ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Nhân viên y tế (NVYT) tại Bệnh viện Truyền máu Huyết học tham gia vào các khoa lâm sàng và cận lâm sàng từ thời điểm nghiên cứu được tiến hành.
Nhân viên y tế làm việc tại các khoa lâm sàng và cận lâm sàng của Bệnh viện Truyền máu Huyết học có thời gian công tác từ 6 tháng trở lên tính đến thời điểm nghiên cứu.
- Nhân viên y tế đồng ý tham gia nghiên cứu
- NVYT đang trong thời gian học tập trung, nghỉ thai sản hay vắng mặt dài hạn.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Tháng 3/2019 đến tháng 8/2019; thời gian thu thập số liệu từ tháng 5/2019 đến tháng 6/2019
Nghiên cứu được tiến hành tại hai cơ sở của Bệnh viện Truyền máu Huyết học, bao gồm Cơ sở 1 tại 118 Hồng Bàng, Phường 12, Quận 5, TP HCM và Cơ sở 2 tại 201 Phạm Viết Chánh, Phường Nguyễn Cư Trinh, Quận 1, TP HCM.
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp cắt ngang kết hợp giữa định lượng và định tính Đầu tiên, nghiên cứu định lượng được thực hiện để mô tả thực trạng văn hóa an toàn thông tin tại bệnh viện Sau đó, nghiên cứu định tính được tiến hành nhằm giải thích các kết quả định lượng và khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng văn hóa an toàn thông tin tại bệnh viện.
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
2.4.1 Mẫu nghiên cứu định lượng
2.4.1.1 Cỡ mẫu Áp dụng công thức ước lượng một tỷ lệ cho nghiên cứu cắt ngang
𝑑 2 n: Cỡ mẫu tối thiểu cần cho nghiên cứu
Z: Trị số phân phối chuẩn, độ tin cậy 95%, Z=1,96 p : Tỷ lệ ước tính đối tượng nghiên cứu đánh giá tích cực về VHATNB, lấy p=0,65 (dựa vào tỷ lệ trả lời tích cực ở 12 lĩnh vực VHATNB của nghiên cứu “Thực trạng văn hóa an toàn người bệnh tại Bệnh viện Truyền máu Huyết học năm 2017) [9] d : Sai số chấp nhận, d=0,05
Dựa vào công thức đã nêu, chúng tôi tính toán cỡ mẫu là 50 người Với tổng số nhân viên y tế làm việc tại khối lâm sàng và cận lâm sàng là 422 người, chúng tôi áp dụng công thức hiệu chỉnh cỡ mẫu cho quần thể nhỏ, cụ thể là nhc = 350×422.
Theo tài liệu hướng dẫn của Tổ chức AHRQ, tỷ lệ mong đợi hoàn thành khảo sát là 50% Để đảm bảo đủ số lượng người tham gia nghiên cứu, cần lấy cỡ mẫu là 382 người, tính từ 191 người đã được xác định.
Cỡ mẫu nghiên cứu là 382 người, chiếm hơn 90% quần thể Theo khuyến cáo của AHRQ, số lượng nhân viên tham gia khảo sát càng nhiều thì khả năng đại diện cho dân số càng cao; với dân số nghiên cứu ≤ 500, nên lấy mẫu toàn bộ Do đó, chúng tôi đã quyết định khảo sát toàn bộ 407 nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng và cận lâm sàng thỏa tiêu chuẩn lựa chọn Cuối cùng, nhóm nghiên cứu đã thu thập dữ liệu từ 289 nhân viên y tế.
2.4.2 Mẫu cho nghiên cứu định tính
Nhóm nghiên cứu đã tiến hành 5 cuộc phỏng vấn sâu với Ban giám đốc và các bộ phận lâm sàng, cận lâm sàng, cùng phòng chức năng Ngoài ra, nhóm cũng tổ chức 2 cuộc thảo luận nhóm với bác sĩ và điều dưỡng để khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa an toàn trong bệnh viện.
Bảng 2.1: Đặc điểm mẫu nghiên cứu định tính
Khối công tác Đặc điểm mẫu nghiên cứu
Ban giám đốc 01 Phó giám đốc bệnh viện
Phòng chức năng 01 BPT Phòng Quản lý chất lượng (nam)
01 BPT Phòng Điều dưỡng (nữ) Lâm sàng 01 BPT Khoa Huyết học trẻ em 1 (nữ)
Cận lâm sàng 01 BPT Khoa Huyết sinh học (nam)
Nhóm 1: Bác sỹ 4 nữ, 02 nam; Tuổi từ 27 – 37
Khối công tác: 4 lâm sàng, 02 cận lâm sàng Thâm niên công tác: 3 – 13 năm; 5 tiếp xúc trực tiếp với NB, 01 không tiếp xúc trực tiếp NB
5 nữ, 01 nam; Tuổi từ 23 – 38 Khối công tác: 4 lâm sàng, 02 cận lâm sàng Thâm niên công tác: 2 – 17 năm; 5 tiếp xúc trực tiếp với NB, 01 không tiếp xúc trực tiếp NB
Công cụ thu thập số liệu
Bộ công cụ đo lường VHATNB HSOPSC-VN 2015, do Sở Y tế TP HCM ban hành và được điều chỉnh cho phù hợp với Bệnh viện Truyền máu Huyết học, là sản phẩm của tác giả Tăng Chí Thượng, được dịch và chuẩn hóa từ bộ công cụ gốc của Tổ chức nghiên cứu y tế và chất lượng Hoa Kỳ (AHRQ).
Bộ câu hỏi sử dụng để đánh giá VHATNB bao gồm 44 câu và được chia thành
Nghiên cứu bao gồm 6 phần với 12 lĩnh vực (Phụ lục 3), trong đó có việc khảo sát số sự cố y khoa được báo cáo và mức độ đánh giá an toàn người bệnh chung Dựa trên mục tiêu nghiên cứu, các nhà nghiên cứu đã bổ sung thêm các câu hỏi liên quan đến đặc điểm và thông tin chung của đội ngũ nhân viên y tế.
Bộ câu hỏi đã được thử nghiệm trên 5 nhân viên y tế tại bệnh viện và được điều chỉnh phù hợp trước khi tiến hành thu thập số liệu chính thức Kết quả từ khảo sát thử nghiệm sẽ không được đưa vào phân tích trong nghiên cứu.
Các Hướng dẫn phỏng vấn sâu (Phụ lục 4-6) và Thảo luận nhóm (Phụ lục 7) được xây dựng dựa trên mục tiêu nghiên cứu và khung lý thuyết.
Phương pháp thu thập số liệu
Nhóm nghiên cứu đã lập kế hoạch khảo sát và thông báo về việc thực hiện khảo sát VHATNB, được sự chấp thuận của Ban Giám đốc bệnh viện, gửi đến các khoa/phòng liên quan trước 7 ngày làm việc.
Nhóm nghiên cứu gồm 3 điều tra viên từ Phòng Quản lý chất lượng, đã được đào tạo về nghiên cứu và phương pháp thu thập dữ liệu Chúng tôi đã hợp tác với các Điều dưỡng trưởng và Kỹ thuật viên trưởng của các khoa để phát bộ phiếu khảo sát cho từng thành viên, dựa trên danh sách nhân viên do Phòng Tổ chức cán bộ cung cấp, đảm bảo đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn cho nhân viên y tế.
HUPH tự điền bao gồm: Phiếu khảo sát, trang thông tin nghiên cứu, phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu và 01 phong thư
Các nhân viên y tế tham gia nghiên cứu đã hoàn thành phiếu khảo sát và gửi lại cho Điều dưỡng trưởng hoặc Kỹ thuật viên trưởng của khoa Trong vòng 07 ngày làm việc sau khi phát phiếu khảo sát, các điều tra viên đã thu thập toàn bộ phiếu khảo sát đã được nộp từ các khoa và phòng.
Nhóm nghiên cứu đã liên hệ với các đối tượng phỏng vấn sâu để nhận được sự chấp thuận và sắp xếp thời gian Mỗi cuộc phỏng vấn sâu kéo dài 45 phút, sử dụng Hướng dẫn phỏng vấn sâu Đối với thảo luận nhóm, nhóm nghiên cứu đã mời 6 bác sĩ và 6 điều dưỡng tham gia, sắp xếp thời gian phù hợp sau khi nhận được sự đồng ý Thời gian cho mỗi buổi thảo luận nhóm là 1,5 giờ, trong đó điều tra viên ghi chép các ý chính và ghi âm với sự đồng ý của người cung cấp thông tin.
2.6.3 Quy trình thu thập số liệu
Tổ chức tập huấn cho ĐTV, các ĐD trưởng, KTV trưởng khoa
Phát bộ phiếu khảo sát gồm phiếu khảo sát, trang thông tin nghiên cứu, phiếu đồng ý tham gia và
Thu lại toàn bộ phiếu khảo sát được nộp sau 7 ngày làm việc
Phỏng vấn sâu Chọn mẫu có chủ đích 5 người gồm: 01
BGĐ, 02 PCN, 01 LS và 01 CLS
Thảo luận nhóm Chọn mẫu có chủ đích 2 nhóm gồm: TLN01: 6 bác sĩ và TLN02: 6 điều dưỡng
Liên hệ và sắp xếp thời gian phù hợp ĐTNC ký giấy đồng ý tham gia NC
NCV tổ chức Thảo luận nhóm
NCV thực hiện Phỏng vấn sâu
NCV thu thập thông tin
Ban hành kế hoạch thực hiện khảo sát đến các khoa
NCV tổng hợp và phân tích số liệu
Nhân viên đồng ý tham gia nghiên cứu
Hình 2.1: Quy trình thu thập số liệu
Các biến số, chủ đề của nghiên cứu
Các thông tin chính được thu thập bao gồm:
Nhóm biến số liên quan đến đặc điểm của đối tượng nghiên cứu bao gồm tuổi, giới tính, chức danh nghề nghiệp, khối công tác, thời gian làm việc tại bệnh viện, thời gian làm việc tại khoa, số giờ làm việc mỗi tuần và mức độ tiếp xúc trực tiếp với người bệnh.
Nhóm biến số về thực trạng văn hóa an toàn người bệnh bao gồm:
Trong 12 lĩnh vực về An toàn người bệnh (ATNB), việc làm việc nhóm trong khoa đóng vai trò quan trọng, cùng với quan điểm và hành động của ban phụ trách khoa về ATNB Học tập và cải tiến liên tục là yếu tố then chốt, được hỗ trợ bởi lãnh đạo bệnh viện Nhận thức về ATNB và thông tin phản hồi về sai sót cần được nâng cao, với tần suất báo cáo sự cố thường xuyên Sự cởi mở trong thông tin về sai sót và làm việc nhóm giữa các khoa cũng rất cần thiết Cuối cùng, nhân lực, bàn giao và chuyển bệnh, cùng với hành xử không buộc tội khi xảy ra sai sót, là những yếu tố quan trọng để đảm bảo an toàn cho người bệnh.
- Kết quả đánh giá VHATNB: Mức độ ATNB tại khoa; số lượng sự cố được báo cáo
Nhóm biến số ảnh hưởng đến VHATNB bao gồm đặc điểm dân số xã hội và nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu, các yếu tố liên quan đến nhân viên y tế, người bệnh, và hệ thống y tế.
Tiêu chuẩn thang đo đánh giá và cách tính điểm
Mỗi nội dung được đánh giá bằng thang đo Likert 5 mức, từ 1 đến 5 điểm, trong đó 1 điểm thể hiện mức độ thấp nhất và ý nghĩa tiêu cực, còn 5 điểm thể hiện mức độ cao nhất và ý nghĩa tích cực.
– Các phần A, B, F sẽ có 5 mức độ trả lời từ:
– Các phần C, D sẽ có 5 tần suất trả lời từ:
* Lưu ý: Có một số câu hỏi trả lời nghịch bao gồm:
Phần A: lưu ý câu hỏi số 5, 7, 8, 10, 12, 14, 16, 17
Các câu hỏi nghịch sẽ được tính điểm ngược lại
Tỷ lệ trả lời tích cực được tính bằng cách lấy tỷ lệ phần trăm của các câu trả lời "rất đồng ý", "đồng ý", "thường xuyên" và "luôn luôn" cho các câu hỏi thuận, hoặc tỷ lệ phần trăm của các câu trả lời "rất không đồng ý", "không đồng ý", "hiếm khi" và "không bao giờ" cho các câu hỏi nghịch.
*Tính điểm trung bình: Các điểm của từng nội dung sẽ được cộng lại và tính trung bình cho tổng điểm mỗi lĩnh vực
* Mức độ an toàn người bệnh (câu E1): Có cách tính điểm như sau
* Mức độ chung về VHATNB theo 12 lĩnh vực [68, 86]:
Tỷ lệ trả lời tích cực từ 75% trở lên sẽ được đánh giá là có mức độ VHATNB tốt/ lĩnh vực thế mạnh
Tỷ lệ trả lời tích cực từ 50-75% được đánh giá là có mức độ VHATNB trung bình
Tỷ lệ trả lời tích cực dưới 50% được đánh giá là có mức độ VHATNB kém/ thấp/ cần cải thiện
Phương pháp phân tích số liệu
Nhóm nghiên cứu đã tiến hành kiểm tra tính hợp lệ của từng phiếu khảo sát được nộp lại Các phiếu khảo sát không hợp lệ đã được loại bỏ và không được đưa vào phân tích.
- Phiếu hoàn toàn trống hoặc chỉ trả lời các câu hỏi về thông tin nền
Việc cung cấp câu trả lời giống nhau cho tất cả các câu hỏi trong khảo sát có thể chỉ ra rằng người tham gia không chú ý cẩn thận, đặc biệt khi một số mục khảo sát được diễn đạt theo cách tiêu cực Điều này dẫn đến khả năng phản hồi không hợp lệ.
- Trên 20% phiếu khảo sát có câu hỏi không được trả lời
Nhóm nghiên cứu đã phát ra 407 phiếu khảo sát cho các đối tượng đủ tiêu chuẩn Sau khi kiểm tra, 299 phiếu được nộp và 10 phiếu không hợp lệ đã bị loại bỏ, dẫn đến tỷ lệ phản hồi cuối cùng là 71%.
Dữ liệu nghiên cứu định lượng đã được kiểm tra, mã hóa và nhập vào phần mềm Epidata 3.1, sau đó được xuất sang Stata phiên bản 13.0 để tiến hành phân tích.
Các kiểm định phù hợp đã được áp dụng để phân tích dữ liệu, sử dụng tần số và tỷ lệ phần trăm (%) để mô tả các biến số như nhóm tuổi, giới tính, chức danh nghề nghiệp, khối công tác, thời gian làm việc tại khoa và bệnh viện, số giờ làm việc mỗi tuần, cũng như mức độ tiếp xúc với người bệnh Tỷ lệ trả lời tích cực (%) được sử dụng để mô tả các biến số trong 12 lĩnh vực VHATNB Kiểm định t-test với phương sai đồng nhất đã được sử dụng để phân tích mối liên quan giữa điểm trung bình VHATNB của 12 lĩnh vực và các yếu tố dân số xã hội - nghề nghiệp như giới tính, khối công tác, và vị trí công việc tiếp xúc với người bệnh Ngoài ra, kiểm định ANOVA một chiều được áp dụng để phân tích mối liên quan giữa chức danh nghề nghiệp và VHATNB.
Dữ liệu nghiên cứu định tính được xử lý thông qua phương pháp mã hóa theo chủ đề, trong đó nội dung các cuộc phỏng vấn được gỡ băng, mã hóa và tóm tắt vào bảng tổng hợp.
35 sắp xếp và hình thành các tiểu mục chủ đề Những ý kiến tiêu biểu được lựa chọn để trích dẫn minh họa.
Vấn đề đạo đức của nghiên cứu
Nghiên cứu đã được Ban lãnh đạo và Hội đồng y đức Bệnh viện Truyền máu Huyết học phê duyệt, cùng với sự chấp thuận của Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh học thuộc Đại học Y tế công cộng theo Quyết định số 183/2019/YTCC-HD3.
Các số liệu thu thập chỉ nhằm mục đích học tập và nghiên cứu khoa học, không sử dụng cho mục đích khác Nghiên cứu tuân thủ hướng dẫn và khuyến cáo của Tổ chức nghiên cứu y tế và chất lượng (AHRQ) cùng với Sở Y tế thành phố Hồ Chí Minh về vệ sinh an toàn thực phẩm.
Nghiên cứu chỉ được thực hiện sau khi đối tượng được thông tin đầy đủ về mục đích của nghiên cứu và đã ký vào phiếu đồng ý tham gia.
Chúng tôi cam kết bảo mật hoàn toàn thông tin cá nhân của đối tượng phỏng vấn Mọi thông tin nhận dạng của đối tượng sẽ không được ghi lại trong phiếu hỏi.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc tính mẫu nghiên cứu
Bảng 3.1: Đặc điểm dân số xã hội và nghề nghiệp của mẫu nghiên cứu (n(9) Đặc điểm Tần số Tỷ lệ (%)
Tuổi (Trung bình và độ lệch chuẩn) 32,2 (6,3)
Số giờ làm việc mỗi tuần
Tiếp xúc với người bệnh
Độ tuổi trung bình của nhân viên y tế trong nghiên cứu là 32,2 tuổi, với nhóm tuổi 30 – 44 chiếm tỷ lệ cao nhất (59,2%) Nữ giới chiếm ưu thế hơn nam giới trong lực lượng nhân viên y tế, với tỷ lệ lần lượt là 68,5% và 31,5% Nhóm điều dưỡng chiếm tỷ lệ lớn nhất trong khảo sát (41,9%), trong khi nhóm dược sĩ và nhóm khác chiếm tỷ lệ thấp hơn (6,6% và 4,5%) Khối lâm sàng có tỷ lệ nhân viên y tế cao hơn, đạt 54,0% Hầu hết nhân viên y tế làm việc từ 40 đến 59 giờ mỗi tuần (74,7%), và 66,4% trong số họ có tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân.
Biểu đồ 3.1 cho thấy thời gian làm việc của nhân viên y tế, trong đó đa số đối tượng tham gia nghiên cứu có thời gian công tác từ 1 đến 10 năm, chiếm tỷ lệ 58,8% tại bệnh viện và 61,2% tại khoa Ngược lại, tỷ lệ nhân viên có thời gian làm việc dưới 1 năm và trên 20 năm là thấp nhất, với 6,7% tại bệnh viện và 3,9% tại khoa.
Thời gian làm việc tại bệnh viện Thời gian làm việc tại khoa
Thực trạng văn hóa an toàn người bệnh tại Bệnh viện Truyền máu huyết học
3.2.1 Mô tả 12 lĩnh vực văn hóa an toàn người bệnh tại Bệnh viện Truyền máu Huyết học
Bảng 3.2: Văn hoá an toàn người bệnh trong lĩnh vực Làm việc nhóm trong khoa (n(9)
Hơn 80% nhân viên đồng ý rằng khi có công việc cần hoàn thành trong thời gian ngắn, họ luôn làm việc theo nhóm Xu hướng này cũng thể hiện qua sự tôn trọng lẫn nhau giữa các nhân viên trong khoa và sự hỗ trợ giữa các bộ phận khi một bộ phận đang bận rộn.
Biểu đồ 3.2: Tỷ lệ ĐTNC trả lời tích cực ở lĩnh vực Làm việc theo nhóm trong khoa (n(9)
Mọi người luôn hỗ trợ nhau
Làm việc theo nhóm để hoàn thành Luôn tôn trọng nhau Khi bận rộn có sự hỗ trợ lẫn nhau
Làm việc theo nhóm trong khoa
Mọi người trong khoa luôn hỗ trợ nhau 0 (0) 8 (2,8) 5 (1,7) 172 (59,5) 104(36,0)
Nhân viên trong khoa làm việc theo nhóm để hoàn thành công việc
Mọi người trong khoa luôn tôn trọng nhau 1 (0,4) 9 (3,1) 26 (9,0) 168 (58,1) 85 (29,4)
Các bộ phận trong khoa có sự hỗ trợ lẫn nhau 2 (0,7) 20 (6,9) 21 (7,3) 192 (66,4) 54 (18,7)
Tất cả các khía cạnh liên quan đến Làm việc theo nhóm trong khoa đều nhận được tỷ lệ trả lời tích cực cao, vượt quá 85% Đặc biệt, sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các thành viên trong khoa đạt tỷ lệ 95,5%, cho thấy tinh thần đoàn kết mạnh mẽ.
Kết quả thảo luận nhóm cho thấy các bác sĩ đồng thuận rằng việc hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau trong cùng một khoa được thực hiện rất hiệu quả.
Chúng tôi duy trì sự hợp tác chặt chẽ giữa bác sĩ, điều dưỡng và nhân viên hành chính trong khoa, điều này đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an toàn cho bệnh nhân.
Bảng 3.3: Văn hoá an toàn người bệnh trong lĩnh vực Học tập, cải tiến liên tục (n(9)
Học tập, cải tiến liên tục
Nhân viên trong khoa chủ động thực hiện các hoạt động để đảm bảo an toàn cho người bệnh
Các sai sót xảy ra đã giúp khoa có những thay đổi theo chiều hướng tích cực hơn
Sau khi thực hiện các thay đổi để cải tiến an toàn người bệnh khoa có đánh giá hiệu quả các can thiệp thay đổi
Hơn 94% nhân viên cho biết khoa của họ chủ động triển khai các hoạt động đảm bảo an toàn và nâng cao chất lượng Hơn 86% nhân viên nhận thấy rằng những sai sót đã giúp khoa có những thay đổi tích cực Đồng thời, hơn 83% nhân viên cũng khẳng định rằng sau khi thực hiện các cải tiến an toàn cho bệnh nhân, khoa đã tiến hành đánh giá hiệu quả của các can thiệp này.
Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ ĐTNC trả lời tích cực ở lĩnh vực Học tập, cải tiến liên tục (n(9)
Tỷ lệ trả lời tích cực về các khía cạnh trong lĩnh vực Học tập và cải tiến liên tục đều đạt trên 80% Đặc biệt, ý kiến của nhân viên trong khoa về việc chủ động thực hiện các hoạt động đảm bảo an toàn và bảo mật thông tin (ATNB) có tỷ lệ trả lời tích cực cao nhất, lên tới 94,1%.
Trong một cuộc phỏng vấn sâu với ban phụ trách khoa, vấn đề học hỏi từ các sai sót và cải tiến liên tục đã được nhấn mạnh Ý kiến cho rằng "Sự an toàn cho người bệnh luôn được đặt ưu tiên lên hàng đầu trong mọi hoạt động của khoa Sau mỗi sai sót xảy ra, chúng tôi thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao ý thức nhân viên và rút kinh nghiệm để tránh tái diễn, vì điều này ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng và sức khỏe của người bệnh."
Chủ động thực hiện hoạt động đảm bảo ATNB
Sai sót giúp thay đổi tích cực Các cải tiến ATNB khoa có đánh giá hiệu quả
Bảng 3.4: Văn hoá an toàn người bệnh trong lĩnh vực Quan điểm và hành động của Ban phụ trách khoa về ATNB (n(9)
Quan điểm và hành động của
Ban phụ trách khoa về ATNB
Ban phụ trách khoa nói lời động viên khi nhân viên tuân thủ các quy trình đảm bảo an toàn cho người bệnh
Ban phụ trách khoa luôn xem xét nghiêm túc các đề xuất của nhân viên trong việc cải tiến
Khi áp lực công việc tăng cao,
Ban phụ trách khoa luôn hối thúc nhân viên hoàn thành công việc dù có thể bỏ qua các quy trình*
Ban phụ trách khoa bỏ qua các vấn đề về an toàn người bệnh dù biết các lỗi cứ lặp đi lặp lại*
Hơn 82% nhân viên cho rằng lãnh đạo khoa khuyến khích họ tuân thủ các quy trình đảm bảo an toàn và bảo mật thông tin Đến 84% nhân viên tin rằng lãnh đạo luôn xem xét nghiêm túc các đề xuất của họ Đặc biệt, 74,5% nhân viên y tế không đồng ý rằng lãnh đạo khoa thúc giục họ làm việc nhanh chóng mà bỏ qua các bước quy trình, và 86,8% không cho rằng lãnh đạo bỏ qua các vấn đề an toàn, mặc dù các lỗi vẫn tái diễn.
Biểu đồ 3.4: Tỷ lệ ĐTNC trả lời tích cực ở lĩnh vực Quan điểm và hành động của Ban phụ trách khoa về ATNB (n(9)
Tỷ lệ trả lời tích cực về quan điểm và hành động của Ban phụ trách khoa về an toàn người bệnh đạt 82% cho 3/4 khía cạnh Đặc biệt, tỷ lệ cao nhất (87,2%) cho thấy Ban phụ trách khoa không bỏ qua các vấn đề an toàn, mặc dù các lỗi vẫn lặp lại Tuy nhiên, khi áp lực công việc gia tăng, tỷ lệ trả lời tích cực về việc Ban phụ trách không hối thúc nhân viên hoàn thành công việc, có thể bỏ qua quy trình, chỉ đạt 74,7%.
Môi trường y tế đặc thù chứa nhiều rủi ro và sự cố có thể xảy ra bất cứ lúc nào Do đó, việc tuân thủ các quy định về an toàn và bảo mật (ATNB) là vô cùng quan trọng, không thể vì áp lực công việc mà bỏ qua Chúng tôi luôn lắng nghe và xem xét nghiêm túc các đề xuất từ nhân viên nhằm cải thiện chất lượng chăm sóc và điều trị cho bệnh nhân.
100 Động viên NV tuân thủ
Xem xét các đề xuất cải tiến ATNB Không hối thúc NV hoàn thành công việc Không bỏ qua các vấn đề ATNB
Bảng 3.5: Văn hoá an toàn người bệnh trong lĩnh vực Phản hồi, trao đổi về sai sót (n(9)
Phản hồi, trao đổi về sai sót
Nhân viên trong khoa được phản hồi về những biện pháp cải tiến đã được thực hiện dựa trên những báo cáo sự cố
Nhân viên được thông tin về những sai sót trong khoa 3 (1,0) 2 (0,7) 31
Khoa tổ thức thảo luận các biện pháp để phòng ngừa sai sót tái diễn
Hơn 71% nhân viên cho rằng việc nhận phản hồi về các biện pháp cải tiến là rất quan trọng Đồng thời, hơn 87% nhân viên đồng ý rằng họ cần được thông báo về những sai sót xảy ra trong khoa Gần 70% nhân viên cũng cho biết khoa nên tổ chức thảo luận về các biện pháp phòng ngừa sai sót.
Biểu đồ 3.5: Tỷ lệ ĐTNC trả lời tích cực ở lĩnh vực Phản hồi, trao đổi về sai sót (n(9)
Khía cạnh nhân viên nhận thông tin về sai sót trong khoa có tỷ lệ phản hồi tích cực cao nhất, đạt 87,6% Trong khi đó, ý kiến về việc tổ chức thảo luận các biện pháp phòng ngừa sai sót tái diễn lại có tỷ lệ phản hồi tích cực thấp nhất, chỉ đạt 69,9%.
100 Được phản hồi về những cải tiến khi BCSC Được thông tin về sai sót trong khoa
Thảo luận để phòng ngừa sai sót
Khi xảy ra sai sót, thường tổ chức họp rút kinh nghiệm trong các buổi giao ban để thảo luận và đưa ra biện pháp phòng ngừa Tuy nhiên, do thời gian hạn chế, các biện pháp này có thể chưa giải quyết triệt để các nguyên nhân gốc rễ của vấn đề.
Bảng 3.6: Văn hoá an toàn người bệnh trong lĩnh vực Cởi mở trong thông tin về sai sót (n(9)
Hơn 70% nhân viên cảm thấy thoải mái khi nêu ra những vấn đề ảnh hưởng tiêu cực đến bệnh nhân 57,1% nhân viên đồng ý rằng họ dễ dàng trao đổi về các quyết định và hành động của Ban phụ trách khoa hoặc Lãnh đạo bệnh viện Tuy nhiên, 53,6% nhân viên không ngại hỏi khi nhận thấy những điều chưa đúng.
Cởi mở trong thông tin về sai sót
Nhân viên có thể thoải mái nói ra khi họ thấy có những vấn đề ảnh hưởng không tốt đến chăm sóc người bệnh
Nhân viên cảm thấy thoải mái trong việc được trao đổi những quyết định hoặc hành động của
Ban phụ trách khoa hoặc Lãnh đạo Bệnh viện
Nhân viên ngại hỏi khi thấy những việc chưa đúng* 68 (23,5) 87
Biểu đồ 3.6: Tỷ lệ ĐTNC trả lời tích cực ở lĩnh vực Cởi mở trong thông tin về sai sót (n(9)
Tỷ lệ trả lời tích cực trong lĩnh vực Cởi mở về thông tin sai sót ở mức trung bình Đặc biệt, khía cạnh nhân viên không ngại hỏi khi phát hiện những vấn đề chưa đúng có tỷ lệ trả lời tích cực thấp nhất, chỉ đạt 53,6%.
Bảng 3.7: Văn hoá an toàn người bệnh trong lĩnh vực Hành xử không buộc tội khi sai sót (n(9)
Hành xử không buộc tội khi sai sót
Nhân viên cảm thấy bị thành kiến khi có sai sót* 17 (5,9) 124
Cách báo cáo sự cố như là một cá nhân được nêu tên chứ không phải là một vấn đề được nêu ra*
Nhân viên lo lắng các sai sót của họ bị ghi vào hồ sơ cá nhân*
Thoải mái nói ra vấn đề ảnh hưởng không tốt Thoải mái trao đổi việc ra quyết định của lãnh đạo Không ngại hỏi khi thấy chưa đúng