1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng văn hóa an toàn người bệnh và một số yếu tố ảnh hưởng của nhân viên y tế tại bệnh viện trưng vương thành phố hồ chí minh năm 2018

89 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng Văn hóa An toàn Người bệnh và Một số yếu tố ảnh hưởng của nhân viên y tế tại Bệnh viện Trưng Vương thành phố Hồ Chí Minh năm 2018
Người hướng dẫn TS.BS. Lê Nguyễn Quyền
Trường học Trường Đại học Y tế Công cộng
Chuyên ngành Quản lý bệnh viện
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 1,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU (13)
    • 1.1. Một số định nghĩa (13)
    • 1.2. Công cụ khảo sát văn hóa an toàn người bệnh - Bộ câu hỏi HSOPSC (16)
    • 1.3. Tình hình khảo sát Văn hóa An toàn người bệnh trên thế giới và trong nước. 9 (18)
      • 1.3.1 Trên Thế giới (18)
      • 1.3.2. Tại Việt Nam (20)
    • 1.4. Thông tin về Bệnh viện Trưng Vương (21)
      • 1.4.1. Sơ lược sự hình thành và phát triển (21)
      • 1.4.2. Chức năng (22)
    • 1.5 Khung lý thuyết (24)
  • CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP (25)
    • 2.1. Đối tƣợng nghiên cứu (25)
      • 2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn (25)
      • 2.1.2. Đối tượng loại trừ (25)
    • 2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (25)
    • 2.3. Thiết kế nghiên cứu (25)
    • 2.4. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu (25)
      • 2.4.1. Nghiên cứu định lượng (25)
      • 2.4.2. Nghiên cứu định tính (26)
    • 2.5. Phương pháp thu thập số liệu (27)
      • 2.5.1. Thu thập số liệu định lượng (27)
      • 2.5.2. Thu thập thông tin định tính (27)
    • 2.6. Công cụ nghiên cứu (27)
    • 2.7. Biến số nghiên cứu (28)
    • 2.8. Tiêu chuẩn thang đo đánh giá (28)
    • 2.9. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu (29)
    • 2.10. Y đức (30)
    • 2.11. Hạn chế, sai số và cách khắc phục (30)
      • 2.11.1. Hạn chế (30)
      • 2.11.2. Sai số và biện pháp khắc phục (30)
  • CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (32)
    • 3.1. Thực trạng Văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế tại Bệnh viện Trưng Vương năm 2018 (32)
      • 3.1.1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu (32)
      • 3.1.2. Thực trạng văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế tại Bệnh viện Trưng Vương (34)
    • 3.2. Một số yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế tại Bệnh viện Trưng Vương (44)
  • CHƯƠNG 4. BÀN LUẬN (49)
    • 4.1. Thực trạng văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế tại Bệnh viện Trưng Vương (49)
      • 4.1.1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu (49)
      • 4.1.2. Thực trạng văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế tại Bệnh viện Trưng Vương (49)
    • 4.2. Một số yếu tố ảnh hưởng đến Văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế tại Bệnh viện Trưng Vương (53)
  • KẾT LUẬN (54)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (57)

Nội dung

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

Đối tƣợng nghiên cứu

Cán bộ/nhân viên y tế (NVYT) công tác tại bệnh viện từ 6 tháng trở lên tính đến thời điểm nghiên cứu

- Mới tuyển dụng hoặc hợp đồng lao động có thời gian làm việc 0,05.

Bảng 3.11: Văn hóa an toàn người bệnh về bệnh viện và đặc điểm mẫu nghiên cứu Đặc tích mẫu Điểm trung bình

Giá trị p Trung bình ± Độ lệch chuẩn

Thời gian làm việc tại BV

HUPH Đặc tích mẫu Điểm trung bình

Giá trị p Trung bình ± Độ lệch chuẩn

Công việc có tiếp xúc người bệnh không

Nghiên cứu chỉ ra rằng có sự khác biệt đáng kể về điểm trung bình VHATNB giữa nam và nữ tham gia Cụ thể, nam giới đạt điểm trung bình VHATNB là 36,29 ± 4,47, cao hơn nữ giới với điểm trung bình 34,14 ± 3,54, với giá trị p = 0,002, cho thấy sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê.

Nghiên cứu chỉ ra rằng có sự liên quan thống kê giữa điểm trung bình VHATNB về bệnh viện và độ tuổi của người tham gia Cụ thể, nhóm từ 50 tuổi trở lên có điểm trung bình cao nhất là 35,11 ± 5,05, tiếp theo là nhóm 40 - 50 tuổi với 34,91 ± 4,10, nhóm dưới 30 tuổi đạt 34,79 ± 3,91, và nhóm 30 - 40 tuổi có điểm thấp nhất là 34,63 ± 3,61 Kết quả này có ý nghĩa với p = 0,032 < 0,05.

Bảng 3.12: Đánh giá mức độ an toàn người bệnh và đặc điểm mẫu nghiên cứu Đặc tích mẫu Điểm trung bình chung về

Trung bình ± Độ lệch chuẩn Giới tính

HUPH Đặc tích mẫu Điểm trung bình chung về

Trung bình ± Độ lệch chuẩn

Thời gian làm việc tại BV

Công việc có tiếp xúc người bệnh không

Nghiên cứu chỉ ra rằng có mối liên hệ thống kê đáng kể giữa điểm trung bình chung VHATNB và giới tính của người tham gia Cụ thể, nam giới đạt điểm trung bình VHATNB là 111,89 ± 9,88, cao hơn nữ giới với điểm trung bình là 106,88 ± 7,96, với giá trị p = 0,005, nhỏ hơn 0,05.

Nghiên cứu chỉ ra rằng có mối liên hệ thống kê giữa điểm trung bình VHATNB và độ tuổi của người tham gia Cụ thể, nhóm tuổi từ 40 - 50 có điểm số trung bình cao nhất là 109,12 ± 8,52, tiếp theo là nhóm dưới 30 tuổi với 108,84 ± 8,63 Nhóm từ 50 tuổi trở lên đạt 108,35 ± 11,67, trong khi nhóm 30 - 40 tuổi có điểm số thấp nhất là 107,75 ± 8,30 Kết quả này có ý nghĩa với p = 0,021 < 0,05.

BÀN LUẬN

Thực trạng văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế tại Bệnh viện Trưng Vương

4.1.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ cao NVYT tham gia vào nghiên cứu từ 31 -

40 tuổi chiếm 41,75% Điều này hoàn toàn phù hợp bởi đây là độ tuổi lao động chiếm tỉ lệ cao nhất trong Bệnh viện Trưng Vương

Tỉ lệ nữ chiếm 70,1% cao hơn 2 lần nam (29,9%) Điều này phù hợp với đặc tính mẫu mà chúng tôi lựa chọn trong nghiên cứu

Tỉ lệ người làm việc trên 40 tiếng mỗi tuần đạt 42,01% Trong số nhân viên y tế, 84,28% có thu nhập từ 5 - 10 triệu/tháng, 7,73% kiếm trên 10 triệu/tháng, và 7,99% dưới 5 triệu/tháng Đáng chú ý, 81,96% nhân viên y tế được khảo sát có tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân, điều này phản ánh đúng tỉ lệ thực tế tại Bệnh viện Trưng Vương.

4.1.2 Thực trạng văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế tại Bệnh viện Trưng Vương

Nghiên cứu chỉ ra rằng điểm trung bình cao nhất về sự hỗ trợ lẫn nhau trong khoa đạt 4,1 ± 0,55, với tỉ lệ tích cực lên tới 94,59% Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Tăng Chí Thượng về văn hóa an toàn người bệnh tại các bệnh viện ở thành phố Hồ Chí Minh.

Tỉ lệ trả lời tích cực tại các bệnh viện thành phố đạt 95,4%, cao hơn so với nghiên cứu của Chen I tại Đài Loan năm 2010 với tỉ lệ 64% Kết quả này cũng tương đồng với nghiên cứu của Trần Nguyễn Như Anh năm 2015, cũng ghi nhận tỉ lệ trả lời tích cực là 95,4%.

Về việc đánh giá An toàn người bệnh của lãnh đạo khoa cho thấy:

Nghiên cứu của Trần Nguyễn Như Anh cho thấy mức độ đánh giá về an toàn người bệnh (ATNB) của lãnh đạo khoa đạt 91,3% Yếu tố "lãnh đạo khoa luôn nói lời động viên khi nhân viên tuân thủ các quy trình đảm bảo an toàn người bệnh" có điểm trung bình cao nhất là 3,97 ± 0,55, cho thấy tỉ lệ tích cực trong việc khuyến khích nhân viên.

Lãnh đạo khoa trong bệnh viện luôn chú trọng đến an toàn người bệnh, thể hiện qua tỷ lệ 87,63% Họ có ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện văn hóa an toàn người bệnh (ATNB) và đưa ra các giải pháp hiệu quả nhằm nâng cao các yếu tố văn hóa này trong bệnh viện.

Thiếu lãnh đạo hiệu quả có thể gây tổn thất lớn cho tổ chức, đặc biệt trong ngành y tế, nơi liên quan đến tính mạng con người Nghiên cứu cho thấy 91,5% nhân viên không đồng ý với việc lãnh đạo khoa bỏ qua an toàn người bệnh, và 85,02% không đồng tình với áp lực công việc khiến nhân viên phải làm việc nhanh hơn mà không tuân thủ quy trình Tỷ lệ này tương đương với nghiên cứu của Trần Nguyễn Như Anh tại Bệnh viện Từ Dũ Điều này cho thấy các khoa/phòng luôn ưu tiên an toàn người bệnh hơn là hoàn thành công việc nhanh chóng Hầu hết nhân viên y tế đều xem việc đảm bảo an toàn người bệnh là trách nhiệm chung của mọi cơ sở y tế và là sứ mệnh của từng nhân viên.

Đánh giá An toàn người bệnh về trao đổi thông tin cho thấy điểm trung bình thấp nhất là “nhân viên cảm thấy thoải mái trong việc chất vấn những quyết định hoặc hành động của lãnh đạo khoa/bệnh viện” với điểm trung bình 3,05 ± 1,01 và tỷ lệ tích cực 32,22% Gần 2/3 nhân viên tham gia khảo sát cảm thấy không thoải mái khi chất vấn lãnh đạo, trong khi hơn 1/2 ngại hỏi khi thấy sự việc không đúng Qua hai lần khảo sát, lĩnh vực này không có xu hướng cải thiện, chỉ tiêu (C4) có sự thay đổi tích cực nhưng vẫn ở mức thấp Theo các tác giả Đài Loan I-Chi Chen và Hung-Hui Li, nguyên nhân chủ yếu là do người Đài Loan thường ngại thắc mắc hoặc có ý kiến khi có sự việc.

Trong xã hội Á Đông, việc cởi mở thông tin về sai sót thường không được đánh giá khách quan, vì mọi người muốn duy trì sự đoàn kết và hòa hợp Nhân viên có xu hướng tuân thủ tuyệt đối lãnh đạo, dẫn đến việc báo cáo sai sót có thể khiến họ bị xem là "người tố cáo" Điều này làm giảm sự cởi mở trong việc thông tin về các vấn đề, phản ánh những đặc điểm văn hóa tương đồng của Việt Nam với các nước Á Đông khác.

Nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ phản hồi tích cực trong việc báo cáo sự cố dao động từ 6% đến 77% Trên toàn cầu, lĩnh vực này cũng ghi nhận tỷ lệ thấp, với Bỉ đạt 36%, Iran 44%, Hoa Kỳ 44% và Đài Loan 45%.

Hà Lan có tỷ lệ khả quan hơn (67%) trong việc xử lý sai sót, do ảnh hưởng của văn hóa buộc tội, nơi con người thường đơn giản hóa các sự cố và đổ lỗi cho cá nhân Xu hướng này khiến nhân viên e ngại khi báo cáo sai sót, vì lo sợ bị thành kiến hoặc kỷ luật Nghiên cứu cho thấy 67% nhân viên lo lắng rằng sai sót của họ sẽ được ghi nhận vào hồ sơ cá nhân, ảnh hưởng đến đánh giá thành tích cuối năm Tỷ lệ này cao hơn so với các bệnh viện khác như Bệnh viện Nhi Đồng 1 (26%) và Bệnh viện Nguyễn Tri Phương (22%) Trong khi đó, nghiên cứu của Sở Y tế cho thấy tỷ lệ báo cáo sự cố tại các bệnh viện là 43,3%.

Tỉ lệ người tham gia đánh giá mức độ an toàn, chất lượng bệnh viện rất khả quan, với 51,8% đánh giá ở mức rất tốt và 42,47% ở mức chấp nhận được Tuy nhiên, vẫn còn 3,61% đánh giá kém và 2,32% đánh giá xuất sắc Do đó, lãnh đạo bệnh viện cần triển khai các biện pháp can thiệp để khuyến khích nhân viên chủ động và thường xuyên báo cáo sự cố, ngay cả khi sự cố không gây hại cho bệnh nhân, cũng cần được báo cáo đầy đủ.

Về việc đánh giá An toàn người bệnh về bệnh viện cho thấy:

Kết quả nghiên cứu cho thấy khoảng 2 / 3 nhân viên tham gia khảo sát cho rằng

“thay đổi ca trực là một vấn đề đáng lo ngại đối với người bệnh ở bệnh viện này” và

Trong quá trình trao đổi thông tin giữa các khoa/phòng trong bệnh viện, nhiều vấn đề thường xảy ra Hơn một nửa nhân viên cho rằng có nhiều việc bị bỏ sót khi chuyển bệnh nhân từ khoa này sang khoa khác, và khoảng một phần ba nhân viên cũng nhận định về tình trạng này.

Chăm sóc người bệnh tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định đang gặp vấn đề nghiêm trọng khi nhiều thông tin quan trọng thường bị bỏ sót trong quá trình bàn giao ca trực Hai lần khảo sát cho thấy phản hồi về lĩnh vực này vẫn thấp và không có xu hướng cải thiện Việc ghi nhận đầy đủ thông tin liên lạc với bệnh nhân, thân nhân và nhân viên y tế là rất cần thiết để đảm bảo an toàn cho người bệnh Thất bại trong việc này có thể dẫn đến mất an toàn cho bệnh nhân Điểm trung bình đánh giá về việc bỏ sót thông tin trong chăm sóc người bệnh chỉ đạt 2,53 ± 0,80, với tỉ lệ tích cực chỉ 14,43% Hơn nữa, lãnh đạo bệnh viện chỉ quan tâm đến an toàn người bệnh khi có sự cố nghiêm trọng xảy ra, với điểm trung bình 2,65 ± 0,92 và tỉ lệ tích cực 23,2% Tình trạng này cho thấy quan niệm về chất lượng bệnh viện và an toàn người bệnh vẫn còn hạn chế, và trách nhiệm cá nhân của nhân viên chưa được đề cập nhiều Do đó, bệnh viện cần áp dụng các biện pháp nghiêm khắc và phù hợp để khắc phục tình trạng này.

Nghiên cứu cho thấy chỉ có 34,28% nhân viên y tế báo cáo sự cố trong 6 tháng qua, cho thấy tỷ lệ báo cáo còn rất thấp Nhân viên vẫn còn e ngại hoặc chưa hiểu rõ mục đích của việc báo cáo Do đó, lãnh đạo bệnh viện và các khoa/phòng cần tích cực thúc đẩy việc báo cáo sự cố, áp dụng các hình thức khuyến khích và tổ chức các lớp tập huấn về báo cáo sự cố cho toàn viện.

Một số yếu tố ảnh hưởng đến Văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế tại Bệnh viện Trưng Vương

tế tại Bệnh viện Trưng Vương

Nghiên cứu chỉ ra rằng có mối liên quan thống kê giữa điểm trung bình VHATNB về khoa/phòng và giới tính, với nữ giới đạt điểm trung bình 62,64 ± 6,38, cao hơn nam giới 60,40 ± 5,15 (p = 0,005 < 0,05) Tỉ lệ nữ giới trong nghiên cứu là 2/3 so với nam giới, cho thấy nữ giới thường cẩn thận và chu đáo hơn, điều này giải thích cho việc họ có điểm số cao hơn trong vấn đề văn hóa an toàn người bệnh.

Nghiên cứu chỉ ra rằng có mối liên quan thống kê giữa điểm trung bình VHATNB về Bệnh viện và nhóm tuổi người tham gia Cụ thể, nhóm từ 50 tuổi trở lên có điểm trung bình cao nhất là 35,11 ± 5,05, tiếp theo là nhóm 40 - 50 tuổi với 34,91 ± 4,10, nhóm dưới 30 tuổi đạt 34,79 ± 3,91, và nhóm 30 - 40 tuổi có điểm thấp nhất là 34,63 ± 3,61, với p = 0,032 < 0,05 Điều này cho thấy rằng những người có nhiều năm kinh nghiệm làm việc thường đánh giá cao vấn đề VHATNB hơn.

Ngày đăng: 27/07/2023, 00:26

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN