người bệnh độc lập hoàn toàn trong sinh hoạt hàng ngày là cần thiết Trong nghiên cứu của Motegi A và cộng sự có 62% trường hợp độc lập hoàn toàn trong sinh hoạt hàng ngày khi người chăm sóc chính có kiến thức đạt về phục hồi chức năng [14]
1.2.3.2 Tại Việt Nam
Nguyễn Xuân Nghiên và cộng sự với chương trình PHCN dựa vào cộng đồng có 43,5% người tàn tật hội nhập xã hội [2] Còn khi tìm hiểu nhận thức nhu cầu và nguyện vọng của người tàn tật qua chương trình PHCN dựa vào cộng đồng tại 3 tỉnh: Thái Bình, Nam Hà, Hoà Bình thấy rằng sự tiến bộ về mặt tinh thần, xã hội và thể chất
là đáng ghi nhận tỷ lệ sức khoẻ của người tàn tật được cải thiện là 75,5%, người tàn tật
có thể chăm sóc bản thân nhiều hơn là 54,4% từ khi tham gia vào chương trình PHCN dựa vào cộng đồng [2] Hạn chế kiến thức xoay trở người bệnh trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Lệ tại Hà Đông năm 2015 Chỉ có 37,5% người chăm sóc chính có kiến thức giúp người bệnh xoay trở Thêm vào đó, trong nội dung về chăm sóc tư thế đúng cho người bệnh thì kiến thức của người thân về việc người bệnh cần có tư thế nằm đúng trên giường tương đối thấp [7]
Trong nghiên cứu của tác giả Hoàng Ngọc Thắm cho thấy, có 10% người bệnh được đáp ứng nhu cầu được chỉ dẫn vị thế nằm đúng trên giường Tỷ lệ người thân có kiến thức về việc cần cho người bệnh có tư thế nằm đúng chỉ đạt 18,2% [10]
Trong kết quả nghiên cứu kiến thức của điều dưỡng viên về chăm sóc cho người bệnh đột quỵ giai đoạn cấp của tác giả Hoàng Ngọc Thắm cho thấy: 73,1% có kiến thức đạt và 26,9% có kiến thức không đạt Đặc biệt, chỉ có 67,2% có kiến thức đạt về tổn thương thứ cấp, là những biến chứng mà người bệnh đột quỵ thường gặp phải nếu
Trang 24không được chăm sóc sớm và đúng [10] Theo nghiên cứu của Mai Thọ Truyền và cộng sự năm 2010 về Đánh giá thực trạng điều trị và chăm sóc tại nhà của người bệnh đột quỵ sau ra viện ở quận Ô Môn thành phố Cần Thơ thì mức độ phục hồi của người bệnh sau đột quỵ gấp 6,56 lần khi người bệnh được sự chăm sóc của người thân [11]