1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng văn hóa an toàn người bệnh và một số yếu tố ảnh hưởng tại các khoa lâm sàng bệnh viện quân y 211 năm 2021

86 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng văn hóa an toàn người bệnh và một số yếu tố ảnh hưởng tại các khoa lâm sàng bệnh viện Quân y 211 năm 2021
Tác giả Nguyễn Văn Thoại
Người hướng dẫn TS Nguyễn Quang Vịnh
Trường học Trường Đại học Y tế công cộng
Chuyên ngành Quản lý bệnh viện
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU (13)
    • 1.1. Khái niệm văn hóa, ATNB và văn hóa ATNB (13)
    • 1.2. Thang đo nghiên cứu VHATNB trong bệnh viện (14)
    • 1.3. Thực trạng văn hóa an toàn người bệnh (16)
    • 1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến VHATNB (18)
    • 1.5. Khung lý thuyết (22)
  • CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (23)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (0)
    • 2.2. Thời gian và địa điểm (23)
    • 2.3. Thiết kế nghiên cứu (23)
    • 2.4. Cỡ mẫu (24)
    • 2.5. Phương pháp chọn mẫu (24)
    • 2.6. Phương pháp thu thập số liệu (25)
    • 2.7. Biến số nghiên cứu (25)
    • 2.8. Tiêu chuẩn đánh giá (26)
    • 2.9. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu (27)
    • 2.10. Đạo đức trong nghiên cứu (27)
  • CHƯƠNG 3 (28)
    • 3.1. Thực trạng văn hóa an toàn người bệnh tại 15 khoa lâm sàng (28)
      • 3.1.2. Kết quả đánh giá 12 yếu tố về văn hóa ATNB tại các khoa lâm sàng (29)
    • 3.2. Một số yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa ATNB (38)
  • CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN (44)
    • 4.1. Thực trạng văn hóa ATNB tại Bệnh viện Quân y 211 (44)
      • 4.1.1 Làm việc nhóm trong khoa LS (44)
      • 4.1.2 Lên kế hoạch và thực hiện của trưởng khoa (45)
      • 4.1.3 Đối với hoạt động cải tiến VHATNB ở các khoa lâm sàng (45)
      • 4.1.4 Thông báo phản hồi mỗi khi có SCSS ở các khoa lâm sàng (46)
      • 4.1.5 Sẵn sàng trao đổi thông tin VHATNB trong khoa lâm sàng (46)
      • 4.1.6 Nguồn nhân lực trong các khoa lâm sàng (47)
      • 4.1.7 Hành xử buộc tội khi có SCSS (47)
      • 4.1.8 Hỗ trợ của Ban Giám đốc bệnh viện về VHATNB (48)
      • 4.1.9 Sự phối hợp làm việc giữa các khoa lâm sàng (48)
      • 4.1.10 Bàn giao kíp trực và chuyển ca bệnh (49)
      • 4.1.11 Quan điểm của NVYT về ATNB (49)
      • 4.1.12 Số lần báo cáo SCSS (50)
    • 4.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa ATNB (50)
      • 4.2.1. Nguồn nhân lực (51)
      • 4.2.2. Môi trường làm việc (52)
      • 4.2.3. Công tác quản lý (53)
      • 4.2.4. Hạn chế của nghiên cứu (54)
  • KẾT LUẬN (55)
    • 1. Thực trạng VHATNB của NVYT tế các khoa lâm sàng tại Bệnh viện Quân Y (55)
    • 2. Các yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa an toàn người bệnh (55)

Nội dung

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thời gian và địa điểm

- Thời gian làm nghiên cứu: 01/2021 đến 12/2021

- Địa điểm nghiên cứu: Các khoa lâm sàng Bệnh viện Quân y 211 Cụ thể như sau:

+ Khoa khám bệnh + Khoa đông y

+ Khoa cấp cứu ban đầu + Khoa hồi sức tích cực

+ Khoa nội tim – thận – khớp + Khoa chạy thận nhân tạo

+ Khoa nội tiêu hóa + Khoa ngoại chấn thương

+ Khoa nội truyền nhiễm + khoa ngoại chung

+ Khoa ung bướu + Khoa mắt

+ Khoa nội thần kinh + Khoa tai – mũi - họng

Thiết kế nghiên cứu

- Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính

- Phương pháp định lượng nhằm mô tả thực trạng văn hóa an toàn người bệnh tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Quân y 211

- Phương pháp định tính nhằm phân tích một số yếu tố ảnh hưởng VHATNB tại khoa lâm sàng Bệnh viện Quân y 211

Cỡ mẫu

- Chọn toàn bộ 162 NVYT làm việc tại 15 khoa lâm sàng của Bệnh viện Quân y

- Ban Giám đốc bệnh viện Quân y 211: 01 người

- Trưởng ban quản lý chất lượng bệnh viện: 01 người

- Trưởng ban y tá điều dưỡng: 01 người

- Trưởng ban kế hoạch tổng hợp: 01 người

- Trợ lý Quân lực: 01 người

- Trợ lý cán bộ: 01 người

- Trưởng khoa các khoa lâm sàng, Điều dưỡng trưởng các khoa lâm sàng: 06 người

Số người tham gia nghiên cứu định tính 12 người.

Phương pháp chọn mẫu

- Chọn toàn bộ nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn của nghiên cứu

Phỏng vấn sâu 01 người trong thành viên Ban giám đốc, 03 trưởng ban và 02 trợ lý

Thực hiện thảo luận nhóm 02 nhóm, mỗi nhóm 3 người (3 trưởng khoa và 3 điều dưỡng trưởng của các khoa lâm sàng)

Phương pháp thu thập số liệu

Các nghiên cứu viên sẽ lập kế hoạch thời gian khảo sát cho từng khoa và thảo luận với điều dưỡng trưởng để sắp xếp công việc cho nhân viên, nhằm đảm bảo quá trình khảo sát diễn ra thuận lợi, sử dụng bộ câu hỏi được trình bày trong phụ lục 1.

Các nghiên cứu viên tiến hành khảo sát theo từng khoa và nhập liệu tương ứng Họ hướng dẫn trực tiếp để giải đáp các thắc mắc của nhân viên y tế trong quá trình điền phiếu khảo sát, không giới hạn thời gian cho việc trả lời Tất cả phiếu khảo sát được thu thập đều được kiểm tra thông tin đầy đủ trước khi nhập số liệu.

Nghiên cứu việc thực hiện phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm (Phụ lục 2,3,4) Mỗi cuộc phỏng vấn trực tiếp và thảo luận nhóm đều được tiến hành ghi âm

Thời gian mỗi cuộc phỏng vấn từ 30 - 45 phút.

Biến số nghiên cứu

*Các biến số về thực trạng văn hóa an toàn người bệnh của bệnh viện

Sử dụng phương pháp định lượng:

- Biến số thông tin chung về đặc điểm chung của NVYT tham gia vào nghiên cứu

- Biến số về văn hóa ATNB trong khoa

- Biến số về VHATNB trong bệnh viện

- Biến số đánh giá mức độ ATNB

- Biến số về số lượng báo cáo SCSS (Phụ lục 5)

*Các biến số về yếu tố ảnh hưởng (Nhóm chủ đề định tính)

Tiêu chuẩn đánh giá

Định lượng: được đánh giá bằng các câu trả lời của NVYT trên bảng câu hỏi

Theo thang điểm 5 Likert, các chỉ số được tính toán bao gồm tỷ lệ tích cực và chưa tích cực, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, và độ tin cậy.

Không đồng ý Không biết Đồng ý Rất đồng ý

1 điểm 2 điểm 3 điểm 4 điểm 5 điểm

Nhóm “chưa tích cực” Nhóm “tích cực”

Các câu trả lời được cho điểm theo thang điểm Likert 5 mức

+ Là tỷ lệ % NVYT trả lời “rất đồng ý”, hay “đồng ý” đối với diễn đạt xuôi Hoặc

Trong thang đo, các câu hỏi tích cực được đánh giá từ 1 đến 5 điểm, với "rất đồng ý" là 5 điểm và "rất không đồng ý" là 1 điểm Ngược lại, các câu hỏi tiêu cực có thang điểm đảo ngược, trong đó "rất đúng" chỉ được 1 điểm và "rất không đồng ý" là 5 điểm, trong khi câu trả lời trung lập giữ nguyên 3 điểm Nhờ đó, các yếu tố từ câu hỏi dương tính và âm tính có thể kết hợp để tính toán tổng điểm trong cùng một thang đo.

+ Các câu hỏi trả lời ở mức Đồng ý/ Rất đồng ý hoặc Thường xuyên/ Luôn luôn ở những câu hỏi trả lời thuận (Mức 4 hoặc Mức 5)

+ Các câu hỏi trả lời ở mức Không Đồng ý/ Rất không đồng ý hoặc Hiếm khi/ Không bao giờ ở những câu trả lời nghịch (Mức 1 hoặc Mức 2)

Xác định điểm mạnh của các lĩnh vực trong nền văn hóa ATNB: Trung bình tỷ lệ đánh giá tích cực của các câu hỏi từ 75% trở lên

Xác định điểm yếu của các lĩnh vực cần cải thiện trong nền văn hóa ATNB: trung bình tỷ lệ đánh giá của các câu hỏi thấp dưới 75%

Để kiểm định độ tin cậy của thang đo trong văn hóa ATNB, hệ số Cronbach’s alpha được sử dụng để đánh giá các yếu tố kết cấu Nếu các yếu tố có hệ số Cronbach’s alpha đạt yêu cầu, thang đo sẽ được coi là có độ tin cậy với mẫu nghiên cứu.

Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

2.9.1 Số liệu nghiên cứu định lượng

Nghiên cứu áp dụng phần mềm Epidata 3.1 để nhập liệu và SPSS 20.0 cho phân tích số liệu Thống kê mô tả được thực hiện thông qua tần số và tỷ lệ phần trăm nhằm phân tích các biến như giới tính, chức danh nghề nghiệp, khối công tác, thời gian công tác tại bệnh viện, công việc tiếp xúc với người bệnh và 12 lĩnh vực văn hóa an toàn nghề nghiệp.

2.9.2 Số liệu nghiên cứu định tính

Dữ liệu thu thập từ các cuộc thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu đã được gỡ băng, sắp xếp và phân tích theo chủ đề Các số liệu được mã hóa dựa trên các câu nói và trích đoạn của đối tượng nghiên cứu, kèm theo suy nghĩ và cảm nhận của nghiên cứu viên Hai nghiên cứu viên đã thực hiện việc giải băng và phân tích độc lập, sau đó kiểm tra và thống nhất ý kiến Chú ý đến các chú thích đặc biệt trong quá trình ghi chép cũng được thực hiện Trong quá trình phân tích, nếu có thông tin không rõ ràng, nghiên cứu viên đã liên hệ lại với đối tượng tham gia để bổ sung thông tin cần thiết.

Đạo đức trong nghiên cứu

Nghiên cứu viên đã tuân thủ quy trình xét duyệt của Hội đồng đạo đức trường Đại học Y tế công cộng và nhận được sự chấp thuận từ Hội đồng đạo đức nghiên cứu y sinh học tại văn bản số 310/2021/YTCC-HD3 ngày 06/7/2021 liên quan đến các vấn đề đạo đức trong nghiên cứu y sinh học.

Cán bộ và nhân viên y tế tại 15 khoa lâm sàng đã tham gia nghiên cứu với sự đồng ý hoàn toàn tự nguyện Trong suốt quá trình nghiên cứu, không có bất kỳ rủi ro nào xảy ra đối với các đối tượng tham gia.

Thông tin thu thập sẽ chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu và được bảo mật Sau khi Hội đồng bảo vệ luận văn phê duyệt, thông tin này sẽ được phản hồi đến Ban Giám đốc Bệnh viện Quân y 211.

Thực trạng văn hóa an toàn người bệnh tại 15 khoa lâm sàng

3.1.1 Đặc điểm chung của đối tƣợng trả lời phỏng vấn

Bảng 3- 1 Đặc điểm chung của nhân viên y tế tại 15 khoa lâm sàng (n2)

Stt Nội dung Số lƣợng Tỷ lệ %

3 Khoa hiện đang công tác

2 Khoa cấp cứu ban đầu 14 8,6

3 Khoa nội tim - thật - khớp 13 8,0

9 Khoa hồi sức tích cực 12 7,4

10 Khoa chạy thận nhân tạo 4 2,5

2.Điều dưỡng, kỹ thuật viên, y sĩ 129 79,6

7 Tiếp xúc trực tiếp với NB

Trong một cuộc khảo sát đối với toàn bộ cán bộ nhân viên y tế của 15 khoa lâm sàng, tổng số phiếu khảo sát thu về là 162 phiếu Kết quả cho thấy tỷ lệ nam giới chiếm 54,9%, trong khi tỷ lệ nữ giới là 45,1%.

Trình độ học vấn của nhân viên y tế (NVYT) cho thấy 51,9% có trình độ đại học, cao đẳng, 14,2% có trình độ sau đại học, 33,3% có trình độ trung cấp, và chỉ 0,6% có trình độ sơ cấp Về thâm niên công tác, 49,4% NVYT có thâm niên trên 15 năm, 43,8% có thâm niên từ 1-5 năm, trong khi 6,8% có thâm niên dưới 1 năm Đối với chức vụ, 92% NVYT giữ các vị trí khác nhau, trong khi trưởng/phó khoa chỉ chiếm 8% Đáng chú ý, 100% NVYT đều có tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân.

Số liệu khảo sát về chức danh của NVYT thì điều dưỡng, kỹ thuật viên chiếm tỷ lệ nhiều nhất 79,6%, bác sĩ chiếm 19,8%, hộ lý chiếm 0,6%

3.1.2 Kết quả đánh giá 12 yếu tố về văn hóa ATNB tại các khoa lâm sàng

3.1.2.1 Kết quả đánh giá về văn hóa ATNB tại các khoa lâm sàng

Bảng 3- 2 Làm việc nhóm trong cùng khoa lâm sàng (n2)

Stt Nội dung Trung bình

(Mean) Độ lệch chuẩn_(SD)

Tỷ lệ đánh giá tích cực (%)

99,40 161/162 A3 NVYT làm việc nhóm khi công việc cần giải quyết gấp 4,24 0,62

Điểm trung bình của đối tượng nghiên cứu là 4,31 ± 0,53, với tỷ lệ đánh giá tích cực trung bình rất cao đạt 98,57% Câu hỏi có tỷ lệ đánh giá tích cực cao nhất là “Nhân viên y tế hỗ trợ nhau” với 100%, trong khi câu hỏi “NVYT làm việc nhóm khi công việc cần giải quyết gấp” có tỷ lệ thấp nhất là 96,3%.

Bảng 3- 3 Lên kế hoạch và thực hiện của trưởng khoa (n2)

Trung bình (Mean) Độ lệch chuẩn_(SD)

Tỷ lệ đánh giá tích cực (%) A4* NVYT cuống cuồng muốn làm thật nhiều, thật nhanh để cho xong việc

A5 Trưởng khoa luôn khuyến khích khi NVYT tuân thủ đúng các 4,31 0,55

HUPH quy trình đảm bảo VHATNB 160/162 A6 Trưởng khoa luôn nghiêm túc khi NVYT đề xuất cải tiến chất lượng VHATNB

160/162 A7* Trưởng khoa muốn NVYT làm nhanh khi người bệnh đông, không tuân thủ đủ các bước trong quy trình

A8* Trưởng khoa bỏ qua các vấn đề

VHATNB dù biết sai sót sự cố cứ tái diễn

Điểm trung bình của đối tượng nghiên cứu là 4,31 ± 0,67, với tỷ lệ đánh giá tích cực trung bình đạt 94,94% Hai câu hỏi có tỷ lệ đánh giá tích cực cao nhất là “Trưởng khoa luôn khuyến khích khi NVYT tuân thủ các quy trình đảm bảo VHATNB” và “Trưởng khoa luôn nghiêm túc khi NVYT đề xuất cải tiến chất lượng VHATNB”, đều đạt 98,8% Trong khi đó, câu hỏi “NVYT cuống cuồng làm thật nhiều, thật nhanh để xong việc” có tỷ lệ đánh giá tích cực thấp hơn, chỉ đạt 90,7%.

Bảng 3- 4 Hoạt động cải tiến trong khoa lâm sàng (n2)

Trung bình (Mean) Độ lệch chuẩn_(SD)

Tỷ lệ đánh giá tích cực (%) A9 Khoa chủ động triển khai các hoạt động cải tiến để đảm bảo

A10 Các SCSS xảy ra đã giúp khoa có những chuyển biến theo chiều hướng tích cực hơn 4,16 0,48

A11 Khoa có đánh giá hiệu quả sau khi thực hiện các thay đổi

Điểm trung bình của đối tượng nghiên cứu là 4,14 ± 0,46, với tỷ lệ đánh giá tích cực trung bình đạt 97,70% Câu hỏi có tỷ lệ đánh giá tích cực cao nhất được xác định trong nghiên cứu.

Khoa đã đạt được tỷ lệ đánh giá hiệu quả 98,1% sau khi thực hiện các thay đổi về vệ sinh an toàn thực phẩm Câu hỏi về việc các sự cố sai sót đã thúc đẩy những thay đổi tích cực trong khoa cũng nhận được tỷ lệ đánh giá tích cực 97,5%, tương tự như câu hỏi về sự chủ động trong việc triển khai các hoạt động cải tiến để đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.

Bảng 3- 5 Thông báo phản hồi khi có SCSS (n2)

Trung bình (Mean) Độ lệch chuẩn_(SD)

Tỷ lệ đánh giá tích cực (%) A12 NVYT được biết về hoạt động cải tiến chất lượng đã được khắc phục dựa trên báo cáo SCSS

155/162 A13 NVYT được báo cáo về sự cố xảy ra 4,06 0,29 98,80

160/162 A14 Khoa có thường xuyên tổ chức thảo luận các biện pháp để ngăn chặn SCSS tái diễn

Điểm trung bình của đối tượng nghiên cứu là 4,05 ± 0,36, với tỷ lệ đánh giá tích cực trung bình đạt 97,33% Câu hỏi có tỷ lệ đánh giá tích cực cao nhất là “NVYT được thông tin về sự cố xảy ra” với 98,8%, trong khi câu hỏi có tỷ lệ thấp nhất là “NVYT được phản hồi về hoạt động cải tiến chất lượng đã được thực hiện dựa trên báo cáo sự cố” chỉ đạt 95,7%.

Bảng 3- 6 Sẵn sàng trao đổi thông tin về VHATNB trong khoa lâm sàng (n2)

Trung bình (Mean) Độ lệch chuẩn_(SD)

Tỷ lệ đánh giá tích cực (%) của A15 NVYT cho phép họ tự do bày tỏ ý kiến khi nhận thấy các vấn đề có thể ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động VHATNB.

A16 NVYTcũng có thể thoải mái nói ra khi họ chất vấn những quyết định của trưởng khoa

128/162 A17 NVYT không ngại chất vấn những việc dường như không đúng

Điểm trung bình của đối tượng nghiên cứu là 3,69 ± 0,79, với tỷ lệ đánh giá tích cực trung bình đạt 77,38% Câu hỏi có tỷ lệ đánh giá tích cực cao nhất là “NVYT có thể thoải mái nói ra khi họ thấy có những vấn đề ảnh hưởng không tốt đến hoạt động VHATNB” với 93,38% Trong khi đó, câu hỏi “NVYT không ngại khi hỏi những việc dường như không đúng” chỉ đạt tỷ lệ đánh giá tích cực 59,3%.

Bảng 3- 7 Đội ngũ nhân viên của khoa (n2)

Trung bình (Mean) Độ lệch chuẩn_(SD)

Tỷ lệ đánh giá tích cực (%)

A18 Hiện tại khoa có đủ người làm 3,77 0,65 87,70

HUPH việc 142/162 A19* NVYT trong khoa có phải làm việc nhiều thời gian hơn quy định

A20 Khoa không cần phải sử dụng đến nhân viên thực tập 2,72 0,98 32,70

Điểm trung bình của đối tượng nghiên cứu là 3,36 ± 0,84, với tỷ lệ đánh giá tích cực trung bình đạt 63,83% Câu hỏi “Khoa có đủ người làm việc” ghi nhận tỷ lệ đánh giá tích cực cao nhất là 87,7%, trong khi câu hỏi “Khoa không cần phải sử dụng nhân viên thực tập” chỉ đạt tỷ lệ đánh giá tích cực rất thấp là 32,7%.

Bảng 3- 8 Hành xử buộc tội khi có SCSS (n2)

Trung bình (Mean) Độ lệch chuẩn_(SD)

Tỷ lệ đánh giá tích cực (%) A21* NVYT cảm thấy mình luôn bị thành kiến khi có SCSS 3,79 0,75 84,00

136/162 A22* Khi có 1 SCSS là một cá nhân được nêu tên chứ không phải được nêu ra để phân tích SCSS 3,75 0,89 80,20

130/162 A23* NVYT rất lo lắng khi các SCSS của họ sẽ bị ghi vào hồ sơ cá nhân

Điểm trung bình của đối tượng nghiên cứu là 3,56 ± 0,90, với tỷ lệ đánh giá tích cực trung bình đạt 72,43% Câu hỏi có tỷ lệ đánh giá tích cực cao nhất là “NVYT cảm thấy bị thành kiến khi có sự cố sai sót” với 84,0%, trong khi câu hỏi có tỷ lệ đánh giá tích cực thấp nhất là “NVYT lo lắng các SCSS của họ bị ghi nhận vào hồ sơ cá nhân” chỉ đạt 53,1%.

3.1.2.2 Kết quả tỷ lệ đánh giá của nhân viên y tế về văn hóa an toàn người bệnh trong bệnh viện

Bảng 3- 9 Hỗ trợ của Ban Giám đốc (n2)

Trung bình (Mean) Độ lệch chuẩn_(SD)

Tỷ lệ đánh giá tích cực (%) B1 Ban Giám đốc luôn hướng đến

162/162 B2 Hoạt động quản lý bệnh viện về 4,43 0,55

VHATNB là ưu tiên số 1 của bệnh viện

98,10 159/162 B3* Ban Giám đốc chỉ quan tân đến

ATNB khi có SCSS nghiêm trọng xảy ra

Điểm trung bình của đối tượng nghiên cứu là 4,29 ± 0,60, với tỷ lệ đánh giá tích cực trung bình đạt 96,07% Câu hỏi “Ban Giám đốc luôn hướng đến VHATNB” nhận được tỷ lệ đánh giá tích cực tuyệt đối 100%, trong khi câu hỏi ngược “Ban Giám đốc chỉ quan tâm đến ATNB khi có SCSS nghiêm trọng xảy ra” cũng có tỷ lệ đánh giá tích cực cao là 90,1%.

Bảng 3- 10 Sự phối hợp làm việc giữa các khoa lâm sàng (n2)

Trung bình (Mean) Độ lệch chuẩn_(SD)

Tỷ lệ đánh giá tích cực (%) B4 Các khoa phối hợp tốt với nhau

160/162 B5* Làm việc với NVYT khoa khác cảm thấy không thoải mái 3,83 0,76 77,80

126/162 B6* Trong quá trình trao đổi thông tin về ATNB giữa các khoa có nhiều vấn đề thường xảy ra

104/162 B7 Các khoa lâm sàng luôn hợp tác tốt với nhau để đảm ATNB 4,21 0,54 96,30

Điểm trung bình của đối tượng nghiên cứu là 3,92 ± 0,66, với tỷ lệ đánh giá tích cực trung bình đạt 84,27% Câu hỏi có tỷ lệ đánh giá tích cực cao nhất là “Các khoa phối hợp tốt với nhau” với 98,8%, trong khi câu hỏi ngược “Trong quá trình trao đổi thông tin giữa các khoa có nhiều vấn đề thường xảy ra” chỉ đạt 64,2%.

Bảng 3- 11 Bàn giao kíp trực và chuyển ca bệnh (n2)

Trung bình (Mean) Độ lệch chuẩn_(SD)

Tỷ lệ đánh giá tích cực (%) B8* Chuyển người bệnh từ khoa này sang khoa khác có nhiều việc bị bỏ sót

B9* Khi bàn giao ca trực các thông tin quan trọng thường bị bỏ sót 3,98 0,79 87,70

142/162 B10* Thay đổi ca trực là một vấn đề đáng lo lắng 3,99 0,65 89,50

Điểm trung bình của đối tượng nghiên cứu là 3,90 ± 0,77, với tỷ lệ đánh giá tích cực trung bình đạt 85,40% Câu hỏi ngược có tỷ lệ đánh giá tích cực cao nhất là “Khi bàn giao ca trực, các thông tin quan trọng thường bị bỏ sót” với 89,5%, trong khi câu hỏi “Chuyển người bệnh từ khoa này sang khoa khác có nhiều việc bị bỏ sót” chỉ đạt 79%.

Bảng 3- 12 Quan điểm của NVYT về an toàn người bệnh (n2)

Trung bình (Mean) Độ lệch chuẩn_(SD)

Tỷ lệ đánh giá tích cực (%) B11* SCSS nghiêm trọng ở trong khoa không xảy ra là do may mắn 3,95 1,91 93,20

151/162 B12 Khoa không bao giờ “hy sinh” sự ATNB để đánh đổi làm được nhiều việc hơn

107/162 B13* Khoa có một số vấn đề vẫn chưa đảm bảo về ATNB 3,93 0,60 98,50

145/162 B14 Khoa có những quy trình và các biện pháp rất tốt và hiệu quả để ngăn chặn SCSS 4,20 0,43 98,80

Điểm trung bình của đối tượng nghiên cứu đạt 3,86 ± 1,03, với tỷ lệ đánh giá tích cực trung bình là 89,12% Câu hỏi về quy trình và biện pháp phòng ngừa SCSS nhận được tỷ lệ đánh giá tích cực cao nhất, đạt 98,8% Ngược lại, câu hỏi liên quan đến việc không hy sinh sự an toàn của người bệnh chỉ đạt 66% Các câu hỏi ngược lại về vấn đề an toàn người bệnh và SCSS nghiêm trọng cũng có tỷ lệ đánh giá tích cực cao, lần lượt là 98,5% và 93,2%.

Bảng 3- 13 Số lần báo cáo các SCSS (n2)

Trung bình (Mean) Độ lệch chuẩn_(SD)

Tỷ lệ đánh giá tích cực

(%) B15 SCSS được phát hiện sớm và ngăn chặn kịp thời trước khi có những ảnh hưởng đến NB có báo cáo không?

B16 SCSS đã xảy ra nhưng không có khả năng gây ảnh hưởng đến NB có báo cáo không?

144/162 B17 Khi một SCSS xảy ra, đáng lẽ gây hại cho người bệnh nhưng

(may mắn) chưa gây hại thì có báo cáo không?

Một số yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa ATNB

Văn hóa an toàn, vệ sinh trong bệnh viện là yếu tố then chốt để nâng cao chất lượng dịch vụ y tế Việc xây dựng văn hóa này tại Bệnh viện Quân y 211 đang gặp nhiều thách thức trong quá trình tự chủ tài chính, nhưng nhờ sự quan tâm của lãnh đạo và nỗ lực của Ban Giám đốc, các hoạt động đang dần ổn định Đội ngũ nhân viên y tế tuân thủ nghiêm ngặt quy định, làm việc chuyên nghiệp hơn Tuy nhiên, để đạt được tự chủ hoàn toàn, bệnh viện cần phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng các nhiệm vụ đặc biệt trong bối cảnh dịch bệnh và sự biến đổi của mô hình bệnh tật Bệnh viện chủ động tổ chức đào tạo, tập huấn hàng năm để nâng cao chuyên môn và đánh giá năng lực nhân viên, từ đó điều chỉnh phân bổ nguồn nhân lực hợp lý, góp phần cải thiện kỹ năng và tâm lý làm việc của đội ngũ nhân viên y tế.

Mô hình bệnh tật hiện nay dẫn đến sự gia tăng số lượng bệnh nhân đến khám và điều trị nội trú Mỗi khoa điều trị có những đặc thù riêng, vì vậy bác sĩ và điều dưỡng không chỉ cần tham gia các khóa đào tạo chuyên môn theo kế hoạch của bệnh viện mà còn phải tự cập nhật kiến thức để nâng cao khả năng điều trị các bệnh lý trong khoa của mình.

Hiện nay, do yêu cầu nâng cao chất lượng chuyên môn và cải thiện nguồn nhân lực tại bệnh viện, nhiều khoa có nhân viên đi học, trong khi đó, số lượng nhân viên nữ trong độ tuổi sinh sản nghỉ thai sản tăng cao, có khoa có tới 2 đến 3 người nghỉ cùng lúc Điều này dẫn đến tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực trong các khoa Qua phỏng vấn, vẫn còn tình trạng thiếu nhân lực ở một số khoa, khiến cho việc phân bổ nhân lực chưa hợp lý Do đó, có những thời điểm nhân viên trực không được nghỉ.

Hiện tại, khoa đang thiếu nhân lực do có điều dưỡng nghỉ thai sản và nhân viên được phân công làm nhiệm vụ khác Điều này dẫn đến việc nhân viên không thể nghỉ trực và phải làm thêm giờ Chúng tôi kiến nghị Ban Giám đốc Bệnh viện xem xét bổ sung nhân lực cho khoa.

Ban Kế hoạch tổng hợp và Trợ lý Quân lực sẽ xem xét nhu cầu tuyển dụng của từng khoa và tình hình nhiệm vụ của Bệnh viện để đề xuất kế hoạch tuyển dụng lao động hợp đồng Tuy nhiên, hồ sơ tuyển dụng cần được đưa lên để xét duyệt, dẫn đến việc bổ sung nhân lực cho các khoa có thể không kịp thời.

Theo khảo sát từ 15 khoa lâm sàng, tỷ lệ nhân viên y tế có thâm niên công tác trên 5 năm rất cao Qua phỏng vấn sâu, những nhân viên này thể hiện sự giàu kinh nghiệm trong việc thăm khám, điều trị và chăm sóc bệnh nhân.

Có tâm lý, thái độ phục vụ tốt, không ngại khó khăn, gian khổ, gắn bó với nghề

“NVYT khoa chúng tôi luôn đặt sức khỏe bệnh nhân lên hàng đầu, luôn lấy người bệnh làm trung tâm Chăm sóc tận tụy, điều trị tận tâm” – (PVS_2)

Nhân viên có thâm niên dưới 1 năm thường là những lao động hợp đồng mới tuyển dụng hoặc vừa ra trường, với độ tuổi trẻ và kinh nghiệm còn hạn chế Điều này đặc biệt ảnh hưởng đến khả năng ứng xử và tâm lý tiếp xúc với bệnh nhân, nhất là đối với những bệnh nhân lớn tuổi và khó tính.

Tại khoa khám bệnh, đội ngũ nhân viên y tế chủ yếu là những người trẻ tuổi, vừa mới tốt nghiệp và thiếu kinh nghiệm trong việc điều trị bệnh nhân Do đó, họ cần được tham gia các khóa tập huấn bổ sung để nâng cao kỹ năng và kiến thức chuyên môn.

3.2.2 Yếu tố môi trường làm việc

Năm 2021, các khoa lâm sàng tại Bệnh viện Quân y 211 đã hoàn thành các chỉ tiêu khám, chữa bệnh nhờ sự ủng hộ từ Ban Giám đốc, mặc dù dịch Covid-19 diễn biến phức tạp Ban Giám đốc đã hỗ trợ triển khai thành công dịch vụ khám và tư vấn điều trị qua điện thoại, thể hiện sự quan tâm đến hoạt động điều trị và chăm sóc bệnh nhân.

HUPH chú trọng vào công tác đào tạo liên tục, nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng Điều này đã cải thiện chất lượng khám bệnh, kê đơn và tiên lượng bệnh của bác sĩ, cũng như kỹ năng chăm sóc người bệnh của điều dưỡng và kỹ thuật viên Kết quả là, bệnh viện ngày càng tạo được hiệu ứng tích cực đối với bệnh nhân trong khu vực.

Ban Giám đốc Bệnh viện Quân y 211 và các trưởng khoa đóng vai trò quan trọng, là tấm gương cho nhân viên y tế (NVYT) noi theo Sự quan tâm của cán bộ chủ trì khoa đã tạo ra một đội ngũ NVYT có tinh thần làm việc cao, cống hiến hết mình và chăm sóc bệnh nhân tận tình Đội ngũ này luôn đoàn kết, khắc phục khó khăn để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

“Trưởng khoa luôn xem công tác VHATNB là ưu tiên hàng đầu của khoa” – (TLN

Để đạt được Văn hóa An toàn Người bệnh (VHATNB) trong bệnh viện, Ban Giám đốc đã ưu tiên phát triển công tác quản lý chất lượng Vào tháng 6 năm 2020, tổ quản lý chất lượng bệnh viện được thành lập và hoạt động hiệu quả Bệnh viện đã chuẩn hóa tất cả các quy trình chuyên môn theo tiêu chuẩn ISO 2008-2015 và thường xuyên cập nhật phác đồ điều trị mới theo hướng dẫn của Cục Quân y, Bộ Y tế, mang lại hiệu quả thiết thực trong khám và điều trị bệnh nhân.

Trong 6 tháng đầu năm 2021, Bệnh viện đã nhận được nhiều thư khen từ người bệnh nhờ vào việc cải tiến chất lượng dịch vụ Cơ sở vật chất và khuôn viên bệnh viện được đánh giá sạch đẹp Nhân viên bệnh viện thể hiện thái độ phục vụ tận tình, chu đáo và luôn xem người bệnh như người thân.

Ban Giám đốc luôn chú trọng đến cơ sở vật chất để các khoa thực hiện hiệu quả công tác khám, chữa bệnh, kịp thời chỉ đạo sửa chữa thiết bị y tế hư hỏng Đặc biệt, các trang bị phòng hộ cá nhân trong phòng chống dịch luôn được đảm bảo đầy đủ, giúp cán bộ nhân viên yên tâm công tác Ngoài ra, Ban Giám đốc cũng quan tâm đến đời sống của cán bộ nhân viên, nỗ lực đảm bảo mức sống ổn định cho họ.

Trong quá trình thực hiện, Bệnh viện gặp nhiều khó khăn khi điều trị cho cả bệnh nhân quân đội và bệnh nhân bảo hiểm dân, với nhiều tình huống phức tạp cần sự hỗ trợ từ Ban Giám đốc bệnh viện.

BÀN LUẬN

Thực trạng văn hóa ATNB tại Bệnh viện Quân y 211

Trong bối cảnh dịch bệnh diễn biến phức tạp, Bệnh viện Quân y 211 cũng đối mặt với nhiều thách thức Tuy nhiên, báo cáo công tác chuyên môn 6 tháng đầu năm 2021 cho thấy số lượng thương bệnh binh và người bệnh đến khám và điều trị nội trú không giảm so với cùng kỳ năm 2020 Đặc biệt, tỷ lệ ngày điều trị trung bình trên bệnh nhân giảm, cho thấy chất lượng chuyên môn của bệnh viện ngày càng được cải thiện Thái độ phục vụ và chăm sóc tận tình của nhân viên y tế đã tạo dựng niềm tin cho người bệnh khi đến khám và điều trị tại bệnh viện.

Tỷ lệ đánh giá tích cực trung bình của 12 yếu tố tại Bệnh viện Quân y 211 đạt 87,32%, vượt trội so với nghiên cứu của Tăng Chí Thượng tại Bệnh viện Nhi đồng 1 với chỉ 69% Trong khi đó, có hai nhóm yếu tố tại Bệnh viện Quân y 211 có tỷ lệ đánh giá chưa tích cực, bao gồm nguồn nhân lực với 64,83% và hành xử buộc tội khi có SCSS với 72,43% So với nghiên cứu của Tăng Chí Thượng, nơi có tới 7 nhóm yếu tố dưới 75%, Bệnh viện Quân y 211 cho thấy kết quả khả quan hơn.

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi, khi so sánh với một số nghiên cứu trong và ngoài nước sử dụng bộ câu hỏi HSOPSC, cho thấy có sự vượt trội Tuy nhiên, thời gian nghiên cứu khác biệt lớn có thể ảnh hưởng đến kết quả, vì các bệnh viện đã có sự cải tiến về an toàn người bệnh (ATNB) theo thời gian So với nghiên cứu gần đây của Lê Thanh Hải (2019), kết quả của chúng tôi tương đương, cho thấy sự cải tiến tích cực theo thời gian của các bệnh viện ảnh hưởng lớn đến nhận thức về văn hóa ATNB của nhân viên y tế.

4.1.1 Làm việc nhóm trong khoa LS

Nhóm này đạt tỷ lệ đánh giá tích cực cao nhất trong 12 nhóm với 98,57% Hầu hết nhân viên y tế được khảo sát đều cho rằng có sự hỗ trợ lẫn nhau trong cùng khoa Kết quả này tương đồng với một số nghiên cứu trước đó, như của Trần Nguyễn Như Anh với 83,6% và Tăng Chí Thượng với 90%.

Các nhân viên y tế trong cùng một khoa chia sẻ mục tiêu chung, do đó, khi một nhân viên đưa ra ý kiến, họ luôn nhận được sự hỗ trợ và ủng hộ từ đồng nghiệp.

Tại HUPH, sự hỗ trợ lẫn nhau trong việc chăm sóc và điều trị bệnh nhân là điều luôn được ưu tiên Khi có công việc khẩn cấp cần giải quyết, các thành viên trong khoa sẵn sàng hợp tác để hoàn thành nhiệm vụ được giao.

4.1.2 Lên kế hoạch và thực hiện của trưởng khoa

Tỷ lệ đánh giá tích cực chung của nhóm này đạt 94,94%, vượt trội so với nghiên cứu của tác giả Tăng Chí Thượng với 86% Câu hỏi về việc "Trưởng khoa luôn khuyến khích khi NVYT tuân thủ các quy trình đảm bảo VHATNB" và "Trưởng khoa luôn nghiêm túc khi NVYT đề xuất cải tiến chất lượng VHATNB" đều ghi nhận tỷ lệ đánh giá tích cực cao 98,8% Cơ quan Kế hoạch tổng hợp thường xuyên kiểm tra và giám sát các hoạt động liên quan đến ATNB trong bệnh viện, đặc biệt là việc tuân thủ các quy trình kỹ thuật và phác đồ điều trị của Bộ Y tế, giúp NVYT thực hiện tốt và đảm bảo ATNB.

Qua phỏng vấn và khảo sát, cán bộ chủ trì các khoa lâm sàng được đánh giá cao trong công tác quản lý và điều hành, khuyến khích nhân viên thực hiện tốt văn hóa an toàn và thường xuyên đề xuất cải tiến chất lượng Điều này giúp duy trì chất lượng chuyên môn của bệnh viện và ổn định lưu lượng bệnh nhân Tuy nhiên, trong các tình huống cấp cứu đông, yêu cầu làm nhanh đôi khi dẫn đến việc không tuân thủ quy trình, với tỷ lệ đánh giá tích cực chỉ đạt 88,9% Việc bỏ qua các bước trong quy trình chuẩn có thể gây ra nguy cơ tiềm ẩn cho bệnh nhân, điều này cần được khắc phục sớm Tỷ lệ này cũng được ghi nhận tương tự ở nhiều bệnh viện trong và ngoài nước.

4.1.3 Đối với hoạt động cải tiến VHATNB ở các khoa lâm sàng

Tỷ lệ đánh giá tích cực chung của nhóm này đạt 97,7%, cho thấy sự hài lòng cao từ người bệnh Các khoa lâm sàng tập trung vào nhiệm vụ khám, cấp cứu và điều trị, với phương châm "lấy người bệnh làm trung tâm".

HUPH bệnh là trung tâm, với nhân viên y tế đóng vai trò then chốt Sự khích lệ và định hướng từ Ban Giám đốc bệnh viện tạo động lực cho nhân viên y tế thực hiện các sáng kiến cải tiến kỹ thuật, từ đó nâng cao chất lượng trong điều trị.

Kết quả khảo sát cho thấy nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng tuân thủ nghiêm ngặt quy trình chuyên môn và chủ động thực hiện các sáng kiến cải tiến kỹ thuật cũng như công tác hành chính Họ thường xuyên chia sẻ kinh nghiệm, góp phần nâng cao hiệu quả điều trị và rút ngắn thời gian chờ cho bệnh nhân Đặc biệt, việc đánh giá hiệu quả của các sáng kiến sau khi áp dụng được thực hiện thường xuyên, dẫn đến tỷ lệ đánh giá tích cực cao nhất cho câu hỏi về việc đánh giá hiệu quả sau khi thực hiện các thay đổi về văn hóa an toàn trong bệnh viện.

4.1.4 Thông báo phản hồi mỗi khi có SCSS ở các khoa lâm sàng

Kết quả tỷ lệ đánh giá tích cực trung bình đạt 97,33%, cao hơn nhiều so với nghiên cứu trước đây của Tăng Chí Thượng là 82% Lãnh đạo các khoa lâm sàng rất chú trọng đến lĩnh vực này, thường xuyên tổ chức giao ban chuyên môn để nhân viên báo cáo tình hình và những khó khăn chưa được giải quyết Trưởng khoa sẽ tổng hợp và thảo luận để tìm ra giải pháp Nhân viên y tế có thể thoải mái phản ánh thắc mắc liên quan đến SCSS với trưởng khoa, và những vấn đề vượt quá khả năng giải quyết sẽ được báo cáo lên Ban Giám đốc Kết quả nghiên cứu của chúng tôi không có sự khác biệt lớn so với các nghiên cứu trong nước.

4.1.5 Sẵn sàng trao đổi thông tin VHATNB trong khoa lâm sàng Đây là nhóm yếu tố có tỷ lệ đánh giá tích cực chưa cao chỉ đạt 77,38% cũng tương đồng với các kết quả nghiên cứu của các tác giả trước đây là Tăng Chí Thượng 55%, và Trần Nguyễn Như Anh 51,7% Câu hỏi “NVYT có thể thoải mái nói ra khi họ thấy có những vấn đề ảnh hưởng không tốt đến hoạt động VHATNB” có tỷ lệ đánh giá tích cực cao nhất 93,8% vì đây là câu hỏi theo chiều hướng tích cực NVYT có thể thoải mái đưa ra các ý kiến của mình về chuyên môn điều trị, chăm sóc người bệnh, những vấn đề có thể ảnh hưởng đến ATNB Còn với câu hỏi “NVYT không ngại khi hỏi những việc dường như không đúng” nhân viên y tế còn e dè, ngại ngùng khi đưa ra các ý kiến của mình, hoặc đặt ra những câu hỏi mà mình còn thắc mắc không biết đúng hay sai về công

Mối quan hệ giữa nhân viên y tế và trưởng khoa tại HUPH cho thấy vẫn còn khoảng cách, phản ánh thực trạng chung của các bệnh viện công hiện nay Văn hóa an toàn người bệnh (VHATNB) tại Bệnh viện Quân y 211 vẫn còn mới mẻ và tồn tại nhiều bất cập cần khắc phục, trong khi trách nhiệm của mỗi nhân viên y tế trong VHATNB chưa được chú trọng đúng mức.

Bệnh viện Quân y 211, với đặc thù là bệnh viện quân đội, đối mặt với áp lực công việc lớn hơn so với các bệnh viện dân sự Điều này đôi khi dẫn đến việc các vướng mắc của nhân viên không được giải quyết kịp thời, ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của khoa Kết quả khảo sát cho thấy sự hợp tác giữa các khoa lâm sàng chưa hiệu quả Do đó, bệnh viện cần triển khai các biện pháp nhằm cải thiện sự phối hợp giữa các khoa, từ đó nâng cao hiệu quả trong điều trị và chăm sóc bệnh nhân, đồng thời đảm bảo an toàn trong quá trình điều trị.

4.1.6 Nguồn nhân lực trong các khoa lâm sàng

Các yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa ATNB

Năm 2021, trong bối cảnh đại dịch Covid-19 tàn phá nền kinh tế, Bệnh viện Quân y 211 đã không ngừng cải tiến và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho thương bệnh binh và nhân dân Bệnh viện tập trung vào việc nâng cao các dịch vụ mũi nhọn, giảm thời gian chờ đợi và ngày nằm điều trị, từ đó nâng cao chất lượng chăm sóc và tạo niềm tin cho bệnh nhân khi đến khám và điều trị.

Ban Giám đốc cùng các Trưởng khoa và phòng chức năng đang nghiên cứu cải tiến hoạt động quản lý chất lượng bệnh viện, phát huy thế mạnh của từng khoa và nâng cao tinh thần nội lực trong phát triển chuyên môn, nhằm đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng cao của người dân.

Bệnh viện cần nâng cấp cơ sở hạ tầng và trang thiết bị y tế, đồng thời tuyển dụng và bổ sung nhân lực cho các khoa để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ Việc cải tiến và cập nhật quy trình, phác đồ điều trị mới là rất quan trọng Ngoài ra, cải tiến quy trình khám bệnh một chiều sẽ giúp bệnh nhân giảm thiểu thời gian chờ đợi và không phải đi lại nhiều lần.

Với 3 yếu tố ảnh hưởng cần được tiến hành tìm hiểu phân tích các thuận lợi và khó khăn là “Nguồn nhân lực”, “Môi trường làm việc” và “Công tác quản lý”

Bệnh viện Quân y 211, tọa lạc tại trung tâm thành phố Plieku, đối mặt với nhiều thách thức do sự cạnh tranh từ các bệnh viện khác trong khu vực Là một bệnh viện quân đội, ngoài việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, bệnh viện còn phải đảm nhận nhiều nhiệm vụ khác theo chức năng Do đó, để duy trì và phát triển bền vững, yếu tố nguồn nhân lực đóng vai trò rất quan trọng.

Mặc dù chịu ảnh hưởng của dịch Covid-19, lưu lượng bệnh nhân đến khám và điều trị tại bệnh viện trong 6 tháng đầu năm 2021 không giảm so với cùng kỳ năm 2020, cho thấy chất lượng chuyên môn của bệnh viện được duy trì ổn định Đội ngũ nhân viên y tế hiện tại vẫn đáp ứng tốt nhiệm vụ chuyên môn, với trình độ chuyên môn phù hợp với vị trí công việc Bệnh viện cũng tạo điều kiện cho nhân viên y tế nâng cao trình độ thông qua các khóa học.

Qua phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm, nhận thấy sự thiếu cân đối nhân lực ở các khoa lâm sàng do bệnh viện phải thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau Nhân viên các khoa thường xuyên đi học, nghỉ phép, nghỉ đẻ, và bác sĩ trẻ thường xuyên được điều chuyển Điều này dẫn đến việc nhân viên y tế ở một số khoa phải làm thêm giờ để hoàn thành nhiệm vụ Khi xảy ra sự cố tại khoa, ý kiến của bệnh nhân cho thấy nhân viên y tế chưa xử lý đúng quy trình, dẫn đến sự không hài lòng từ phía người bệnh Ban Giám đốc và các cơ quan chức năng cần xem xét vấn đề này.

HUPH cần thu thập ý kiến phản hồi từ các khoa để kịp thời bổ sung nguồn nhân lực cho bệnh viện, đảm bảo các khoa có đủ nhân lực thực hiện nhiệm vụ.

Kết quả khảo sát và phỏng vấn cho thấy nhân viên y tế tại 15 khoa lâm sàng đều có đánh giá tích cực về Ban Giám đốc và các chỉ huy khoa, đồng thời ủng hộ quan điểm và phương pháp của lãnh đạo bệnh viện về văn hóa an toàn Sự ảnh hưởng mạnh mẽ từ lãnh đạo bệnh viện đã giúp cán bộ nhân viên hoàn thành tốt nhiệm vụ và tuân thủ nghiêm ngặt các quy trình kỹ thuật, chăm sóc bệnh nhân tận tình, góp phần vào thành công chung của bệnh viện.

Với cam kết “an toàn người bệnh là ưu tiên hàng đầu”, Ban Giám đốc bệnh viện luôn chú trọng đến văn hóa an toàn trong y tế Năm 2020, bệnh viện đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ và bảo đảm an toàn cho bệnh nhân.

Vào năm 2021, trước sự bùng phát mạnh mẽ của đại dịch Covid-19, Ban Giám đốc đã ban hành nhiều quy định và quy trình nhằm ngăn ngừa dịch bệnh lây lan vào bệnh viện Họ tổ chức các lớp huấn luyện bổ sung kiến thức cho nhân viên y tế về điều trị và phòng ngừa Covid-19, nhằm đảm bảo an toàn cho bệnh nhân và cộng đồng Trong quá trình thực hiện, Ban Giám đốc luôn lắng nghe ý kiến đóng góp từ các trưởng khoa để tìm ra phương án tối ưu nhất, mang lại lợi ích cao nhất cho người bệnh Bên cạnh việc phát triển chuyên môn, Ban Giám đốc cũng chú trọng cải cách hành chính và áp dụng công nghệ thông tin trong khám chữa bệnh, giúp truyền tải thông tin nhanh chóng và giảm thời gian chờ đợi cho bệnh nhân.

Khi gặp khó khăn, Ban Giám đốc triệu tập các Trưởng khoa để thảo luận và tìm phương án giải quyết, nhưng thường gặp nhiều ý kiến khác nhau, dẫn đến việc phải tổ chức nhiều cuộc họp tốn thời gian Để đảm bảo an toàn và nâng cao chất lượng điều trị trong bệnh viện, Ban Giám đốc cần xây dựng kế hoạch và chủ trương rõ ràng, giao trách nhiệm cụ thể cho từng khoa, đồng thời tổ chức họp và báo cáo định kỳ để kịp thời giải quyết các vấn đề phát sinh Ngoài ra, cần nhân rộng các sáng kiến cải tiến kỹ thuật của nhân viên y tế nhằm nâng cao chất lượng điều trị.

Cơ sở hạ tầng đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì văn hóa an toàn và nâng cao năng suất làm việc Việc xây dựng và mở rộng cơ sở hạ tầng không chỉ tạo ra không gian làm việc phù hợp cho nhân viên mà còn cung cấp chỗ nghỉ ngơi cần thiết, giúp họ duy trì sức khỏe tốt và hiệu quả công tác.

HUPH chuyên môn trong một ngày làm việc Còn đối với NB, người nhà, BV có bố trí các vị trí ngồi chờ, khu vực nghỉ ngơi, ăn uống

Sự cố y khoa thường xảy ra trong các khoa lâm sàng do nhân viên y tế (NVYT) không tuân thủ đúng quy trình chăm sóc bệnh nhân Nguyên nhân chính là do thói quen làm việc hàng ngày mà không đối chiếu với quy trình hoặc không cập nhật kỹ thuật mới Để giảm thiểu sự cố y khoa, lãnh đạo khoa cần thường xuyên tổ chức huấn luyện cho NVYT về các quy trình kỹ thuật và phác đồ điều trị mới, nhằm đảm bảo an toàn cho bệnh nhân.

VHATNB là một lĩnh vực mới tại Bệnh viện Quân y 211, nơi vừa thành lập tổ quản lý chất lượng bệnh viện Hiện tại, quy chế thưởng phạt liên quan đến sự cố y khoa chưa được quy định rõ ràng, dẫn đến lo ngại trong nhân viên y tế (NVYT) về việc bị trừ điểm thi đua hoặc ghi hồ sơ khi báo cáo sự cố Nhiều NVYT e ngại không dám báo cáo sự cố y khoa vì sợ ảnh hưởng đến thành tích cá nhân và khoa Để khuyến khích NVYT tự giác báo cáo sự cố, Ban Giám đốc cần ban hành quy chế thưởng phạt rõ ràng, không trừng phạt khi có báo cáo Sau khi nhận được báo cáo, cần tìm nguyên nhân và thông báo kết quả lên trang thông tin của bệnh viện để các khoa khác có thể rút kinh nghiệm.

Ngày đăng: 26/07/2023, 23:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3- 2. Làm việc nhóm trong cùng khoa lâm sàng (n=162). - Thực trạng văn hóa an toàn người bệnh và một số yếu tố ảnh hưởng tại các khoa lâm sàng bệnh viện quân y 211 năm 2021
Bảng 3 2. Làm việc nhóm trong cùng khoa lâm sàng (n=162) (Trang 29)
Bảng 3- 4. Hoạt động cải tiến trong khoa lâm sàng (n=162). - Thực trạng văn hóa an toàn người bệnh và một số yếu tố ảnh hưởng tại các khoa lâm sàng bệnh viện quân y 211 năm 2021
Bảng 3 4. Hoạt động cải tiến trong khoa lâm sàng (n=162) (Trang 30)
Bảng 3- 11. Bàn giao kíp trực và chuyển ca bệnh (n=162) - Thực trạng văn hóa an toàn người bệnh và một số yếu tố ảnh hưởng tại các khoa lâm sàng bệnh viện quân y 211 năm 2021
Bảng 3 11. Bàn giao kíp trực và chuyển ca bệnh (n=162) (Trang 33)
Bảng 3- 12. Quan điểm của NVYT về an toàn người bệnh (n=162) - Thực trạng văn hóa an toàn người bệnh và một số yếu tố ảnh hưởng tại các khoa lâm sàng bệnh viện quân y 211 năm 2021
Bảng 3 12. Quan điểm của NVYT về an toàn người bệnh (n=162) (Trang 34)
Bảng 3- 13. Số lần báo cáo các SCSS (n=162) - Thực trạng văn hóa an toàn người bệnh và một số yếu tố ảnh hưởng tại các khoa lâm sàng bệnh viện quân y 211 năm 2021
Bảng 3 13. Số lần báo cáo các SCSS (n=162) (Trang 34)
Bảng 3. 14 Kết quả tỷ lệ đáp ứng tích cực 12 nhóm yếu tố văn hóa ATNB (n=162) - Thực trạng văn hóa an toàn người bệnh và một số yếu tố ảnh hưởng tại các khoa lâm sàng bệnh viện quân y 211 năm 2021
Bảng 3. 14 Kết quả tỷ lệ đáp ứng tích cực 12 nhóm yếu tố văn hóa ATNB (n=162) (Trang 36)
Bảng 3.1 không có tổng số đối tượng nghiên - Thực trạng văn hóa an toàn người bệnh và một số yếu tố ảnh hưởng tại các khoa lâm sàng bệnh viện quân y 211 năm 2021
Bảng 3.1 không có tổng số đối tượng nghiên (Trang 76)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm