Về nhân lực PHCN của tuyến huyện và tuyến xã

Một phần của tài liệu Thực trạng thực hiện phân tuyến kỹ thuật phục hồi chức năng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến huyện và tuyến xã trên địa bàn tỉnh tuyên quang (Trang 91 - 94)

4.4. Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện và triển khai quy định phân tuyến kỹ thuật phục hồi chức năng tại tuyến huyện và tuyến xã của tỉnh Tuyên Quang

4.4.3. Về nhân lực PHCN của tuyến huyện và tuyến xã

Theo kết quả nghiên cứu, tại tuyến huyện mặc dù một số BV tuyến huyện đã tích cực cử cán bộ đi đào tạo về PHCN, tuy nhiên tình trạng chung là vẫn thiếu rất nhiều nhân lực về PHCN cả về số lượng và chất lượng.

Theo bảng 3.15 thấy rằng: Vẫn còn tới hơn 40% các BV tuyến huyện chưa có bất kỳ một nhân lực PHCN nào. Trong số 5 BV đã có khoa/bộ phận PHCN, 100% các BV có Y sỹ đã học về PHCN. Có 4 BV có bác sỹ nhưng có 2 BV bác sỹ chưa được đào tạo về PHCN và 1 BV có 01 KTV PHCN. Trong số nhân lực PHCN của tuyến huyện, số lượng đã ít nhưng số chưa được đào tạo về PHCN còn tỷ lệ rất lớn (54%). Điều này phản ánh một thực tế là tuyến huyện còn thiếu rất nhiều nhân lực có trình độ về PHCN. Trong PV định tính, các CBYT đều cho biết tình trạng thiếu nhân lực tại đơn vị mình, thiếu cán bộ để cử đi học về PHCN. Nguyên nhân là do các đơn vị được giao biên chế chưa đủ theo quy định tại Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT/BYT-BNV quy định định mức biên chế của các cơ sở y tế[8]. Các BV phải hợp đồng thêm một số cán bộ làm chuyên môn nhưng việc cử những cán bộ này đi học còn khó khăn do họ chưa yên tâm công tác và thu nhập còn thấp, việc đề nghị cho phép các cơ sở KB,CB hợp đồng thêm cán bộ làm chuyên môn còn khó khăn do phải có sự đồng ý của cấp trên.

Theo quy định tại Thông tư số 46/2013/TT-BYT, để các khoa PHCN thuộc các cơ sở KB,CB thực hiện được chức năng KB,CB và PHCN cho người bệnh, phải có các chức danh chuyên môn phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và phạm vi hoạt động chuyên môn của đơn vị. Các chức danh chuyên môn gồm: Bác sỹ, y sỹ được đào tạo định hướng chuyên khoa PHCN; KTV VLTL, HĐTL được đào tạo chuyên ngành có trình độ trung cấp hoặc điều dưỡng viên có từ trình độ trung cấp được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về PHCN 3 tháng trở lên tại các cơ sở đào tạo do Bộ Y tế quy định, được cấp chứng chỉ hành nghề về PHCN theo quy định[18]. Đây là điều rất thuận lợi để các cơ sở KB,CB cử cán bộ đi đào tạo PHCN về triển khai các dịch vụ kỹ thuật PHCN tại đơn vị. Tuy nhiên do văn bản này và Thông tư số 43 về phân tuyến kỹ thuật cũng mới được ban hành, các cơ sở KB,CB

HUPH

đang trong giai đoạn đầu triển khai thực hiện nên chưa thể đảm bảo nhân lực để triển khai thực hiện phân tuyến kỹ thuật PHCN.

Nhân lực y tế được coi là thành phần quan trọng nhất trong hệ thống y tế, là yếu tố chính bảo đảm hiệu quả và chất lượng dịch vụ y tế. Thiếu nhân lực y tế chắc chắn sẽ làm giảm chất lượng dịch vụ[12]. Việc thiếu nhân lực PHCN là một hạn chế rất lớn cho các BV khi thực hiện triển khai các dịch vụ kỹ thuật PHCN và ảnh hưởng tới chất lượng PHCN cho NKT. Qua đây thấy rằng, việc cần thiết và cấp bách là phải có chế độ thu hút bổ sung nhân lực cho các BV tuyến huyện và phải cử cán bộ đi đào tạo PHCN. Cán bộ chưa được đào tạo về PHCN còn chiếm tỷ lệ rất lớn yêu cầu công tác đào tạo trong thời gian tới của các khoa/bộ phận PHCN của các BV tuyến huyện phải được quan tâm và đẩy mạnh hơn.

Tuy nhiên, vấn đề thu nhập của cán bộ y tế nếu không được đảm bảo thì sẽ khó thu hút được người lao động chất lượng cao tới làm việc tại các BV, đây là vấn đề cấp thiết tại các BV. Nhất là hiện nay các BV đang chuyển dần sang cơ chế tự chủ về tài chính, tự chi trả lương, phụ cấp cho cán bộ theo quy định trong giá viện phí tại Thông tư liên tịch số 37/2015/TTLT-BYT-BTC ngày 29/10/2015 quy định mức giá của các dịch vụ kỹ thuật đã bao gồm chi phí trực tiếp, phụ cấp đặc thù và tiền lương[24].

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng giống như trong Báo cáo của Bộ Y tế tại Hội nghị triển khai công tác PHCN năm 2015, đó là: tuyến huyện, hầu như chưa có bác sỹ chuyên khoa PHCN, một số nơi có bác sỹ được tập huấn cơ bản về PHCN, có KTV vật lý trị liệu[22]. Tương tự như nghiên cứu của Nguyễn Thị Xuân Thủy (2012) về tình hình nhân lực y tế tại bệnh viện tuyến huyện, tỉnh Đăk lăk, giai đoạn 2007-2011, theo đó tồn tại 2 vấn đề lớn về nhân lực bệnh viện huyện đó là tình trạng thiếu hụt nhân lực đặc biệt là các bác sỹ và thu nhập của cán bộ y tế còn thấp[50]. Qua đó cho thấy, lương và thu nhập của người lao động làm việc trong các cơ sở KB,CB đang rất cần được cải thiện. Điều này cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu của Viện Chiến lược và Chính sách y tế (2012) về phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng thu hút và duy trì nhân lực y tế ở khu vực miền núi, đó là:

tình trạng khó thu hút và duy trì cán bộ y tế làm việc ở tuyến y tế cơ sở, đặc biệt ở

HUPH

khu vực khó khăn và một số chuyên khoa, vẫn còn rất nặng nề. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này như thu nhập thấp, chế độ phụ cấp đãi ngộ chưa thỏa đáng...[58].

Tại tuyến xã, theo bảng 3.16 cho thấy: tất cả các TYT đều có tham gia/thực hiện chương trình PHCN DVCĐ và có cán bộ phụ trách công tác PHCN của TYT và làm kiêm nhiệm. 84,4% cán bộ phụ trách về PHCN đã được tham gia tập huấn, bồi dưỡng kiến thức về PHCN ít nhất 1 lần trở lên, còn 15,6% chưa được tham gia tập huấn, bồi dưỡng về PHCN. Điều này đã đạt được theo mục tiêu của Quyết định số 4039/QĐ-BYT ngày 06/10/2014 về Phê duyệt Kế hoạch Quốc gia về phát triển PHCN giai đoạn 2014-2020, đó là 90% số TYT xã có phân công cán bộ y tế phụ trách công tác PHCN, cán bộ này được bồi dưỡng kiến thức cơ bản về PHCN[19].

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng giống như trong Báo cáo của Bộ Y tế tại Hội nghị triển khai công tác PHCN năm 2015, đó là: tại các xã đã triển khai chương trình PHCN DVCĐ có cán bộ y tế phụ trách công tác PHCN và được tập huấn về PHCN DVCĐ[22].

Tại tỉnh, chương trình PHCN DVCĐ đã được triển khai từ năm 2003, BV PHCN tuyến tỉnh làm công tác chỉ đạo tuyến về PHCN hàng năm vẫn thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức về PHCN DVCĐ cho các cán bộ phụ trách PHCN của các TYT. Theo thống kê của BV PHCN Hương Sen, mỗi cán bộ phụ trách PHCN của xã nếu tham gia tập huấn đầy đủ có số lần tập huấn cao nhất là 6 lần[2]. Tuy nhiên, tại một số TYT, cán bộ phụ trách PHCN thường xuyên thay đổi nên vẫn còn tới 15,6% số cán bộ này chưa được tham gia tập huấn, bồi dưỡng về PHCN lần nào và tính trung bình mỗi cán bộ phụ trách công tác PHCN mới chỉ được tập huấn 1,6 lần và hơn 93% chưa có bằng cấp/chứng chỉ về chuyên ngành PHCN. Điều này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện nội dung về PHCN trong Tiêu chí QGYTX và việc triển khai các dịch vụ kỹ thuật PHCN theo phân tuyến tại TYT để đáp ứng nhu cầu PHCN cho NKT tại xã là rất khó khăn.

Hiện nay theo quy định, rất nhiều kỹ thuật PHCN đã được BHYT thanh toán kể cả ở tuyến xã, điều này sẽ góp phần vào việc tăng nguồn thu cho TYT từ nguồn thu BHYT và khuyến khích các TYT triển khai các kỹ thuật PHCN. Tuy nhiên để

HUPH

được thanh toán những kỹ thuật này thì cán bộ thực hiện phải có chứng chỉ chuyên ngành PHCN từ 3 tháng trở lên và phải được cấp chứng chỉ hành nghề về PHCN theo quy định tại Thông tư số 41/2011/TT-BYT ngày 14/11/2011 về Hướng dẫn cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề. Để đạt được điều này thì các TYT phải sắp xếp, bố trí cử cán bộ đi đào tạo về PHCN theo đúng quy định.

Bên cạnh đó, cán bộ phụ trách PHCN thường phải kiêm nhiệm rất nhiều chương trình khác tại trạm, vì vậy sẽ không thể chuyên sâu vào việc phát triển các kỹ thuật PHCN tại trạm được. Đây là tình trạng phổ biến tại y tế cơ sở khi các chương trình y tế được triển khai rất nhiều trong khi số lượng cán bộ y tế có hạn, thu nhập của cán bộ y tế còn thấp.

Để công tác khám, điều trị PHCN và thực hiện các kỹ thuật PHCN tại các TYT thực sự phát triển thì nguồn nhân lực làm công tác PHCN tại TYT không những cần phát triển về mặt số lượng mà về trình độ chuyên môn của các cán bộ phụ trách PHCN cũng là một vấn đề lớn cần được quan tâm. Bên cạnh đó, việc đầu tư ban đầu về CSVC, dụng cụ, TTB PHCN đòi hỏi nguồn kinh phí khá lớn trong khi kinh phí chi thường xuyên của các TYT rất hạn hẹp. Đây cũng là một trong những lý do khiến cho dịch vụ kỹ thuật PHCN tại tuyến xã chưa phát triển.

Một phần của tài liệu Thực trạng thực hiện phân tuyến kỹ thuật phục hồi chức năng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến huyện và tuyến xã trên địa bàn tỉnh tuyên quang (Trang 91 - 94)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(158 trang)