Nghiên cứu về văn hóa an toàn người bệnh, các tác giả đã đúc kết bảy yếu tố cấu thành VHATNB trong bệnh viện gồm: 1 Lãnh đạo xem an toàn người bệnh là ưu tiên hàng đầu trong mọi hoạt độn
Trang 1BÙI THỊ VÂN ANH
THỰC TRẠNG VĂN HÓA AN TOÀN NGƯỜI BỆNH VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH NĂM 2020
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720802
HÀ NỘI, 2020
Trang 2BÙI THỊ VÂN ANH
THỰC TRẠNG VĂN HÓA AN TOÀN NGƯỜI BỆNH VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH NĂM 2020
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720802
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hà Văn Như
HÀ NỘI, 2020
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập, thực hiện và hoàn thành luận văn tốt nghiệp, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ rất tận tình từ quý Thầy/ Cô Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành đến:
Ban Giám hiệu, phòng Đào tạo sau đại học trường Đại học Y tế công cộng; Phó Giáo sư, Tiến sỹ Hà Văn Như; Giám đốc Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh
đã hướng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ chúng tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn Đặc biệt là Phó Giáo sư, Tiến sỹ Hà Văn Như, người thầy kính mến đã tận tâm giúp đỡ, hướng dẫn cho tôi thực hiện và hoàn thành luận văn này
Xin cảm ơn tất cả anh/chị/em Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh đã hỗ trợ, hợp tác với tôi trong suốt thời gian thực hiện
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AHRQ: Angency for Healthcare Research and Quality (Cơ quan Chất lượng và
Nghiên cứu sức khỏe) ATNB: An toàn người bệnh
BV: Bệnh viện
BVĐK: Bệnh viện Đa khoa
BVTW: Bệnh viện Trung ương
CDC: Centers for Disease Control and Prevention (Trung tâm kiểm soát dịch
bệnh) CNTT: Công nghệ thông tin
CSNB: Chăm sóc người bệnh
CSSK: Chăm sóc sức khỏe
HSOPSC: Hospital Survey on Pastient Safety Culture (khảo sát văn hóa an toàn
người bệnh tại bệnh viện) ISBAR: Identify; Situation; Background; Assesssment; Recommendation (Xác
định; Tình huống; Thông tin cơ bản; Đánh giá; Khuyến nghị) KCB: Khám chữa bệnh
VHATNB: Văn hóa an toàn người bệnh
VPBV: Viêm phổi bệnh viện
WHO: World Health Organization (Tổ chức Y tế Thế giới)
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT i
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ vii
TÓM TẮT LUẬN VĂN viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu 4
1.1.1 An toàn người bệnh 4
1.1.2 Văn hóa an toàn người bệnh 5
1.2 Bộ công cụ đánh giá Văn hóa an toàn người bệnh 6
1.3 Thực trạng văn hóa an toàn người bệnh 8
1.3.1 Nghiên cứu về thực trạng văn hóa an toàn người bệnh sử dụng bộ công cụ HSOPSC 8
1.3.1.1 Trên Thế giới 8
1.3.1.2 Tại Việt Nam 10
1.3.2 Nghiên cứu về một số yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa an toàn người bệnh 12
1.3.2.1 Yếu tố cá nhân 12
1.3.2.2 Yếu tố môi trường, chính sách 13
1.3.2.3 Yếu tố quản lý, lãnh đạo 15
1.4 Giới thiệu tóm tắt về địa bàn nghiên cứu 17
1.5 Khung lý thuyết 17
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Đối tượng nghiên cứu 20
2.1.1 Nghiên cứu định lượng: 20
2.1.2 Nghiên cứu định tính: 20
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 20
2.3 Thiết kế nghiên cứu 20
Trang 62.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 21
2.4.1 Nghiên cứu định lượng: 21
2.4.2 Nghiên cứu định tính: 21
2.5 Phương pháp thu thập số liệu 21
2.5.1 Nghiên cứu định lượng: 21
2.5.2.2 Nghiên cứu định tính: 22
2.6 Biến số nghiên cứu 23
2.7 Thước đo và tiêu chuẩn đánh giá 23
2.7.1 Thước đo 23
2.7.2 Tiêu chuẩn đánh giá 25
2.7.3 Một số khái niệm dung trong nghiên cứu 25
2.8 Phương pháp phân tích số liệu 26
2.9 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 26
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27
3.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 27
3.2 Thực trạng VHATNB của NVYT Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh 28
3.2.1 Đáp ứng tích cực VHATNB của NVYT trong phạm vị khoa/phòng 28
3.2.2 Đáp ứng tích cực của nhân viên lĩnh vực ATNB trong phạm vi bệnh viện 32
3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến VHATNB 38
3.3.1 Một số yếu tố cá nhân liên quan tới đánh giá mức độ ATNB của NVYT 38
3.3.2 Yếu tố môi trường, chính sách 40
3.3.2.1 Yếu tố chính sách: 40
3.3.2.2 Hệ thống báo cáo sự cố y khoa: 41
3.3.2.3 Đào tạo, tập huấn và truyền thông về ATNB 42
3.3.2.4 Điều kiện môi trường làm việc 43
3.3.3 Yếu tố quản lý, lãnh đạo 44
3.3.3.1 Sự quan tâm của lãnh đạo đến ATNB 44
3.3.3.2 Cơ chế khen thưởng, xử phạt 44
3.3.3.4 Giám sát thực hiện các chương trình ATNB 45
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 46
Trang 74.1 Thực trạng văn hóa an toàn người bệnh của NVYT BVĐK Tâm Anh 46
4.1.1 Tổng quát chung về đáp ứng tích cực 12 lĩnh vực VHATNB 46
4.1.2 Lĩnh vực VHATNB trong từng khoa/phòng tại BVĐK Tâm Anh 47
4.1.3 Lĩnh vực VHATNB trong phạm vị bệnh viện 50
4.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến VHATNB của NVYT BVĐK Tâm Anh 54
4.2.1 Các đặc điểm của NVYT liên quan tới đánh giá mức độ VHATNB tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh 54
4.2.2 Yếu tố môi trường của Bệnh viện 56
4.3 Hạn chế của nghiên cứu 59
KẾT LUẬN 60
KHUYỂN NGHỊ 61 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1:Phiếu khảo sát ý kiến về an toàn người bệnh
PHỤ LỤC 2:Nội dung hướng dẫn thảo luận nhóm điều dưỡng,nữ hộ sinh, kỹ, thuật
viên
PHỤ LỤC 3:Nội dung hướng dẫn thảo luận nhóm bác sĩ
PHỤ LỤC 4:Hướng dẫn nội dung phỏng vấn sâu cho cán bộ quản lý
PHỤ LỤC 5:Hướng dẫn nội dung phỏng vấn sâu cho nhân viên
PHỤ LỤC 6:Danh sách bảng biến số nghiên cứu bộ câu hỏi văn hóa an toàn người bệnh
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Vị trí làm việc của đối tượng nghiên cứu 27
Bảng 3.2 Thời gian công tác của đối tượng nghiên cứu 28
Bảng 3.3 Tỷ lệ đáp ứng tích cực làm việc theo êkip trong khoa/phòng 28
Bảng 3.4 Tỷ lệ đáp ứng tích cực quan điểm và hành động của người quản lý về ATNB 29
Bảng 3.5 Tỷ lệ đáp ứng tích cực cải tiến liên tục, học tập một cách hệ thống 29
Bảng 3.6 Tỷ lệ đáp ứng tích cực hỗ trợ của lãnh đạo bệnh viện cho ATNB 30
Bảng 3.7 Tỷ lệ đáp ứng tích cực quan điểm tổng quát về ATNB 30
Bảng 3.8 Tỷ lệ đáp ứng tích cực phản hồi và trao đổi về sự cố 31
Bảng 3.9 Tỷ lệ đáp ứng tích cực trao đổi cởi mở 31
Bảng 3.10 Tỷ lệ đáp ứng tích cực tần suất ghi nhận sự cố 32
Bảng 3.11 Tỷ lệ đáp ứng tích cực làm việc theo êkip giữa các khoa/phòng 33
Bảng 3.12 Tỷ lệ đáp ứng cực về nhân sự 33
Bảng 3.14 Tỷ lệ đáp ứng tích cực không trừng phạt khi có sự cố 34
Bảng 3.15 Phân bố tỷ lệ đáp ứng tích cực VHATNB của NVYT theo từng lĩnh vực tại BVĐK Tâm Anh 35
Bảng 3.16 Một số yếu tố cá nhân và đánh giá mức độ ATNB 38
Bảng 3.17 So sánh tỷ lệ trả lời tích cực giữa các vị trí công tác trong bệnh viện 39
Trang 10TÓM TẮT LUẬN VĂN
Văn hóa an toàn người bệnh (VHATNB) là một yếu tố quan trọng của ATNB, nhiều nghiên cứu cho thấy rằng VHATNB đóng vai trò chính trong việc hình thành nên những chương trình cải thiện ATNB Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh
là bệnh viện tư mới và hướng tới đạt chuẩn bệnh viện khách sạn, do đó việc khảo sát VHATNB là vô cùng cấp thiết trong giai đoạn này và chặng đường tới của Bênh viện Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mô tả thực trạng và phân tích một số yếu tố ảnh hưởng của nhân viên y tế đến VHATNB tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh năm 2020
Nghiên cứu sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp phương pháp định lượng và định tính Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 1 đến tháng 8 năm 2020 tại Bệnh viện đa khoa Tâm Anh Đối tượng nghiên cứu định lượng gồm
508 nhân viên y tế (chiếm 93,8% tổng số NVYT của bệnh viện); đối tượng nghiên cứu định tính gồm 15 người PVS và 14 người thảo luận nhóm Số liệu định lượng được thu thập thông qua phát vấn Bộ câu hỏi VHATNB của cơ quan Chất lượng và Nghiên cứu sức khỏe Hoa Kỳ; thông tin định tính được thu thập thông qua 15 cuộc PVS và 02 cuộc TLN Số liệu định lượng được nhập và phân tích bằng phần mềm Epida 3.1 và SPSS 20.0 Thông tin định tính được phân tích, tổng hợp theo chủ đề, một số trích dẫn được sử dụng minh họa cho kết quả nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu: tỷ lệ đáp ứng tích cực VHATNB chung của NVYT Bệnh viện là 73,7% Đáp ứng tích cực cao nhất tại ba lĩnh vực “Làm việc theo êkip trong khoa/phòng”; “Cải tiến liên tục, học tập một cách hệ thống” và “Quan điểm
và hành động của người quản lý về ATNB” với tỷ lệ lần lượt là 93,6%; 88,5% và 86,9% Tỷ lệ đáp ứng tích cực thấp nhất tại ba lĩnh vực “Không trừng phạt khi có sự cố”; “Nhân sự” và “Bàn giao và chuyển bệnh nhân giữa các khoa” lần lượt là 49,6%; 55,2% và 57,3% Nghiên cứu cho thấy một số yếu tố ảnh hưởng đến VHATNB gồm nhóm trực tiếp chăm sóc bệnh nhân gồm điều dưỡng/ hộ sinh và hỗ trợ chăm sóc có tỷ lệ đáp ứng tích cực thấp tại hai lĩnh vực “Không trừng phạt khi
có sự cố” và “Nhân sự”; Yếu tố cơ chế khen thưởng và xử phạt trong VHATNB còn bất cập khi vẫn chú trọng đến xử phạt khi có sự cố xảy ra
Khuyến nghị: Bệnh viện cần thực hiện việc “Không trừng phạt khi có sự cố”, khuyến khích NVYT báo cáo sự cố thông qua những chính sách rõ ràng và phù hợp với bệnh viện; Bệnh viện cần tiếp tục duy trì và nâng cao nhận thức về VHATNB cho toàn bộ NVYT của bệnh viện; Thu hút, tuyển dụng thêm nhân lực đã có kinh nghiệm, trình độ chuyên môn trong công tác điều dưỡng/hộ sinh và chăm sóc người bệnh
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
An toàn người bệnh (ATNB) là tránh và phòng ngừa tổn thương cho người bệnh (NB) hoặc sự kiện bất lợi trong quá trình chăm sóc ATNB trong điều trị là mục tiêu trên hết của tất cả thầy thuốc trên thế giới [1]
Văn hoá an toàn người bệnh (VHATNB) là những giá trị, thái độ, nhận thức, năng lực và mô hình hành vi của mỗi cá nhân cán bộ y tế hay của cơ sở y tế Những đặc điểm này xác định trách nhiệm và sự cam kết của một tổ chức chăm sóc sức khoẻ trong việc đảm bảo ATNB [2] Môi trường VHAT gồm những hoạt động: báo cáo thường xuyên và bàn luận thoải mái về các sự cố, phân tích sai sót, phản hồi đến người phát biểu ý kiến, giúp đỡ nhân viên liên quan đến sự cố, trao đổi thông tin với NB về kết quả điều trị kể cả những sự việc xảy ra ngoài dự kiến, làm việc theo nhóm, chủ động đánh giá rủi ro và ngăn ngừa sai sót, để NB trở thành một thành viên tích cực trong đội ngũ nhân viên điều trị
Tại Hoa Kỳ, Viện Y Học đưa ra các số liệu thống kê đáng kinh ngạc từ 44.000 đến 98.000 ca tử vong hàng năm do lỗi y tế, 7.000 ca tử vong có thể ngăn ngừa liên quan đến lỗi thuốc [3] Năm 2004 Canada phát hiện các sai sót xảy ra trong hơn 7% bệnh nhân nhập viện và ước tính có 9.000 đến 24.000 người chết hàng năm do lỗi y tế [3] Năm 2004, Cơ quan Nghiên cứu chăm sóc sức khoẻ và chất lượng (AHRQ) của Mỹ tiến hành khảo sát VHATNB, giúp các BV đánh giá VHAT trong tổ chức [4] Năm 2007 AHRQ đã công bố “số liệu so sánh khảo sát bệnh viện về VHATNB” từ 382 bệnh viện tại Mỹ, sau đó số liệu này được cập nhật hàng năm Đến năm 2018, theo kết quả khảo sát về VHATNB trên 382.834 NVYT của 630 bệnh viện tại Hoa Kỳ năm 2018, có 65% nhân viên đánh giá tích cực về công tác VHATNB [5] Hiện nay nhiều nước như Bỉ; Thụy Điển; Rumani; Iran; Nhật Bản; Đài Loan,… đã sử dụng phương pháp, bộ công cụ của AHRQ để đánh giá VHATNB trong bệnh viện với các tỷ lệ đáp ứng tích cực dao động từ 55% đến 70% [6]; [7]; [8]; [9], cho thấy sự quan tâm này càng lớn của các cơ sở chăm sóc sức khỏe về lĩnh vực này
Trong thời gian gần đây, Bộ Y tế cũng đã ban hành nhiều văn bản nhằm cải thiện chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh, song chưa đề cập cụ thể, trực tiếp đến
Trang 12VHATNB Tháng 6/2016, AHRQ chính thức công bố Việt Nam là quốc gia thứ 66 nghiên cứu về VHATNB [2] Công trình nghiên cứu đầu tiên được triển khai tại Việt Nam do tác giả Tăng Chí Thượng đã tạo được phiên bản tiếng Việt của công
cụ khảo sát ý kiến về VHATNB của cơ quan AHRQ [10] Tiếp theo đó cũng đã có một số bệnh viện triển khai đánh giá VHATNB theo bộ công cụ này và các tỷ lệ đáp ứng tích cực thường trên 70% [11]; [12]; [13]; [14]
Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh đi vào hoạt động từ tháng 9/2016 với định hướng chất lượng đạt chuẩn JCI - bộ tiêu chuẩn quốc tế về chất lượng y tế và an toàn cho người bệnh [15] Trong đó vấn đề về VHATNB được coi là một trong những tiêu chí bắt buộc phải đạt được đối với yêu cầu của lãnh đạo bệnh viện và nhất là một bệnh viện tư mới đưa vào hoạt động và hướng tới cung cấp các dịch vụ chất lượng cao Gần nhất, bệnh viện ghi nhận được báo cáo của 92 sự cố, trong đó chỉ có 45% sự cố này được NVYT chủ động báo cáo trong năm 2019 Thự tế, trong
từ khi thành lập đến nay tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh vẫn chưa có nghiên cứu nào đánh giá về VHATNB của NVYT Do vậy, Lãnh đạo bệnh viện nhận thấy cần thiết phải có nghiên cứu về vấn đề VHATNB của NVYT từ đó có những thay đối
và nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe Vì vậy, chúng tôi tiến hành
nghiên cứu “Thực trạng văn hóa an toàn người bệnh và một số yếu tố ảnh hưởng của nhân viên y tế tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh năm 2020” với các
mục tiêu sau
Trang 13MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực trạng văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh năm 2020
2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh năm 2020
Trang 14đã nhắc nhở thầy thuốc cẩn trọng trong điều trị, chăm sóc người bệnh vì các quyết định và thủ thuật của thầy thuốc đều có thể gây hại cho người bệnh [16])
Tuy vậy, cho đến thập niên 90 của thế kỷ 20, y học hiện đại mới bắt đầu quan tâm và phát hành nhiều nghiên cứu mô tả tính chất trầm trọng do sai sót trong thực hành y khoa, số liệu cho thấy trong CSSK cứ chăm sóc 10 người bệnh thì có 1 sai sót y tế ảnh hưởng đến người bệnh [3]
An toàn người bệnh là một chuyên ngành trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe,
áp dụng các phương pháp an toàn nhằm hướng đến mục đích xây dựng một hệ thống cung ứng dịch vụ y tế đáng tin cậy An toàn người bệnh còn là một thuộc tính của ngành y tế, nó tối thiểu hóa các sự cố và tối đa hóa sự phục hồi từ các sự cố [17]
Lĩnh vực ATNB sử dụng thuật ngữ sự cố để mô tả tác hại lên người bệnh phát sinh do chăm sóc y tế sau:
Lỗi - Error: Thực hiện công việc không đúng quy định hoặc áp dụng các
quy định không phù hợp [18], [4]
Sự cố - Event: Điều bất trắc xảy ra với người bệnh hoặc liên quan tới người
bệnh [17]
Sự cố suýt xảy ra - Near miss: là sự cố có khả năng gây nguy hại cho
người bệnh nhưng đã không xảy ra do may mắn có hành động sữa chữa hoặc can thiệp kịp thời [18], [4]
Tác hại - Harm: Suy giảm cấu trúc hoặc chức năng của cơ thể hoặc ảnh
hưởng có hại phát sinh từ sự cố đã xảy ra Tác hại bao gồm: bệnh, chấn thương, đau đớn, tàn tật và chết người [4]
Trang 15Sự cố không mong muốn - Adverse Events (AE): Y văn của các nước sử
dụng thuật ngữ “sự cố không mong muốn” ngày càng nhiều vì các thuật ngữ “sai sót chuyên môn, sai lầm y khoa” dễ hiểu sai lệch về trách nhiệm của cán bộ y tế và trong thực tế không phải bất cứ sự cố nào xảy ra cũng do NVYT Theo WHO, sự cố không mong muốn là tác hại liên quan đến quản lý y tế (khác với biến chứng do bệnh) bao gồm các lĩnh vực chẩn đoán, điều trị, chăm sóc, sử dụng trang thiết bị y
tế để cung cấp dịch vụ y tế Sự cố y khoa có thể phòng ngừa và không thể phòng ngừa [4] Theo Bộ sức khỏe và dịch vụ con người của Mỹ: Sự cố không mong muốn gây hại cho người bệnh do hậu quả của chăm sóc y tế hoặc trong y tế [4]
1.1.2 Văn hóa an toàn người bệnh
Khái niệm văn hóa an toàn bắt nguồn từ bên ngoài chăm sóc sức khỏe, trong các nghiên cứu về các tổ chức có độ tin cậy cao, các tổ chức luôn giảm thiểu các tác dụng bất lợi mặc dù thực hiện công việc phức tạp và nguy hiểm Các tổ chức có độ tin cậy cao duy trì cam kết về an toàn ở tất cả các cấp độ, từ các nhà cung cấp dịch
vụ trực tiếp tới các nhà quản lý và giám đốc điều hành Cam kết này thiết lập một
“văn hóa an toàn” bao gồm các đặc điểm chính: (1) Thừa nhận bản chất nguy cơ cao của hoạt động của một tổ chức và quyết tâm đạt được các hoạt động liên tục an toàn; (2) Một môi trường không có lỗi, nơi mà các cá nhân có thể báo cáo lỗi mà không sợ khiển trách hoặc trừng phạt; (3) Khuyến khích hợp tác qua các cấp bậc và
kỷ luật để tìm kiếm các giải pháp cho các vấn đề an toàn người bệnh; (4) Cam kết tổ chức các nguồn lực để giải quyết các mối quan ngại về an toàn [17]
Theo Hiệp hội An toàn người bệnh quốc gia của Mỹ (2001), văn hóa an toàn người bệnh thể hiện năm thuộc tính ở mức cao mà nhân viên y tế nỗ lực đưa vào thao tác thông qua việc triển khai thực hiện các hệ thống quản lý an toàn mạnh mẽ Năm thuộc tính bao gồm [19]:
(1) Văn hóa trong đó mọi nhân viên y tế (gồm những người trực tiếp điều trị cho người bệnh, và cán bộ quản lý điều hành) đứng ra chịu trách nhiệm về an toàn của bản thân, của đồng nghiệp, bệnh nhân, thân nhân người bệnh và khách đến thăm;
(2) Văn hóa ưu tiên đặt an toàn lên trước mục tiêu về tài chính và tổ chức;
Trang 16(3) Văn hóa khuyến khích và khen thưởng nỗ lực phát hiện, thông báo và giải quyết các vấn đề an toàn;
(4) Văn hóa trong đó tổ chức có cơ hội rút kinh nghiệm từ sự cố/tai biến; (5) Văn hóa cung cấp nguồn lực, cơ cấu và trách nhiệm giải trình phù hợp để duy trì hiệu quả các hệ thống đảm bảo an toàn
Một tổ chức được xem là có văn hóa an toàn khi mỗi thành viên của tổ chức
đó, bất chấp ở cương vị nào, đều thể hiện vai trò chủ động trong phòng ngừa sai sót,
và vai trò của từng cá nhân nhân này được sự hỗ trợ của tổ chức [4] Nghiên cứu về văn hóa an toàn người bệnh, các tác giả đã đúc kết bảy yếu tố cấu thành VHATNB trong bệnh viện gồm: (1) Lãnh đạo xem an toàn người bệnh là ưu tiên hàng đầu trong mọi hoạt động của bệnh viện, (2) các hoạt động trong bệnh viện được tổ chức làm việc theo đội/nhóm một cách hiệu quả, (3) thực hành dựa vào bằng chứng như phác đồ điều trị của bệnh viện phải dựa trên cơ sở bằng chứng y học, và thực hành lâm sàng tuân thủ phác đồ điều trị, (4) mọi người được quyền nói và chỉ ra những nguy cơ, sai sót trong khoa mình, được tham gia sáng kiến cải tiến về an toàn người bệnh, (5) cách thức bệnh viện tổ chức học hỏi từ sai sót, và cải tiến từ sai sót; (6) đảm bảo công bằng, xem xét lỗi hệ thống trước khi kết luận lỗi cá nhân và (7) lấy người bệnh làm trung tâm
1.2 Bộ công cụ đánh giá Văn hóa an toàn người bệnh
Trên Thế giới hiện có nhiều bộ công cụ khảo sát VHATNB đã được sử dụng
để đánh giá VHATNB Dưới đây là một số bộ công cụ chính đã được sử dụng trên thế giới:
- Khảo sát an toàn, truyền thông, sự cam kết và đảm bảo hoạt động (SCORE)
- Bộ công cụ khảo sát về Văn hóa an toàn người bệnh tại bệnh viện (Hospital Survey on Patient Safety Culture - HSOPSC)
- Khung đánh giá ATNB Manchester (Manchester Patient Safety Assessment Framework)
- Bộ công cụ khảo sát văn hóa an toàn người bệnh tại cơ sở y tế (Patient Safety Culture in Healthcare Organisations)
Trang 17- Bộ câu hỏi thái độ về an toàn (Safety Attitudes Questionare)
- Khảo sát môi trường an toàn Victoria (VSCS)
- Khảo sát môi trường an toàn (SCSu)
- Thang đo môi trường an toàn (SCSc)
- Công cụ Stanford được sửa đổi (MSI)
Trong số những bộ công cụ nêu trên, bộ công cụ khảo sát VHATNB trong bệnh viện (HSOPSC) của cơ quan Nghiên cứu Y tế và Chất lượng (AHRQ) xây dựng và công bố vào tháng 11 năm 2004 được đánh giá là cho kết quả đáng tin cậy,
có giá trị trong phản ánh VHATNB Kể từ đó, hàng trăm bệnh viện trên khắp Hoa
Kỳ và quốc tế đã thực hiện khảo sát theo bộ công cụ này Theo báo cáo năm 2018 của tổ chức AHRQ, Bộ công cụ khảo sát Văn hóa an toàn người bệnh đã được thực hiện tại 630 bệnh viện với 382.834 nhân viên bệnh viện tham gia trả lời, 12 yếu tố văn hóa an toàn người bệnh được đánh giá [20] Năm 2019, AHRQ đã phát hành một phiên bản mới, SOPS Hospital Survey 2.0 Khảo sát này được sử dụng nhằm mục đích: (1) Tăng cường nhận thức của nhân viên về ATNB; (2) Đánh giá thực trạng VHATNB; (3) Xác định các điểm mạnh và lĩnh vực để cải thiện VHATNB; (4)Xem xét xu hướng thay đổi VHATNB theo thời gian; (5) Đánh giá tác động văn hóa của các sáng kiến và can thiệp ATNB; (6) Tiến hành so sánh trong và giữa các
tổ chức [21]
Theo công bố trên trang thông tin điện tử Agency for Healthcare Research and Quality (AHRQ): Bộ câu hỏi khảo sát ý kiến về an toàn người bệnh an toàn người bệnh được dịch thành 31 thứ tiếng và được 66 nước trên thế giới áp dụng
Bộ công cụ HSOPSC gồm 42 mục đánh giá 12 khía cạnh về văn hóa an toàn người bệnh với hai kết quả đầu ra:
(1) Làm việc theo ê kíp trong cùng một khoa/phòng,
(2) Quan điểm và hành động về an toàn người bệnh của người quản lý,
(3) Hoạt động cải tiến và thực hiện có hệ thống các biện pháp ATNB,
(4) Hỗ trợ về an toàn người bệnh của lãnh đạo khoa/phòng,
(5) Quan điểm tổng quát về an toàn người bệnh của nhân viên y tế,
(6) Phản hồi và trao đổi về sai sót/lỗi trong khoa/phòng,
Trang 18(7) Trao đổi cởi mở thông tin về an toàn người bệnh,
(8) Tần suất ghi nhận sự cố/sai sót/lỗi của nhân viên y tế,
(9) Làm việc theo ê kíp giữa các khoa/phòng,
(10) Nhân sự,
(11) Bàn giao ca trực và chuyển tiếp người bệnh giữa các khoa/phòng,
(12) Không trừng phạt khi có sai sót/lỗi
Hai kết quả đầu ra gồm “Đánh giá chung về mức độ ATNB tại Bệnh viện”
và “Tần suất báo cáo sự cố”
Bộ công cụ HSOPSC và phương pháp nghiên cứu của AHRQ được nhiều nước trên thế giới áp dụng vì có lý do sau:
- Miễn phí, có sẵn và sử dụng ngôn ngữ rõ ràng với quy mô đơn giản và dễ làm theo
- Được thiết kế để có thể khảo sát tất cả nhân viên bệnh viện, bao gồm cả khoa lâm sàng, cận lâm sàng và những khu vực khác Nó có thể được sử dụng để đánh giá các khoa/ phòng, cá nhân hoặc phòng ban, hoặc quản lý toàn bệnh viện
- Đáng tin cậy và hợp lệ: Quá trình phát triển điều tra cẩn thận và chặt chẽ dựa trên sự xem xét của các nghiên cứu và khảo sát về ATNB các BV khác Quan trọng hơn, các mục khảo sát của bộ công cụ đã được chứng minh độ tin cậy
và tính hợp lệ
- Toàn diện và cụ thể: Cuộc khảo sát bao gồm tất cả khu vực của tổ chức, cung cấp mức độ chi tiết giúp các bệnh viện xác định các lĩnh vực cụ thể của nơi thực hiện tốt và khu vực nào cần cải thiện ở cả hai cấp khoa và bệnh viện
1.3 Thực trạng văn hóa an toàn người bệnh
1.3.1 Nghiên cứu về thực trạng văn hóa an toàn người bệnh sử dụng bộ công
cụ HSOPSC
1.3.1.1 Trên Thế giới
Theo kết quả khảo sát về VHATNB trên 382.834 NVYT của 630 bệnh viện tại Hoa Kỳ năm 2018, có 65% nhân viên đánh giá tích cực về công tác VHATNB Chi tiết tỷ lệ phản ứng tích cực đối với 12 lĩnh vực ATNB như sau [5]:
Trang 19Làm việc theo ekip trong cùng một khoa/phòng: 82%
Hoạt động cải tiến và thực hiện có hệ thống các biện pháp ATNB: 72% Quan điểm và hành động về ATNB của lãnh đạo khoa/phòng: 80%
Phản hồi và trao đổi về sai sót/lỗi trong khoa/phòng: 67% Tần suất ghi nhận sự cố/sai sót/ lỗi của NVYT: 66%
Bàn giao ca trực và chuyển tiếp người bệnh giữa các khoa/phòng: 48%
Tại Bỉ, khảo sát của Johan Hellings và cộng sự (2007) được thực hiện tại 5 bệnh viện đa khoa sử dụng bộ công cụ HSOPSC với sự tham gia của 3.940 nhân viên y tế Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA Kết quả cho thấy tỷ lệ phản hồi tích cực về các khía cạnh văn hóa an toàn người bệnh từ thấp đến trung bình trong tất cả các bệnh viện Thấp nhất là “hỗ trợ của lãnh đạo bệnh viện cho an toàn người bệnh” (35%), “không trừng phạt khi có sự cố” (36%),
“bàn giao và chuyển bệnh nhân giữa các khoa” (36%), “nhân sự” (38%) và “làm việc theo ê kip trong khoa phòng” (70%) [6]
Một khảo sát tương tự do Tereanu và các cộng sự thực hiện năm 2017 tại 6 bệnh viện nằm ở 4 khu vực Rumani (Craiova, Cluj-Napoca, Bucharesr và Brasov)
đã cho thấy tỷ lệ phản hồi tích cực cao nhất là “hỗ trợ của lãnh đạo bệnh viện cho an toàn người bệnh” (88%), “Làm việc theo ê kip trong khoa phòng” (86%), “bàn giao
và chuyển bệnh nhân giữa các khoa” (84%), “Cải tiến liên tục - Học tập một cách
hệ thống” (81%), “Nhận thức chung về an toàn” (80%), “Phản hồi và trao đổi sự cố” (75%) Tỷ lệ phản hồi tích cực thấp nhất là: “Nhân sự” (39%), “Tần suất ghi nhận sự cố” (59%) và “Không trừng phạt khi có sự cố” (61%) Điều dưỡng có tỷ lệ phản hồi tích cực cao hơn so với bác sỹ [7]
Trang 20Năm 2018, Danielsson và các cộng sự cũng đã sử dụng bộ công cụ HSOPSC
để tiến hành khảo sát VHATNB tại các bệnh viện ở Thụy Điển với sự tham gia của 23.781 NVYT Kết quả chỉ ra các lĩnh vực VHATNB có tỷ lệ phản hồi tích cực cao nhất là "Làm việc theo ê kip trong khoa phòng; "Không trừng phạt khi có sự cố" và
tỷ lệ đáp ứng tích cực thấp nhất "Hỗ trợ của lãnh đạo bệnh viện cho an toàn người bệnh"; "Nhân sự" [8]
Một nghiên cứu khác tại Đài Loan (2010), tác giả I-Chi Chen và Hung-Hui
Li đã thực hiện khảo sát 42 bệnh viện tại Đài Loan bằng bộ công cụ HSOPSC cho thấy tỷ lệ phản hồi tích cực đối với 12 khía cạnh VHATNB trong khảo sát là 64%, cao hơn một chút so với tỷ lệ phản hồi tích cực được thu thập của AHRQ (61%) Khía cạnh được phản hồi tích cực cao nhất là "Làm việc theo ê kip trong khoa phòng", tương tự như kết quả được báo cáo ở Hoa Kỳ Khía cạnh có tỷ lệ phản hồi tích cực thấp nhất là "Nhân sự"[9]
Qua một số nghiên cứu trên thế giới về VHATNB tại bệnh viện có sử dụng
bộ cộng cụ HSOPSC cho thấy các nghiên cứu đều có sự tương đồng về đáp ứng tích cực tỷ lệ cao tại lĩnh vực “Làm việc theo ê kíp trong khoa phòng”; đáp ứng tích cực thấp tại lĩnh vực “Nhân sự” Bên cạnh đó, có một số sự khác biệt về tỷ lệ đáp ứng tích cực tại các lĩnh vực như “Phản hồi và trao đổi sự cố"; "Trao đổi cởi mở"; "Tần suất ghi nhận sự cố” và “Không trừng phạt khi có sự cố”
1.3.1.2 Tại Việt Nam
Bộ câu hỏi khảo sát về VHATNB (HSOPSC) được áp dụng đầu tiên tại Bệnh viện Nhi đồng 1 năm 2012 do tác giả Tăng Chí Thượng và cộng sự khảo sát 12 lĩnh vực về VHATNB tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 cho thấy có nhiều phản hồi tích cực cao như: làm việc theo ê kíp trong khoa/phòng 90%, hỗ trợ về quản lý cho ATNB 82%, thông tin phản hồi và trao đổi về sai sót 82% Tuy nhiên, cũng có nhiều phản hồi không tích cực ở các lĩnh vực như: Bàn giao và chuyển tiếp 57%, nhân sự 52%, trao đổi cởi mở 55%, tần suất báo cáo sự cố 64%, làm việc theo ê kíp giữa các khoa/phòng 61% và nhất là “hành xử không buộc tội khi có sai sót” 51% [10] Cũng tại TP Hồ Chí Minh, theo khảo sát của Trần Nguyễn Như Anh về VHATNB tại Bệnh viện Từ Dũ (2015) đưa ra tỷ lệ đáp ứng tích cực trung bình là 68,4%, trong đó
Trang 21các lĩnh vực đánh giá tích cực nhất là “Làm việc theo ê kíp trong khoa/phòng”; tiếp đến là “Quan điểm và hành động về ATNB của người quản lý”; và lĩnh vực nhận phản hồi tích cực thấp nhất là “Bàn giao và chuyển bệnh” và “Không trừng phạt khi
có sai sót” [11]
Năm 2017 và 2018 tại một số cơ sở y tế có giường bệnh của tỉnh Đồng Tháp, khảo sát đánh giá về VHATNB có sử dụng bộ công cụ HSOPSC, cho thấy tỷ lệ trung bình đáp ứng tích cực lần lượt là 69,0% [13] và 77,7% [14] Theo khảo sát của Lê Trung Trọng tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh đồng Tháp với 580 NVYT, ghi nhận lĩnh vực mà nhân viên trả lời có tỷ lệ đáp ứng tích cực của nhân viên từ 90% trở lên trong VHATNB như 95,3% nhân viên đáp ứng tích cực về lĩnh vực làm việc theo ê kíp trong cùng một khoa/phòng và hành động về an toàn người bệnh của người quản lý; 94,8% về lĩnh vực hỗ trợ về quản lý cho an toàn người bệnh; 95,3%
về lĩnh vực hành động về ATNB của người quản lý; 90,3% về lĩnh vực làm việc theo ê kíp giữa các khoa/phòng Bên cạnh đó, các lĩnh vực ghi nhận tỷ lệ thấp nhất
là 78,7% về lĩnh vực trao đổi cởi mở; 67,7% về lĩnh vực tần suất báo cáo sự cố sai sót/lỗi [14]
Tại Hà Nội, một số bệnh viện cũng đã triển khai khảo sát VHATNB có sử dụng bộ công cụ HSOPSC như tại Bệnh viện Đống Đa do Lê Thanh Hải thực hiện, kết quả đưa ra tỷ lệ đáp ứng tích cực VHATNB của NVYT là 74%, tỷ lệ phần trăm
về đáp ứng tích cực theo 12 khía cạnh có tỷ lệ đáp ứng tích cực cao nhất là “làm việc theo ê kíp trong khoa phòng” chiếm 91,6% và thấp nhất là “tần suất ghi nhận
sự cố” chiếm 65,9% [22] Hay tại bệnh viện tư có đầu tư lớn như Bệnh viện Vinmec Times cũng tiến hành khảo sát và đưa ra kết ra tỷ lệ đáp ứng tích cực VHATNB của NVYT là 66 %, Tỷ lệ trả lời tích cực cao tập trung ở các lĩnh vực: “làm việc theo ê kíp trong khoa”, “hỗ trợ lãnh đạo bệnh viện cho ATNB”, “thông tin phản hồi và học tập cải tiến liên quan đến ATNB” và tỷ lệ trả lời tích cực thấp tại các lĩnh vực: “Sự phối hợp giữa các khoa phòng”, “Thiếu “nhân sự”, “Cởi mở trong thông tin về sai sót”, “Tần suất ghi nhận sự cố” và nhất là “Hành xử không buộc tội khi có sai sót” [12]
Trang 22Cho đến nay đã có nhiều nghiên cứu trên lĩnh vực VHATNB tại các bệnh viện Việt Nam Các nghiên cứu đã xác định xem VHATNB được đánh giá đáp ứng tích cực nhất là trong lĩnh vực nào và ngược lại Theo đó, Tỷ lệ đáp ứng tích cực trung bình 12 lĩnh vực là khá tốt với tỷ lệ cao từ 65% trở lên Các lĩnh vực thường
có tỷ lệ đáp ứng tích cực cao nhất là “Làm việc theo ê kíp trong cùng khoa phòng”
“Thông tin phẩn hồi về ATNB của lãnh đạo”, các lĩnh vực có tỷ lệ trả lời đáp ứng tích thấp là “Nhân sự” do thiếu hụt nhân lực tại các vị trí, và “trùng phạt khi có sự cố”
1.3.2 Nghiên cứu về một số yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa an toàn người bệnh
Xây dựng VHATNB là hoạt động cấp thiết để góp phần làm thay đổi suy nghĩ, thái đô và hành vi liên quan đến ATNB của nhân viên bệnh viện theo chiều hướng tích cực Theo kết quả nghiên cứu tại Anh năm 2011, VHATNB giúp giảm
sự cố y khoa, giảm tỷ lệ sai sót khi sử dụng thuốc, giảm tỷ lệ nhập viện, giảm thời gian nằm viện và các biến chứng do phẫu thuật Đồng thời VHATNB cũng ảnh hưởng tích cực đế NVYT như giúp cải thiện thái độ của NVYT, tăng tần suất báo cáo sự cố, giảm tỷ lệ chấn thương cho điều dưỡng và giảm tỷ lệ nghỉ việc của nhân viên [10]
Trang 23Nghiên cứu của Danielsson và các cộng sự (2018) được thực hiện tại các bệnh viện ở Thụy Điển sử dụng bộ công cụ khảo sát VHATNB với sự tham gia của 23.781 nhân viên y tế Sau khi phân tích đa biến cho thấy, kinh nghiệm chuyên môn lâu dài (trên 15 năm) có mối liên quan đến mức độ an toàn người bệnh tăng [8]
Tại Việt Nam, theo khảo sát của Sở Y tế TP Hồ Chí Minh cho thấy nhóm điều dưỡng/ kỹ thuật viên có tỷ lệ đáp ứng tích cực cao hơn bác sĩ ở 7/12 lĩnh vực (làm việc nhóm trong khoa; lãnh đạo khoa khuyến khích ATNB; hỗ trợ của lãnh đạo BV về ATNB; học tập và cải tiến liên tục; hỗ trợ của lãnh đạo bệnh viện về ATNB, nhân lực, bàn giao và chuyển bệnh; hành xử không buộc tội khi có sai sót),
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê [10] Theo nghiên cứu tại tỉnh Đồng Tháp đã chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến VHATNB gồm có yếu tố môi trường (cơ sở vật chất, nhân lực có trình độ), yếu tố chính sách, hệ thống báo cáo sự cố xảy ra và ảnh hưởng cao nhất là cơ chế khen thưởng và xử phạt trong ATNB [14], [13]
1.3.2.2 Yếu tố môi trường, chính sách
Một trong những thách thức lớn hiện nay trong công tác chăm sóc sức khỏe
là làm sao để công tác này an toàn hơn nữa trong môi trường y tế vô cùng phức tạp, đầy áp lực và thay đổi nhanh chóng Môi trường y tế trong đó các bác sĩ, điều dưỡng cung cấp dịch vụ đang phải đối mặt với nhiều yếu tố rủi ro như: quá tải người bệnh; thiếu nhân lực dẫn tới thiếu thời gian thăm khám và tiếp xúc người bệnh; áp lực tâm lý bảo vệ người hành nghề còn bất cập [10] Môi trường công việc của điều dưỡng, hộ sinh còn nhiều khó khăn bất cập Gần 50% điều dưỡng, hộ sinh chưa hài lòng với công việc Nguyên nhân do: nghề nghiệp chưa được đánh giá và tôn trọng đúng mức; chưa tạo điều kiện để hành nghề chủ động trong lĩnh vực chăm sóc; nhân lực thiếu - quá tải công việc; ca kíp kéo dài Nhiều bằng chứng nghiên cứu khẳng định tỷ lệ NVYT thấp so với giường bệnh sẽ dẫn đến hậu quả tăng sai sót, tăng nhiễm khuẩn bệnh viện [10]
Nghiên cứu tại các nước phát triển như Thụy Điển, Bỉ và Nhật đều cho thấy cần cải thiện làm việc đội nhóm của các đơn vị trong tổ chức, học hỏi từ sai sót và văn hóa không trừng phạt [8], [6], [25] Chúng ta không thể loại bỏ bản chất có thể mắc lỗi của con người, song chúng ta có thể hành động để giảm bớt và hạn chế
Trang 24nguy cơ Điều quan trọng đối với tất cả nhân viên y tế là phải nhận diện được các tình huống làm tăng khả năng xảy ra sai sót [26] Vì vậy, việc tạo dựng môi trường làm việc, một hệ thống khó mắc lỗi giúp hạn chế khả năng gây sai sót của con
người như sau Tạo dựng môi trường làm việc tránh dựa vào trí nhớ như xây dựng
phần mềm kê toa điện tử hoặc hình ảnh/sơ đồ hóa các bước trong qui trình; giúp
làm mọi việc trở nên rõ ràng hơn như sử dụng hình vẽ và hướng dẫn về các bước
vận hành trang thiết bị; hay như đơn giản hóa các bước trong qui trình, càng đơn
giản càng tốt, vì quá phức tạp là công thức cho sai sót xảy ra Ví dụ giới hạn các loại thuốc sẵn có để kê đơn; hay giới hạn số liều của các loại thuốc sẵn có; và giữ bản kiểm kê các loại thuốc thường được dùng cho bệnh nhân hay như đơn giản hóa qui trình thông tin liên lạc bằng cách nhắc lại hai lần, hoặc ISBAR [27] Chuẩn hoá
các qui trình và thủ tục, vì tại bệnh viện hoặc tại các cơ sở y tế rất dễ dàng quan sát
thấy mỗi Khoa/phòng, mỗi nhân viên thực hiện cùng một công việc với những cách khác nhau Điều đó có nghĩa là họ phải học lại cách thực hiện công việc mỗi khi chuyển sang một lĩnh vực mới Với phương pháp làm việc tiêu chuẩn hóa các qui trình và thủ tục sẽ giúp nhân viên đỡ phải dựa vào trí nhớ, hạn chế sai sót, sự cố và giúp tăng hiệu suất làm việc và tiết kiệm thời gian Sử dụng bảng kiểm, một công cụ đơn giản nhưng hiệu quả nếu được tuân thủ nghiêm túc, ví như bảng kiểm an toàn phẫu thuật của Tổ chức Y tế thế giới [28] Và hạn chế phụ thuộc vào khả năng tập trung của con người vì họ dễ bị mất tập trung và cảm thấy chán khi họ tham gia những hoạt động kéo dài và lặp đi lặp lại
Yếu tố phản hồi và trao đổi về sai sót/lỗi trong văn hóa an toàn người bệnh được định nghĩa là NVYT có thể thoải mái trao đổi và phản hồi những nguy cơ có thể gây mất an toàn cho người bệnh Để đạt được điều nay, tổ chức cần phải giúp NVYT “an toàn về mặt tâm lý” Khái niệm này bắt nguồn từ cuốn sách của James
Reason, “Kiểm soát những rủi ro và tai nạn trong tổ chức” và được phổ biến bởi Amy Edmonson trong cuốn sách “Sự hợp tác” Mặc dù được cho rằng chỉ đơn giản
là “Tôi có thể nêu lên những mối quan ngại của bản thân”, những nguyên lý cơ bản
về an toàn tâm lý phức tạp hơn vậy rất nhiều, được thể hiện qua 4 điều sau:
- Mọi người đều có thể thắc mắc mà không bị coi là ngu ngốc
Trang 25- Mọi người đều có thể nhận được phản hồi về bản thân mà không bị coi là kém cỏi
- Mọi người đều có thể phê phán nhưng không tỏ ra tiêu cực
- Mọi người đều có thể đưa ra những ý tưởng đột phá mà không bị cho là phá đám
Nghiên cứu tại Bệnh viện II Lâm Đồng năm 2019 của tác giả Huỳnh Ngọc Thành cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến VHATNB là đủ nhân sự; phản hồi về các biện pháp cải tiến dựa trên báo cáo sự cố; được thông tin về những sai sót xảy ra; báo cáo sự cố suýt xảy ra và sự cố đã xảy ra nhưng chưa gây hại; các yếu tố về quy định, hướng dẫn ATNB; hệ thống báo cáo sự cố; hoạt động kiểm tra, giám sát; hạ tầng, trang thiết bị; tình trạng quá tải và đào tạo, tập huấn cho nhân viên về ATNB [29]
1.3.2.3 Yếu tố quản lý, lãnh đạo
Nhận thức và quan điểm của người quản lý về VHATNB quyết dịnh kết quả triển khai chương trình ATNB Trước hết, người quản lý cần quan tâm khắc phục lỗi hệ thống thay vì đổ lỗi cho cá nhân
Mỗi điều sẽ xuất hiện ở trong các hoàn cảnh khác nhau trong môi trường làm việc, và sẽ được hỗ trợ bởi nhiều hoạt động đa dạng Ví dụ, việc đưa ra thắc mắc liên quan tới việc học hỏi trong lĩnh vực lâm sàng, còn việc nhận phản hồi mà không bị cho là kém cỏi có những sự liên quan nhất định tới khả năng giao tiếp giữa nhân viên và lãnh đạo ra sao Không may rằng, trong đa số những trường hợp thực
tế, ngay cả ở trong trường học hay trong gia đình, sự an toàn về mặt tâm lý đều không được đảm bảo, việc đưa ra những thắc mắc, tìm kiếm sự phản hồi, hay việc đưa ra những ý tưởng đột phá sẽ phá vỡ những quy tắc đang tồn tại Chúng ta cần phải có sự chuẩn bị kĩ, đảm bảo rằng những việc này xảy ra là điều tất yếu được dự đoán từ trước Việc đạt được sự an toàn về mặt tâm lý đòi hỏi có mô hình tổ chức phẳng và hệ thống chắc chắn để tạo điều kiện cho mọi người có thể đưa ra những ý kiến kỳ lạ, thậm chí trong nhiều trường hợp không phù hợp với hoàn cảnh, nhưng những người khác có thể dần dần đưa ý kiến đó trở nên hữu ích Trong vị trí là nhà đào tạo phải là tấm gương trong việc học hỏi một cách chọn lọc và đưa ra những
Trang 26quyết định đúng đắn, chấp nhận những sai lầm và thất bại mà họ mắc phải Việc đào tạo và đưa ra phản hồi này là cách dễ nhất để đạt được an toàn về mặt tâm lý Những cuộc gặp mặt đối mặt thường xuyên với nhân viên sẽ tạo điều kiện lý tưởng cho sự phát triển của an toàn về mặt tâm lý [30]
Yếu tố quan điểm và hành động về ATNB của người quản lý trong văn hóa
an toàn người bệnh là các chính sách hỗ trợ an toàn người bệnh cung cấp một môi trường làm việc thúc đẩy sự an toàn của bệnh nhân và cho thấy rằng sự an toàn của bệnh nhân là một ưu tiên hàng đầu Một trong những khía cạnh quan trọng nhất của bất kỳ chương trình an toàn người bệnh nào là sự hỗ trợ từ các cấp quản lý bệnh viện cao nhất Các nhân viên y tế hiểu rõ rằng các nhà quản lý quan tâm đến họ và
có nhiều khả năng tuân thủ chính sách an toàn người bệnh hơn nếu quản lý đứng sau họ Một số nghiên cứu tình huống cho thấy rằng việc đầu tư nguồn lực vào các chương trình và trang thiết bị cần thiết để đảm bảo an toàn người bệnh có thể được phục hồi trong vòng từ hai đến năm năm Đặc biệt khi đầu tư trang thiết bị đi đôi với đào tạo và chính sách để tạo ra tác động lâu dài Mặc dù có thể có các trang thiết
bị, đào tạo và cơ sở hạ tầng đáng kể liên quan đến việc thực hiện an toàn người bệnh, các bệnh viện với các chương trình thành công đã nhận thấy rằng lợi ích lâu dài vượt xa chi phí kinh tế Những lợi ích đó bao gồm:
- Giảm các nguy cơ gây mất an toàn
- Giảm thiệt hại về tài chính
- Tăng năng suất
- Chất lượng cuộc sống và sự hài lòng của nhân viên cao hơn
- Lưu giữ nhân viên
- Sự chăm sóc và sự hài lòng của bệnh nhân tốt hơn [31]
Một nghiên cứu cắt ngang được thực hiện bởi tác giả Ngô Thị Ngọc Trinh
(2018) về VHATNB tại TTYT huyện Lai Vung cho thấy một số yếu tố ảnh hưởng đến VHATNB được đề cập như chức danh, khoa/phòng làm việc, thâm niên công tác Nghiên cứu cũng chỉ ra các yếu tố thúc đẩy VHATNB như sự quan tâm, ủng
hộ, khuyến khích của lãnh đạo; một số yếu tố hạn chế xoay quanh hệ thống báo cáo
Trang 27sự cố chưa hiệu quả, việc thực hiện kiểm tra và giám sát ATNB chưa tốt, thiếu một
số hướng dẫn về ATNB, đào tạo, tập huấn còn nhiều bất cập [13]
1.4 Giới thiệu tóm tắt về địa bàn nghiên cứu
Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh đi vào hoạt động từ tháng 9 năm 2016, với đội ngũ y - bác sỹ là các chuyên gia đầu ngành, trình độ chuyên môn cao; Hệ thống trang thiết bị hiện đại, hỗ trợ chẩn đoán và điều trị hiệu quả; Không gian khám chữa bệnh hiện đại, văn minh, sang trọng và tiệt trùng tối đa; Mô hình quản lý, chia sẻ và kết nối dữ liệu thông tin trực tuyến hiện đại, hiệu quả tối ưu Tọa lạc tại quận Long Biên, thành phố Hà Nội, BVĐK Tâm Anh có hơn 20.000 m2, bao gồm khu khám, chữa bệnh hiện đại, khu nghỉ dưỡng sang trọng, khuôn viên nhiều cây xanh thoáng mát, nhà hàng theo tiêu chuẩn khách sạn … giúp người bệnh và người người nhà được tận hưởng cảm giác thoải mái, thư giãn trong suốt quá trình khám, điều trị tại đây [15]
BVĐK Tâm Anh có quy mô 500 giường bệnh, 15 chuyên khoa cùng 03 trung tâm hỗ trợ chuyên ngành và công nghệ cao được đầu tư nhiều trang thiết bị hiện đại Với định hướng chất lượng đạt chuẩn JCI - bộ tiêu chuẩn quốc tế về chất lượng y tế và an toàn người bệnh Sau hơn 3 năm hoạt động, bệnh viện đã xây dựng được hệ thống giám sát các chỉ số đánh giá chất lượng an toàn người bệnh bằng việc
áp dụng phương pháp thông kê nhằm phân tích và đánh giá định kỳ hàng tháng các chỉ số chất lượng Các chỉ số này cho phép theo dõi xác định các vấn đề bất cập trong thực hành chăm sóc và điều trị cho người bệnh đề kịp thời cải tiến nâng cao chất lượng dịch vụ [15]
Hà Lan, Tây Ban Nha, Đài Loan, Libăng, … Bên cạnh đó, văn hóa an toàn người
Trang 28bệnh không chỉ dựa vào một biến hay một chỉ tiêu mà được tính trên tổng số điểm của rất nhiều tiêu chí
Văn hóa an toàn người bệnh được xác định bao gồm 12 yếu tố: (1) Làm việc theo ê kíp trong cùng một Khoa/phòng, (2) Quan điểm và hành động về an toàn người bệnh của người quản lý, (3) Tính cải tiến liên tục và học tập một cách hệ thống, (4) Hỗ trợ về quản lý cho an toàn người bệnh, (5) Quan điểm tổng quát về an toàn người bệnh, (6) Phản hồi và trao đổi về sai sót/lỗi, (7) Trao đổi cởi mở, (8) Tần suất ghi nhận sự cố/sai sót/lỗi, (9) Làm việc theo ê kíp giữa các Khoa/phòng, (10) Nhân sự, (11) Bàn giao và chuyển tiếp, và cuối cùng (12) Không trừng phạt khi có sai sót/lỗi
Dựa trên tham khảo khung lý thuyết của nghiên cứu của tác giả Ngô Thị Ngọc Chinh và cộng sự về VHATNB tại Đồng Tháp năm 2018, tác giả xác định các yếu tố ảnh hưởng đến VHATNB tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh bao gồm:
- Yếu tố cá nhân của đối tượng nghiên cứu: thâm niên ; chức danh nghề
nghiệp, chức vụ ; vị trí công tác ; thời gian làm việc ; nhận thức về ATNB …
- Yếu tố môi trường, chính sách: cơ chế, chính sách, quy định về ATNB;
hệ thống báo cáo sự cố; điều kiện làm việc; đào tạo, tập huấn về ATNB
- Yếu tố quản lý, lãnh đạo: sự quan tâm của lãnh đạo đến ATNB; cơ chế
khen thưởng, xử phạt ; giám sát thực hiện các chương trình ATNB
Trang 29Khung lý thuyết nghiên cứu văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y yế
Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh năm 2020
Làm việc theo ê kíp trong
Trao đổi cởi mở Tần suất ghi nhận sự cố
Làm việc theo êkip giữa các
khoa/phòng Nhân sự
Bàn giao và chuyển bệnh nhân
- Thời gian làm việc (giờ/ tuần)
- Tiếp xúc trực tiếp với người
- Hệ thống báo cáo sự cố y khoa
- Đào tạo, tập huấn về ATNB
- Điều kiện làm việc
Yếu tố quản lý, lãnh đạo
- Sự quan tâm của lãnh đạo đến
ATNB
- Cơ chế khen thưởng, xử phạt
- Giám sát thực hiện các chương
trình ATNB
Không trừng phạt khi có sự cố
Trang 30- Tiêu chuẩn chọn:
Thời gian công tác tại bệnh viện từ 06 tháng trở lên tính đến thời điểm tiến hành thu thập số liệu nghiên cứu
Đồng ý tham gia nghiên cứu
- Tiêu chuẩn loại trừ:
+ Đi học, đi công tác, nghỉ thai sản, nghỉ ốm hoặc vắng mặt trong thời gian tiến hành nghiên cứu
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 01/2020 đến tháng 08/2020
- Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh - 108 Hoàng Như
Tiếp - Phường Bồ Đề - Quận Long Biên - Thành phố Hà Nội
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp phương pháp định lượng và định tính Nghiên cứu định lượng được thực hiện trước nhằm mô tả thực trạng thực hiện VHATNB của NVYT của BVĐK Tâm Anh Nghiên cứu định tính được thực hiện sau nghiên cứu định lượng nhằm bổ sung, giải thích kết quả định lượng và đáp ứng mục tiêu 2
Trang 312.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
2.4.1 Nghiên cứu định lượng:
Lấy mẫu toàn bộ nhân viên y tế tại các khoa, phòng trực thuộc Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Tổng số NVYT tham gia nghiên cứu là 508 người, chiếm 93,8% tổng số NVYT của bệnh viện
2.4.2 Nghiên cứu định tính:
Phỏng vấn sâu (PVS) : Chọn đối tượng có chủ đích với ba nhóm gồm lãnh đạo bệnh viện ; khoa/phòng và nhân viên y tế Tổng số đã thực hiện 15 cuộc PVS,
cụ thể như sau:
+ Đại diện lãnh đạo bệnh viện (02 người),
+ Đại diện lãnh đạo khoa/ phòng/ trung tâm (05 người),
+ Nhân viên y tế trực tiếp chăm sóc người bệnh (08 người)
Thảo luận nhóm (TLN): Chọn đối tương có chủ đích (đối tượng đã tham gia khảo sát định lượng, có khả năng giao tiếp tốt, có khả năng cung cấp thông tin liên quan tới chủ đề nghiên cứu và đồng ý tham gia thảo luận nhóm, làm việc tại khu vực có khối lượng công việc lớn và áp lực cao) Đã thực hiện 02 cuộc TLN gồm :
+ Nhóm bác sĩ (6 người): 01 Nội, 01 Sản, 01 Ngoại, 01 Nhi, 01 Gây mê hồi sức, 01 Cấp cứu - Hồi sức tích cực
+ Nhóm điều dưỡng (8 người): 01 Nội, 01 Sản, 01 Ngoại, 01 Nhi, 01 Gây mê hồi sức, 01 Cấp cứu - Hồi sức tích cực, 01 Xét nghiệm, 01 Chẩn đoán hình ảnh
2.5 Phương pháp thu thập số liệu
tần suất (không bao giờ đến luôn luôn) (phụ lục 1)
Mười hai lĩnh vực khảo sát bao gồm:
(A) 7 lĩnh vực về văn hóa an toàn trong phạm vi từng khoa:
1- Làm việc nhóm trong khoa (4 câu hỏi),
Trang 322- Lãnh đạo khoa khuyến khích ATNB (4 câu hỏi)
3- Học tập - cải tiến liên tục (3 câu hỏi),
6- Thông báo phản hồi sai sót (3 câu hỏi),
8- Cởi mở trong thông tin về sai sót (3 câu hỏi),
10- Nhân lực (4 câu hỏi),
12- Hành xử không buộc tội khi có sai sót (3 câu hỏi),
(B) 3 lĩnh vực về văn hóa an toàn phạm vi toàn bệnh viện:
4- Hỗ trợ của lãnh đạo bệnh viện (3 câu hỏi),
9- Làm việc nhóm giữa các khoa (4 câu hỏi),
11- Bàn giao và chuyển bệnh (4 câu hỏi),
(C) 2 lĩnh vực về kết quả liên quan đến ATNB
5- Nhận thức về ATNB (4 câu hỏi),
7- tần suất báo cáo sự cố (3 câu hỏi),
Số liệu được thu thập bằng hình thức tự điền thông qua phát vấn đến đối tượng nghiên cứu Sau khi chuyển bộ câu hỏi đến đối tượng nghiên cứu, điều tra viên hướng dẫn cách điền phiếu, giao cho đối tượng tự điền và thu ngay tại chỗ sau khi đối tượng hoàn thành phiếu
2.5.2.2 Nghiên cứu định tính:
Phương pháp phỏng vấn sâu (PVS) và thảo luận nhóm trọng tâm (TLN) được
sử dụng để thu thập thông tin định tính
Nội dung PVS, TLN dựa theo hướng dẫn phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm
Trang 332.6 Biến số nghiên cứu
Với mục tiêu 1: 42 biến số về VHATNB được chia theo 12 lĩnh vực, 2 biến
số về số lượng báo cáo sự cố và mức độ VHATNB (phụ lục 6)
Với mục tiêu 2: Những yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa an toàn người bệnh được phân tích theo các nhóm:
- Chủ đề 1 : Yếu tố cá nhân:
+ Chức danh nghề nghiệp
+ Thu nhập trung bình
+ Vị trí công tác
+ Thời gian công tác tại khoa/ phòng/ trung tâm
+ Thời gian làm việc (giờ/ tuần)
+ Tiếp xúc trực tiếp với người bệnh
+ Nhận thức về ATNB
- Chủ đề 2 : Yếu tố môi trường, chính sách:
+ Hệ thống văn bản, quy định về ATNB
+ Hệ thống báo cáo SCYK
+ Đào tạo, tập huấn về ATNB
+ Điều kiện làm việc
- Chủ đề 3 : Yếu tố quản lý, lãnh đạo:
+ Sự quan tâm của lãnh đạo đến vấn đề ATNB
+ Cơ chế khen thưởng, xử phạt
+ Giám sát thực hiện các chương trình ATNB
2.7 Thước đo và tiêu chuẩn đánh giá
Trang 34- Kết quả đánh giá đƣợc phân thành 2 nhóm nhƣ sau [20]:
Đáp ứng tích cực: nếu câu trả lời là "Rất đồng ý/Luôn luôn" hoặc "Đồng
ý/Thường xuyên" với các tiểu mục diễn đạt xuôi và "Rất không đồng ý/Không
bao giờ" hoặc "Không đồng ý/Hiếm khi" với các tiểu mục diễn đạt ngược
Đáp ứng chƣa tích cực: Nếu câu trả lời là "Rất không đồng ý/Không bao giờ"
hoặc "Không đồng ý/Hiếm khi" với các tiểu mục diễn đạt xuôi và "Rất đồng ý/Luôn luôn" hoặc "Đồng ý/Thường xuyên" với các tiểu mục diễn đạt ngược Các trường hợp trả lời là “Không biết/ Đôi khi/ Chấp nhận được” đều xếp vào nhóm đáp ứng chưa tích cực
Ví dụ 1:
Tiểu mục diễn đạt xuôi “Trong khoa mọi người giúp đỡ nhau”, nếu 50% số
người được hỏi hoàn toàn đồng ý và 25% đồng ý, tỷ lệ % đáp ứng tích cực mục đó
sẽ là 50% + 25% = 75%
Ví dụ 2:
Tiểu mục diễn đạt ngược “Trong khoa/phòng có nhiều vấn đề về an toàn
người bệnh”, nếu 60% số người được hỏi hoàn toàn không đồng ý và 20% không
đồng ý, đáp ứng tích cực mục này là 80% (tức là, 80% số người được hỏi không tin
rằng trong khoa họ có nhiều vấn đề ATNB)
Tỷ lệ đáp ứng tích cực, bình thường và đáp ứng chưa tích cực của từng lĩnh vực bằng cách tính trung bình tỷ lệ phần trăm của từng tiểu mục theo từng lĩnh vực
Trang 35với VHATNB là: (82% + 80% + 72% + 72% + 69% + 67% + 66% + 66%, 62% + 53% + 48% + 47%)/12= 65%
2.7.2 Tiêu chuẩn đánh giá
Xác định điểm mạnh của các lĩnh vực VHATNB tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh: trung bình tỷ lệ đáp ứng tích cực từ 65% trở lên
Xác định điểm yếu của các lĩnh vực VHATNB tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh: trung bình tỷ lệ đáp ứng chưa tích cực dưới 65% [20]
2.7.3 Một số khái niệm dung trong nghiên cứu
Biên chế làm việc tại Bệnh viện: là người đã được ký hợp đồng lao động với BVĐK Tâm Anh theo hình thức toàn thời gian
Bác sĩ: là người có văn bằng chuyên môn bác sĩ và được BVĐK Tâm Anh ký hợp đồng lao động tại các vị trí việc làm là bác sĩ điều trị; bác sĩ cận lâm sàng;… tùy theo lĩnh vực chuyên ngành được đào tạo
Dược sĩ: là người có văn bằng chuyên môn về dược và được BVĐK Tâm Anh ký hợp đồng lao động liên quan đến công tác dược (thuốc)trong bệnh viện như dược lâm sàng và quản lý kho, phân phát thuốc
Điều dưỡng: là người có văn bằng chuyên môn về điều dưỡng và được BVĐK Tâm Anh ký hợp đồng lao động tại vị trí công việc của điều dưỡng (thực hiện y lệnh của bác sĩ và chăm sóc người bệnh)
Hộ sinh: là người có văn bằng chuyên môn về hộ sinh và được BVĐK Tâm Anh ký hợp đồng lao động tại vị trí công việc của hộ sinh (thực hiện y lệnh của bác
sĩ và chăm sóc sản phụ và trẻ sơ sinh)
Kỹ thuật viên: là người có văn bằng chuyên môn về kỹ thuật viên y tế và được BVĐK Tâm Anh ký hợp đồng lao động tại vị trí công việc của kỹ thuật viên như xét nghiệm; chẩn đoán hình ảnh; khúc xạ; nội soi
Hỗ trợ chăm sóc: là người được BVĐK Tâm Anh ký hợp đồng lao động tại
vị trí làm công tác hỗ trợ cho bệnh nhân đang điều trị nội trú thay cho người nhà
Khối hành chính: là người được BVĐK Tâm Anh ký hợp đồng lao động tại
vị trí các công việc văn phòng; bảo vệ; chăm sóc khách hàng qua tổng đài
Trang 362.8 Phương pháp phân tích số liệu
Toàn bộ phiếu thu thập qua bảng câu hỏi tự điền (phụ lục 1) về được nhập liệu bằng phần mềm Epidata 3.1 (gồm cả quá trình làm sạch bộ số liệu) Tiếp đến chuyển bộ số liệu đó sang phần mềm SPSS 20.0 để phân tích Với một số kết quả phân tích được thì sử dụng Excel 2016 của Microsoft để tính toán và vẽ biểu đồ
Mô tả: Tần số và tỷ lệ các biến về VHATNB của nhân viên y tế
Phân tích: Sử dụng kiểm định χ², Fisher’s, giá trị p,
Nội dung ghi âm PVS được gỡ băng và phân tích và tổng hợp theo từng chủ
đề Mộ số ý điển hình được trích dẫn minh họa cho kết quả nghiên cứu
2.9 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu
Đề cương Nghiên cứu đã được Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh của Trường Đại học Y tế công cộng thông qua bằng văn bản số 092/2020/YTCC-HD3 ngày 17/2/2020
Nội dung nghiên cứu phù hợp, được Ban giám đốc, Hội đồng khoa học kỹ thuật BVĐK Tâm Anh chấp thuận cho nghiên cứu tại bệnh viện
Kết quả nghiên cứu được phản hồi và báo cáo tới Ban giám đốc, các khoa/phòng trong bệnh viện khi kết thúc nghiên cứu Kết quả nghiên cứu có thể làm
cơ sở cho các giải pháp phòng ngừa sự cố đảm bảo ATNB cho người bệnh đến khám và chữa bệnh tại BVĐK Tâm Anh
Trang 37Bảng 3.1 Vị trí làm việc của đối tƣợng nghiên cứu
Khối khoa lâm sàng tham gia có tỷ lệ lớn nhất 54,1% (trong đó Trung tâm
Hỗ trợ sinh sản chiếm tỷ lệ cao nhất với 9,1%); Tiếp đến khối cận lâm sàng chiếm
tỷ lệ 27,0% (với bộ phận dinh dưỡng chiếm tỷ lệ lớn nhất 4,7%); Kối đơn vị, phòng ban chức năng chiếm 18,9%
Khối điều dưỡng chiếm tỷ lệ cao nhất với 49,6%, tiếp đến nhân viên làm các công việc không liên quan đến chuyên môn KCB chiếm 25,2% bao gồm khối hành chính bảo vệ, tổng đài chăm sóc khách hàng, nhân viên truyền thông; pháp chế…
Có 75% là đối tượng có tiếp xúc trực tiếp với người bệnh trong công tác KCB và 25% là không tiếp xúc trực tiếp với người bệnh, tỷ lệ này là 3:1
Trang 38Bảng 3.2 Thời gian công tác của đối tƣợng nghiên cứu
Dưới 2 năm tại BVĐK Tâm Anh 340 66,9
Trên 2 năm BVĐK Tâm Anh 168 33,1
3.2 Thực trạng VHATNB của NVYT Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh
3.2.1 Đáp ứng tích cực VHATNB của NVYT trong phạm vị khoa/phòng
Bảng 3.3 Tỷ lệ đáp ứng tích cực làm việc theo êkip trong khoa/phòng
rộn thì nhân viên trong khoa luôn hỗ trợ nhau để hoàn
thành công việc (A11)
Trung bình tỷ lệ đáp ứng tích cực: 93,6%
Trang 39Trung bình của tỷ lệ đáp ứng tích cực vơi lĩnh vực “Làm việc theo êkip trong khoa/phòng” là 93,6%; trong đó tiểu mục “Mọi người trong khoa luôn hỗ trợ lẫn nhau (A1)” có tỷ lệ cao nhất với 96,1% và thấp nhất với tiểu mục “Mọi người trong khoa luôn tôn trọng lẫn nhau (A4)” với 91,9%
Bảng 3.4 Tỷ lệ đáp ứng tích cực quan điểm và hành động của người quản lý về
ATNB
Số lượng %
Lãnh đạo khoa luôn nói lời động viên khi nhân viên tuân
Lãnh đạo khoa luôn xem xét nghiêm túc các đề xuất của
nhân viên trong việc cải tiến ATNB (B2) 465 91,5 Khi áp lực công việc tăng cao, lãnh đạo khoa luôn muốn
nhân viên làm việc nhanh hơn ngay cả khi không tuân thủ
đủ các bước của qui trình (B3r)
Lãnh đạo khoa bỏ qua các vấn đề ATNB dù biết các lỗi cứ
Trung bình tỷ lệ đáp ứng tích cực: 86,9%
Trung bình tỷ lệ đáp ứng tích cực quan điểm và hành động của người quản lý
về ATNB là 86,9%, chiếm tỷ lệ cao nhất là việc “Lãnh đạo khoa luôn động viên khi nhân viên tuân thủ quy trình (B1)” với 91,7% Có 78,1% NVYT đánh giá đáp ứng tích cức với tiểu mục “Khi áp lực công việc tăng cao thì lãnh đạo luôn muốn làm việc nhanh hơn… B3r” và có 86,2% NVYT đáp ứng tích cực với tiểu mục “Lãnh đạo khoa bỏ qua các lỗi ATNB lặp lại … B4r”
Bảng 3.5 Tỷ lệ đáp ứng tích cực cải tiến liên tục, học tập một cách hệ thống
Khoa chủ động triển khai các hoạt động để đảm bảo
Các sai sót xảy ra đã giúp khoa có những thay đổi theo
Sau khi thực hiện các thay đổi để cải tiến ATNB, khoa có
đánh giá hiệu quả của các can thiệp thay đổi (A13) 421 82,9
Trung bình tỷ lệ đáp ứng tích cực: 88,5%
Trang 40Trung bình tỷ lệ đáp ứng tích cực cải tiến liên tục, học tập một cách hệ thống
là 88,5% Có 92,9% NVYT đáp ứng tích cực việc “Khoa chủ động triển khai các hoạt động để đảm bảo ATNB (A6)”
Bảng 3.6 Tỷ lệ đáp ứng tích cực hỗ trợ của lãnh đạo bệnh viện cho ATNB
Lãnh đạo bệnh viện tạo bầu không khí làm việc hướng đến
Hoạt động quản lý bệnh viện cho thấy ATNB là ưu tiên
Lãnh đạo bệnh viện chỉ quan tâm đến ATNB khi có sự cố
Trung bình tỷ lệ đáp ứng tích cực: 83,8%
Trung bình tỷ lệ đáp ứng tích cực hỗ trợ của lãnh đạo bệnh viện cho ATNB của NVYT là 83,8%, chiếm tỷ lệ đáp ứng tích cực thấp là việc “Lãnh đạo bệnh viện chỉ quan tâm đến ATNB khi có sự cố nghiêm trọng xảy ra (F9r)” với 68,1%
Bảng 3.7 Tỷ lệ đáp ứng tích cực quan điểm tổng quát về ATNB
Sai sót nghiêm trọng ở khoa không xảy ra là do may mắn
Không bao giờ khoa "hy sinh" sự an toàn của người bệnh
để đánh đổi làm được nhiều việc hơn (A15) 325 64,0 Khoa có một số vấn đề không đảm bảo ATNB (A17r) 363 71,5 Khoa có những quy trình và biện pháp hiệu quả để phòng
Trung bình tỷ lệ đáp ứng tích cực: 75,6%
Trung bình tỷ lệ đáp ứng tích cực quan điểm tổng quát về ATNB của NVYT
là 75,6% Tỷ lệ đáp ứng tích cực thấp nhất tại tiểu mục “Không bao giờ khoa "hy sinh" sự an toàn của người bệnh để đánh đổi làm được nhiều việc hơn (A15)” với 64,0%; cao nhất 91,7% tại tiểu mục “Khoa có những quy trình và biện pháp hiệu quả để phòng ngừa sai sót xảy ra (A18)”