ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tƣợng nghiên cứu
Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh có đội ngũ nhân viên biên chế bao gồm lãnh đạo bệnh viện, trưởng các khoa, phòng, trung tâm, bộ phận, bác sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên, nữ hộ sinh, dược sĩ, nhân viên trợ giúp chăm sóc và nhân viên hành chính.
Thời gian công tác tại bệnh viện từ 06 tháng trở lên tính đến thời điểm tiến hành thu thập số liệu nghiên cứu Đồng ý tham gia nghiên cứu
+ Đi học, đi công tác, nghỉ thai sản, nghỉ ốm hoặc vắng mặt trong thời gian tiến hành nghiên cứu
2.1.2 Nghiên cứu định tính: Đối tượng phỏng vấn sâu: đại diện lãnh đạo bệnh viện, đại diện lãnh đạo khoa/ phòng/ trung tâm và đại diện nhân viên y tế trực tiếp chăm sóc người bệnh) Đối tượng thảo luận nhóm: hai nhóm (bác sĩ và điều dưỡng/ Hộ sinh/ Kỹ thuật viên).
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 01/2020 đến tháng 08/2020
- Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh - 108 Hoàng Như Tiếp - Phường Bồ Đề - Quận Long Biên - Thành phố Hà Nội
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu này là một nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp cả phương pháp định lượng và định tính Đầu tiên, nghiên cứu định lượng được thực hiện để mô tả thực trạng thực hiện VHATNB của nhân viên y tế tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Sau đó, nghiên cứu định tính được tiến hành nhằm bổ sung và giải thích các kết quả từ nghiên cứu định lượng, đồng thời đáp ứng mục tiêu thứ hai của nghiên cứu.
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Tổng số nhân viên y tế tham gia nghiên cứu tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh là 508 người, chiếm 93,8% tổng số nhân viên y tế của bệnh viện.
Phỏng vấn sâu (PVS) được thực hiện với đối tượng có chủ đích, bao gồm ba nhóm: lãnh đạo bệnh viện, khoa/phòng và nhân viên y tế Tổng cộng đã tiến hành 15 cuộc PVS.
+ Đại diện lãnh đạo bệnh viện (02 người),
+ Đại diện lãnh đạo khoa/ phòng/ trung tâm (05 người),
+ Nhân viên y tế trực tiếp chăm sóc người bệnh (08 người)
Thảo luận nhóm (TLN) được thực hiện với đối tượng có chủ đích, bao gồm những người đã tham gia khảo sát định lượng, có khả năng giao tiếp tốt và cung cấp thông tin liên quan đến chủ đề nghiên cứu Những người này đồng ý tham gia thảo luận nhóm và làm việc trong khu vực có khối lượng công việc lớn và áp lực cao Đã tiến hành 02 cuộc thảo luận nhóm.
+ Nhóm bác sĩ (6 người): 01 Nội, 01 Sản, 01 Ngoại, 01 Nhi, 01 Gây mê hồi sức, 01 Cấp cứu - Hồi sức tích cực
+ Nhóm điều dưỡng (8 người): 01 Nội, 01 Sản, 01 Ngoại, 01 Nhi, 01 Gây mê hồi sức, 01 Cấp cứu - Hồi sức tích cực, 01 Xét nghiệm, 01 Chẩn đoán hình ảnh
Phương pháp thu thập số liệu
Bộ câu hỏi khảo sát VHATNB của tổ chức AHRQ đã được dịch sang tiếng Việt, chuẩn hóa và được AHRQ công nhận cho phép sử dụng tại Việt Nam.
Bộ câu hỏi bao gồm 42 câu hỏi được phân chia thành 12 lĩnh vực khác nhau Để đánh giá, bộ câu hỏi sử dụng thang đo Likert 5 điểm, từ "hoàn toàn không đồng ý" đến "hoàn toàn đồng ý", hoặc thang đo tần suất từ "không bao giờ" đến "luôn luôn" (xem phụ lục 1).
Mười hai lĩnh vực khảo sát bao gồm:
(A) 7 lĩnh vực về văn hóa an toàn trong phạm vi từng khoa:
1- Làm việc nhóm trong khoa (4 câu hỏi),
2- Lãnh đạo khoa khuyến khích ATNB (4 câu hỏi)
3- Học tập - cải tiến liên tục (3 câu hỏi),
6- Thông báo phản hồi sai sót (3 câu hỏi),
8- Cởi mở trong thông tin về sai sót (3 câu hỏi),
12- Hành xử không buộc tội khi có sai sót (3 câu hỏi),
(B) 3 lĩnh vực về văn hóa an toàn phạm vi toàn bệnh viện:
4- Hỗ trợ của lãnh đạo bệnh viện (3 câu hỏi),
9- Làm việc nhóm giữa các khoa (4 câu hỏi),
11- Bàn giao và chuyển bệnh (4 câu hỏi),
(C) 2 lĩnh vực về kết quả liên quan đến ATNB
5- Nhận thức về ATNB (4 câu hỏi),
7- tần suất báo cáo sự cố (3 câu hỏi),
Dữ liệu được thu thập thông qua hình thức tự điền từ đối tượng nghiên cứu Sau khi phát bộ câu hỏi, điều tra viên hướng dẫn cách điền phiếu và yêu cầu đối tượng tự hoàn thành trước khi thu lại ngay tại chỗ.
Phương pháp phỏng vấn sâu (PVS) và thảo luận nhóm trọng tâm (TLN) được sử dụng để thu thập thông tin định tính
Nội dung PVS, TLN dựa theo hướng dẫn phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm được thiết kế sẵn (phụ lục 2); (phụ lục 3); (phụ lục 4) và (phụ lục 5)
Thời gian trung bình cho mỗi cuộc phỏng vấn sâu (PVS) và thảo luận nhóm (TLN) dao động từ 30 đến 60 phút Nội dung của các cuộc phỏng vấn và thảo luận này sẽ được ghi âm sau khi nhận được sự đồng ý từ đối tượng nghiên cứu.
Các cuộc PVS, TLN được thực tiện tại phòng họp Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh với sự hướng dẫn PVS, TLN của nghiên cứu viên chính
Biến số nghiên cứu
Với mục tiêu 1: 42 biến số về VHATNB được chia theo 12 lĩnh vực, 2 biến số về số lượng báo cáo sự cố và mức độ VHATNB (phụ lục 6)
Với mục tiêu 2: Những yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa an toàn người bệnh được phân tích theo các nhóm:
- Chủ đề 1 : Yếu tố cá nhân:
+ Thời gian công tác tại khoa/ phòng/ trung tâm
+ Thời gian làm việc (giờ/ tuần)
+ Tiếp xúc trực tiếp với người bệnh
- Chủ đề 2 : Yếu tố môi trường, chính sách:
+ Hệ thống văn bản, quy định về ATNB
+ Hệ thống báo cáo SCYK
+ Đào tạo, tập huấn về ATNB
- Chủ đề 3 : Yếu tố quản lý, lãnh đạo:
+ Sự quan tâm của lãnh đạo đến vấn đề ATNB
+ Cơ chế khen thưởng, xử phạt
+ Giám sát thực hiện các chương trình ATNB
Thước đo và tiêu chuẩn đánh giá
- Các tiểu mục về VHATNB đƣợc đánh giá theo thang điểm Likert với 5 mức độ:
Rất không đồng ý/ Không bao giờ;
Hiếm khi Không biết/ Đôi khi Đồng ý/
- Kết quả đánh giá đƣợc phân thành 2 nhóm nhƣ sau [20]:
Đáp ứng tích cực được xác định khi người tham gia chọn "Rất đồng ý/Luôn luôn" hoặc "Đồng ý/Thường xuyên" cho các câu hỏi diễn đạt xuôi, và "Rất không đồng ý/Không bao giờ" hoặc "Không đồng ý/Hiếm khi" cho các câu hỏi diễn đạt ngược.
Đáp ứng chưa tích cực được xác định khi người tham gia trả lời "Rất không đồng ý/Không bao giờ" hoặc "Không đồng ý/Hiếm khi" cho các tiểu mục diễn đạt xuôi, và "Rất đồng ý/Luôn luôn" hoặc "Đồng ý/Thường xuyên" cho các tiểu mục diễn đạt ngược Các trường hợp trả lời "Không biết/Đôi khi/Chấp nhận được" cũng được xếp vào nhóm này.
Trong khoa, mọi người hỗ trợ lẫn nhau, với 50% số người được hỏi hoàn toàn đồng ý và 25% đồng ý, tỷ lệ phản hồi tích cực cho mục này đạt 75%.
Trong một khảo sát về an toàn người bệnh trong khoa/phòng, có đến 80% người được hỏi không tin rằng có nhiều vấn đề an toàn trong khoa của họ, với 60% hoàn toàn không đồng ý và 20% không đồng ý với nhận định này.
Tỷ lệ đáp ứng tích cực, bình thường và chưa tích cực của từng lĩnh vực được đánh giá bằng cách tính trung bình tỷ lệ phần trăm của các tiểu mục trong từng lĩnh vực.
Trong một lĩnh vực với ba tiểu mục, tỷ lệ % đáp ứng chưa tích cực lần lượt là 50%, 55% và 60% Tính trung bình % đáp ứng chưa tích cực của các tiểu mục này là 55%, được tính bằng công thức: (50 + 55 + 60)/3.
Tỷ lệ đáp ứng tích cực với VHATNB của NVYT bằng trung bình tỷ lệ % đáp ứng tích trên tất cả 12 lĩnh vực
Ví dụ: Tỷ lệ % đáp ứng tích của 12 lĩnh vực lần lượt là 82%, 80%, 72%,
72%, 69%, 67%, 66%, 66%, 62%, 53%, 48%, 47%, trung bình % đáp ứng tích cực
Xác định điểm mạnh của các lĩnh vực VHATNB tại Bệnh viện Đa khoa Tâm
Anh: trung bình tỷ lệ đáp ứng tích cực từ 65% trở lên
Xác định điểm yếu của các lĩnh vực VHATNB tại Bệnh viện Đa khoa Tâm
Anh: trung bình tỷ lệ đáp ứng chưa tích cực dưới 65% [20]
2.7.3 Một số khái niệm dung trong nghiên cứu
Biên chế làm việc tại Bệnh viện: là người đã được ký hợp đồng lao động với BVĐK Tâm Anh theo hình thức toàn thời gian
Bác sĩ là người sở hữu văn bằng chuyên môn và được Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh ký hợp đồng lao động cho các vị trí như bác sĩ điều trị, bác sĩ cận lâm sàng, tùy thuộc vào lĩnh vực chuyên ngành mà họ đã được đào tạo.
Dược sĩ là người có văn bằng chuyên môn về dược, làm việc tại BVĐK Tâm Anh với hợp đồng lao động liên quan đến công tác dược, bao gồm dược lâm sàng, quản lý kho và phân phát thuốc Điều dưỡng là người có văn bằng chuyên môn về điều dưỡng, được BVĐK Tâm Anh ký hợp đồng lao động để thực hiện y lệnh của bác sĩ và chăm sóc người bệnh.
Hộ sinh là người có chuyên môn về lĩnh vực hộ sinh, được cấp văn bằng và ký hợp đồng lao động tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Họ có nhiệm vụ thực hiện y lệnh của bác sĩ và chăm sóc cho sản phụ cũng như trẻ sơ sinh.
Kỹ thuật viên y tế là những chuyên gia có văn bằng chuyên môn, được Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh ký hợp đồng lao động để thực hiện các công việc như xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh, khúc xạ và nội soi.
Hỗ trợ chăm sóc tại BVĐK Tâm Anh là vị trí công việc được ký hợp đồng lao động, nhằm cung cấp sự hỗ trợ cho bệnh nhân đang điều trị nội trú, thay thế cho người nhà.
Khối hành chính tại BVĐK Tâm Anh bao gồm những nhân viên được ký hợp đồng lao động cho các vị trí như công việc văn phòng, bảo vệ và chăm sóc khách hàng qua tổng đài.
Phương pháp phân tích số liệu
Tất cả phiếu thu thập từ bảng câu hỏi tự điền đã được nhập liệu bằng phần mềm Epidata 3.1, bao gồm cả quá trình làm sạch dữ liệu Sau đó, bộ dữ liệu được chuyển sang phần mềm SPSS 20.0 để tiến hành phân tích Một số kết quả phân tích được sử dụng Excel 2016 của Microsoft để tính toán và vẽ biểu đồ.
Mô tả: Tần số và tỷ lệ các biến về VHATNB của nhân viên y tế
Phân tích: Sử dụng kiểm định χ², Fisher’s, giá trị p,
Nội dung ghi âm PVS đã được gỡ băng, phân tích và tổng hợp theo từng chủ đề Một số ý điển hình được trích dẫn để minh họa cho kết quả nghiên cứu.
Vấn đề đạo đức của nghiên cứu
Đề cương Nghiên cứu đã được Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh của Trường Đại học Y tế công cộng phê duyệt qua văn bản số 092/2020/YTCC-HD3 vào ngày 17 tháng 2 năm 2020.
Nội dung nghiên cứu phù hợp, được Ban giám đốc, Hội đồng khoa học kỹ thuật BVĐK Tâm Anh chấp thuận cho nghiên cứu tại bệnh viện
Kết quả nghiên cứu sẽ được báo cáo tới Ban giám đốc và các khoa/phòng trong bệnh viện sau khi hoàn thành Những kết quả này có thể làm nền tảng cho các giải pháp phòng ngừa sự cố, nhằm đảm bảo an toàn cho bệnh nhân khi khám và chữa bệnh tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm của đối tƣợng nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện trên 508 nhân viên của Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh, bao gồm tất cả các đơn vị trong bệnh viện, như được trình bày chi tiết trong Bảng 3.1.
Bảng 3.1 Vị trí làm việc của đối tƣợng nghiên cứu
Khối khoa lâm sàng tham gia có tỷ lệ lớn nhất 54,1% (trong đó Trung tâm
Hỗ trợ sinh sản chiếm tỷ lệ cao nhất với 9,1%, tiếp theo là khối cận lâm sàng với 27,0%, trong đó bộ phận dinh dưỡng chiếm tỷ lệ lớn nhất là 4,7% Khối đơn vị và phòng ban chức năng chiếm 18,9%.
Khối điều dưỡng chiếm tỷ lệ cao nhất với 49,6%, trong khi đó, nhân viên làm các công việc không liên quan đến chuyên môn khám chữa bệnh chiếm 25,2%, bao gồm các vị trí như hành chính bảo vệ, tổng đài chăm sóc khách hàng, nhân viên truyền thông và pháp chế.
Trong công tác khám chữa bệnh (KCB), có 75% đối tượng tiếp xúc trực tiếp với người bệnh, trong khi 25% không có tiếp xúc Tỷ lệ này cho thấy sự chênh lệch rõ rệt là 3:1.
Khối Đơn vị, phòng ban chức năng 96 18,9
Dược sĩ 12 2,4 Điều dưỡng, hộ sinh 252 49,6
Hỗ trợ chăm sóc 11 2,2 khác 128 25,2
Tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân
Bảng 3.2 Thời gian công tác của đối tƣợng nghiên cứu
Công tác trong môi trường bệnh viện
Dưới 2 năm tại BVĐK Tâm Anh 340 66,9
Trên 2 năm BVĐK Tâm Anh 168 33,1
Hầu hết nhân viên y tế tại bệnh viện có kinh nghiệm làm việc trên 5 năm, chiếm 82,7% Tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh, 66,9% nhân viên có thời gian công tác dưới 2 năm Đặc biệt, 91,8% nhân viên y tế làm việc dưới 60 giờ mỗi tuần.
Thực trạng VHATNB của NVYT Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh
3.2.1 Đáp ứng tích cực VHATNB của NVYT trong phạm vị khoa/phòng
Bảng 3.3 Tỷ lệ đáp ứng tích cực làm việc theo êkip trong khoa/phòng
Trong khoa, mọi người luôn hỗ trợ lẫn nhau, tạo nên một môi trường làm việc tích cực Khi phải hoàn thành nhiều công việc trong thời gian ngắn, nhân viên thường làm việc theo nhóm để đạt được hiệu quả cao nhất.
Trong khoa, mọi người luôn tôn trọng lẫn nhau và hỗ trợ nhau khi có đơn vị hoặc bộ phận trở nên bận rộn, giúp hoàn thành công việc một cách hiệu quả.
Trung bình tỷ lệ đáp ứng tích cực: 93,6%
Tỷ lệ đáp ứng tích cực trong lĩnh vực “Làm việc theo êkip trong khoa/phòng” đạt trung bình 93,6% Trong đó, tiểu mục “Mọi người trong khoa luôn hỗ trợ lẫn nhau (A1)” có tỷ lệ cao nhất là 96,1%, trong khi tiểu mục “Mọi người trong khoa luôn tôn trọng lẫn nhau (A4)” có tỷ lệ thấp nhất là 91,9%.
Bảng 3.4 Tỷ lệ đáp ứng tích cực quan điểm và hành động của người quản lý về
Lãnh đạo khoa luôn nói lời động viên khi nhân viên tuân thủ các quy trình đảm bảo ATNB (B1) 466 91,7
Lãnh đạo khoa luôn xem xét nghiêm túc các đề xuất của nhân viên trong việc cải tiến ATNB (B2) 465 91,5
Khi áp lực công việc gia tăng, lãnh đạo khoa thường yêu cầu nhân viên làm việc nhanh chóng, mặc dù có thể không tuân thủ đầy đủ các bước trong quy trình (B3r).
Lãnh đạo khoa bỏ qua các vấn đề ATNB dù biết các lỗi cứ lặp đi lặp lại (B4r) 438 86,2
Trung bình tỷ lệ đáp ứng tích cực: 86,9%
Tỷ lệ đáp ứng tích cực về an toàn và nội bộ (ATNB) của người quản lý đạt 86,9%, trong đó cao nhất là việc lãnh đạo khoa động viên nhân viên tuân thủ quy trình với 91,7% Ngoài ra, 78,1% nhân viên y tế (NVYT) cho rằng lãnh đạo luôn thúc đẩy làm việc nhanh hơn khi áp lực công việc tăng cao, và 86,2% NVYT đánh giá lãnh đạo bỏ qua các lỗi ATNB lặp lại.
Bảng 3.5 Tỷ lệ đáp ứng tích cực cải tiến liên tục, học tập một cách hệ thống n %
Khoa chủ động triển khai các hoạt động để đảm bảo
Các sai sót xảy ra đã giúp khoa có những thay đổi theo chiều hướng tích cực hơn (A9) 456 89,8
Sau khi thực hiện các thay đổi để cải tiến ATNB, khoa có đánh giá hiệu quả của các can thiệp thay đổi (A13) 421 82,9
Trung bình tỷ lệ đáp ứng tích cực: 88,5%
Tỷ lệ đáp ứng tích cực trong việc cải tiến liên tục và học tập hệ thống đạt 88,5% Đặc biệt, 92,9% nhân viên y tế (NVYT) cho biết họ tích cực tham gia vào các hoạt động mà khoa chủ động triển khai nhằm đảm bảo an toàn người bệnh (ATNB).
Bảng 3.6 Tỷ lệ đáp ứng tích cực hỗ trợ của lãnh đạo bệnh viện cho ATNB n %
Lãnh đạo bệnh viện tạo bầu không khí làm việc hướng đến
Hoạt động quản lý bệnh viện cho thấy ATNB là ưu tiên hàng đầu của bệnh viện (F8) 466 91,7
Lãnh đạo bệnh viện chỉ quan tâm đến ATNB khi có sự cố nghiêm trọng xảy ra (F9r) 346 68,1
Trung bình tỷ lệ đáp ứng tích cực: 83,8%
Tỷ lệ đáp ứng tích cực của lãnh đạo bệnh viện đối với an toàn người bệnh (ATNB) của nhân viên y tế (NVYT) đạt 83,8% Tuy nhiên, một vấn đề đáng chú ý là 68,1% nhân viên cho rằng lãnh đạo chỉ quan tâm đến ATNB khi xảy ra sự cố nghiêm trọng.
Bảng 3.7 Tỷ lệ đáp ứng tích cực quan điểm tổng quát về ATNB n %
Sai sót nghiêm trọng ở khoa không xảy ra là do may mắn
Khoa luôn đặt sự an toàn của người bệnh lên hàng đầu và không bao giờ hy sinh điều đó để thực hiện nhiều công việc hơn Tuy nhiên, hiện tại, khoa đang gặp một số vấn đề liên quan đến việc đảm bảo an toàn trong quá trình điều trị.
Khoa có những quy trình và biện pháp hiệu quả để phòng ngừa sai sót xảy ra (A18) 466 91,7
Trung bình tỷ lệ đáp ứng tích cực: 75,6%
Tỷ lệ đáp ứng tích cực về an toàn người bệnh (ATNB) của nhân viên y tế (NVYT) đạt trung bình 75,6% Trong đó, tỷ lệ thấp nhất là 64,0% cho câu hỏi “Không bao giờ khoa 'hy sinh' sự an toàn của người bệnh để đánh đổi làm được nhiều việc hơn (A15)”, trong khi tỷ lệ cao nhất là 91,7% cho câu hỏi “Khoa có những quy trình và biện pháp hiệu quả để phòng ngừa sai sót xảy ra (A18)”.
Bảng 3.8 Tỷ lệ đáp ứng tích cực phản hồi và trao đổi về sự cố
Phản hồi và trao đổi về sự cố
Nhân viên trong khoa được phản hồi về những biện pháp cải tiến đã được thực hiện dựa trên những báo cáo sự cố
Nhân viên được thông tin về các sai sót xảy ra trong khoa
Khoa có tổ chức thảo luận các biện pháp để phòng ngừa sai sót tái diễn (C5) 424 83,5
Trung bình tỷ lệ đáp ứng tích cực: 80,8%
Tỷ lệ đáp ứng tích cực về phản hồi và trao đổi sự cố đạt 80,8% Tuy nhiên, tiểu mục “Nhân viên trong khoa được phản hồi về những biện pháp cải tiến đã được thực hiện dựa trên những báo cáo sự cố (C1)” ghi nhận tỷ lệ thấp nhất với 76,0%.
Bảng 3.9 Tỷ lệ đáp ứng tích cực trao đổi cởi mở n %
Nhân viên có thể thoải mái nói ra khi họ thấy có những vấn đề ảnh hưởng không tốt đến chăm sóc người bệnh
Nhân viên cảm thấy thoải mái trong việc chất vấn những quyết định hoặc hành động của lãnh đạo khoa/ lãnh đạo bệnh viện (C4)
Nhân viên ngại hỏi khi thấy những việc dường như không đúng (C6r) 329 64,8
Trung bình tỷ lệ đáp ứng tích cực: 61,6%
Tỷ lệ đáp ứng tích cực trong việc trao đổi cởi mở đạt trung bình 61,6%, trong đó tiểu mục “Nhân viên cảm thấy thoải mái trong việc chất vấn những quyết định hoặc hành động của lãnh đạo khoa/lãnh đạo bệnh viện (C4)” ghi nhận tỷ lệ thấp nhất là 42,5%.
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ đáp ứng tích cực VHTNB của NVYT trong phạm vi từng khoa/phòng
Trong bảy lĩnh vực về văn hóa an toàn trong bệnh viện, tỷ lệ đáp ứng tích cực thấp nhất là ở lĩnh vực trao đổi cởi mở với 61,6%, trong khi lĩnh vực làm việc theo êkip đạt tỷ lệ cao nhất là 93,6%.
3.2.2 Đáp ứng tích cực của nhân viên lĩnh vực ATNB trong phạm vi bệnh viện
Bảng 3.10 Tỷ lệ đáp ứng tích cực tần suất ghi nhận sự cố n %
Khi một sai sót xảy ra nhưng được phát hiện và ngăn chặn kịp thời trước khi ảnh hưởng đến người bệnh, liệu sai sót này có thường được báo cáo hay không?
Khi một sai sót xảy ra nhưng không có khả năng gây hại cho người bệnh, loại sai sót này có thường được báo cáo không? (D2)
Khi một sai sót xảy ra, đáng lẽ gây hại cho người bệnh nhưng (may mắn) chưa gây hại, loại sai sót này có thường được báo cáo (D3)?
Trung bình tỷ lệ đáp ứng tích cực: 78,5%
Tỷ lệ đáp ứng tích cực trung bình về tần suất ghi nhận sự cố đạt 78,5% Trong đó, tỷ lệ thấp nhất là 75,0% đối với câu hỏi: “Khi một sai sót xảy ra nhưng không có khả năng gây hại cho người bệnh, loại sai sót này có thường được báo cáo không?”.
Bảng 3.11 Tỷ lệ đáp ứng tích cực làm việc theo êkip giữa các khoa/phòng n %
Các khoa/phòng trong bệnh viện không phối hợp tốt với nhau (F2r) 294 57,9
Có sự phối hợp tốt giữa các khoa phòng liên đới (F4) 406 79,9
Anh/chị cảm thấy không thoải mái khi làm việc với các nhân viên khoa khác (F6r) 360 70,9
Các khoa hợp tác tốt với nhau để đảm bảo chăm sóc người bệnh tốt nhất (F10) 346 87,8
Trung bình tỷ lệ đáp ứng tích cực: 74,1%
Tỷ lệ đáp ứng tích cực làm việc theo êkip giữa các khoa/phòng đạt trung bình 74,1% Trong đó, tỷ lệ cao nhất là 87,8% cho câu hỏi về sự hợp tác giữa các khoa nhằm đảm bảo chăm sóc bệnh nhân tốt nhất (F10), trong khi tỷ lệ thấp nhất là 57,9% liên quan đến việc các khoa phòng không phối hợp tốt với nhau (F2r).
Bảng 3.12 Tỷ lệ đáp ứng cực về nhân sự n %
Khoa có đủ nhân sự để làm việc (A2) 380 74,8
Một số yếu tố ảnh hưởng đến VHATNB
3.3.1 Một số yếu tố cá nhân liên quan tới đánh giá mức độ ATNB của NVYT
Bảng 3.16 Một số yếu tố cá nhân và đánh giá mức độ ATNB Đáp ứng Yếu tố cá nhân
Chƣa tích cực (nY) Tổng n % n % n %
Có tiếp xúc với người bệnh 343 90,0 38 10,0 381 100 p = 0,055 Không tiếp xúc với người bệnh 106 83,5 21 16,5 127 100
BV từ 5 năm trở lên 72 81,8 16 10,2 88 100
Không có báo cáo 331 89,5 39 10,5 370 100 p = 0,28 Đã từng báo cáo ít nhất 1 lần 118 85,5 20 14,5 138 100
Không có sự khác biệt đáng kể trong việc đáp ứng tích cực mức độ VHATNB giữa các nhóm có và không tiếp xúc với người bệnh, cũng như giữa nhóm có và không có báo cáo sự cố y khoa trong 12 tháng qua (p > 0,05).
Tất cả nhân viên trong bệnh viện đều được quán triệt về việc đảm bảo an toàn người bệnh (ATNB) và coi đây là ưu tiên hàng đầu Hiện tại, an toàn người bệnh trong bệnh viện đang được thực hiện rất tốt Nhân viên luôn nỗ lực làm việc cẩn thận để đảm bảo an toàn tốt nhất cho người bệnh.
Có sự khác biệt rõ rệt trong đánh giá tỷ lệ đáp ứng tích cực và chưa tích cực về mức độ an toàn nơi làm việc trong môi trường bệnh viện giữa những người có kinh nghiệm dưới 5 năm và trên 5 năm (p < 0,05) Qua phỏng vấn một số bác sĩ và điều dưỡng, cho thấy những người có kinh nghiệm lâu năm dễ nhận ra điểm tích cực trong an toàn nơi làm việc tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh, như một bác sĩ đã chia sẻ: “Mình làm mấy nơi rồi, thấy BV này so với một số chỗ trước an toàn hơn hẳn” (PVS5) Ngược lại, một số nhân viên y tế đánh giá mức độ an toàn theo chủ quan do thời gian làm việc tại bệnh viện còn ngắn.
HUPH mới vào làm được vài tháng, nên chưa có nhiều kinh nghiệm Tuy nhiên, tại khoa cấp cứu, tôi nhận thấy các anh chị và bạn bè làm việc rất hiệu quả và luôn sẵn sàng hỗ trợ lẫn nhau.
Bảng 3.17 So sánh tỷ lệ trả lời tích cực giữa các vị trí công tác trong bệnh viện
Làm việc nhóm trong khoa 94,8 95,4 92,0 100,0 93,8 89,3 Lãnh đạo khoa khuyến khích ATNB 88,8 89,0 92,6 93,2 87,5 79,3 Học tập - cải tiến liên tục 92,0 92,5 79,4 97,0 88,9 81,8
Hỗ trợ của lãnh đạo BV về an toàn người bệnh đạt 85,6%, cho thấy sự quan tâm cao từ phía lãnh đạo Quan điểm tổng quát về an toàn người bệnh là 76,3%, tuy nhiên có sự biến động trong các giai đoạn Thông báo và phản hồi về sai sót đạt 82,2%, cho thấy sự chú trọng trong việc cải thiện quy trình Tần suất báo cáo sự cố chỉ đạt 64,4%, cần được nâng cao để đảm bảo an toàn Cởi mở trong thông tin về sai sót đạt 77,6%, cho thấy sự sẵn sàng chia sẻ thông tin Cuối cùng, làm việc nhóm giữa các khoa đạt 74,1%, cần cải thiện để tăng cường hiệu quả phối hợp.
Bàn giao và chuyển bệnh nhân giữa các khoa 58,6 65,3 44,7 65,9 31,3 47,1
Không buộc tội khi có sai sót 51,7 49,2 58,9 39,4 44,4 47,4
Tỉ lệ trả lời tích cực trung bình 75,1 76,3 72,8 79,6 68,0 68,4
Lĩnh vực “làm việc nhóm trong khoa” nhận được sự ghi nhận tích cực cao nhất từ các nhân viên y tế, với 100% tại nhóm hỗ trợ sinh sản Tiếp theo là nhóm điều dưỡng với 95,4%, bác sĩ 94,8%, dược sĩ 93,8%, kỹ thuật viên 92% và nhóm khác đạt 89,3%.
Tỷ lệ đáp ứng tích cực thấp nhất trong nhóm dược sĩ ở lĩnh vực “nhân lực” chỉ đạt 25% Một dược sĩ tham gia phỏng vấn đã chia sẻ rằng “Số lượng dược sĩ tại bệnh viện rất ít, dẫn đến việc y lệnh hàng ngày cho bệnh nhân chưa được dược lâm sàng kiểm tra.”
Nhóm điều dưỡng và hỗ trợ chăm sóc ghi nhận tỷ lệ đáp ứng tích cực thấp nhất trong lĩnh vực “không buộc tội khi có sai sót”, với mức 49,2% và 39,4%.
Tại HUPH, tỷ lệ nhân lực trong lĩnh vực điều dưỡng chỉ đạt 62,1% và 58,1%, cho thấy sự thiếu hụt nghiêm trọng Các cuộc phỏng vấn với nhân viên điều dưỡng đã chỉ ra rằng tình trạng thiếu nhân lực đang tạo ra áp lực lớn cho bộ phận này Một nhân viên cho rằng, "Là một bệnh viện đa khoa, điều dưỡng cần chuyên môn hóa theo từng chuyên khoa để phục vụ tốt hơn cho các lĩnh vực cụ thể, tránh luân chuyển không cần thiết khi không đủ nhân lực." Một ý kiến khác nhấn mạnh rằng, "Cần phân bổ đủ nhân lực cho từng vị trí, có người cũ hướng dẫn người mới, và mỗi vị trí cần làm đúng chức năng của mình để tránh sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các bộ phận."
Kết quả từ PVS tại một số NVYT cho thấy còn nhiều vấn đề bất cập trong việc bàn giao và vận chuyển bệnh nhân, đặc biệt là việc thiếu quy định rõ ràng Cần thiết lập quy trình giao ban hàng ngày giữa giám đốc chuyên môn và kíp trực để cập nhật tình hình bệnh nhân, nhằm kịp thời điều chỉnh sai sót và rút kinh nghiệm Thông tin quan trọng trong chăm sóc người bệnh cũng cần được chú trọng hơn.
Trong quá trình bàn giao ca trực, việc "thường bị bỏ sót" xảy ra do thiếu quy trình bàn giao chuẩn, không có sổ bàn giao hoặc không có chữ ký xác nhận từ những người chịu trách nhiệm chính trong ca trực.
3.3.2 Yếu tố môi trường, chính sách
Hệ thống văn bản và quy định về an toàn nội bộ (ATNB) tại bệnh viện được triển khai đồng bộ từ các văn bản của ngành y tế đến các quy định riêng của bệnh viện Phòng Quản lý chất lượng đã liên tục cập nhật các văn bản từ Bộ Y tế và phát triển quy trình đảm bảo ATNB phù hợp với đặc thù của bệnh viện Các quy trình này sẽ được thẩm định theo tiêu chuẩn ISO và đạt chứng nhận quốc tế.
Việc có quá nhiều văn bản liên quan đến an toàn người bệnh (ATNB) gây khó khăn cho nhân viên y tế (NVYT) trong các khoa/phòng Trong cuộc thảo luận của điều dưỡng, nhiều ý kiến cho rằng có nhiều quy định chưa rõ ràng về chức trách và quyền hạn của từng đối tượng trong công tác ATNB Bác sĩ cũng nhấn mạnh rằng "ATNB là một mảng rất lớn, cần có sự phối hợp của nhiều bên."
Bộ phận HUPH trong bệnh viện có quy định rõ ràng, nhưng sự cố vẫn có thể xảy ra bất cứ lúc nào, dù đã cẩn thận Hơn nữa, sự hợp tác của người bệnh là vô cùng quan trọng trong quá trình điều trị.
Lãnh đạo tại một khoa lâm sàng đã chỉ ra rằng việc thiếu quy trình cho từng bộ phận và chuyên ngành liên quan đến vệ sinh an toàn thực phẩm là một vấn đề cần được khắc phục.
BÀN LUẬN
Thực trạng văn hóa an toàn người bệnh của NVYT BVĐK Tâm Anh
4.1.1 Tổng quát chung về đáp ứng tích cực 12 lĩnh vực VHATNB
Tỷ lệ nhân viên y tế tại BVĐK Tâm Anh có phản hồi tích cực về VHATNB đạt trung bình 73,7%, với các lĩnh vực dao động từ 49,6% đến 93,6% So với báo cáo của AHQR năm 2018, tỷ lệ này cao hơn 8,7% (65%), và cũng vượt qua khảo sát tại Đài Loan năm 2010 với tỷ lệ phản hồi tích cực 64% đối với 12 khía cạnh VHATNB.
Sự khác biệt trong nhận thức và đánh giá của nhân viên y tế (NVYT) tại các quốc gia có nền kinh tế phát triển và dịch vụ an sinh xã hội cao có thể do yêu cầu cao hơn về cam kết và hoạt động của lãnh đạo bệnh viện Các khảo sát được thực hiện trên quy mô lớn, với gần 700 nghìn NVYT tại Mỹ từ 630 bệnh viện và 1.000 NVYT tại 46 bệnh viện ở Đài Loan, cho thấy sự tham gia đông đảo của NVYT trong nghiên cứu này.
Tại Việt Nam, chưa có nghiên cứu tổng thể nào về vấn đề VHATNB tại các bệnh viện, mặc dù đã có nhiều đề tài áp dụng bộ công cụ HSOPSC của AHRQ ở các địa phương như thành phố Hồ Chí Minh, Bến Tre, Đồng Tháp và Hà Nội, bao gồm cả bệnh viện công và tư Tỷ lệ VHATNB tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh cao hơn so với Bệnh viện Từ Dũ, với con số 68,4% vào năm 2015.
Hà Nội đạt tỷ lệ 66% trong đánh giá VHATNB; TTYT huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp đạt 69%, tương đương với BVĐK tỉnh Đồng Tháp (2018) là 77,7% BVĐK Nguyễn Đình Chiểu, Bến Tre (2018) đạt 72,5% Những con số này cho thấy tiêu chuẩn chấp nhận đánh giá VHATNB cao hơn là phù hợp với một bệnh viện tư mới thành lập chưa đầy 5 năm.
Trong 12 tháng qua, tỷ lệ NVYT không báo cáo một sự cố nào chiếm 72,8% trong khi có báo cáo ít nhất 1 sự cố trở lên chiếm 28,2% Tỷ lệ không báo cáo sự cố nào của NVYT tại BVĐK Tâm Anh cao hơn tại một số BV Từ Dũ 67,8% [11]; BV Vinmec Times 55% [12], và thấp hơn BVĐK tỉnh Đồng Tháp 85,9% không ghi
Trong 12 tháng qua, HUPH đã nhận báo cáo sự cố y khoa, cho thấy sự khác biệt trong cách thức báo cáo giữa các bệnh viện do cơ chế và đặc điểm hoạt động riêng Một số sự cố có thể không được báo cáo do nhân viên y tế (NVYT) lo ngại về chế tài Do đó, cần có sự thống nhất và cơ chế mở để NVYT nhận thức được tầm quan trọng của việc báo cáo sự cố y khoa Mục tiêu là giúp nhà quản lý thống kê và nhận diện các sự cố thường gặp, từ đó định hướng giải pháp cải tiến Đánh giá mức độ an toàn người bệnh tại BVĐK Tâm Anh đạt 74,6%, tương đương với BVĐK tỉnh Đồng Tháp (73,1%); trong khi đó, BV Từ Dũ đạt 70% và BVĐK Đức Giang đạt 62,7%.
Hà Nội đạt 56% [12] Điều này cho thấy chính các NVYT vẫn chưa cảm thấy mức độ ATNB trong bệnh viện còn nhiều vấn đề và cần cải thiện
4.1.2 Lĩnh vực VHATNB trong từng khoa/phòng tại BVĐK Tâm Anh
Làm việc theo ekip trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe có ảnh hưởng tích cực đến an toàn người bệnh và giảm thiểu sai sót y khoa Tại BVĐK Tâm Anh, tỷ lệ nhân viên có phản hồi tích cực về làm việc theo ekip đạt 93,6%, tương đương với 92,3% tại BV Từ Dũ Nhân viên tại đây luôn sẵn lòng hỗ trợ nhau (95,4%), tôn trọng lẫn nhau (90,8%), làm việc nhóm trong các tình huống khẩn cấp (91,7%) và tự giác hỗ trợ khi khoa quá tải (91,4%) Tại BVĐK Đồng Tháp, tỷ lệ này cao hơn với 95,3% nhân viên có phản hồi tích cực, trong đó 96,7% sẵn lòng hỗ trợ, 94,8% tôn trọng nhau và 96,7% làm việc nhóm trong các tình huống khẩn cấp.
Tại Bệnh viện ĐK Tâm Anh, tỷ lệ hỗ trợ lẫn nhau trong khoa khi công việc quá tải đạt 91,4%, cao hơn so với Bệnh viện Nhi Đồng 1 với 90% và Bệnh viện ĐK tỉnh Đồng Tháp là 85,5% So với các quốc gia khác, tỷ lệ này cũng vượt trội hơn, như Hoa Kỳ 82%, Thụy Điển 84%, Bỉ 70%, Rumani 86% và Đài Loan 94% Điều này cho thấy sự tổ chức và thực hiện công việc tại từng khoa, phòng của Bệnh viện ĐK Tâm Anh rất hiệu quả, với tinh thần hỗ trợ và đoàn kết cao trong đội ngũ nhân viên y tế.
Tại BVĐK Tâm Anh, tỷ lệ đáp ứng tích cực về quan điểm và hành động của người quản lý về an toàn người bệnh đạt 86,9%, thấp hơn so với một số bệnh viện công như BV Từ Dũ (88,4%), BVĐK tỉnh Đồng Tháp (90,7%) và BV Nhi Đồng 1 (86%) Tuy nhiên, sự khác biệt này không đáng kể Đặc biệt, trong tiểu mục “Lãnh đạo khoa luôn nói lời động viên khi nhân viên tuân thủ các quy trình đảm bảo an toàn người bệnh”, tỷ lệ đáp ứng tích cực cao nhất đạt 91,7%, tương đương với nghiên cứu tại BV Từ Dũ (91,3%).
Tỷ lệ đáp ứng cho tiểu mục “Lãnh đạo khoa luôn xem xét nghiêm túc các đề xuất của nhân viên trong việc cải tiến ATNB” đạt 91,5%, cao hơn so với BV Từ Dũ là 90,0% và BV Vinmec Times là 84,1% Trong khi đó, một tiểu mục khác có tỷ lệ cao hơn BV Vinmec Times là 75,2%.
BVĐK Tâm Anh đã thể hiện sự tích cực trong cải tiến và học tập hệ thống về an toàn người bệnh (ATNB), với điểm trung bình đạt 88,5%, gần tương đương với BV Từ Dũ (87,1%) và thấp hơn một chút so với BVĐK Đức Giang, Hà Nội (94%) Đặc biệt, 92,9% nhân viên y tế tại BVĐK Tâm Anh cho rằng khoa chủ động triển khai các hoạt động đảm bảo ATNB, và 82,9% cho biết có đánh giá hiệu quả sau khi thực hiện các thay đổi để cải tiến ATNB Điều này chứng tỏ hệ thống ATNB của BVĐK Tâm Anh được triển khai hiệu quả trong quá trình thực hiện.
Tỷ lệ HUPH tại BVĐK Tâm Anh thấp hơn so với các nghiên cứu quốc tế, với tỷ lệ trung bình 72% tại Mỹ (2018) và 81% tại Rumani (2017) Sự khác biệt này có thể do quy mô và phạm vi nghiên cứu, khi các nghiên cứu trước đó được thực hiện trên quy mô quốc gia và khu vực, trong khi nghiên cứu của chúng tôi chỉ tập trung vào một bệnh viện cụ thể.
Tỷ lệ hỗ trợ tích cực từ lãnh đạo bệnh viện đối với an toàn người bệnh đạt trung bình 83,8%, tương đương với Bệnh viện Từ Dũ là 84,0%.
Tỷ lệ tương đồng trong nghiên cứu của Tăng Chí Thượng (2012) đạt 82%, thấp hơn so với BVĐK tỉnh Đồng Tháp với 94,8% và nghiên cứu tại 04 vùng nước Rumani có tỷ lệ 88,0% Tỷ lệ này cao hơn so với tỷ lệ trung bình nghiên cứu 630 BV tại Mỹ là 72% và tại Bỉ chỉ đạt 35%.
Tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh, 91,7% nhân viên y tế ghi nhận rằng lãnh đạo bệnh viện tạo ra một bầu không khí làm việc tập trung vào an toàn người bệnh (ATNB), với các hoạt động quản lý bệnh viện ưu tiên ATNB Kết quả này tương đồng với nghiên cứu tại Bệnh viện Từ Dũ, nơi 92,4% nhân viên cho rằng chăm sóc người bệnh là ưu tiên hàng đầu, và 90,4% cảm thấy môi trường làm việc thúc đẩy ATNB Tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đồng Tháp, tỷ lệ này lần lượt là 95,5% và 94,1% Tuy nhiên, chỉ có 68,1% nhân viên đánh giá tích cực về việc lãnh đạo bệnh viện chỉ quan tâm đến ATNB khi xảy ra sự cố nghiêm trọng.
Một số yếu tố ảnh hưởng đến VHATNB của NVYT BVĐK Tâm Anh
4.2.1 Các đặc điểm của NVYT liên quan tới đánh giá mức độ VHATNB tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh
Trong nghiên cứu, 82,7% nhân viên y tế tại BVĐK Tâm Anh có thâm niên công tác dưới 5 năm, cho thấy họ chủ yếu là những cán bộ trẻ, có trình độ Những nhân viên y tế hiện đang làm việc tại bệnh viện sẽ cảm nhận mức độ văn hóa an toàn người bệnh (VHATNB) tốt hơn, đặc biệt là những người có thâm niên trên 5 năm, khi so sánh với các bệnh viện khác Nhân viên y tế có thâm niên lâu năm thường có hành động an toàn rõ nét hơn, do họ không bị chi phối trong chuyên môn và nhận thức được các sai sót có thể xảy ra Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu tại BV Vinmec Times và BV Từ Dũ, cũng như các bệnh viện ở Thụy Điển, cho thấy mối liên hệ giữa thâm niên công tác và mức độ an toàn cho người bệnh.
Thời gian công tác của nhân viên y tế tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh, việc tiếp xúc với bệnh nhân, và số lượng báo cáo sự cố trong 12 tháng qua đều không cho thấy sự khác biệt rõ ràng trong đánh giá về mức độ văn hóa an toàn bệnh viện (p > 0,05) Điều này cho thấy sự nhất quán trong công tác văn hóa an toàn tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố này.
Trong môi trường y tế, vấn đề an toàn người bệnh (ATNB) luôn được đặt lên hàng đầu, đặc biệt giữa các chuyên gia y tế và nhân viên hành chính, truyền thông Tỷ lệ đáp ứng tích cực về ATNB tại 12 lĩnh vực cho thấy nhóm dược sĩ có tỷ lệ thấp nhất (68,0%), trong khi nhóm trực tiếp khám chữa bệnh như nhóm hỗ trợ chăm sóc đạt 79,6%, điều dưỡng/hộ sinh 76,3%, bác sĩ 75,1% và kỹ thuật viên 72,8% Sự khác biệt này cho thấy những người thường xuyên tiếp xúc với bệnh nhân, như nhóm hỗ trợ chăm sóc tại BVĐK Tâm Anh, có đánh giá tích cực hơn về ATNB Nhóm dược sĩ, với số lượng ít và ít tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân, thường có cảm nhận thấp hơn về vấn đề này Điều này càng rõ ràng khi nhóm hỗ trợ chăm sóc tại bệnh viện tư có vai trò quan trọng trong việc đồng hành cùng bệnh nhân, trong khi nhóm điều dưỡng/hộ sinh và bác sĩ cũng có những đánh giá tích cực cao do thường xuyên chăm sóc và thăm khám bệnh nhân Như vậy, những người làm việc tại các khoa lâm sàng luôn đặt ATNB lên hàng đầu trong công tác chăm sóc sức khỏe.
Nhóm điều dưỡng và hộ sinh có tỷ lệ trả lời tích cực thấp về việc không bị chỉ trích khi xảy ra sai sót, cho thấy họ thường xuyên gần gũi và hỗ trợ bệnh nhân, dẫn đến việc mắc lỗi là điều khó tránh Khoảng 60% thành viên trong nhóm này không đồng tình với quan điểm này, có thể do lo ngại về khả năng bị xử phạt Ngoài ra, nhiều điều dưỡng và nhân viên hỗ trợ chăm sóc cảm thấy tự ti về nghề nghiệp của mình, dẫn đến việc họ ít bày tỏ ý kiến cá nhân.
Nhóm HUPH thường lo lắng về việc bị kỷ luật khi gặp sai sót, điều này phản ánh quan điểm của Tăng Chí Thượng (2012) rằng nghề nghiệp chưa được đánh giá và tôn trọng đúng mức Hơn nữa, điều kiện hành nghề trong lĩnh vực chăm sóc còn hạn chế, nhân lực thiếu và công việc quá tải, cùng với ca kíp kéo dài.
4.2.2 Yếu tố môi trường của Bệnh viện
Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh, thành lập vào tháng 9/2016, hướng đến tiêu chí kỹ thuật và chất lượng cao với quy mô 500 giường bệnh, cần một đội ngũ nhân sự có trình độ cao Tỷ lệ bác sĩ là 11,4% và điều dưỡng là 49,6%, tương ứng với 1 bác sĩ cho 4 điều dưỡng, phù hợp với khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2001 So với tỷ lệ trung bình toàn quốc là 1 bác sĩ cho 1,8 điều dưỡng, Tâm Anh có tỷ lệ cao hơn nhiều Sự thiếu hụt điều dưỡng có thể làm tăng rủi ro trong quá trình điều trị Bệnh viện có 85 bác sĩ, tỷ lệ bác sĩ trên giường bệnh là 0,17, thấp hơn so với khuyến cáo của Cục Quản lý Khám chữa bệnh là 0,2 vào năm 2020, do đó cần bổ sung thêm bác sĩ để đảm bảo chất lượng điều trị Thời gian làm việc chủ yếu từ 40-59 giờ chiếm 89,0%, cao hơn so với Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đồng Tháp Sự khác biệt này phản ánh tính chất công việc ngành y và quy định thời gian làm việc tại bệnh viện công và tư Với sự phát triển nhanh chóng, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh đang đối mặt với thách thức trong việc duy trì văn hóa an toàn và chất lượng trong quản lý nhân lực.
Qua các cuộc phỏng vấn và thảo luận nhóm, nhân viên y tế tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh đã ghi nhận nhiều ý kiến tích cực về văn hóa an toàn trong bệnh viện.
Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh đã tạo ra một môi trường làm việc lý tưởng cho nhân viên y tế với cơ sở vật chất và trang thiết bị hiện đại Điều này không chỉ hỗ trợ cho công tác chuyên môn mà còn tạo cơ hội cho nhân viên học hỏi và trao đổi kinh nghiệm với các chuyên gia trong lĩnh vực y tế Chế độ đãi ngộ cao của bệnh viện cũng thu hút nhiều bác sĩ từ các bệnh viện tuyến trung ương tham gia làm việc hoặc ký hợp đồng bán thời gian.
Hệ thống chính sách văn bản đã được đồng bộ với quy trình tiếp nhận và xử lý sự cố, thành lập Hội đồng Quản lý chất lượng để đảm bảo hiệu quả Phân tích sự cố dựa trên nguyên nhân gốc rễ, không quy kết lỗi cá nhân, và hình thức báo cáo sự cố đa dạng như điện thoại, email, mẫu báo cáo, và google form Tuy nhiên, vẫn còn một số bất cập như thiếu quy trình rõ ràng tại các chuyên ngành và nội dung còn chung chung Các ý kiến nhấn mạnh vai trò của phòng Quản lý chất lượng bệnh viện, yêu cầu cập nhật nội dung an toàn người bệnh vào tất cả quy trình chuyên môn kỹ thuật Khi áp lực công việc tăng cao, lãnh đạo khoa cần thúc đẩy nhân viên hoàn thành công việc mà không bỏ qua quy trình an toàn, đồng thời xây dựng biện pháp khắc phục sai sót Quan trọng là phối hợp tốt với các khoa/phòng để đảm bảo nhân viên tham gia thực hiện các quy trình kỹ thuật có nguy cơ cao theo quy định của Giám đốc bệnh viện.
Bệnh viện đã tổ chức đào tạo và huấn luyện nhằm nâng cao trình độ chuyên môn cho nhân viên, đáp ứng nhu cầu phục vụ người bệnh an toàn Tuy nhiên, nhiều nhân viên y tế vẫn cho rằng các chương trình này mang tính hình thức và chưa tập trung vào công tác an toàn người bệnh Điều này cho thấy lãnh đạo bệnh viện cam kết tạo ra môi trường làm việc an toàn, coi an toàn người bệnh là ưu tiên hàng đầu trong chăm sóc Bệnh viện đảm bảo 100% nhân viên được huấn luyện để nhận diện và tự nguyện báo cáo các sự cố.
Về việc sự quan tâm của lãnh đạo đến VHATNB, phải khẳng định lãnh đạo
BV luôn đặt nhân viên y tế lên hàng đầu, coi đây là giá trị cốt lõi Dù phải đối mặt với nhiều áp lực trong công việc tại một bệnh viện tư, nhân viên y tế vẫn cảm nhận được sự lắng nghe từ lãnh đạo Điều này tạo ra một môi trường làm việc thân thiện, khuyến khích họ cống hiến và góp phần phát triển thương hiệu của bệnh viện.
Lãnh đạo BV được nhân viên y tế đánh giá cao vì đã phân tích nguyên nhân của một số sự cố để tìm ra giải pháp, thay vì chỉ quy chụp trách nhiệm.
Hệ thống báo cáo sự cố tại BV đã được triển khai đồng bộ, nhưng tính trung thực của báo cáo vẫn còn hạn chế do lo ngại về xử phạt Nhiều ý kiến cho rằng cần có cơ chế khuyến khích để thông tin được công khai và hỗ trợ quản lý Việc triển khai hiệu quả báo cáo sự cố tự nguyện là rất cần thiết Cần có sự thay đổi rõ ràng trong chính sách khen thưởng và xử phạt để đáp ứng văn hóa an toàn Ban Giám đốc luôn động viên và khen ngợi nhân viên thực hiện đúng quy trình an toàn Lãnh đạo khoa cũng lắng nghe và xem xét nghiêm túc các đề xuất cải tiến an toàn cho bệnh nhân, đồng thời khen thưởng đột xuất cho những cá nhân và tập thể có thành tích xuất sắc trong chuyên môn và các phong trào thi đua.
Trong VHATNB, việc quy trách nhiệm hay đỗ lỗi không được khuyến khích nhằm đảm bảo an toàn cho người bệnh Cần thay đổi quan điểm trừng phạt đối với cá nhân hay tập thể vi phạm, khuyến khích báo cáo sự cố thay vì che giấu Hành xử không buộc tội không có nghĩa là không có biện pháp chế tài, nhưng cần phân tích kiến thức, kỹ năng và tính kỷ luật của nhân viên trước khi áp dụng hình thức và mức độ chế tài phù hợp.
Công tác giám sát an toàn người bệnh tại bệnh viện cần được lãnh đạo và các trưởng khoa/phòng thực hiện thường xuyên để tạo ra môi trường làm việc an toàn Việc giám sát chủ động giúp nhân viên nhận thức rằng bệnh viện luôn có hoạt động kiểm tra an toàn Đặc biệt, đối với bệnh viện tư, việc tăng cường giám sát là rất quan trọng, đảm bảo rằng lợi nhuận không được đặt lên trên việc tuân thủ các quy định về an toàn người bệnh.
Hạn chế của nghiên cứu
Việc áp dụng bộ câu hỏi HSOPSC chuẩn hóa về mặt ngữ nghĩa vẫn gặp khó khăn cho người trả lời, đặc biệt là với các câu hỏi mang hàm ý ngược, có thể dẫn đến việc trả lời sai Thêm vào đó, văn hóa của người Việt cũng ảnh hưởng đến cách thức trả lời các bộ câu hỏi này Do đó, khi tiến hành phỏng vấn, cần chú ý đến các câu hỏi ngược và người hỏi nên trao đổi trước với nhân viên y tế tham gia.
Vấn đề an toàn nghề nghiệp trong bệnh viện và quan điểm của lãnh đạo có thể ảnh hưởng đến tâm lý của nhân viên y tế, dẫn đến lo ngại về việc gây ảnh hưởng đến cá nhân, tập thể hoặc toàn bộ bệnh viện Để giảm thiểu tác động tâm lý này, cần phải giải thích rõ ràng và đảm bảo tính bí mật cho người tham gia, đồng thời nhấn mạnh rằng thông tin thu thập được chỉ nhằm mục đích cải tiến và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh.
Bổ sung thêm đặc điểm văn hóa của người việt trong trả lời bộ câu hỏi khá mơ hồ như vậy HUPH