ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Nhân viên y tế làm việc ở các khoa lâm sàng, cận lâm sàng và các phòng chức năng tại BVĐKTTTG
Nhân viên y tế làm việc ở các khoa lâm sàng và cận lâm sàng tại BVĐKTTTG
Nhân viên y tế đồng ý tham gia vào nghiên cứu
Thời gian công tác trên 12 tháng
Nhân viên y tế đi học, nghỉ hậu sản, ốm đau
Lãnh đạo khoa/phòng đã đảm nhận vị trí trên 12 tháng tính đến thời điểm tiến hành nghiên cứu Cụ thể như sau:
+ Ban Giám đốc (phó Giám đốc)
+ Lãnh đạo phòng Điều dưỡng
+ Lãnh đạo khoa Nội Tim mạch
+ Lãnh đạo khoa xét nghiệm
+ Đại diện nhóm điều dưỡng trưởng lâm sàng và Cận lâm sàng
+ Đại diện nhóm điều dưỡng lâm sàng khối Nội và Cận lâm sàng
+ Đại diện nhóm điều dưỡng lâm sàng khối Ngoại
Các đối tượng đang trong giai đoạn đi học, nghỉ hậu sản, ốm đau trong thời gian tiến hành nghiên cứu.
Thời gian và địa điểm
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 2 năm 2019 đến tháng 10 năm 2019
HUPH Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang.
Thiết kế nghiên cứu
Sử dụng thiết kế nghiên cứu cắt ngang mô tả, kết hợp định lượng với định tính
Nghiên cứu định lượng: nhằm mô tả thực trạng VHATNB tại BVĐKTTTG và xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến VHATNB
Nghiên cứu định tính được thực hiện nhằm bổ sung và giải thích cho kết quả của nghiên cứu định lượng, đồng thời phân tích các yếu tố thuận lợi và khó khăn ảnh hưởng đến VHATNB tại BVĐKTTTG năm 2019.
Mẫu và phương pháp chọn mẫu
Cỡ mẫu: Áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho một tỷ lệ:
Z 2 (1-α/2) = 1,96 (Hệ số tin cậy ở mức 95%) p = 0,5 (để cỡ mẫu được chọn là lớn nhất) d = 0,05 là độ chính xác mong muốn
Cỡ mẫu tối thiểu cho nghiên cứu này là 196 đối tượng, với dự phòng thêm 10% Do đó, cỡ mẫu cuối cùng được làm tròn là 220 đối tượng nghiên cứu.
Nghiên cứu được thực hiện trên 647 nhân viên y tế, bao gồm 162 bác sĩ và 485 điều dưỡng Phương pháp chọn mẫu phân tầng đã được áp dụng để lựa chọn 220 đối tượng nghiên cứu, trong đó có 55 bác sĩ và 165 điều dưỡng/kỹ thuật viên từ tất cả các khoa lâm sàng và cận lâm sàng.
Chọn mẫu những đối tượng cung cấp giàu thông tin nhất gồm:
+ Ban Giám đốc (phó Giám đốc – Chủ tịch Hội đồng QLCL)
+ Lãnh đạo phòng Điều dưỡng
+ Lãnh đạo khoa Nội Tim mạch
+ Lãnh đạo khoa Xét nghiệm
+ Đại diện nhóm điều dưỡng Trưởng lâm sàng và Cận lâm sàng
+ Đại diện nhóm điều dưỡng lâm sàng khối Nội và Cận lâm sàng
+ Đại diện nhóm điều dưỡng lâm sàng khối Ngoại.
Các biến sử dụng trong nghiên cứu
2.5.1 Mục tiêu 1: Mô tả thực trạng văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang năm 2019
Các nhóm biến số chính trong nghiên cứu (chi tiết trình bài tại phụ lục 2)
- 12 lĩnh vực văn hóa an toàn người bệnh và định nghĩa từng lĩnh vực:
+ Làm việc nhóm trong khoa
+ Lãnh đạo khoa khuyến khích ATNB
+ Học tập và cải tiến liên tục
+ Thông báo phản hồi sai sót
+ Cởi mở trong thông tin về sai sót
+ Hành xử không buộc tội khi có sai sót
+ Hỗ trợ của lãnh đạo bệnh viện
+ Làm việc nhóm giữa các khoa
+ Bàn giao và chuyển bệnh
+ Tần suất báo cáo sự cố
- Đánh giá mức độ ATNB của khoa
- Số lượng sự cố được báo cáo trong 12 tháng
2.5.2 Mục tiêu 2: Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng tới văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang năm 2019
* Nghiên cứu định lượng: (chi tiết trình bày tại phụ lục 2)
- Biến độc lập: Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
+ 12 lĩnh vực văn hóa an toàn người bệnh
+ Đánh giá mức độ ATNB của Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang + Số lượng sự cố được báo cáo trong 12 tháng
Quan điểm của các đối tượng được phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm về:
- Những yếu tố ảnh hưởng theo hướng thúc đẩy và hạn chế VHATNB của NVYT tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang
- Yếu tố hệ thống và quản lý:
+ Hệ thống báo cáo sự cố
+ Chính sách, quy định để nhân viên tuân thủ ATNB
+ Điều kiện làm việc (trang thiết bị y tế, điều kiện về bảo hộ lao động, ) + Khối lượng công việc
+ Quá tải khám chữa bệnh
+ Vật tư y tế tiêu hao
- Yếu tố nhân viên y tế:
+ Sự hợp tác và tôn trọng lẫn nhau
+ Đào tạo, tập huấn về ATNB
+ Tính cẩn thận, trách nhiệm và kỷ cương, kỷ luật
+ Nhận thức của NB đối với dịch vụ y tế
+ Sự tham gia của NB vào chăm sóc y tế
Phương pháp và công cụ thu thập số liệu
2.6.1 Phương pháp thu thập số liệu
Bộ câu hỏi được sử dụng trong nghiên cứu là bộ công cụ khảo sát VHATNB của Tổ chức AHRQ, Hoa Kỳ, với bảng dịch tiếng Việt đã được công nhận và cho phép sử dụng.
Tổ chức AHRQ tại Hoa Kỳ đã thực hiện khảo sát thông qua các buổi sáng giao ban tại khoa Nghiên cứu viên đã đến từng khoa để giải thích mục đích nghiên cứu và phát bộ câu hỏi (Phụ lục 3) Trước khi tiến hành phỏng vấn, nghiên cứu viên đọc trang thông tin nghiên cứu cho đối tượng tham gia, nhằm giới thiệu về nghiên cứu, mục đích và hướng dẫn cách đọc cũng như điền phiếu.
Nghiên cứu viên đã gửi phiếu khảo sát cho từng đối tượng theo tiêu chuẩn tự điền và thu lại ngay sau khi các đối tượng hoàn thành.
Nội dung phỏng vấn và thảo luận nhóm được thực hiện theo hướng dẫn thiết kế sẵn, với thời gian từ 30 - 45 phút cho mỗi cuộc phỏng vấn và 30 - 60 phút cho mỗi thảo luận nhóm Địa điểm cần được chọn để đảm bảo tính riêng tư và không bị làm phiền Các cuộc phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm sẽ được ghi âm và gỡ băng để phục vụ cho việc phân tích sau này.
+ Ban Giám đốc (phó Giám đốc – Chủ tịch Hội đồng Quản lý chất lượng) + Lãnh đạo phòng Điều dưỡng
+ Lãnh đạo khoa Nội Tim mạch
+ Lãnh đạo khoa Xét nghiệm
+ Đại diện nhóm điều dưỡng trưởng lâm sàng và Cận lâm sàng
+ Đại diện nhóm điều dưỡng lâm sàng khối Nội và Cận lâm sàng
+ Đại diện nhóm điều dưỡng lâm sàng khối Ngoại
2.6.2 Công cụ thu thập số liệu
Bộ câu hỏi AHRQ bao gồm 42 câu hỏi, được chia thành 12 lĩnh vực và sử dụng thang đo Likert 5 điểm để đánh giá mức độ đồng ý từ hoàn toàn không đồng ý đến hoàn toàn đồng ý, hoặc tần suất từ không bao giờ đến luôn luôn AHRQ là công cụ nhập và phân tích dữ liệu phiên bản 2010, giúp nhập số liệu nghiên cứu và phân tích các khía cạnh nghiên cứu của đơn vị hoặc tổ chức Mười hai lĩnh vực khảo sát bao gồm 7 lĩnh vực chính.
HUPH xác định phạm vi từng khoa với các câu hỏi cụ thể: “(1) Làm việc nhóm trong khoa” gồm 4 câu hỏi; “(2) Lãnh đạo khoa khuyến khích ATNB” có 4 câu hỏi; “(3) Học tập-cải tiến liên tục” với 3 câu hỏi; “(6) Thông báo phản hồi sai sót” có 3 câu hỏi; “(7) Cởi mở trong thông tin về sai sót” cũng có 3 câu hỏi; “(10) Nhân lực” gồm 4 câu hỏi; và “(12) Hành xử không buộc tội khi có sai sót” có 3 câu hỏi Ngoài ra, có 3 lĩnh vực phạm vi toàn bệnh viện: “(4) Hỗ trợ của lãnh đạo bệnh viện” với 3 câu hỏi; “(9) Làm việc nhóm giữa các khoa” có 4 câu hỏi.
Bàn giao và chuyển bệnh bao gồm 4 câu hỏi, trong đó có 2 lĩnh vực liên quan đến kết quả về An toàn người bệnh (ATNB) Cụ thể, lĩnh vực “Nhận thức về ATNB” có 4 câu hỏi, trong khi lĩnh vực “Tần suất báo cáo sự cố” bao gồm 3 câu hỏi.
Bộ công cụ bao gồm hai câu hỏi, trong đó người tham gia đánh giá mức độ an toàn nơi làm việc và báo cáo số lượng sự cố trong 12 tháng qua.
Phân tích số liệu
2.7.1 Phân tích số liệu định lượng
Dữ liệu đã được làm sạch, nhập vào và phân tích bằng công cụ Điều tra bệnh viện - Hospital Survey Excel 1.7 năm 2010 của Microsoft Excel, do Tổ chức AHRQ cung cấp, cùng với phần mềm SPSS 18.0.
Kết quả phân tích số liệu SPSS được chia làm 2 phần:
Phần mô tả: thể hiện tần số và tỷ lệ để mô tả các biến về VHATNB của NVYT
Phân tích mối liên quan giữa các lĩnh vực VHATNB của NVYT và các yếu tố khác được thực hiện thông qua kiểm định χ² Sử dụng tỷ lệ odds (OR) và khoảng tin cậy để đo lường độ mạnh của sự kết hợp, với ngưỡng giá trị p < 0,05 được chọn làm tiêu chí đánh giá.
2.7.2 Phân tích số liệu định tính
Nội dung phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm được ghi âm và phân tích theo chủ đề, nhằm bổ sung và giải thích cho các kết quả định lượng.
Thước đo và tiêu chuẩn đánh giá
* Phân tích các lĩnh vực: Mỗi lĩnh vực gồm 3 – 4 câu hỏi Trong nghiên cứu này có 12 lĩnh vực như sau:
Bảng 2 1 Cấu trúc 12 lĩnh vực văn hóa an toàn người bệnh
TT Các lĩnh vực nghiên cứu Câu hỏi thu thập số liệu
7 lĩnh vực VHATNB phạm vi khoa/phòng 24
1 Làm việc nhóm trong khoa/ phòng A1, A3, A4, A11 04
2 Lãnh đạo khoa/phòng khuyến khích
3 Học tập và cải tiến liên tục A6, A9, A13 03
6 Thông báo phản hồi sai sót C1, C3, C5 03
7 Cởi mở trong thông tin về sai sót C2, C4, C6r 03
12 Hành xử không buột tội khi có sai sót A8r, A12r, A16r 03
3 lĩnh vực về VHATNB phạm vi toàn bệnh viện
4 Hỗ trợ của lãnh đạo bệnh viện F1, F8, F9r 03
9 Làm việc nhóm giữa các khoa/phòng F4, F10, F2r, F6r 04
11 Bàn giao và chuyển bệnh F3r, F5r, F7r, F11r 04
2 lĩnh vực về kết quả liên quan đến ATNB
8 Tần suất báo cáo sự cố D1, D2, D3 03
(Ghi chú: “r” chỉ ra câu hỏi diễn đạt ngược)
- Những ý kiến trả lời được cho điểm theo thang điểm Liker gồm 5 mức độ, tương đương từ 1 đến 5 điểm
- Kết quả đánh giá được nhóm thành 3 mức độ như sau:
Nhận thức tích cực được định nghĩa là tỷ lệ phần trăm nhân viên trả lời “đồng ý/rất đồng ý” hoặc “thường xuyên/luôn luôn” (4 hoặc 5 điểm) đối với các tiểu mục diễn đạt xuôi.
“rất không đồng ý/ không đồng ý” hay “không bao giờ/hiếm khi” (1 hoặc 2 điểm) đối với tiểu mục diễn đạt ngược
+ Bình thường: là tỷ lệ phần trăm nhân viên trả lời “bình thường” hay đôi khi
(3 điểm) đối với cả 2 diễn đạt ngược và xuôi
Nhận thức chưa tích cực được xác định qua tỷ lệ phần trăm nhân viên trả lời “rất không đồng ý/ không đồng ý” hoặc “không bao giờ/hiếm khi” (1 hoặc 2) cho các câu hỏi diễn đạt xuôi, và “đồng ý/rất đồng ý” hoặc “thường xuyên/luôn luôn” (4 hoặc 5) cho các câu hỏi diễn đạt ngược.
Các mục khảo sát trong
Nhận thức chung về an toàn được đánh giá thông qua việc đếm số phản hồi cho các mục có câu hỏi xuôi, trong đó ghi nhận số lượng phản hồi "rất đồng ý" hoặc "đồng ý" Đối với các mục có câu hỏi ngược, cần đếm số phản hồi "cực kỳ không đồng ý" hoặc "không đồng ý".
Tổng số câu trả lời cho mục này
Tỷ lệ phản hồi tích cực theo mỗi câu hỏi
A15-câu hỏi xuôi 120 * 260 120 / 260 Không bao giờ khoa “hy 46% sinh” sự an toàn của người bệnh để đánh đổi làm được nhiều việc hơn
A18-câu hỏi xuôi 130 * 250 130 / 250 Khoa có những qui trình 52% và biện pháp hiệu quả để phòng ngừa sai sót xảy ra
A10-câu hỏi ngược * 110 240 110 / 240 Sai sót nghiêm trọng ở 46% khoa không xảy ra là do may mắn
A17-câu hỏi ngược * 140 250 140 / 250 Khoa có một số vấn đề 56% không đảm bảo an toàn người bệnh
Tỷ lệ phản hồi tích cực trung bình
Trong ví dụ này, bốn mục khảo sát có tỷ lệ phản hồi tích cực lần lượt là 46%, 52%, 46% và 56% Tổng các tỷ lệ phần trăm này là 200%, và khi chia cho 4 (số lượng câu hỏi), điểm tổng hợp về Nhận thức chung về An toàn của Bệnh nhân đạt 50% Điều này cho thấy trung bình khoảng 50% người tham gia khảo sát có phản hồi tích cực về Nhận thức chung về An toàn của bệnh nhân.
Tỷ lệ nhân viên y tế có nhận thức tích cực, bình thường và chưa tích cực trong từng lĩnh vực được tổng hợp bằng cách tính trung bình tỷ lệ phần trăm của các đáp ứng trong từng tiểu mục, sử dụng công cụ Hospital Survey Excel Tool 1.7 năm 2010 của Microsoft Excel do Tổ chức AHRQ cung cấp và phần mềm SPSS 18.0.
- Xác định điểm mạnh các lĩnh vực của nền VHATNB: Tỷ lệ nhân viên y tế có nhận thức tích cực cao từ 75% trở lên [8]
- Xác định điểm yếu các lĩnh vực của nền VHATNB: Tỷ lệ nhân viên y tế có nhận thức tích cực thấp dưới 75% [8].
Đạo đức trong nghiên cứu
Ban Giám đốc và Hội đồng Khoa học Kỹ thuật Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang đã chấp thuận triển khai nghiên cứu tại bệnh viện.
Trước khi bắt đầu nghiên cứu, các đối tượng sẽ được giải thích rõ ràng về mục đích và nội dung của khảo sát, và chỉ tiến hành khi họ tự nguyện đồng ý tham gia.
Thông tin của người tham gia nghiên cứu được bảo mật hoàn toàn Tất cả số liệu và thông tin thu thập đều chính xác và trung thực, chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu mà không phục vụ cho bất kỳ mục đích nào khác.
Nghiên cứu đã tuân thủ đầy đủ các quy định về đạo đức trong nghiên cứu và được Hội đồng Đạo đức của Trường Đại học Y tế Công cộng phê duyệt theo quyết định số 226/2019/YTCC-HD.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Tổng số phiếu khảo sát phát ra là 220, và tất cả 220 phiếu đã được thu về từ 220 nhân viên y tế thuộc 22 khoa/phòng tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang Qua phân tích dữ liệu, kết quả thu được như sau:
3.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu (n"0)
Nội dung Tần số (n) Tỷ lệ (%)
- Bác sĩ (Bác sĩ điều trị + phẫu thuật viên) 23 10
- Điều dưỡng/kỹ thuật viên/nhân viên khác 197 90
Thâm niên làm việc tại BV
Thâm niên làm việc tại khoa
Thời gian làm việc trong tuần
Công việc của A/C tiếp xúc với người bệnh
Kết quả nghiên cứu cho thấy, 90% đối tượng là Điều dưỡng, kỹ thuật viên và nhân viên khác, trong khi bác sĩ chỉ chiếm 10% Đặc biệt, 53% nhân viên làm việc tại bệnh viện dưới 10 năm, và 64% nhân viên có thâm niên làm việc tại khoa cũng dưới 10 năm.
Có tới 89% thời gian nhân viên làm việc dưới 60 giờ trong một tuần Có 99% nhân viên có tiếp xúc trực tiếp với người bệnh
3.2 Thực trạng văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang năm 2019
3.2.1 Bảy lĩnh vực văn hóa an toàn người bệnh trong phạm vi từng khoa/phòng (n"0)
Bảng 3.2 Lĩnh vực làm việc nhóm trong khoa (n"0)
Câu hỏi Nội dung Tần số
A1 Mọi người trong khoa luôn hỗ trợ lẫn nhau 214 97
Khi có nhiều việc cần phải hoàn tất trong thời gian ngắn, nhân viên trong khoa luôn làm việc theo nhóm để hoàn thành
A4 Mọi người trong khoa luôn tôn trọng lẫn nhau 207 94
Khi một đơn vị hoặc một bộ phận trong khoa trở nên bận rộn thì nhân viên trong khoa luôn hỗ trợ lẫn nhau để hoàn thành công việc
Trong lĩnh vực “Làm việc nhóm trong khoa”, tỷ lệ nhân viên y tế có nhận thức tích cực đạt 94%, cho thấy đây là một lĩnh vực mạnh trong văn hóa an toàn người bệnh tại bệnh viện Tất cả các tiểu mục của lĩnh vực này đều có nhận thức tích cực trên 90%, đặc biệt là ý kiến của nhân viên y tế.
HUPH tế đồng ý cho rằng “Mọi người trong khoa luôn hỗ trợ nhau” tỷ lệ nhân viên y tế có nhận thức tích cực cao nhất (97%)
Bảng 3.3 Lĩnh vực lãnh đạo khoa khuyến khích an toàn người bệnh (n"0)
Câu hỏi Nội dung Tần số
Lãnh đạo khoa luôn nói lời động viên khi nhân viên tuân thủ các qui trình đảm bảo an toàn người bệnh
Lãnh đạo khoa luôn xem xét nghiêm túc các đề xuất của nhân viên trong việc cải tiến an toàn người bệnh
Khi áp lực công việc gia tăng, lãnh đạo khoa thường yêu cầu nhân viên làm việc nhanh hơn, mặc dù có thể không tuân thủ đầy đủ các bước trong quy trình.
B4r Lãnh đạo khoa bỏ qua các vấn đề an toàn người bệnh dù biết các lỗi cứ lập đi lập lại 190 86
Lĩnh vực “Lãnh đạo khoa khuyến khích an toàn người bệnh” có tỷ lệ nhân viên y tế nhận thức tích cực trung bình cao (84%), thể hiện sự mạnh mẽ trong văn hóa an toàn người bệnh tại bệnh viện Đặc biệt, có 87% nhân viên y tế không đồng ý với quan điểm rằng “Khi áp lực công việc tăng cao, lãnh đạo khoa luôn muốn nhân viên làm việc nhanh hơn ngay cả khi không tuân thủ đủ các bước của các qui trình.”
Bảng 3.4 Lĩnh vực học tập – cải tiến liên tục (n"0)
Câu hỏi Nội dung Tần số
A6 Khoa chủ động triển khai các hoạt động để đảm bảo an toàn người bệnh 207 94
A9 Các sai sót xảy ra đã giúp khoa có những thay đổi theo chiều hướng tích cực hơn 185 84
Sau khi thực hiện các thay đổi để cải tiến an toàn người bệnh, khoa có đánh giá hiệu quả của các can thiệp thay đổi
Trong lĩnh vực “Học tập – cải tiến liên tục”, tỷ lệ nhân viên y tế có nhận thức tích cực trung bình cao đạt 84%, cho thấy đây là một điểm mạnh trong văn hóa an toàn người bệnh Đặc biệt, có đến 94% nhân viên y tế đồng ý rằng “Khoa chủ động triển khai các hoạt động đảm bảo an toàn người bệnh”, phản ánh sự cam kết cao đối với việc nâng cao chất lượng chăm sóc.
Bảng 3.5 Lĩnh vực thông báo phản hồi về sai sót (n"0)
Câu hỏi Nội dung Tần số
Nhân viên trong khoa được phản hồi về những biệp pháp cải tiến đã được thực hiện dựa trên những báo cáo sự cố
C3 Nhân viên được thông tin về các sai sót xảy ra trong khoa 174 79
C5 Khoa có tổ chức thảo luận các biện pháp để phòng ngừa sai sót tái diễn 159 72
Trong lĩnh vực “Thông báo phản hồi về sai sót”, tỷ lệ nhân viên y tế có nhận thức tích cực trung bình chỉ đạt 70% Tuy nhiên, tiểu mục “Nhân viên được thông tin về các sai sót diễn ra trong khoa” ghi nhận tỷ lệ đáp ứng tích cực cao hơn, đạt 79% Đặc biệt, ý kiến của nhân viên y tế về việc “Nhân viên trong khoa được phản hồi về những biện pháp cải tiến đã được thực hiện dựa trên những báo cáo sự cố” cho thấy tỷ lệ nhận thức tích cực thấp nhất, chỉ đạt 59%.
Bảng 3.6 Lĩnh vực cởi mở trong thông tin về sai sót (n"0)
Câu hỏi Nội dung Tần số
Nhân viên có thể thoải mái nói ra khi họ thấy có những vấn đề ảnh hưởng không tốt đến chăm sóc người bệnh
Nhân viên cảm thấy thoải mái trong việc chất vấn những quyết định hoặc hành động của lãnh đạo khoa/lãnh đạo bệnh viện
C6r Nhân viên ngại hỏi khi thấy những sự việc dường như không đúng 82 37
Lĩnh vực “Cởi mở trong thông tin về sai sót” cho thấy tỷ lệ nhân viên y tế có nhận thức tích cực trung bình thấp nhất, chỉ đạt 41%, và đây là lĩnh vực yếu nhất trong văn hóa an toàn người bệnh tại bệnh viện Đặc biệt, chỉ có 28% nhân viên y tế cảm thấy thoải mái khi chất vấn các quyết định hoặc hành động của lãnh đạo khoa hoặc lãnh đạo bệnh viện.
Bảng 3.7 Lĩnh vực nhân lực (n"0)
Câu hỏi Nội dung Tần số
A2 Khoa có đủ nhân sự để làm việc 121 55
Nhân viên trong khoa phải làm việc nhiều thời gian hơn qui định để có thể chăm sóc người bệnh tốt nhất
A7r Khoa phải sử dụng nhiều nhân viên thời vụ hơn để có thể chăm sóc người bệnh tốt nhất 88 40
Nhân viên khoa thường làm việc “cuống cả lên”, cố gắng làm thật nhiều và thật nhanh cho xong việc
Trong lĩnh vực "Nhân lực", tỷ lệ nhân viên y tế có nhận thức tích cực trung bình chỉ đạt 46%, cho thấy đây là một điểm yếu trong văn hóa an toàn người bệnh tại bệnh viện Đặc biệt, chỉ có 18% nhân viên y tế đồng ý với quan điểm rằng "Nhân viên trong khoa phải làm việc nhiều thời gian hơn quy định để có thể chăm sóc người bệnh tốt nhất", phản ánh sự thiếu hụt trong nhận thức tích cực của họ.
Bảng 3.8 Lĩnh vực hành xử không buộc tội khi có sai sót (n"0)
Câu hỏi Nội dung Tần số
A8r Nhân viên trong khoa cảm thấy bị thành kiến khi có sai sót 108 49
Khi xảy ra sự cố, thường có xu hướng chỉ trích cá nhân liên quan thay vì phân tích nguyên nhân của vấn đề.
A16r Nhân viên lo lắng các sai sót của họ bị ghi nhận vào hồ sơ cá nhân 51 23
Trong lĩnh vực "Hành xử không buộc tội khi có sai sót", tỷ lệ nhân viên y tế có nhận thức tích cực chỉ đạt 42%, cho thấy đây là một điểm yếu trong văn hóa an toàn người bệnh tại bệnh viện Nhiều nhân viên y tế không đồng ý với quan điểm này, phản ánh sự cần thiết phải cải thiện nhận thức và thái độ trong môi trường làm việc.
Tỷ lệ nhân viên y tế có nhận thức tích cực thấp nhất chỉ đạt 23%, cho thấy họ lo lắng rằng các sai sót của mình sẽ bị ghi nhận vào hồ sơ cá nhân.
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ đáp ứng tích cực văn hóa an toàn trong phạm vi từng khoa (n"0)
Tỷ lệ nhân viên y tế có nhận thức tích cực về văn hóa an toàn người bệnh tại bệnh viện cho thấy có 3 lĩnh vực mạnh, trong đó lĩnh vực “Làm việc nhóm trong khoa” đạt tỷ lệ cao nhất là 94% Ngược lại, có 4 lĩnh vực yếu, với lĩnh vực “Cởi mở trong thông tin về sai sót” có tỷ lệ nhận thức tích cực thấp nhất, chỉ đạt 41%.
3.1.2.2 Ba lĩnh vực văn hóa an toàn người bệnh trong phạm vi toàn bệnh viện (n"0)
Bảng 3.9 Lĩnh vực hỗ trợ của lãnh đạo bệnh viện về an toàn người bệnh (n"0)
Câu hỏi Nội dung Tần số
F1 Lãnh đạo bệnh viện tạo bầu không khí làm việc hướng đến an toàn người bệnh 187 85
F8 Hoạt động quản lý bệnh viện cho thấy an toàn người bệnh là ưu tiên hàng đầu của bệnh viện 192 87
F9r Lãnh đạo bệnh viện chỉ quan tâm đến an toàn người bệnh khi có sự cố nghiêm trọng xảy ra 121 55
Trong lĩnh vực “Hỗ trợ của lãnh đạo bệnh viện về an toàn người bệnh”, tỷ lệ nhân viên y tế có nhận thức tích cực trung bình cao đạt 76% Đặc biệt, 87% nhân viên y tế đồng ý rằng “Hoạt động quản lý bệnh viện cho thấy an toàn người bệnh là ưu tiên hàng đầu của bệnh viện” Ngược lại, chỉ 55% nhân viên y tế không đồng ý với ý kiến rằng “Lãnh đạo bệnh viện chỉ quan tâm đến an toàn người bệnh khi có sự cố nghiêm trọng xảy ra”, cho thấy sự nhận thức tích cực về vai trò của lãnh đạo trong việc đảm bảo an toàn cho bệnh nhân.
Bảng 3.10 Lĩnh vực làm việc nhóm giữa các khoa (n"0)
Câu hỏi Nội dung Tần số
F2r Các khoa phòng trong bệnh viện không phối hợp tốt với nhau 99 45
F4 Có sự phối hợp tốt giữa các khoa phòng liên đới 154 70
F6r Anh/chị cảm thấy không thoải mái khi làm việc với các nhân viên khoa khác 132 60
F10 Các khoa hợp tác tốt với nhau để đảm bảo chăm sóc người bệnh tốt nhất 181 82
Trong lĩnh vực “Làm việc nhóm giữa các khoa”, tỷ lệ nhân viên y tế có nhận thức tích cực chỉ đạt trung bình thấp (64%) Điều này cho thấy rằng nhiều nhân viên y tế vẫn chưa hoàn toàn đồng ý với các phương pháp làm việc nhóm hiện tại.