ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
- Trạm trưởng và cán bộ phụ trách PHCN của TYT
- Lãnh đạo BVĐK huyện/Trưởng khoa/bộ phận PHCN BVĐK huyện
- Lãnh đạo Bệnh viện PHCN/đơn vị phụ trách PHCN tuyến tỉnh
- Lãnh đạo Sở Y tế/cán bộ chuyên trách PHCN của Sở Y tế
- Báo cáo về nhân lực PHCN, cơ sở vật chất, trang thiết bị PHCN, danh mục kỹ thuật PHCN theo phân tuyến của các đơn vị nghiên cứu.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 4 đến hết tháng 7 năm 2016, tại 06 bệnh viện đa khoa huyện, 03 bệnh viện đa khoa khu vực, và 141 trạm y tế xã, phường, thị trấn trên toàn tỉnh.
Thiết kế nghiên cứu
Là nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp nghiên cứu định lượng với nghiên cứu định tính.
Cỡ mẫu và cách chọn mẫu
2.4.1 C ỡ m ẫ u nghiên c ứ u đị nh l ượ ng :
- Chọn mẫu toàn bộ 09 bệnh viện đa khoa huyện, bệnh viện đa khoa khu vực,
141 trạm y tế xã, phường, thị trấn
Chọn chủ đích 8 cuộc phỏng vấn sâu bao gồm các vị trí sau:
- Lãnh đạo Sở Y tế/cán bộ chuyên trách PHCN của Sở Y tế
- Lãnh đạo Bệnh viện PHCN Hương Sen /đơn vị phụ trách PHCN tuyến tỉnh
- Lãnh đạo BVĐK huyện/Trưởng khoa PHCN BVĐK huyện Chiêm Hóa là
BV đã thành lập khoa PHCN hoạt động tương đối tốt
- Lãnh đạo BVĐK khu vực Kim Xuyên - Sơn Dương là BV đại diện cho các
BV chưa có khoa PHCN
- Phỏng vấn sâu 2 trạm trưởng của 2 TYT xã có triển khai thực hiện được nhiều kỹ thuật PHCN theo phân tuyến chuyên môn tại trạm
- Phỏng vấn sâu 2 trạm trưởng của 2 TYT xã chưa triển khai hoặc triển khai thực hiện được rất ít kỹ thuật PHCN theo phân tuyến chuyên môn tại trạm.
Phương pháp thu thập số liệu
Nghiên cứu định lượng: thu thập thông tin thứ cấp qua báo cáo, phiếu điều tra
Nghiên cứu định tính: qua phỏng vấn sâu
Thu thập số liệu thứ cấp: Sử dụng bộ câu hỏi điều tra thu thập thông tin tại các BVĐK huyện, khu vực và các TYT xã
2.5.1 Công c ụ thu th ậ p thông tin
* Nghiên c ứ u đị nh l ượ ng : 2 mẫu phiếu điều tra: 1 mẫu cho BVĐK huyện và BVĐK khu vực, 1 mẫu cho TYT
- Mẫu phiếu điều tra cho BVĐK huyện, khu vực gồm 6 phần (phụ lục 1):
Phần A: Thông tin hành chính chung của BV
Phần B: Thông tin về các hoạt động PHCN trong năm 2015 của BV
Thông tin về tham gia/thực hiện chương trình PHCNDVCĐ/ chương trình hỗ trợ NKT
Thông tin về tham gia chỉ đạo, hướng dẫn tuyến dưới thực hiện công tác PHCN DVCĐ
Thông tin về nhận được hỗ trợ cho NKT và công tác PHCN từ các tổ chức Thông tin về kế hoạch phát triển liên quan đến PHCN
Phần C: Thông tin về tình hình KCB của BV năm 2015
Phần D: Thông tin về khoa/bộ phận PHCN của BV
Tình hình nhân lực của khoa/bộ phận PHCN hiện đang được đánh giá qua số lượng nhân viên, phân loại theo chức danh nghề nghiệp, và trình độ bằng cấp/chứng chỉ liên quan đến PHCN Ngoài ra, việc tham gia các khóa tập huấn, bồi dưỡng và đào tạo liên tục về PHCN cũng là yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng nhân lực trong lĩnh vực này.
+ Cơ sở vật chất của khoa/bộ phận PHCN
Phần E: Trang thiết bị về PHCN của BV
+ Trang thiết bị PHCN để thực hiện kỹ thuật PHCN theo phân tuyến: 32 loại
- Nhóm TTB Vật lý trị liệu (VLTL): 11loại
- Nhóm TTB Vận động trị liệu (VĐTL): 17 loại
- Nhóm TTB để thực hiện các kỹ thuật khác (gồm: Hoạt động trị liệu; Ngôn ngữ trị liệu; Thăm dò, lượng giá, chẩn đoán và điều trị PHCN): 4 loại
+ Trang thiết bị PHCN để thực hiện kỹ thuật PHCN vượt tuyến: 16 loại
- Nhóm TTB để thực hiện các kỹ thuật khác 5 loại
Phần F: Danh mục các kỹ thuật PHCN thực hiện được tại BV
+ Danh mục các kỹ thuật PHCN theo đúng phân tuyến: Tổng số: 131 kỹ thuật
Các nhóm dịch vụ kỹ thuật:
Nhóm 1: Vật lý trị liệu (VLTL): 19 kỹ thuật
Nhóm 2: Vận động trị liệu (VĐTL): 57 kỹ thuật
Nhóm 3: Hoạt động trị liệu (HĐTL): 12 kỹ thuật
Nhóm 4: Ngôn ngữ trị liệu (NNTL): 8 kỹ thuật
Nhóm 5: Kỹ thuật thăm dò, lượng giá, chẩn đoán và điều trị PHCN: 19 kỹ thuật Nhóm 6: Dụng cụ chỉnh hình và trợ giúp: cả 2 tuyến đều gồm: 16 kỹ thuật + Danh mục các kỹ thuật PHCN vượt tuyến: tổng số: 25 kỹ thuật
Các nhóm dịch vụ kỹ thuật:
Nhóm 1: Vật lý trị liệu: 11 kỹ thuật
Nhóm 2: Vận động trị liệu: 4 kỹ thuật
Nhóm 5: Kỹ thuật thăm dò, lượng giá, chẩn đoán và điều trị PHCN: 10 kỹ thuật Nhóm 3, 4, 6 (HĐTL, NNTL, Dụng cụ chỉnh hình và trợ giúp): không có kỹ thuật vượt tuyến
Mẫu phiếu điều tra cho Trạm Y tế gồm 5 phần (phụ lục 2):
Phần A: Thông tin chung của TYT
Phần B: Thông tin về các hoạt động PHCN trong năm 2015 của TYT
Thông tin về tham gia/thực hiện chương trình PHCNDVCĐ/ chương trình hỗ trợ NKT
Thông tin về tham gia chỉ đạo, hướng dẫn Y tế thôn bản thực hiện công tác PHCN DVCĐ
Thông tin về nhận được hỗ trợ cho NKT và hoạt động PHCN từ các tổ chức Thông tin về kế hoạch phát triển liên quan đến PHCN
Phần C: Thông tin về Trạm Y tế
+ Tình hình KCB của TYT năm 2015
+ Tình hình nhân lực của TYT: số lượng cán bộ, trình độ của trạm trưởng TYT xã
Cán bộ phụ trách PHCN của TYT cần có thông tin rõ ràng về giới tính, số năm kinh nghiệm, chức danh nghề nghiệp, và các bằng cấp hoặc chứng chỉ liên quan đến PHCN Họ cũng phải tham gia các khóa tập huấn, bồi dưỡng và đào tạo liên tục về PHCN, đồng thời có thể đảm nhiệm thêm các lĩnh vực khác.
+ Cơ sở vật chất của bộ phận cung cấp dịch vụ PHCN
Phần D: Trang thiết bị về PHCN của TYT
+ TTB PHCN để thực hiện kỹ thuật PHCN theo phân tuyến: tổng số: 23 loại
- Nhóm TTB để thực hiện các kỹ thuật khác (gồm: HĐTL; NNTL; Thăm dò, lượng giá, chẩn đoán và điều trị PHCN): 4 loại
+ Trang thiết bị PHCN để thực hiện kỹ thuật PHCN vượt tuyến: 9 loại
Phần E: Danh mục các kỹ thuật PHCN thực hiện được tại TYT
+ Danh mục các kỹ thuật PHCN theo đúng phân tuyến: Tổng số: 109 kỹ thuật
Các nhóm dịch vụ kỹ thuật:
Nhóm 5: Kỹ thuật thăm dò, lượng giá, chẩn đoán và điều trị PHCN: 16 kỹ thuật Nhóm 6: Dụng cụ chỉnh hình và trợ giúp: 16 kỹ thuật + Danh mục các kỹ thuật PHCN vượt tuyến: tổng số: 22 kỹ thuật
Các nhóm dịch vụ kỹ thuật:
Nhóm 1: Vật lý trị liệu: 12 kỹ thuật
Nhóm 2: Vận động trị liệu: 7 kỹ thuật
Nhóm 5: Kỹ thuật thăm dò, lượng giá, chẩn đoán và điều trị PHCN: 3 kỹ thuật Nhóm 3, 4, 6 (HĐTL, NNTL, Dụng cụ chỉnh hình và trợ giúp): không có kỹ thuật vượt tuyến
Bảng câu hỏi phỏng vấn sâu được thiết kế cho lãnh đạo Sở Y tế, lãnh đạo Bệnh viện PHCN Hương Sen, lãnh đạo BVĐK huyện Chiêm Hóa, lãnh đạo BVĐK khu vực Kim Xuyên - Sơn Dương, cùng với 2 Trạm trưởng TYT xã thực hiện tốt phân tuyến kỹ thuật PHCN và 2 trạm trưởng TYT xã chưa triển khai hoặc triển khai rất ít kỹ thuật PHCN tại trạm.
2.5.2 Các b ướ c thu th ậ p thông tin:
Bước 1: Xây dựng phiếu điều tra, phiếu phỏng vấn
Bước 2: Liên hệ và gửi phiếu điều tra
Gửi phiếu điều tra đến 06 Bệnh viện Đa khoa huyện và 03 Bệnh viện Đa khoa khu vực Tại các Bệnh viện Đa khoa huyện và khu vực, cán bộ phòng Kế hoạch tổng hợp có trách nhiệm thu thập thông tin và điền vào phiếu, trong khi lãnh đạo Bệnh viện phải đảm bảo tính xác thực của thông tin được cung cấp.
Gửi phiếu điều tra tới 141 Trạm Y tế xã trên toàn tỉnh, yêu cầu cán bộ phụ trách PHCN thực hiện công tác thống kê và báo cáo thông tin Trạm trưởng TYT có trách nhiệm đảm bảo tính xác thực của thông tin được cung cấp.
Bước 3: Thu thập, kiểm tra phiếu điều tra
Bước 4: Thu thập thông tin định tính qua phỏng vấn sâu
* Tiến hành phỏng vấn sâu:
Nghiên cứu viên (NCV) tạo bảng hướng dẫn câu hỏi phỏng vấn sâu phù hợp với từng đối tượng nghiên cứu Trước khi tiến hành phỏng vấn, NCV sẽ trình bày rõ mục đích và nội dung câu hỏi, đồng thời xin phép ghi âm cuộc phỏng vấn Mỗi cuộc phỏng vấn được thực hiện dựa trên nội dung của bảng hướng dẫn đã xây dựng.
HUPH hướng dẫn câu hỏi phỏng vấn sâu đã xây dựng sẵn, thời gian của cuộc phỏng vấn từ 30-60 phút.
Các chỉ số và biến số nghiên cứu
2.6.1 Ph ươ ng pháp xác đị nh ch ỉ s ố , bi ế n s ố trong nghiên c ứ u
Trang thiết bị phục hồi chức năng (PHCN) hiện chưa có quy định cụ thể từ Bộ Y tế cho các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tại các tuyến Nghiên cứu này đã xây dựng danh mục thiết bị PHCN dựa trên các danh mục kỹ thuật PHCN theo phân tuyến chuyên môn kỹ thuật được quy định trong Thông tư số 43/2013/TT-BYT ngày 11/12/2013 của Bộ Y tế, áp dụng cho tuyến huyện và tuyến xã Danh mục này bao gồm các thiết bị PHCN cần thiết để thực hiện các kỹ thuật PHCN theo đúng phân tuyến và vượt tuyến.
Các nhóm TTB PHCN của BVĐK huyện và khu vực được đánh theo số thứ tự trong mục E (phụ lục 1)
Các nhóm TTB PHCN của TYT xã được đánh theo số thứ tự trong mục D (phụ lục 2)
Kỹ thuật PHCN: được thực hiện theo quy định tại Thông tư số 43/2013/TT-
Ngày 11/12/2013, Bộ Y tế ban hành BYT quy định chi tiết về phân tuyến chuyên môn kỹ thuật cho hệ thống cơ sở khám bệnh, chữa bệnh Các kỹ thuật phục hồi chức năng được phân thành 6 nhóm khác nhau.
+ Nhóm 1: Vật lý trị liệu
+ Nhóm 2: Vận động trị liệu
+ Nhóm 3: Hoạt động trị liệu
+ Nhóm 4: Ngôn ngữ trị liệu
+ Nhóm 5: Kỹ thuật thăm dò, lượng giá, chẩn đoán và điều trị PHCN
+ Nhóm 6: Dụng cụ chỉnh hình và trợ giúp
- Đối với BVĐK huyện, khu vực: có 131 kỹ thuật trong phân tuyến và 25 kỹ thuật vượt tuyến
- Đối với TYT xã: có 109 kỹ thuật trong phân tuyến và 22 kỹ thuật vượt tuyến[17]
Các nhóm biến số bao gồm thông tin chung, hoạt động phục hồi chức năng (PHCN), thông tin về khoa/bộ phận PHCN của bệnh viện, cơ sở vật chất, trang thiết bị PHCN, nhân lực PHCN, và các kỹ thuật PHCN được thực hiện tại các bệnh viện tuyến huyện và trạm y tế xã.
Các chủ đề nghiên cứu định tính thông qua phỏng vấn sâu:
- Tình hình khuyết tật và nhu cầu PHCN của NKT
- Thông tin về tổ chức triển khai các kỹ thuật PHCN theo phân tuyến kỹ thuật
Khoa/bộ phận cung cấp dịch vụ phục hồi chức năng (PHCN) được trang bị cơ sở vật chất hiện đại và đầy đủ trang thiết bị PHCN cần thiết Đội ngũ nhân lực PHCN có trình độ chuyên môn cao, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu của bệnh nhân Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện, chúng tôi gặp phải một số khó khăn như thiếu nguồn lực tài chính và sự hỗ trợ từ các cơ quan chức năng, bên cạnh đó cũng có những thuận lợi như sự quan tâm ngày càng tăng của cộng đồng đối với dịch vụ PHCN.
- Thông tin về theo dõi, giám sát hỗ trợ chuyên môn tuyến dưới thực hiện phân tuyến kỹ thuật
- Kế hoạch phát triển các dịch vụ kỹ thuật PHCN trong phân tuyến, các biện pháp khắc phục.
Phương pháp phân tích số liệu
Nghiên cứu định lượng sử dụng số liệu thu thập được, được nhập vào máy vi tính thông qua phương pháp thống kê y học và xử lý bằng phần mềm SPSS Kết quả nghiên cứu được trình bày dưới dạng bảng và biểu đồ theo quy định.
Nghiên cứu định tính bao gồm việc ghi âm và ghi chép tất cả các cuộc phỏng vấn sâu Thông tin định tính sau đó được xử lý thủ công và trích dẫn theo các chủ đề đã xác định.
Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
Đề cương đánh giá đã được thông qua Hội đồng đạo đức của Trường Đại học
Y tế công cộng được quy định trong văn bản số 241/2016/YTCC-HD3 ngày 20/5/2016, liên quan đến việc chấp thuận các vấn đề đạo đức trong nghiên cứu y sinh học Nghiên cứu cắt ngang này nhằm đánh giá thực trạng các cơ sở cung cấp và thực hiện kỹ thuật phục hồi chức năng tại tuyến huyện và xã, từ đó nâng cao hiệu quả trong chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho người khuyết tật trong tỉnh.
Quá trình thu thập thông tin phỏng vấn sâu chỉ được thực hiện khi có sự đồng ý của đối tượng tham gia, đảm bảo không vi phạm đạo đức nghiên cứu.
Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số…
Nghiên cứu chỉ tập trung vào việc đánh giá hoạt động chức năng trong việc thực hiện các kỹ thuật phục hồi chức năng tại các bệnh viện đa khoa huyện, khu vực và trạm y tế xã, mà không xem xét chất lượng, hiệu quả của các kỹ thuật này cũng như khả năng tiếp cận dịch vụ của bệnh nhân và người khuyết tật tại các cơ sở khám chữa bệnh tuyến huyện và xã.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thông tin chung
3.1.1 Tình hình khuy ế t t ậ t và nhu c ầ u c ầ n PHCN
Theo phỏng vấn lãnh đạo Sở Y tế và giám đốc Bệnh viện PHCN tuyến tỉnh, tỉ lệ khuyết tật trong dân số đạt 10% Huyện Sơn Dương ghi nhận tỉ lệ khuyết tật cao nhất với 10,7%, trong khi huyện Na Hang có tỉ lệ thấp nhất là 7,8% Nhóm khuyết tật về thị giác chiếm tỉ lệ cao nhất, khoảng 50%, tiếp theo là khuyết tật về vận động gần 30%, và nhóm mất cảm giác có tỉ lệ thấp nhất, dưới 1%.
Theo số báo cáo của các TYT trong nghiên cứu này về tỉ lệ khuyết tật năm
Bảng 3.1 Tỷ lệ khuyết tật tại các TYT xã năm 2015
Tỉ lệ khuyết tật trung bình tại các xã là 8,81%, thấp nhất là 1,8%, cao nhất là 23,57%
Nhu cầu PHCN của NKT trong tỉnh
Theo khảo sát của Sở Y tế năm 2012, nhu cầu phục hồi chức năng (PHCN) cho người khuyết tật (NKT) tại tỉnh đạt 49,2% Trong đó, nhu cầu cao nhất thuộc về nhóm khuyết tật về tâm thần, hành vi và động kinh (98,4%), tiếp theo là nhóm khuyết tật về vận động (88,2%) và nhận thức (82,7%) Nhóm khuyết tật về nhìn có nhu cầu thấp nhất, chỉ đạt 28,7%.
Nhu cầu PHCN của NKT tại tỉnh ngày càng tăng
Nhu cầu của người khuyết tật (NKT) về các dịch vụ phục hồi chức năng (PHCN) và dụng cụ chỉnh hình đã tăng lên đáng kể so với những năm trước Tuy nhiên, các cơ sở y tế hiện tại chủ yếu chỉ cung cấp dịch vụ PHCN liên quan đến vận động cho NKT.
Nội dung TB ± Std GTNN GTLN
Tỉ lệ khuyết tật (%) của các xã
Số lượng người bệnh và người khuyết tật (NKT) đến khám và điều trị phục hồi chức năng (PHCN) ngày càng gia tăng, dẫn đến nhu cầu sử dụng các dịch vụ PHCN của NKT cũng tăng theo Bệnh viện luôn trong tình trạng quá tải.
PVS một trưởng khoa PHCN của BVĐK huyện nói rằng:
Bệnh nhân đến khoa chúng tôi chủ yếu là những người bị di chứng tai biến mạch máu não và có hạn chế về vận động Nhu cầu phục hồi chức năng (PHCN) của những người khuyết tật (NKT) ngày càng gia tăng.
PV 4 Trạm trưởng TYT xã đều nói rằng nhu cầu PHCN của NKT là rất cao, tỉ lệ NKT có nhu cầu PHCN của các xã từ trên 30% trở lên, có xã đến trên 70% trong số những NKT được phát hiện và nhu cầu PHCN của NKT ngày càng tăng
“Tỷ lệ NKT của xã tôi là 10,6% NKT có nhu cầu PHCN chung của xã là
Một trạm trưởng TYT khác nói:
“Tỷ lệ NKT của xã là 9,5% …, tỷ lệ NKT có nhu cầu PHCN chung chiếm 71,2% ” (CBTYT)
Một trạm trưởng khác nói:
NKT có nhu cầu phục hồi chức năng chung của xã đạt 44% Trong những năm gần đây, số lượng NKT đến trạm y tế (TYT) để xin chuyển lên các bệnh viện tuyến trên nhằm khám và điều trị phục hồi chức năng đã tăng lên rõ rệt.
3.1.2 Thông tin v ề các ho ạ t độ ng PHCN tuy ế n c ơ s ở
3.1.2.1 Thông tin về các hoạt động PHCN
Bảng 3.2 Thông tin về việc thành lập khoa/bộ phận PHCN của tuyến huyện và tuyến xã
Tuyến huyện Tuyến xã Tần số
Số năm đã thành lập của khoa/ bộ phận PHCN (tuyến huyện tính đến 2016) (n=5)
Có 55,6% bệnh viện tuyến huyện đã thành lập khoa hoặc bộ phận phục hồi chức năng (PHCN) hoạt động lồng ghép với các khoa khác, trong đó 60% các khoa/bộ phận PHCN đã được thành lập từ 5 năm trở lên Tuy nhiên, 44,4% bệnh viện tuyến huyện vẫn chưa có bộ phận này Đối với tuyến xã, chưa có trạm y tế nào thành lập bộ phận PHCN hoạt động.
Bảng 3.3 Thông tin về các hoạt động PHCN trong năm 2015 được các BV tuyến huyện và TYT xã thực hiện
TT Nội dung Tuyến huyện (n=9) Trạm Y tế (n1) n % n %
1 Có tham gia/ thực hiện chương trình PHCN DVCĐ 2 22,2 141 100,0
Có tham gia/ thực hiện hoạt động/chương trình hỗ trợ
Có tham gia chỉ đạo, hướng dẫn tuyến dưới thực hiện công tác PHCN DVCĐ
Phần lớn các BV tuyến huyện thường không tham gia chương trình PHCN DVCĐ hoặc chỉ đạo tuyến dưới thực hiện công tác PHCN DVCĐ, chỉ có 2 trong số
Chín bệnh viện (BV) tham gia hoạt động này, chiếm 22,2% Hầu hết các trạm y tế (TYT) xã đều tham gia chương trình phục hồi chức năng (PHCN) dịch vụ công cộng (DVCĐ) và có hoạt động chỉ đạo, hướng dẫn cán bộ y tế thôn bản thực hiện công tác PHCN DVCĐ, với tỷ lệ trên 99%.
Không nhậ n được Nhận từ 1 nguồn Nhậ n từ 2 nguồn Nhận từ 3 nguồn trở lên
Biểu đồ 1: Số nguồn hỗ trợ hoạt động PHCN
Hơn 55% bệnh viện tuyến huyện và 17% trạm y tế xã không nhận được bất kỳ nguồn hỗ trợ nào Trong khi đó, hơn 44% bệnh viện tuyến huyện và 83% trạm y tế xã nhận được ít nhất một nguồn hỗ trợ, chủ yếu từ Nhà nước, các tổ chức xã hội, tổ chức quốc tế hoặc các nguồn khác.
Bảng 3.4 Thông tin về loại hỗ trợ cho hoạt động PHCN của các BV tuyến huyện và TYT xã nhận được
Số BV nhận được hỗ trợ (n=9) n(%)
Trung bình số nguồn hỗ trợ
Số TYT nhận được hỗ trợ (n1) n(%)
Trung bình số nguồn hỗ trợ
Hỗ trợ TTB 4(44,4) 1,5 34(24,1) 1,2 Đào tạo cán bộ 2(22,2) 1,0 97(68,8) 1,4
Cung cấp dịch vụ trợ giúp 1(11,1) 2,0 23(16,3) 1,3
Phẫu thuật miễn phí cho
Kinh phí cho các hoạt động hỗ trợ NKT và
Tuyến huyện chủ yếu nhận được hỗ trợ về trang thiết bị y tế (TTB) với tỷ lệ 44,4%, thường từ 1-2 nguồn cung cấp Tại tuyến xã, phần lớn các trạm y tế (TYT) nhận hỗ trợ về đào tạo cán bộ (68,8%) và phẫu thuật miễn phí cho người khuyết tật (NKT) với tỷ lệ 48,9%, cũng chủ yếu từ 1-2 nguồn cung cấp.
Nhận từ 3 hỗ trợ trở lên
Biểu đồ 2: Số hỗ trợ PHCN nhận được từ các nguồn
Tại các bệnh viện tuyến huyện, chỉ có 33,3% nhận được từ 1 đến 2 nguồn hỗ trợ khác nhau Trong khi đó, ở tuyến xã, gần 30% trạm y tế nhận được 2 nguồn hỗ trợ, và 27% nhận từ 3 nguồn hỗ trợ trở lên.
Bảng 3.5 Thông tin về việc xây dựng kế hoạch phát triển liên quan đến PHCN của tuyến huyện và tuyến xã
1 Có kế hoạch phát triển liên quan đến PHCN 5 55,6 117 83
2 Các loại kế hoạch đã có
Chỉ có 55,6% BV tuyến huyện có kế hoạch phát triển PHCN, trong đó phần lớn các BV chỉ xây dựng kế hoạch năm (44,4%) Trong khi ở xã, gần 83% TYT có
HUPH kế hoạch phát triển lên quan đến PHCN và 78% có kế hoạch năm Không có BV và TYT nào xây dựng đủ cả 3 loại kế hoạch
3.1.2.2 Tình hình KCB trong năm 2015
Bảng 3.6 Tình hình KCB của tuyến huyện và tuyến xã năm 2015
TT Chỉ số TB StD GTNN GTLN
Tuyến xã (n7): 4 TYT hoạt động lồng ghép công tác KCB với các PKĐKKV, số liệu đã báo cáo cùng với các BV tuyến huyện
Mỗi BV tuyến huyện KCB trung bình 50.512,3 lượt bệnh nhân trong năm
Năm 2015, công suất sử dụng giường bệnh trung bình đạt 133,0% Số bệnh nhân ngoại trú trung bình là 1.092 lượt, trong đó có 2 bệnh viện không có bệnh nhân khám chữa bệnh ngoại trú Số bệnh nhân nội trú trung bình là 7.386,9 lượt, và số lượt bệnh nhân chuyển tuyến trung bình là 1.982,1.
Năm 2015, các Trạm Y tế (TYT) trong tỉnh KCB ghi nhận trung bình 6.155,9 lượt bệnh nhân, với 5 giường bệnh kế hoạch Mỗi TYT khám trung bình 5.125 lượt bệnh nhân ngoại trú và 15,3 lượt bệnh nhân nội trú, đồng thời có 731,1 lượt bệnh nhân được chuyển tuyến.
Thực trạng thực hiện kỹ thuật PHCN theo phân tuyến chuyên môn kỹ thuật tại các cơ sở KB,CB tuyến huyện và tuyến xã trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang
kỹ thuật tại các cơ sở KB,CB tuyến huyện và tuyến xã trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang
3.2.1 Các k ỹ thu ậ t PHCN theo phân tuy ế n th ự c hi ệ n đượ c t ạ i tuy ế n huy ệ n và tuy ế n xã (theo Thông tư số 43/2013/TT- BYT ngày 11/12/2013 của Bộ Y tế)
Bảng 3.7 Số kỹ thuật PHCN theo tuyến thực hiện được tại tuyến huyện và tuyến xã
Số cơ sở thực hiện được Trung bình số kỹ thuật có thể thực hiện n % TB StD GTNN GTLN
Qua bảng trên ta thấy:
Tại tuyến huyện, 77,8% bệnh viện đã thực hiện ít nhất một kỹ thuật phục hồi chức năng (PHCN) theo phân tuyến, với trung bình 13,9 kỹ thuật có thể thực hiện, đạt 10,6% so với quy định Đặc biệt, nhóm 1 (kỹ thuật vật lý trị liệu - VLTL) là nhóm có nhiều bệnh viện tham gia thực hiện.
Nhóm 1 (HUPH) đạt tỷ lệ cao nhất với 77,8% Nhóm 2 (Vận động trị liệu) có số kỹ thuật thực hiện cao nhất với 8,2 kỹ thuật Ngược lại, Nhóm 6 (Dụng cụ chỉnh hình và trợ giúp) có số bệnh viện thực hiện ít nhất, chỉ có 01 bệnh viện thực hiện 2 kỹ thuật Tại tuyến xã, 83% trạm y tế có khả năng thực hiện ít nhất 1 kỹ thuật phục hồi chức năng phân tuyến, với trung bình 18,2 kỹ thuật, đạt 16,7% so với quy định Nhóm kỹ thuật về Vận động trị liệu có tỷ lệ trạm y tế thực hiện cao nhất (80,1%) và số kỹ thuật thực hiện nhiều nhất (12,2 kỹ thuật) Trong khi đó, nhóm kỹ thuật về dụng cụ chỉnh hình có tỷ lệ trạm y tế thực hiện thấp nhất (9,2%) và số kỹ thuật thực hiện trung bình thấp nhất (0,3 kỹ thuật).
So sánh giữa tuyến huyện và tuyến xã cho thấy tuyến huyện thực hiện nhiều kỹ thuật về vật lý trị liệu (VLTL) hơn, trong khi các nhóm kỹ thuật khác lại ít hơn Tuy nhiên, tổng số kỹ thuật phục hồi chức năng (PHCN) có thể thực hiện ở tuyến huyện lại thấp hơn so với tuyến xã, với tỷ lệ trung bình là 10,6% ở tuyến huyện và 16,7% ở tuyến xã.
Kỹ thuật Điều trị bằng tia Hồng ngoại là phương pháp phổ biến nhất trong nhóm VLTL, với tỷ lệ thực hiện đạt 77,8% tại bệnh viện tuyến huyện và 41,1% tại trạm y tế Trong nhóm VĐTL, kỹ thuật xoa bóp vùng được thực hiện nhiều nhất tại bệnh viện tuyến huyện (44,4%) Các kỹ thuật Tập đi với nạng, thanh song song và khung tập đi được các trạm y tế thực hiện nhiều nhất, đạt tỷ lệ 72-75% Trong nhóm HĐTL, kỹ thuật Tập các vận động thô và khéo léo của bàn tay chiếm 33,3% tại tuyến huyện, trong khi kỹ thuật Tập các chức năng sinh hoạt hàng ngày đạt 25,5% tại tuyến xã Đối với nhóm Kỹ thuật thăm dò, lượng giá, chẩn đoán, điều trị PHCN, tuyến huyện thực hiện Thử cơ bằng tay và đo tầm vận động khớp (22-33%), còn tuyến xã thực hiện lượng giá chức năng NKT với tỷ lệ 39,7% Trong nhóm Dụng cụ chỉnh hình và trợ giúp, kỹ thuật sử dụng áo nẹp cột sống thắt lưng chỉ được 1 bệnh viện và 5% số trạm y tế thực hiện Cuối cùng, trong nhóm NNTL, kỹ thuật Tập nói và tập phát âm có 15% trạm y tế có khả năng thực hiện.
Chưa có BV huyện nào có thể thực hiện được kỹ thuật trong nhóm này (chi tiết trong Phụ lục 8)
Bảng 3.8 Mức độ thực hiện thường xuyên các kỹ thuật PHCN theo phân tuyến tại tuyến huyện và tuyến xã
Số cơ sở thực hiện thường xuyên Trung bình số KT được thực hiện thường xuyên n %
(đạt 6,6% so với phân tuyến)
(đạt 2,1% so với phân tuyến)
Cách chấm điểm tần suất thực hiện các kỹ thuật được quy định như sau: Không thực hiện bao giờ nhận 0 điểm, thực hiện vài lần mỗi năm cũng nhận 0 điểm, thực hiện vài lần mỗi tháng vẫn là 0 điểm, thực hiện vài lần mỗi tuần được 1 điểm, và thực hiện hàng ngày cũng được 1 điểm.
Tại tuyến huyện, 66,7% bệnh viện thực hiện thường xuyên các kỹ thuật phục hồi chức năng (PHCN) theo phân tuyến, với số kỹ thuật trung bình là 8,7 kỹ thuật Nhóm kỹ thuật vật lý trị liệu (nhóm 1) có tỷ lệ thực hiện cao nhất, đạt 66,7% Trong khi đó, nhóm kỹ thuật vận động trị liệu (nhóm 2) lại có số lượng kỹ thuật thực hiện thường xuyên nhiều nhất, với 4 kỹ thuật.
Chỉ khoảng 25% trạm y tế (TYT) thực hiện thường xuyên kỹ thuật phân tuyến về phục hồi chức năng (PHCN), với trung bình 2,3 kỹ thuật được thực hiện Nhóm kỹ thuật về vận động thể lực (VĐTL) có tỷ lệ TYT thực hiện cao nhất, đạt 17%, với trung bình 1,5 kỹ thuật được áp dụng thường xuyên.
So sánh giữa tuyến huyện và tuyến xã cho thấy nhóm kỹ thuật VLTL thường xuyên được thực hiện ở tuyến huyện, trong khi nhóm VĐTL chủ yếu hoạt động ở tuyến xã Tuy nhiên, nhóm kỹ thuật VĐTL lại có số lượng kỹ thuật thực hiện thường xuyên cao nhất ở cả hai tuyến Tổng quan, tuyến huyện có số kỹ thuật phục hồi chức năng (PHCN) được thực hiện thường xuyên nhiều hơn so với tuyến xã.
3.2.2 Các k ỹ thu ậ t PHCN v ượ t tuy ế n th ự c hi ệ n đượ c t ạ i tuy ế n huy ệ n và tuy ế n xã
Bảng 3.9 Số kỹ thuật PHCN vượt tuyến thực hiện được tại tuyến xã
TT Nhóm kỹ thuật PHCN
Số cơ sở thực hiện được Trung bình số kỹ thuật có thể thực hiện n %
Hiện tại, các bệnh viện tuyến huyện chưa thực hiện được các kỹ thuật vượt tuyến Tuy nhiên, gần 22% trạm y tế (TYT) có khả năng thực hiện ít nhất một kỹ thuật vượt tuyến, trong đó nhóm kỹ thuật về vận động thể lực (VĐTL) chiếm tỷ lệ cao nhất với 20,6% Trung bình, mỗi TYT chỉ thực hiện được 0,7 kỹ thuật.
Bảng 3.10 Mức độ thực hiện thường xuyên các kỹ thuật PHCN vượt tuyến ở tuyến xã
Số cơ sở thực hiện được (N1) Trung bình số KT được thực hiện thường xuyên n %
Chỉ có 7% trạm y tế (TYT) thực hiện thường xuyên các kỹ thuật phục hồi chức năng (PHCN) vượt tuyến Trong số đó, nhóm kỹ thuật vận động thể lực (VĐTL) chiếm tỷ lệ cao hơn với 5,7%, trung bình mỗi trạm thực hiện 0,1 kỹ thuật.
Mô tả việc triển khai quy định của Bộ Y tế về Phân tuyến kỹ thuật PHCN tại tuyến huyện và xã trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang
3.3.1 Thông tin v ề t ổ ch ứ c tri ể n khai các k ỹ thu ậ t PHCN theo phân tuy ế n
Các cơ sở cung cấp dịch vụ kỹ thuật PHCN cho NKT tại tỉnh Tuyên Quang được phân theo: tuyến tỉnh, tuyến huyện và tuyến xã
Tuyến tỉnh: Gồm BV chuyên khoa PHCN và khoa PHCN BV tuyến tỉnh Tuyến huyện: Hoạt động lồng ghép với khoa khác
Tuyến xã: cung cấp dịch vụ thông qua hoạt động của chương trình PHCN dựa vào cộng đồng
Phỏng vấn định tính cán bộ ở các tuyến đều nói rằng:
Văn bản quy định về phân tuyến chuyên môn kỹ thuật cho hệ thống cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hiện nay là Thông tư số 43/TT-BYT, ban hành ngày 11/12/2013 bởi Bộ Y tế Thông tư này chi tiết hóa việc phân tuyến kỹ thuật phục hồi chức năng và có hiệu lực từ ngày 01/02/2014.
Trước khi Thông tư số 43 có hiệu lực, các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã thực hiện quy định phân tuyến kỹ thuật theo Quyết định số 23/2005/QĐ-BYT.
Vào ngày 30/8/2005, HUPH đã được thành lập Tuy nhiên, từ năm 2014, Sở Y tế đã chỉ đạo các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh triển khai phân tuyến kỹ thuật theo quy định của Thông tư số 43 do Bộ Y tế ban hành.
Khi có Thông tư về phân tuyến kỹ thuật, các đơn vị trực thuộc được chỉ đạo xây dựng danh mục kỹ thuật dựa trên chức năng, nhiệm vụ, cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, nhân lực và trình độ chuyên môn Theo quy định của Luật Khám, chữa bệnh, người đứng đầu các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải chịu trách nhiệm trước Giám đốc Sở Y tế về các hoạt động của đơn vị, bao gồm việc thực hiện đúng các dịch vụ kỹ thuật đã được Sở Y tế phê duyệt.
Các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã xây dựng danh mục kỹ thuật theo tuyến và vượt tuyến, bao gồm các kỹ thuật phục hồi chức năng, dựa trên chức năng, nhiệm vụ, quy mô hoạt động và điều kiện thực tế Hiện tại, danh mục kỹ thuật đã được Sở Y tế phê duyệt theo Thông tư số 43 của Bộ Y tế Để thực hiện các quy định về phân tuyến kỹ thuật phục hồi chức năng, các cơ sở đã chuẩn bị và đầu tư vào cơ sở vật chất, trang thiết bị và nhân lực.
Nhiều bệnh viện đã được đầu tư và nâng cấp, bao gồm Bệnh viện Đa khoa khu vực ATK, Bệnh viện Đa khoa huyện Chiêm Hóa và Sơn Dương Đồng thời, nhiều trạm y tế xã cũng đang được xây dựng mới.
Tuyến huyện: 5 trong số 9 BV đã thành lập được khoa/bộ phận PHCN với các phòng chức năng theo quy định tại Thông tư số 46/2013/TT-BYT ngày 31/12/2013[12]
Bảng 3.11 Các phòng chức năng của khoa/bộ phận PHCN của các BV đã có khoa/bộ phận PHCN (n=5)
TT Có các phòng chức năng Tần số (n) Tỷ lệ %
Trong số 5 bệnh viện có khoa/bộ phận phục hồi chức năng (PHCN), 100% đều có phòng chức năng để thực hiện vật lý trị liệu (VLTL), và 80% có phòng hành chính cùng khu điều trị nội trú, đáp ứng yêu cầu tối thiểu theo quy định Hơn nữa, 80% các bệnh viện đã thiết lập phòng chức năng để triển khai hoạt động trị liệu, trong khi vẫn còn 4 bệnh viện chưa thành lập được khoa/bộ phận PHCN.
Tại tuyến xã: Chưa TYT nào có bộ phận PHCN hoạt động tại trạm
V ề đầ u t ư TTB PHCN ở các tuy ế n:
Đầu tư và nâng cấp các trang thiết bị y tế thiết yếu cho phục hồi chức năng là cần thiết, và các đơn vị có thể tự trang bị từ nguồn thu viện phí bảo hiểm y tế.
Tại một khoa PHCN của BV huyện đã được đầu tư và làm tương đối tốt về PHCN, qua quan sát thực tế và PV định tính thấy:
“Các TTB ở khoa chủ yếu là các loại máy móc để thực hiện các kỹ thuật Vật lý trị liệu” (CB BV huyện)
Tại các trạm y tế xã, việc đầu tư vào thiết bị phục hồi chức năng (TTB PHCN) còn hạn chế, với các thiết bị chủ yếu là bộ dụng cụ trợ giúp như thanh song song, khung tập đi, nạng nách và nạng khuỷu.
Tại các tuyến, hầu hết các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã chú trọng đào tạo cán bộ về phục hồi chức năng nhằm thực hiện phân tuyến kỹ thuật hiệu quả.
Tại các bệnh viện tuyến huyện, một số bệnh viện có bác sĩ chuyên khoa về phục hồi chức năng và kỹ thuật viên phục hồi chức năng, trong khi đó, một số bệnh viện khác lại chưa có bác sĩ chuyên khoa, chỉ có y sĩ hoặc điều dưỡng.
HUPH học bổ túc chuyên ngành PHCN, có BV chưa có nhân lực nào được đào tạo về chuyên ngành PHCN” (CB SYT)
Tại các trạm y tế xã, hầu hết cán bộ chỉ đảm nhiệm chương trình phục hồi chức năng và dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu, đồng thời phải kiêm nhiệm thêm nhiều chương trình khác.
3.3.2 Thông tin v ề theo dõi, giám sát h ỗ tr ợ chuyên môn tuy ế n d ướ i th ự c hi ệ n phân tuy ế n k ỹ thu ậ t
Qua PV định tính thấy rằng:
Danh mục kỹ thuật các đơn vị xây dựng theo Thông tư số 43, được Sở Y tế phê duyệt, là cơ sở pháp lý cho hoạt động chuyên môn của các đơn vị Việc thẩm định danh mục dựa trên nhân lực, trang thiết bị và cơ sở hạ tầng nhằm đảm bảo cung cấp dịch vụ kỹ thuật an toàn và hiệu quả cho người bệnh Đồng thời, việc kiểm tra, giám sát thực hiện sẽ được tiến hành định kỳ và đột xuất bởi cơ quan BHXH tỉnh.
Bệnh viện (BV) đã thực hiện theo dõi và giám sát, hỗ trợ chuyên môn cho các tuyến dưới trong việc phân tuyến kỹ thuật phục hồi chức năng (PHCN) Điều này bao gồm việc hướng dẫn mạng lưới y tế xã trên toàn tỉnh thực hiện chương trình PHCN dựa vào cộng đồng BV cũng tạo điều kiện cho cán bộ của các BV tuyến huyện tham gia học tập về PHCN tại BV theo phương thức cầm tay chỉ việc Đặc biệt, BV đã được Bộ Y tế cấp mã số đào tạo.
BV sẽ thường xuyên tổ chức các lớp đào tạo liên tục nhằm cập nhật kiến thức cho nhân viên y tế theo quy định tại Thông tư số 22 của Bộ Y tế về hướng dẫn đào tạo liên tục cho cán bộ y tế.
Tuyến huyện, thống kê trong nghiên cứu này cho thấy có 2 BV có thực hiện việc chỉ đạo tuyến dưới về thực hiện việc phân tuyến kỹ thuật PHCN
“Hàng năm TYT có cử cán bộ lên học tại khoa để triển khai một số dịch vụ kỹ thuật cho NKT tại cộng đồng” (CBBV huyện)
Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện và triển khai quy định phân tuyến kỹ thuật PHCN tại tuyến huyện và tuyến xã của tỉnh Tuyên Quang
“CSVC hiện nay của các cơ sở KB,CB trong tỉnh đều chưa đáp ứng được việc thực hiện phân tuyến kỹ thuật PHCN tại các tuyến” (CB SYT)
Cơ sở hạ tầng của bệnh viện đã được xây dựng cách đây 20 năm, hiện tại nhiều hạng mục đã xuống cấp nghiêm trọng và không đồng bộ Bệnh viện cũng thiếu cầu thang máy và lối đi riêng, gây khó khăn cho người sử dụng.
NKT đang phải đối mặt với tình trạng thiếu thốn về không gian và cơ sở vật chất, khiến việc triển khai các dịch vụ kỹ thuật trở nên khó khăn Điều này không phù hợp với nhu cầu ngày càng tăng về phục hồi chức năng (PHCN) cho người bệnh và NKT, dẫn đến tình trạng quá tải tại các cơ sở y tế.
Tại một BV huyện mới được đầu tư, nâng cấp CSVC và mới được nâng hạng
BV từ hạng III lên hạng II:
CSVC hiện tại chỉ đáp ứng một phần nhu cầu phân tuyến kỹ thuật PHCN, và vẫn còn thiếu không gian để triển khai thêm các dịch vụ kỹ thuật mới Các phòng vẫn còn chật chội, gây khó khăn trong việc mở rộng dịch vụ.
Tại một BV tuyến huyện khác chưa thành lập được khoa/bộ phận PHCN:
“BV đã xây dựng từ năm 1964, cơ sở đã xuống cấp rất nhiều, chưa triển khai được kỹ thuật PHCN tại BV” (CB BV huyện)
PV 1 Trạm trưởng TYT xã theo nghiên cứu chưa thấy thực hiện được dịch vụ kỹ thuật PHCN nào nói:
“CSVC của TYT quá xuống cấp, thiếu phòng làm việc, không thực hiện được phân tuyến kỹ thuật PHCN tại trạm” (CB TYT)
Tại 1 TYT khác mới được đầu tư, xây dựng nhà trạm mới khi PV Trạm trưởng TYT nói:
“Hiện tại TYT có 10 phòng cơ bản đáp ứng được theo Tiêu chí QGYTX nhưng vẫn không có phòng phục vụ cho bộ phận PHCN” (CB TYT)
Để thực hiện phân tuyến kỹ thuật PHCN, việc đầu tư và nâng cấp CSVC của các tuyến là cần thiết, tuy nhiên, nguồn kinh phí cho việc này đang gặp nhiều khó khăn.
Là một tỉnh nghèo, ngân sách chủ yếu phụ thuộc vào sự cấp phát từ trung ương, do đó việc dành kinh phí từ ngân sách để đầu tư và nâng cấp cơ sở vật chất cho các đơn vị y tế gặp nhiều khó khăn.
3.4.2 Trang thi ế t b ị PHCN c ủ a tuy ế n huy ệ n và tuy ế n xã
Bảng 3.12 Số loại TTB PHCN hiện đang hoạt động tại tuyến huyện và xã
Số cơ sở có trang thiết bị Trung bình số loại TTB tại các cơ sở có TTB n(%) TB Std GTNN GTLN
3 TTB để thực hiện các kỹ thuật khác (4 loại) 6(66,7) 1,2 0,4 1 2
3 TTB để thực hiện các kỹ thuật khác (4 loại) 2(1,41) 1,0 1 1
Có 22,2% BV tuyến huyện và 14,9% TYT xã chưa có bất kỳ 1 loại TTB PHCN nào
Tại tuyến huyện, 77,8% BV có TTB VLTL với trung bình 3,6 loại 66,7%
BV có TTB VĐTL với trung bình 3,8 loại Có 66,7% BV tuyến huyện có TTB khác để thực hiện các kỹ thuật PHCN với trung bình 1,2 loại
Tại tuyến xã, 56,7% trạm y tế (TYT) có trang thiết bị vật lý trị liệu (TTB VLTL) với trung bình 1,3 loại Đáng chú ý, 85,1% TYT sở hữu trang thiết bị vận động trị liệu (TTB VĐTL) với trung bình 3,1 loại tại mỗi cơ sở Tuy nhiên, chỉ có 2 TYT có trang thiết bị khác với chỉ 1 loại.
Chỉ có 01 BV tuyến huyện và 01 TYT có 01 loại TTB để thực hiện kỹ thuật PHCN vượt tuyến
So sánh giữa tuyến huyện và tuyến xã cho thấy, các bệnh viện tuyến huyện sở hữu nhiều loại thiết bị vật lý trị liệu (TTB VLTL) hơn so với trạm y tế xã (TYT), trong khi số loại thiết bị vận động trị liệu (TTB VĐTL) tương đương nhau Trung bình, các bệnh viện hiện có 8 loại thiết bị phục hồi chức năng (TTB PHCN), đạt 25% so với số loại quy định, trong khi các TYT chỉ có trung bình 3,9 loại, đạt 17% so với quy định.
Bảng 3.13: Số lượng TTB PHCN tại các cơ sở có TTB
Số cơ sở có TTB
Trung bình số lượng TTB tại các cơ sở có TTB n(%) TB Std GTNN GTLN
3 TTB để thực hiện các kỹ thuật khác (4 loại) 6(66,7) 2,3 1,5 1 5
4 TTB để thực hiện KT vượt tuyến (16 loại) 1(11,1) 1,0 0 1 1
3 TTB để thực hiện các kỹ thuật khác (4 loại) 2(1,4) 2,5 2,1 1 4
4 TTB để thực hiện KT vượt tuyến (9 loại) 1(0,7) 2,0 0 2 2
Qua bảng trên ta thấy:
Tại các cơ sở y tế tuyến huyện, trung bình có 9,1 máy thiết bị vật lý trị liệu (TTB VLTL), 6,2 máy vận động trị liệu (VĐTL) và 2,3 máy thiết bị khác Đáng chú ý, chỉ có một thiết bị vượt tuyến trong số các bệnh viện tuyến huyện.
Tại các trạm y tế xã, trung bình mỗi trạm có 1,6 máy thiết bị vật lý trị liệu (TTB VLTL), 3,5 thiết bị vận động trị liệu (VĐTL) và 2,5 thiết bị khác Trong số các trạm y tế xã trong tỉnh, chỉ có một cơ sở duy nhất sở hữu 2 TTB vượt tuyến.
Số lượng thiết bị vật lý trị liệu (TTB VLTL) và vận động trị liệu (VĐTL) tại tuyến huyện nhiều hơn so với tuyến xã Tuy nhiên, số lượng TTB để thực hiện các kỹ thuật khác ở cả hai tuyến là tương đương nhau.
Bảng 3.14 Số năm đã sử dụng TTB PHCN của tuyến huyện và tuyến xã
Số cơ sở có TTB Trung bình số năm đã sử dụng tại các cơ sở có TTB n(%) TB Std GTNN GTLN
3 TTB để thực hiện các kỹ thuật khác (4 loại) 6(66,7) 4,3 1,4 2 6
3 TTB để thực hiện các kỹ thuật khác (4 loại) 2(1,41) 5,5 3,5 3 8
Tại các tuyến huyện, thời gian sử dụng trung bình của các thiết bị vật lý trị liệu (TTB VLTL) là 3,9 năm, trong khi các thiết bị vận động trị liệu (TTB VĐTL) có thời gian sử dụng là 4,2 năm Các loại thiết bị khác đã được sử dụng trung bình 4,3 năm, và một loại thiết bị vượt tuyến mới được đầu tư trong năm gần đây.
Tại tuyến xã, thời gian sử dụng trung bình của các thiết bị vật lý trị liệu (TTB VLTL) là 4,5 năm, trong khi các thiết bị vận động trị liệu (TTB VĐTL) được sử dụng trung bình 8,9 năm Các thiết bị khác có thời gian sử dụng trung bình là 5,5 năm, và thiết bị vượt tuyến đã được sử dụng khoảng 2 năm.
So sánh giữa tuyến huyện và tuyến xã cho thấy rằng các loại thiết bị phục hồi chức năng (TTB PHCN) ở tuyến xã đã được trang bị và sử dụng lâu hơn so với tuyến huyện Đặc biệt, các thiết bị vận động trị liệu (VĐTL) đã được trang bị và sử dụng khoảng 10 năm, với một số loại đã được sử dụng lên tới 13 năm.
Tình trạng hiện tại cho thấy sự thiếu hụt cả về số lượng và chất lượng nhân lực phục hồi chức năng (PHCN), điều này đã ảnh hưởng đến khả năng thực hiện phân tuyến kỹ thuật PHCN tại các cơ sở y tế.
“Tại tỉnh chưa có chuyên gia sâu đầu ngành về lĩnh vực PHCN có trình độ chuyên khoa II hoặc tiến sĩ”(CB SYT)
Số lượng cán bộ tại bệnh viện không đủ theo quy định của Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT-BYT-BNV, đặc biệt là thiếu bác sĩ và cán bộ có trình độ đại học, nhất là kỹ thuật viên phục hồi chức năng Trong bối cảnh bệnh viện luôn trong tình trạng quá tải, tình trạng thiếu hụt cán bộ càng trở nên nghiêm trọng.
Nhân lực PHCN của tuyến huyện:
Bảng 3.15 Bằng cấp chuyên môn của nhân lực PHCN tuyến huyện
TT Bằng cấp/chứng chỉ cao nhất về PHCN
3 Bác sỹ (chưa được đào tạo về PHCN) 2 40 2 7,7
BÀN LUẬN
Thông tin chung
4.1.1 Tình hình khuy ế t t ậ t và nhu c ầ u c ầ n PHCN
Theo số liệu điều tra của Sở Y tế năm 2012, tỉ lệ khuyết tật tại 28 xã là 10% dân số Báo cáo từ các Trạm Y tế (TYT) trong nghiên cứu này cũng cho thấy tỉ lệ khuyết tật trong năm.
2015, tỉ lệ NKT trung bình tại các xã là 8,81%
Tỷ lệ người nhiễm trùng (NKT) trên thế giới theo công bố của WHO năm 1996 là 10% dân số, tương đương với 650 triệu người Tại Canada, vào năm 2006, tỷ lệ NKT ước tính chiếm khoảng 14,3% tổng dân số.
Tỷ lệ người khuyết tật (NKT) trong nghiên cứu này được so sánh với một số nghiên cứu trong nước, cho thấy sự khác biệt đáng kể Cụ thể, Đặng Đức Định ghi nhận tỷ lệ NKT tại vùng núi phía Bắc là 5,33% Một đánh giá tại 5 tỉnh thực hiện chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng do AIFO tài trợ sau 3 năm cho thấy tỷ lệ NKT là 6,4% Nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Thủy và cộng sự (1999) tại tỉnh Hà Tây (cũ) cho thấy tỷ lệ khuyết tật là 10,56% Một nghiên cứu gần đây của Ngân hàng Thế giới (2007) trên 1020 hộ gia đình tại Thái Bình cho thấy tỷ lệ NKT lên tới 31,6% Phạm Thị Nhuyên và cộng sự (2011) ghi nhận tỷ lệ NKT tại 4 xã thuộc tỉnh Hải Dương là 5,8% và nhu cầu phục hồi chức năng là 29,07% Sự khác biệt về tỷ lệ NKT giữa các nghiên cứu có thể do định nghĩa khuyết tật và phương pháp điều tra khác nhau.
Về nhu cầu PHCN của NKT trong tỉnh
Nhu cầu phục hồi chức năng (PHCN) của người khuyết tật (NKT) tại tỉnh đạt 49,2%, cho thấy nhu cầu này đang ngày càng gia tăng Nhận định này phù hợp với các nghiên cứu tương tự trong và ngoài nước.
Theo ước tính của WHO, số NKT có nhu cầu PHCN ngày càng tăng Năm
Vào năm 2002, Việt Nam có khoảng 130-150 triệu người khuyết tật (NKT) cần phục hồi chức năng (PHCN), và con số này đã tăng lên trên 250 triệu vào năm 2003 Tỷ lệ NKT có nhu cầu PHCN ở Việt Nam khác nhau giữa các nghiên cứu, dao động từ 7,8% đến 65,1% Sự khác biệt này có thể phản ánh thực tế nhưng cũng có thể do sự khác nhau trong thiết kế và phương pháp nghiên cứu.
HUPH điều tra Nhưng một nhận định chung của hầu hết các nghiên cứu là nhu cầu PHCN của NKT có xu hướng tăng lên[3]
4.1.2 Thông tin v ề các ho ạ t độ ng PHCN tuy ế n c ơ s ở
4.1.2.1 Thông tin về các hoạt động PHCN
Theo bảng 3.2, hiện tại chưa có trạm y tế nào tại tuyến xã có bộ phận phục hồi chức năng (PHCN) hoạt động Tại tuyến huyện, có 5 bệnh viện đã lồng ghép khoa/bộ phận PHCN, chủ yếu với khoa Y học cổ truyền Theo Quyết định 4039/QĐ-BYT ngày 06/10/2014 của Bộ Y tế, mục tiêu đến năm 2020 là 90% bệnh viện tuyến huyện phải có tổ chức PHCN Điều này có nghĩa là còn 4 bệnh viện tuyến huyện cần thành lập tổ chức PHCN, bao gồm bác sĩ hoặc y sĩ và kỹ thuật viên được đào tạo về chuyên ngành PHCN, cùng với các chức danh chuyên môn theo quy định tại Thông tư số 46.
Theo bảng 3.3, chỉ có 2 bệnh viện tuyến huyện (22,2%) tham gia hoặc chỉ đạo công tác phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng (PHCN DVCĐ) Trong khi đó, 100% trạm y tế xã tham gia chương trình PHCN DVCĐ và hơn 99% trạm y tế có hoạt động chỉ đạo, hướng dẫn cán bộ y tế thôn bản thực hiện công tác này Nguyên nhân có thể do tình trạng thiếu hoặc chưa có nhân lực PHCN tại các bệnh viện tuyến huyện Tại tỉnh có bệnh viện PHCN, Sở Y tế đã giao nhiệm vụ triển khai chương trình PHCN DVCĐ từ tỉnh xuống các trung tâm y tế huyện/thành phố và các trạm y tế, với mỗi trung tâm y tế và trạm y tế được phân công một cán bộ phụ trách chương trình.
Theo kết quả nghiên cứu ở bảng 3.4, biểu đồ 1, biểu đồ 2 thấy: có tới 55,6%
BV tuyến huyện và 17% TYT xã không nhận được hỗ trợ từ bất kỳ nguồn nào Hầu hết các tuyến huyện chỉ nhận hỗ trợ về trang thiết bị y tế (44,4%), thường từ 1-2 nguồn cung cấp Trong khi đó, các TYT xã chủ yếu nhận hỗ trợ về đào tạo cán bộ (68,8%) và phẫu thuật miễn phí cho người khuyết tật (48,9%), cũng thường đến từ 1-2 nguồn cung cấp.
Từ năm 2010 đến 2015, nhiều trạm y tế (TYT) mới đã được xây dựng nhờ vào các nguồn vốn như Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, hỗ trợ từ doanh nghiệp trong nước, tài trợ từ các nước EU và các nguồn đầu tư phát triển khác từ các huyện, thành phố.
HUPH có thể được sửa chữa và nâng cấp để đạt tiêu chuẩn chất lượng y tế xã Trong những năm gần đây, hỗ trợ phẫu thuật miễn phí cho người khuyết tật thường được cung cấp từ các tổ chức phi chính phủ như Hội Chữ Thập Xanh Thụy Sĩ và tổ chức SAP của cựu chiến binh Mỹ, thông qua sự kết nối của Bệnh viện Phục hồi Chức năng Hương Sen và Quỹ Bảo trợ trẻ em tỉnh.
4.1.2.2 Tình hình KCB trong năm 2015 của các BV tuyến huyện và TYT xã
Theo bảng 3.6, công suất sử dụng giường bệnh tại các bệnh viện tuyến huyện không đồng đều, với một số bệnh viện chỉ đạt 67%, gây lãng phí nguồn lực và hiệu quả hoạt động chưa cao Ngược lại, có bệnh viện đạt công suất lên tới 208%, dẫn đến tình trạng quá tải nghiêm trọng.
Tại tuyến xã, tình hình KCB của các xã cũng không đều nhau Điều này có thể do dân số ở các vùng là không đều nhau.
Thực trạng thực hiện kỹ thuật PHCN theo phân tuyến chuyên môn kỹ thuật tại các cơ sở KB,CB tuyến huyện và tuyến xã trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang
kỹ thuật tại các cơ sở KB,CB tuyến huyện và tuyến xã trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang
Theo bảng 3.7, 3.8, 3.9 và phụ lục 8, không có bệnh viện (BV) tuyến huyện và trạm y tế (TYT) xã nào thực hiện đầy đủ tất cả các kỹ thuật theo quy định tại Thông tư số 43 Cụ thể, 22,2% BV tuyến huyện và 17,0% TYT xã chưa thực hiện bất kỳ kỹ thuật phục hồi chức năng (PHCN) nào Chưa có BV tuyến huyện nào thực hiện kỹ thuật vượt tuyến, trong khi 22% TYT có thể thực hiện ít nhất 1 kỹ thuật vượt tuyến Kỹ thuật được áp dụng nhiều nhất ở cả hai tuyến là nhóm kỹ thuật vận động thể lực (nhóm 2), trong khi nhóm kỹ thuật dụng cụ chỉnh hình và trợ giúp (nhóm 6) được áp dụng ít nhất Trung bình, số kỹ thuật có thể thực hiện tại tuyến huyện ít hơn so với tuyến xã, nhưng số kỹ thuật được thực hiện thường xuyên lại nhiều hơn ở tuyến xã Các kỹ thuật thực hiện tại tuyến xã chủ yếu là những kỹ thuật được hướng dẫn trong chương trình PHCN DVCĐ, và có sự khác biệt giữa hai tuyến về số lượng kỹ thuật có thể thực hiện và thực hiện thường xuyên.
Thực hiện kỹ thuật Vật lý trị liệu (nhóm 1)
Nhóm BV tuyến huyện có khả năng thực hiện nhiều kỹ thuật PHCN, đạt 77,8% Theo Thông tư số 43, tuyến huyện được quy định nhiều kỹ thuật cao hơn, với số lượng gần gấp 3 lần so với tuyến xã Để thực hiện các kỹ thuật này, cần đầu tư vào nhiều loại TTB mới, trong đó tuyến huyện cần 11 loại TTB (34,4% tổng số TTB PHCN) để thực hiện 19 kỹ thuật VLTL (14,5% trong tổng số 131 kỹ thuật) Trong khi đó, tuyến xã chỉ cần 4 loại TTB (17,4% tổng số TTB PHCN) cho 7 kỹ thuật VLTL (6,4% trong tổng số 109 kỹ thuật) Các kỹ thuật VLTL phổ biến tại tuyến huyện bao gồm điều trị bằng tia Hồng ngoại, siêu âm điều trị và điều trị bằng điện xung, nhờ vào sự lồng ghép hoạt động với khoa Y học cổ truyền hoặc khoa nội TTB cần thiết cho các kỹ thuật này được quy định trong các văn bản của Bộ Y tế về danh mục TTB thiết yếu cho BV tuyến huyện khi thành lập khoa Y học cổ truyền.
Kỹ thuật điều trị bằng tia hồng ngoại, nhiệt nóng và nhiệt lạnh là những phương pháp phổ biến trong vật lý trị liệu (VLTL) được thực hiện tại các trạm y tế (TYT) Các thiết bị (TTB) cần thiết cho những kỹ thuật này là những thiết bị thiết yếu theo quy định của Bộ Y tế, nhằm đảm bảo thực hiện các kỹ thuật điều trị chung.
Bộ Y tế cần ban hành quy định cụ thể về chủng loại và số lượng thiết bị phục hồi chức năng (TTB PHCN) cho từng tuyến, nhằm giúp các tuyến có cơ sở để đầu tư và triển khai các kỹ thuật phục hồi chức năng hiệu quả.
Thực hiện kỹ thuật Vận động trị liệu (nhóm 2)
Nhóm kỹ thuật này có khả năng thực hiện cao tại các TYT xã, với tỷ lệ đạt 80,1%, bao gồm cả các kỹ thuật vượt tuyến (20,6% số TYT) Đây cũng là nhóm có số lượng kỹ thuật thực hiện trung bình cao nhất ở cả hai tuyến Nguyên nhân có thể là do các kỹ thuật trong nhóm VĐTL chủ yếu được thực hiện bằng tay của cán bộ PHCN, không yêu cầu đầu tư nhiều vào thiết bị Tuy nhiên, các bệnh viện tuyến huyện cũng
HUPH hiện chỉ thực hiện trung bình 8,2 kỹ thuật, trong khi số kỹ thuật được thực hiện thường xuyên chỉ đạt 4,0, so với yêu cầu 57 kỹ thuật theo phân tuyến.
Tại tuyến xã, các kỹ thuật như tập đi với nạng, thanh song song, gậy và khung tập đi được thực hiện phổ biến nhất trong nhóm kỹ thuật vận động thể lực Kỹ thuật xoa bóp toàn thân là kỹ thuật vượt tuyến có tỷ lệ thực hiện cao nhất (20,6%) trong nhóm này Những kỹ thuật này cũng là những phương pháp phục hồi chức năng (PHCN) được áp dụng nhiều nhất Nguyên nhân có thể do BV PHCN Hương Sen đã tổ chức tập huấn cho cán bộ phụ trách PHCN trong nhiều năm qua, giúp họ hướng dẫn người khuyết tật thực hiện PHCN đúng cách Chương trình PHCN DVCĐ đã được triển khai tại tỉnh Tuyên Quang từ năm trước.
Năm 2003, BV PHCN Hương Sen triển khai các nội dung theo Quyết định số 370/2002/QĐ-BYT của Bộ Y tế về “Chuẩn quốc gia y tế xã giai đoạn 2001-2010”, hiện nay thực hiện theo Quyết định số 4667/2014/QĐ-BYT về Bộ Tiêu chí quốc gia y tế xã đến năm 2020 Chương trình PHCN DVCĐ quy định các TYT xã phải có bộ dụng cụ trợ giúp mẫu và quản lý NKT tại cộng đồng từ 75% trở lên, đồng thời hướng dẫn PHCN cho từ 15% NKT có nhu cầu Các TYT xã lựa chọn NKT để hướng dẫn và PHCN tại nhà, với đánh giá theo 23 nhu cầu hàng tháng và báo cáo về BV PHCN Hương Sen hàng quý Mặc dù các TYT xã có thể thực hiện trung bình 12,2 kỹ thuật, chỉ có 1,5 kỹ thuật được thực hiện thường xuyên.
BV PHCN Hương Sen đã tổ chức nhiều khóa tập huấn cho các cán bộ phụ trách PHCN trong nhiều năm qua, cung cấp hướng dẫn kỹ thuật cần thiết Tuy nhiên, việc thực hiện vẫn còn hạn chế.
HUPH đạt 12,2 kỹ thuật trong số 50 kỹ thuật quy định, tương đương 24,4% tổng số kỹ thuật của nhóm Điều này cho thấy cần tăng cường công tác đào tạo, tập huấn và bồi dưỡng kiến thức về phục hồi chức năng (PHCN) cho cán bộ phụ trách tại trạm y tế (TYT) Ngoài ra, cũng cần có quy định về trang thiết bị PHCN cho TYT, tương tự như trong phân tích nhóm kỹ thuật vật lý trị liệu (VLTL).
Kỹ thuật Hoạt động trị liệu (nhóm 3) cho thấy cả hai tuyến đều thực hiện trung bình từ 1,8 đến 1,9 kỹ thuật, đạt 15% so với quy định Các kỹ thuật này chủ yếu liên quan đến thiết bị trợ giúp (TTB) như xe lăn, một thiết bị bắt buộc tại một số khoa của bệnh viện tuyến huyện, bao gồm khoa nội Nhóm này tập trung vào việc hướng dẫn người khuyết tật (NKT) thực hiện các chức năng sinh hoạt hàng ngày như ăn uống, tắm rửa, vệ sinh, và vui chơi, với sự hỗ trợ từ các dụng cụ thích nghi Đặc biệt, các trạm y tế xã thực hiện nhiều hơn so với tuyến huyện, nhờ vào việc được tập huấn từ Bệnh viện Phục hồi Chức năng Hương Sen trong chương trình phục hồi chức năng DVCĐ, giúp NKT hòa nhập hoặc tái hòa nhập cộng đồng.
Thực hiện kỹ thuật Ngôn ngữ trị liệu (nhóm 4)
Tại tuyến huyện, chưa có bệnh viện nào thực hiện được các kỹ thuật phục hồi chức năng Ở tuyến xã, 19,2% trạm y tế có khả năng thực hiện trung bình 0,9 kỹ thuật, chủ yếu là hướng dẫn bệnh nhân tập nói, phát âm, nhai và nuốt Những kỹ thuật này đã được Bệnh viện Phục hồi Chức năng Hương Sen tập huấn và hướng dẫn cho cán bộ phụ trách phục hồi chức năng trong chương trình phục hồi chức năng DVCĐ, nhằm hỗ trợ người khuyết tật có nhu cầu phục hồi chức năng tại cộng đồng.
Thực hiện kỹ thuật thăm dò, lượng giá, chẩn đoán và điều trị PHCN (nhóm 5)
Tại tuyến xã, các kỹ thuật đánh giá chức năng của người khuyết tật (NKT) được thực hiện nhiều hơn so với tuyến huyện Điều này có thể do Thông tư liên tịch số 37/2012/TTLT-BLĐTBXH-BYT-BTC-BGDĐT quy định rằng Hội đồng xác định mức độ khuyết tật tại xã, phường, thị trấn phải có sự tham gia của cán bộ trạm y tế xã (trạm trưởng) để cung cấp thông tin chuyên môn y tế liên quan.
NKT cần được Hội đồng xác định dạng và mức độ khuyết tật để nhận các trợ cấp theo quy định Do đó, các Trạm Y tế (TYT) phải thực hiện kỹ thuật đánh giá chức năng cho NKT, nhằm cung cấp thông tin cần thiết cho Hội đồng xác định mức độ khuyết tật tại địa phương.
Thực hiện kỹ thuật nhóm Dụng cụ chỉnh hình và trợ giúp (nhóm 6)
Các kỹ thuật trong nhóm này tập trung vào việc hướng dẫn bệnh nhân sử dụng và bảo quản dụng cụ chỉnh hình và trợ giúp như nẹp, áo nẹp, và chân tay giả, không phải là kỹ thuật sản xuất Tuyến huyện hầu như chưa triển khai các kỹ thuật này, trong khi 9,2% trạm y tế thực hiện trung bình 0,3 kỹ thuật Bệnh viện PHCN Hương Sen đã hướng dẫn các kỹ thuật này cho tuyến xã trong các buổi tập huấn về PHCN DVCĐ Những xã đã thực hiện có thể có bệnh nhân đã được điều trị tại tuyến tỉnh hoặc trung ương và nhận dụng cụ chỉnh hình, sau đó trở về cộng đồng và được cán bộ phụ trách PHCN hướng dẫn.
Việc triển khai quy định của Bộ Y tế về Phân tuyến kỹ thuật PHCN tại tuyến huyện và xã trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang
4.3.1 T ổ ch ứ c tri ể n khai các k ỹ thu ậ t PHCN theo phân tuy ế n
Bài viết thảo luận về việc thực hiện quy định của Bộ Y tế liên quan đến phân tuyến kỹ thuật phục hồi chức năng (PHCN) tại các tuyến huyện và xã ở tỉnh Tuyên Quang Qua kết quả nghiên cứu, phỏng vấn định tính và thực tế, bài viết chỉ ra những vấn đề và thách thức trong việc triển khai quy định này.
Ngay sau khi Bộ Y tế ban hành Thông tư số 43 về phân tuyến kỹ thuật, Sở Y tế đã chỉ đạo các đơn vị triển khai thực hiện từ năm 2014 Các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã chú trọng đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị phục hồi chức năng, đào tạo nhân lực và thành lập các khoa/bộ phận phục hồi chức năng tại 5/9 bệnh viện tuyến huyện.
Trong số 5 bệnh viện tuyến huyện có khoa/bộ phận phục hồi chức năng (PHCN), 80% đã trang bị đầy đủ các phòng chức năng theo quy định tại Thông tư số 46, trong khi 20% còn thiếu một trong hai phòng chức năng Đáng chú ý, 80% bệnh viện có bộ phận PHCN còn bổ sung thêm phòng chức năng để thực hiện hoạt động trị liệu Ba bệnh viện tuyến huyện đã được đầu tư nâng cấp và mở rộng Tại tuyến xã, từ năm 2012 đến tháng 3/2016, có 48 trạm y tế được xây dựng mới và 34 trạm được cải tạo nâng cấp, nhằm đảm bảo cơ sở vật chất thực hiện tiêu chí quốc gia về y tế Những cải tiến này sẽ nâng cao chất lượng dịch vụ kỹ thuật tại trạm y tế.
Trong hai năm qua, nhiều bệnh viện tuyến huyện đã chú trọng đầu tư mua sắm thiết bị phục hồi chức năng (PHCN) như máy điện xung, máy siêu âm, đèn hồng ngoại, đèn tử ngoại, dụng cụ Paraphin và máy kéo giãn cột sống Tại tuyến xã, một số trạm y tế cũng đã thực hiện đầu tư tương tự để nâng cao chất lượng dịch vụ PHCN.
HUPH đã bổ sung một số thiết bị y tế như đèn hồng ngoại, túi chườm nhiệt nóng và lạnh, cùng với các thiết bị vận động thể lực như thanh song song, khung tập đi, nạng và thang gắn tường Những thiết bị này nhằm hỗ trợ thực hiện các kỹ thuật phục hồi chức năng theo phân tuyến, chi tiết được trình bày trong phụ lục 9.
Về nhân lực phục hồi chức năng (PHCN) tại các bệnh viện tuyến huyện, một số bệnh viện đã có bác sĩ chuyên khoa và kỹ thuật viên PHCN, trong khi một số khác chỉ có y sĩ hoặc điều dưỡng được đào tạo bổ túc về PHCN, và có những bệnh viện chưa có nhân lực nào được đào tạo về lĩnh vực này Tuy nhiên, qua phỏng vấn tại hai bệnh viện tuyến huyện, cho thấy các bệnh viện này đã có kế hoạch cử cán bộ đi học chuyên ngành PHCN Tại tuyến xã, đầu tư đào tạo nhân lực PHCN để thực hiện phân tuyến kỹ thuật vẫn chưa rõ ràng, hiện chỉ có 9 trạm y tế (6,4%) có cán bộ phụ trách PHCN có chứng chỉ/chứng nhận đào tạo, trong khi 93,6% còn lại chỉ được tập huấn, bồi dưỡng theo chương trình PHCN DVCĐ.
Hiện nay, các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trên địa bàn tỉnh đã được phê duyệt danh mục kỹ thuật theo Thông tư số 43 của Bộ Y tế Tuy nhiên, do Thông tư này mới được ban hành và áp dụng trong vòng 2 năm, các cơ sở vẫn đang trong quá trình đầu tư và phát triển nguồn lực để thực hiện.
4.3.2 Theo dõi, giám sát h ỗ tr ợ chuyên môn tuy ế n d ướ i th ự c hi ệ n phân tuy ế n k ỹ thu ậ t PHCN
Qua phân tích kết quả định tính thấy rằng:
Sở Y tế đã tiến hành theo dõi và giám sát các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong việc triển khai phân tuyến kỹ thuật Công tác kiểm tra và giám sát được thực hiện một cách đột xuất và định kỳ, đồng thời thông qua việc giám định chi phí của cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh.
Các tuyến cũng đã thực hiện việc theo dõi, giám sát hỗ trợ chuyên môn tuyến dưới thực hiện phân tuyến kỹ thuật PHCN
Theo Quy chế bệnh viện năm 1997, các bệnh viện tuyến trên có trách nhiệm chỉ đạo kỹ thuật cho các bệnh viện tuyến dưới Thông tư số 46/2013/TT-BYT ngày 31/12/2013 quy định rằng bệnh viện phục hồi chức năng tuyến tỉnh phải thực hiện công tác chỉ đạo tuyến dưới nhằm phát triển kỹ thuật và nâng cao chất lượng phục hồi chức năng Ngoài ra, Quyết định số 4039/QĐ-BYT ngày 06/10/2014 cũng nhấn mạnh các quy định liên quan đến nhiệm vụ này.
Bệnh viện PHCN tuyến tỉnh có nhiệm vụ thực hiện công tác phục hồi chức năng đa dạng tại địa phương, đồng thời tăng cường chỉ đạo tuyến cho các bệnh viện tuyến trên Họ cũng chịu trách nhiệm chuyển giao kỹ thuật phục hồi chức năng chuyên sâu và đào tạo cán bộ cho các cơ sở y tế tuyến dưới.
Bệnh viện PHCN Hương Sen, được phê duyệt theo Thông tư số 46/2013/TT-BYT, đã thực hiện theo dõi và hỗ trợ chuyên môn cho các tuyến dưới trong việc phân tuyến kỹ thuật PHCN Trong hơn 10 năm qua, bệnh viện đã hướng dẫn mạng lưới y tế xã thực hiện chương trình PHCN dựa vào cộng đồng, thường xuyên tổ chức tập huấn cho cán bộ phụ trách PHCN về phát hiện sớm khuyết tật và can thiệp sớm Bệnh viện cũng tạo điều kiện cho cán bộ các bệnh viện tuyến huyện tham gia học tập về PHCN, nhưng vẫn gặp khó khăn trong việc cử cán bộ xuống các khoa/bộ phận PHCN do thiếu nhân lực, đặc biệt là bác sĩ và kỹ thuật viên có trình độ đại học Từ cuối năm 2015, bệnh viện đã được cấp mã số đào tạo về PHCN và sẽ tổ chức các lớp đào tạo liên tục cho tuyến dưới theo quy định của Bộ Y tế.
Trong nghiên cứu này, chỉ có 2 bệnh viện tuyến huyện thực hiện chỉ đạo tuyến dưới về phân tuyến kỹ thuật phục hồi chức năng (PHCN), bao gồm việc hướng dẫn cán bộ trạm y tế (TYT) học tại khoa một số dịch vụ kỹ thuật PHCN cho người khuyết tật (NKT) tại cộng đồng Tuy nhiên, chưa có cán bộ nào được cử xuống các TYT để theo dõi và giám sát việc thực hiện kỹ thuật PHCN Ba bệnh viện tuyến huyện còn lại có khoa/bộ phận PHCN nhưng cũng chưa thực hiện chỉ đạo tuyến dưới về phân tuyến kỹ thuật PHCN.
Việc thiếu cán bộ chuyên môn về phục hồi chức năng (PHCN) tại các tuyến dưới để theo dõi và giám sát chuyển giao kỹ thuật là một nguyên nhân chính khiến các cơ sở chưa thực hiện được nhiều kỹ thuật PHCN Để thực hiện phân tuyến kỹ thuật PHCN hiệu quả, cần chú trọng đến nguồn nhân lực, cơ sở vật chất (CSVC) và trang thiết bị (TTB) PHCN Các tuyến dưới cần có đề xuất với tuyến trên và chuẩn bị đầy đủ về CSVC, TTB và nhân lực để tiếp nhận kỹ thuật Đồng thời, tuyến trên cũng cần có nhân lực để bố trí cho việc này Do đó, các tuyến cần tăng cường công tác theo dõi, giám sát và chỉ đạo trong việc thực hiện phân tuyến kỹ thuật PHCN.
4.3.3 K ế ho ạ ch phát tri ể n các d ị ch v ụ k ỹ thu ậ t PHCN trong phân tuy ế n t ạ i các tuy ế n
Theo bảng 3.5, chỉ có 55,6% bệnh viện tuyến huyện có kế hoạch phát triển liên quan đến phục hồi chức năng (PHCN), trong khi gần 83% trạm y tế (TYT) xã có kế hoạch này Đặc biệt, 78% TYT cũng xây dựng kế hoạch hàng năm Không có bệnh viện và TYT nào xây dựng đủ cả ba loại kế hoạch Tỷ lệ TYT xây dựng kế hoạch phát triển liên quan đến PHCN cao hơn so với bệnh viện tuyến huyện có thể do yêu cầu đạt hoặc duy trì Tiêu chí quốc gia y tế xã, trong đó nội dung về PHCN là bắt buộc Do đó, khi lập kế hoạch hoạt động, TYT phải chú trọng đến các yếu tố liên quan đến PHCN.
Theo quy chế bệnh viện, các bệnh viện cần xây dựng kế hoạch dài hạn và hàng năm dựa trên nhiệm vụ của mình, bao gồm cả kế hoạch phát triển kỹ thuật để trình cấp trên phê duyệt Tại trạm y tế, theo Thông tư số 33 của Bộ Y tế, trạm y tế cũng phải lập kế hoạch triển khai các hoạt động chuyên môn về chăm sóc sức khỏe ban đầu và trình Giám đốc Trung tâm Y tế huyện phê duyệt Tuy nhiên, hiện có tới 44,4% bệnh viện tuyến huyện và 17% trạm y tế chưa xây dựng kế hoạch phát triển liên quan đến phục hồi chức năng, điều này ảnh hưởng đến đầu tư và nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị, và nhân lực để phát triển các kỹ thuật phục hồi chức năng tại các tuyến.
Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện và triển khai quy định phân tuyến kỹ thuật phục hồi chức năng tại tuyến huyện và tuyến xã của tỉnh Tuyên Quang
Bài viết bàn luận về các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện và triển khai quy định phân tuyến kỹ thuật PHCN tại tuyến huyện và xã tỉnh Tuyên Quang, thông qua phân tích kết quả nghiên cứu và phỏng vấn sâu cán bộ y tế Kết quả cho thấy các yếu tố quan trọng như điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân lực PHCN và các yếu tố thuận lợi có ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện quy định này.
CSVC của các cơ sở cung cấp dịch vụ kỹ thuật phục hồi chức năng (PHCN) trong tỉnh chưa đáp ứng yêu cầu phân tuyến kỹ thuật PHCN Hiện tại, đã có 5 cơ sở được xác định.
BV tuyến huyện đã thành lập khoa/bộ phận PHCN hoạt động lồng ghép với các khoa khác Tuy nhiên, cơ sở vật chất tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh còn chật hẹp và xuống cấp, nhiều cơ sở được xây dựng từ lâu, không đồng bộ và không phù hợp cho việc điều trị PHCN cho người khuyết tật Mặc dù một số cơ sở khám bệnh, chữa bệnh mới được đầu tư và nâng cấp, nhưng vẫn chỉ đáp ứng một phần nhu cầu phân tuyến kỹ thuật PHCN, với các phòng vẫn còn chật chội và thiếu không gian để triển khai thêm dịch vụ kỹ thuật PHCN mới.
Theo bảng 3.11, hiện có 4 bệnh viện chưa có khoa/bộ phận phục hồi chức năng (PHCN) theo quy định Trong số 5 bệnh viện tuyến huyện có khoa/bộ phận PHCN, 80% đã trang bị đầy đủ các phòng chức năng cần thiết, trong khi 20% còn thiếu một trong hai phòng: Hành chính và khu điều trị nội trú Ngoài ra, 80% các bệnh viện còn có thêm phòng chức năng để triển khai các kỹ thuật về hoạt động trị liệu Theo Thông tư số 46/2013/TT-BYT của Bộ Y tế, các khoa PHCN phải có đầy đủ các bộ phận như Hành chính, Vật lý trị liệu và Điều trị nội trú, trong khi các bộ phận như Hoạt động trị liệu, Ngôn ngữ trị liệu và Tâm lý trị liệu có thể được bổ sung tùy theo quy mô và yêu cầu hoạt động PHCN.
Mặc dù Thông tư số 46 quy định rằng các bệnh viện tuyến huyện phải có khoa hoặc bộ phận phục hồi chức năng với đầy đủ các phòng chức năng, nhưng thực tế vẫn còn nhiều vấn đề cần khắc phục.
HUPH cho biết rằng các khoa và bộ phận phục hồi chức năng (PHCN) tại các bệnh viện thường hoạt động lồng ghép với các khoa khác, đặc biệt là Khoa Y học cổ truyền Điều này dẫn đến việc triển khai các kỹ thuật PHCN gặp nhiều hạn chế, trong khi PHCN lại là một lĩnh vực còn mới mẻ.
Để triển khai hiệu quả việc phân tuyến kỹ thuật PHCN tại tuyến huyện, cần thành lập khoa hoặc bộ phận PHCN với đầy đủ các phòng chức năng theo quy định tại Thông tư số 46.
Theo báo cáo của Sở Y tế Tuyên Quang, tính đến tháng 3/2016, toàn tỉnh có 48 trạm y tế xã (34%) được đầu tư xây mới đạt Tiêu chí quốc gia y tế xã Tuy nhiên, 93 trạm y tế (66%) vẫn chưa đạt tiêu chí mới về y tế, trong đó có 34 trạm đã được sửa chữa để duy trì tiêu chí Đáng chú ý, 59 trạm y tế xã đã xuống cấp nghiêm trọng, với một số trạm vẫn sử dụng nhà gỗ mục nát làm nơi làm việc, và 01 trạm chưa có trụ sở riêng.
Theo nghiên cứu, chưa có trạm y tế nào (TYT) có bộ phận phục hồi chức năng (PHCN) hoạt động, ngay cả những TYT mới được đầu tư xây dựng Sự thiếu hụt cơ sở vật chất cho bộ phận PHCN sẽ hạn chế khả năng triển khai các kỹ thuật phục hồi chức năng tại tuyến xã.
Mặc dù cơ sở vật chất (CSVC) hiện tại đang chật chội và xuống cấp, thiếu phòng để triển khai các dịch vụ kỹ thuật phục hồi chức năng (PHCN), nhưng việc đầu tư, nâng cấp, sửa chữa hoặc xây dựng CSVC mới lại gặp khó khăn do thiếu kinh phí Là một tỉnh nghèo, ngân sách chủ yếu phụ thuộc vào trung ương, nên việc dành ngân sách để đầu tư vào CSVC và mua sắm thiết bị PHCN cho các đơn vị y tế rất khó khăn.
4.4.2 Trang thi ế t b ị v ề PHCN c ủ a tuy ế n huy ệ n và tuy ế n xã
Hiện tại, Bộ Y tế chưa ban hành văn bản cụ thể nào quy định về trang thiết bị phục hồi chức năng (TTB PHCN) cho các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tại các tuyến Thông tư số 43 chỉ đề cập đến việc phân tuyến chuyên môn kỹ thuật mà không quy định số lượng và chủng loại TTB cần thiết cho các cơ sở này Nghiên cứu này xây dựng danh mục TTB PHCN dựa trên các danh mục kỹ thuật theo phân tuyến kỹ thuật của Thông tư số 43.
Theo bảng 3.12, 3.13 và phụ lục 9, không có bệnh viện tuyến huyện và trạm y tế nào đáp ứng đầy đủ các thiết bị phục hồi chức năng (TTB PHCN) theo quy định trong nghiên cứu Đáng chú ý, hơn 22% bệnh viện và 14,9% trạm y tế vẫn chưa có bất kỳ loại TTB PHCN nào.
Nhóm TTB VLTL có nhiều bệnh viện tuyến huyện nhất, chiếm 77,8% Theo quy định, tuyến huyện cần có số loại TTB gấp gần 3 lần so với tuyến xã để thực hiện các kỹ thuật tương ứng Đèn hồng ngoại là loại TTB phổ biến nhất (77,8%) và có số lượng lớn nhất trong tổng số TTB về VLTL, tiếp theo là máy siêu âm điều trị, máy điện xung, điện phân, và túi chườm nhiệt nóng lạnh Tuy nhiên, các TTB cần thiết cho kỹ thuật PHCN trong nhóm VLTL tại tuyến huyện chủ yếu là những thiết bị thiết yếu của khoa Y học cổ truyền theo quy định của Bộ Y tế Đèn hồng ngoại và túi chườm nhiệt nóng lạnh cũng là hai loại TTB VLTL phổ biến tại các trạm y tế, được quy định phải có để thực hiện các kỹ thuật chung và Y học cổ truyền.
Y học cổ truyền và kỹ thuật thực hiện các thiết bị y tế (TTB) được quy định trong phân tuyến kỹ thuật của chuyên ngành phục hồi chức năng (PHCN) đang có sự chồng chéo và thiếu rõ ràng Điều này có thể dẫn đến khó khăn trong việc thanh toán bảo hiểm y tế (BHYT) tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, do liên quan đến chứng chỉ hành nghề của Y học cổ truyền và PHCN.
Nhóm TTB VĐTL tại tuyến huyện và xã có sự đa dạng với trung bình 3,8 loại tại tuyến huyện và 3,1 loại tại tuyến xã Các loại TTB VĐTL phổ biến bao gồm thanh song song, khung tập đi và nạng (nạng nách, nạng khuỷu) Những TTB này, mặc dù đơn giản, lại rất cần thiết cho người khuyết tật trong quá trình tập luyện Đầu tư cho nhóm TTB này không tốn kém, giúp tuyến huyện dễ dàng bổ sung hơn so với nhóm TTB VLTL Tại tuyến xã, các TTYT thường trang bị bộ dụng cụ trợ giúp mẫu để phục vụ nhu cầu của người dân.
HUPH tác PHCN DVCĐ đã được BV PHCN tuyến tỉnh triển khai thực hiện tới các TYT từ trên 10 năm nay[53]
Tính chung các loại TTB PHCN ở các BV tuyến huyện mới chỉ có trung bình