4.4. Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện và triển khai quy định phân tuyến kỹ thuật phục hồi chức năng tại tuyến huyện và tuyến xã của tỉnh Tuyên Quang
4.4.2. Trang thiết bị về PHCN của tuyến huyện và tuyến xã
Hiện tại chưa có văn bản nào của Bộ Y tế quy định cụ thể về TTB PHCN cho các cơ sở KB,CB tại các tuyến. Thông tư số 43 chỉ quy định về phân tuyến chuyên môn kỹ thuật theo tuyến, không quy định về số lượng và chủng loại TTB mà các cơ sở KB,CB phải có để thực hiện các dịch vụ kỹ thuật. Trong nghiên cứu này, danh mục các TTB PHCN được xây dựng dựa trên các danh mục kỹ thuật PHCN theo phân tuyến kỹ thuật của Thông tư số 43[17].
HUPH
Theo bảng 3.12, 3.13 và phụ lục 9 cho thấy: Không có BV tuyến huyện và TYT nào có đầy đủ các TTB PHCN theo quy định được xây dựng trong nghiên cứu này. Trong đó còn tới hơn 22% các BV và 14,9% các TYT chưa có bất kỳ loại TTB PHCN nào.
Nhóm TTB VLTL, là nhóm có nhiều các BV tuyến huyện có TTB nhất (77,8%). Nhóm này quy định tuyến huyện phải có số loại TTB nhiều hơn gấp gần 3 lần so với số loại TTB của tuyến xã để thực hiện các kỹ thuật tương ứng theo phân tuyến. Loại TTB nhóm này mà các BV thường có nhất là Đèn hồng ngoại (77,8%) và có số lượng nhiều nhất trong tổng số các loại TTB về VLTL, tiếp đến là máy siêu âm điều trị, máy điện xung, điện phân, túi chườm nhiệt nóng lạnh. Tuy nhiên, những TTB để thực hiện các kỹ thuật PHCN trong nhóm VLTL này mà tuyến huyện có lại là những loại TTB thiết yếu của khoa Y học cổ truyền cần phải có tại các BV tuyến huyện theo quy định của Bộ Y tế [6], [10],[44]. Đèn hồng ngoại và túi chườm nhiệt nóng, lạnh cũng là 2 loại TTB VLTL mà nhiều TYT có nhất, 2 loại TTB này cũng được quy định phải có tại TYT có bác sỹ để thực hiện các kỹ thuật chung và Y học cổ truyền[7]. Một số TTB được quy định là TTB thiết yếu của khoa Y học cổ truyền nhưng kỹ thuật thực hiện và sử dụng những TTB này lại được quy định trong phân tuyến kỹ thuật của chuyên ngành PHCN. Điều này cho thấy có sự chồng chéo và chưa rõ ràng giữa những quy định về Y học cổ truyền và PHCN, nếu không có sự rõ ràng thì khi thanh toán BHYT ở các cơ sở KB,CB sẽ gặp những khó khăn, vướng mắc vì liên quan đến chứng chỉ hành nghề Y học cổ truyền và PHCN.
Nhóm TTB VĐTL, là nhóm mà tuyến huyện và tuyến xã có nhiều loại TTB nhất. Tuyến huyện trung bình có 3,8 trong tổng số 17 loại, tuyến xã trung bình có 3,1 trong số 15 loại. Loại TTB VĐTL mà 2 tuyến thường có đó là: Thanh song song, khung tập đi, nạng (nạng nách, nạng khuỷu). Thực tế, những TTB ở nhóm này là những TTB đơn giản nhưng lại rất cần thiết đối với NKT để tập luyện và kinh phí để đầu tư không quá lớn, tuyến huyện có thể mua sắm bổ sung những TTB ở nhóm này dễ hơn nhóm TTB VLTL. Tại tuyến xã, những loại TTB VĐTL mà TYT thường có này là Bộ dụng cụ trợ giúp mẫu được các TYT trang bị để phục vụ công
HUPH
tác PHCN DVCĐ đã được BV PHCN tuyến tỉnh triển khai thực hiện tới các TYT từ trên 10 năm nay[53].
Tính chung các loại TTB PHCN ở các BV tuyến huyện mới chỉ có trung bình 8 loại trong số 32 loại TTB PHCN theo tuyến (đạt 25%). Tỷ lệ TTB PHCN trong nghiên cứu này thấp hơn tỷ lệ trung bình của các TTB chung được quy định cho các BV huyện (30-50%, có huyện chỉ đạt 20% so với danh mục của Bộ Y tế) theo báo cáo chung tổng quan ngành y tế năm 2012[15].
Qua bảng 3.14 cho thấy: Tại tuyến huyện, trung bình các TTB PHCN đã được sử dụng từ 3,9 - 4,3 năm, sử dụng lâu nhất là 7 năm. Điều này cũng phù hợp vì 60% các khoa/bộ phận PHCN của các BV cũng mới chỉ thành lập trong khoảng hơn 5 năm nay.
Tuyến xã, tại các xã có TTB trung bình mới có 3,9 loại trong số 23 loại TTB PHCN theo tuyến (đạt 17%). Trung bình các TTB đã được sử dụng từ 4,5- 8,9 năm, có nhiều TTB đã được sử dụng từ khoảng 13 năm nay, đặc biệt là các TTB VLTL và VĐTL đã được sử dụng trong một thời gian dài có thể phải sửa chữa hoặc thay thế, liên quan trực tiếp tới tình hình cung cấp dịch vụ kỹ thuật và chi phí của trạm.
Kết quả này phù hợp với kết quả điều tra, đánh giá hiện trạng về TTB y tế của các TYT thời điểm quý I/2016 của Sở Y tế cho thấy, các TTB y tế của TYT hầu hết đã được trang bị từ lâu, giá trị sử dụng còn lại rất thấp, không đồng bộ và mới đáp ứng được dưới 50% số TTB theo quy định của Bộ Y tế tại Quyết định số 1020/QĐ-BYT ngày 22/3/2004 về việc ban hành sửa đổi danh mục TTB y tế TYT xã có bác sỹ[43], trong Quyết định này không có quy định về TTB PHCN.
Từ các kết quả nghiên cứu cho thấy: TTB PHCN của tuyến huyện và tuyến xã tại tỉnh còn rất nghèo nàn, sơ sài và thiếu rất nhiều TTB của tất cả các nhóm.
Việc thiếu các TTB PHCN này sẽ ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng và việc triển khai các dịch vụ kỹ thuật PHCN theo tuyến dẫn đến hạn chế về năng lực phục vụ bệnh nhân và NKT tại tuyến huyện và tuyến xã. Điều này cho thấy cần phải có sự đầu tư, mua sắm bổ sung các TTB PHCN cho các BV tuyến huyện và TYT xã để đáp ứng việc thực hiện phân tuyến kỹ thuật PHCN tại các tuyến.
HUPH