PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tƣợng nghiên cứu
Là người cao tuổi (≥ 60 tuổi) [17] sống tại phường Láng Hạ, quận Đống Đa, Hà Nội
Chúng tôi chọn đối tượng này vì nghiên cứu cho thấy tỷ lệ loãng xương cao nhất là 42,85% ở độ tuổi 60 – 69, 66,6% ở độ tuổi 70 – 79, và đạt 100% ở độ tuổi từ 80 trở lên.
- Có tên trong danh sách Hội người cao tuổi của phường Láng Hạ và có mặt tại phường Láng Hạ vào thời điểm nghiên cứu
- Không mắc các bệnh rối loạn chuyển hóa xương: đái tháo đường, suy thận, các bệnh tuyến giáp, cường cận giáp, viêm khớp dạng thấp
- Không sử dụng corticoid toàn thân kéo dài trên 3 tháng
- Đồng ý tham gia nghiên cứu
- Không còn nguyên vẹn 2 chân
- Không có khả năng trả lời các câu hỏi: mắc bệnh tâm thần, không còn minh mẫn, không có khả năng giao tiếp
- Từ chối tham gia nghiên cứu.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: Nghiên cứu đƣợc tiến hành từ tháng 11 năm 2010 đến tháng 8 năm 2011
- Địa điểm: Phường Láng Hạ, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
Thiết kế nghiên cứu
- Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích
- Áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng.
Phương pháp chọn mẫu
4.1 Cỡ mẫu Áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho nghiên cứu mô tả tỷ lệ mắc một quần thể:
HUPH n Trong đó: n: Số lƣợng ĐTNC tối thiểu cần điều tra
Z 1 – α/2 : Hệ số tin cậy, với khoảng tin cậy 95% thì Z 1 - α/2 = 1,96 α: mức ý nghĩa, α = 0,05 p: Tỷ lệ người cao tuổi bị loãng xương, p = 0,46 [20]
1 – p: Tỷ lệ người cao tuổi không bị loãng xương, 1 – p = 0,54 d: Độ chính xác tuyệt đối, lấy d là 7%, d = 0,07
Thay các con số trên vào công thức trên, ta tính đƣợc n = 195
Dự tính, 10% ĐTNC từ chối tham gia nghiên cứu, loại và làm tròn, số đối tƣợng tối thiểu cần tiến hành nghiên cứu là 215 người
Mẫu được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống, và được tiến hành theo các bước như sau:
Lập danh sách 2.970 NCT của phường Láng Hạ và gửi phiếu sàng lọc về các Ban chấp hành Chi hội NCT của các tổ dân phố Ban chấp hành Chi hội sẽ phỏng vấn các Hội viên trong tổ để hoàn thành phiếu Sau khi hoàn thiện, phiếu sẽ được tập hợp và gửi lại cho nghiên cứu viên để thiết lập khung mẫu.
Sau khi sàng lọc, số NCT đủ tiêu chuẩn nghiên cứu là 2.018 người
Bước 2: Thiết lập khung mẫu
Lập khung mẫu gồm danh sách 2.018 người cao tuổi đã được sàng lọc
Tính khoảng cách mẫu: khoảng cách mẫu k đƣợc tính bằng công thức: k = = ≈ 9
Trong đó: N: Số NCT đủ tiêu chuẩn nghiên cứu, N = 2.018 n: Số người tối thiểu cần nghiên cứu, n = 215
Thay vào công thức, ta tính đƣợc khoảng cách mẫu k xấp xỉ bằng 9
Người đầu tiên được chọn ngẫu nhiên trong khoảng từ 1 đến 9 Người thứ hai sẽ có số thứ tự bằng tổng số thứ tự của người đầu tiên.
9 Người thứ ba là người có số thứ tự của người thứ hai cộng 9 Cứ lấy như vây cho đến khi đủ cỡ mẫu là 215 người.
Tổ chức thu thập số liệu
5.1 Phương tiện và công cụ thu thập số liệu
5.1.1 Phương tiện thu thập số liệu
- Cân: sử dụng cân sức khỏe của trạm y tế phường Láng Hạ, có chia vạch theo kg
- Thước đo chiều cao: sử dụng thước đo chiều cao của trạm y tế phường Láng Hạ có chia vạch tới centimet
- Máy siêu âm đo tỷ trọng xương gót chân: máy Achilles của hãng GE Medical system đƣợc sản xuất tại Mỹ
5.1.2 Công cụ thu thập số liệu
Bộ phiếu đƣợc thiết kế sẵn ( phụ lục 3) gồm 5 phần:
- Phần 1: Thông tin cá nhân: thu thập các thông tin cơ bản của ĐTNC nhƣ: họ tên, tuổi, giới, nơi ở hiện tại, điện thoại liên hệ
Phần 2 của bài viết tập trung vào việc thu thập thông tin về chiều cao, cân nặng, chỉ số khối cơ thể (BMI) và chỉ số đo mật độ xương Những dữ liệu này giúp đánh giá tình trạng xương của đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) một cách chính xác.
- Phần 3: Tiền sử bệnh: khai thác tiền sử bệnh của ĐTNC
- Phần 4: Tiền sử dùng corticodi: khai thác tiền sử dùng corticoid của ĐTNC
Phần 5: Phỏng vấn nhằm thu thập thông tin chung, bao gồm tiền sử sử dụng Canxi, tiền sử sản và phụ khoa, tiền sử gãy xương, chế độ ăn uống và thói quen ăn uống, cũng như chế độ luyện tập thể dục thể thao.
5.2 Tổ chức thu thập số liệu:
Buổi thu thập số liệu được thực hiện trong chương trình khám sức khỏe cho người cao tuổi, do NCV phối hợp với Trung tâm Y tế và Hội phụ nữ phường Láng.
Hạ đứng ra tổ chức và đƣợc sự hỗ trợ của các đồng nghiệp của NCV là các bác sỹ của Bệnh viện Bạch Mai
5.2.1 Trước buổi thu thập số liệu:
NCV thực hiện chương trình khám sức khỏe theo nội dung trong phụ lục 4, hợp tác với Trung tâm y tế quận Đống Đa, Ủy ban nhân dân phường Láng Hạ, Trạm y tế phường Láng Hạ, Hội phụ nữ phường Láng Hạ và Hội người cao tuổi phường Láng Hạ.
Tập huấn điều tra viên bao gồm các học viên Cao học Y tế công cộng và sinh viên Điều dưỡng từ trường Đại học Y Hà Nội Trong buổi tập huấn, NCV đã giải thích chi tiết nội dung bộ phiếu phỏng vấn cho các điều tra viên Mỗi điều tra viên đều được cung cấp bộ phiếu và tài liệu hướng dẫn phỏng vấn đầy đủ.
Trước khi tiến hành thu thập số liệu, giấy mời khám sức khỏe đã được gửi đến đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) từ 1 đến 3 ngày thông qua Hội người cao tuổi và Hội phụ nữ phường Láng.
Tất cả giấy mời đều được đóng dấu đỏ của Trạm y tế phường Láng Hạ, và NCV đã dán tờ rơi tại các bảng tin của các cụm để quảng bá chương trình, nhằm thu hút đông đảo ĐTNC tham gia.
5.2.2 Tổ chức thu thập số liệu
Thời gian: 01 ngày, chia làm 02 buổi: sáng (từ 7h30 đến 11h) và chiều (từ 14h đến 17h30) Địa điểm: Trạm y tế phường Láng Hạ
- Nhân viên của hãng sữa Enlene: đo mật độ xương
- Nhân viên của Trạm y tế: đo cân nặng, chiều cao, huyết áp, tiếp đón
- Điều tra viên: phỏng vấn
- Các bác sỹ của Bệnh viện Bạch Mai: khám sức khỏe, kê đơn và siêu âm tổng quát (nếu cần)
- Dược phẩm HQ: tặng thuốc cho người đến khám
- Phương tiện và công cụ thu thập số liệu: máy đo mật độ xương, cân, thước đo, bộ câu hỏi, bút
- Phương tiện phục vụ khám sức khỏe: máy siêu âm, bộ đo huyết áp
- Phương tiện phục vụ ĐTNC: ghế ngồi, nước uống
ĐTNC sẽ bắt đầu bằng việc đến bàn tiếp đón để gửi lại giấy mời và nhận phiếu khám sức khỏe (phụ lục 6) Tại đây, ĐTNC sẽ được thu thập thông tin cá nhân và được hỏi về tiền sử bệnh cũng như tiền sử sử dụng corticoid.
- Bước 2: Đo chiều cao, cân nặng
Kỹ thuật đo chiều cao yêu cầu đối tượng đứng thẳng, hai gót chân chạm vào nhau, tay buông thẳng và bàn tay úp vào mặt ngoài đùi Trong trường hợp đối tượng có vấn đề về cột sống như gù, vẹo hay dị tật, cần đo ở mức cao nhất mà đối tượng có thể đứng Kết quả đo được ghi lại bằng đơn vị centimét.
Kỹ thuật cân yêu cầu cân phải được kiểm tra và điều chỉnh chính xác trước khi sử dụng Cân cần được đặt trên bề mặt phẳng và ổn định Khi thực hiện cân, người đối tượng không nên đi giày dép, đứng thẳng giữa bàn cân, giữ yên vị trí và mắt nhìn thẳng, đảm bảo trọng lượng được phân bố đều ở cả hai chân Kết quả cân được ghi nhận theo kilogam với số lẻ.
- Bước 3: Đo mật độ xương
Tránh đo đối với những người có vết thương ngoài da ở bàn chân chưa lành
Không chọn chân trước đây đã bị gãy hoặc chấn thương
Khi đo xương, cần chú ý đến độ dày và độ sần của da, vì da dày hoặc sần sùi có thể làm kéo dài thời gian đo Để cải thiện quá trình này, nên xịt cồn lên da trước khi tiến hành đo.
- Vị trí của người đo:
Chỉnh tư thế sao cho bàn chân, bắp chân và hông đều nằm trên một đường thẳng
Không để chân đè nặng lên giá đỡ bắp chân vì có thể làm gãy giá đỡ
ĐTNC ngồi trên ghế, được nhân viên của hãng sữa Enlene hướng dẫn cách đặt bàn chân vào máy đo
ĐTNC đợi trong khoảng 15 – 30 giây, máy sẽ đƣa ra kết quả cuối cùng
Bước 4 trong quy trình phỏng vấn bao gồm việc điều tra viên thu thập thông tin cá nhân như chiều cao, cân nặng, mật độ xương, tiền sử bệnh và tiền sử sử dụng corticoid từ phiếu khám sức khỏe của ĐTNC Sau khi phỏng vấn hoàn tất, ĐTNC sẽ nhận được số thứ tự để tiến hành khám sức khỏe và siêu âm, với nguyên tắc ưu tiên người phỏng vấn xong trước sẽ được khám và siêu âm trước.
- Bước 5: Khám và tư vấn sức khỏe
- Bước 6: Siêu âm tổng quát
Bước 7: Nhận thuốc miễn phí Sau khi hoàn tất các bước trước, ĐTNC cần quay lại bàn tiếp đón để nhận thuốc miễn phí được tài trợ bởi dược phẩm HQ.
Phương pháp phân tích số liệu
Trong tuần đầu sau khi thu thập số liệu, NCV sẽ kiểm tra và chỉnh lý tất cả các phiếu để đảm bảo tính chính xác của thông tin Nếu phát hiện dữ liệu không phù hợp, NCV sẽ liên hệ qua điện thoại với ĐTNC để xác minh hoặc loại bỏ phiếu nếu gặp khó khăn.
Số liệu được mã hóa và làm sạch trước và sau khi nhập vào máy tính bằng phần mềm Epidata 3.1 Nhân viên điều tra (NCV) trực tiếp thực hiện khai báo bộ câu hỏi và thiết lập các điều kiện hạn chế lỗi nhập liệu trên phần mềm này Sau đó, NCV tiến hành nhập liệu.
Số liệu sau khi nhập sẽ được xuất sang phần mềm SPSS 16.0 thông qua phần mềm Stat Transfer 9 để tiến hành xử lý Kết quả phân tích sẽ được chia thành hai phần.
Mô tả tần suất của các biến trong nghiên cứu bao gồm thông tin chung, tiền sử sử dụng thuốc, tiền sử sản, phụ khoa, tiền sử gãy xương, chế độ ăn uống và thói quen ăn uống.
Phân tích mối liên quan giữa các biến độc lập của ĐTNC và tình trạng loãng xương được thực hiện thông qua kiểm định χ² Kết quả từ phân tích đơn biến cho phép đưa các biến có liên quan vào mô hình hồi quy logistic nhằm kiểm soát các yếu tố nhiễu Tỷ số chênh OR được tính toán để đánh giá độ mạnh của mối liên hệ giữa yếu tố nguy cơ và tình trạng loãng xương, với các mối liên quan có ý nghĩa khi p < 0,05 và độ tin cậy CI đạt 95%.
Các biến số nghiên cứu
Biến số Khái niệm biến Phân loại Phương pháp thu thập số liệu
1 Tuổi Số năm từ khi sinh ra đến năm 2011, tính theo năm dương lịch Định lƣợng liên tục Phỏng vấn
2 Giới Nam hay nữ Nhị phân Phỏng vấn
Công việc, việc làm hiện nay chiếm nhiều thời gian của ĐTNC nhất Định danh Phỏng vấn
Công việc mang lại thu nhập chính cho ĐTNC trước đây Định danh Phỏng vấn
5 Tính chất nghề nghiệp trước đây
- Tĩnh tại: ít phải vận động tay chân, ngồi nhiều VD: văn phòng, giáo viên…
- Vận động: phải vận động tay chân
Biến số Khái niệm biến Phân loại Phương pháp thu thập số liệu nhiều, di chuyển nhiều, lao động nặng VD: bốc vác, công nhân…
Cấp học cao nhất mà ĐTNC đã học qua Thứ bậc Phỏng vấn
Tình trạng hôn nhân hiện tại của ĐTNC Định danh Phỏng vấn
8 Quy mô hộ gia đình
Quy mô hộ gia đình tính theo số lƣợng các thế hệ (gồm bố, mẹ, con) cùng sống chung trong 1 nhà
II Tình trạng loãng xương của đối tượng nghiên cứu
Chỉ số BUA được đo bằng db/MHz Định lượng Siêu âm xương gót chân
Là tình trạng xương theo tiêu chuẩn chẩn đoán LX của WHO:
T – Score > -1: bình thường -2,5< T – Score ≤ -1: giảm mật độ xương
T – Score ≤ - 2,5: loãng xương Định danh Dựa vào chỉ số
III Một số yếu tố liên quan đến tình trạng loãng xương ở người cao tuổi
Chiều cao: chiều cao của ĐTNC đƣợc tính theo centimet (cm)
Cân nặng: trọng lƣợng cơ thể của Định lƣợng liên tục Đo bằng thước đo và cân
Biến số Khái niệm biến Phân loại Phương pháp thu thập số liệu ĐTNC đƣợc đo bằng kg
2 Chỉ số khối cơ thể (BMI)
Tính bằng cân nặng (kg) chia cho chiều cao (m) bình phương Định lƣợng liên tục
Tình trạng uống canxi của ĐTNC trong vòng 1 tháng qua Nhị phân Phỏng vấn
Số lần uống canxi trong 1 tuần Định danh Phỏng vấn
Tình trạng gãy xương của ĐTNC từ trước đến nay, có 2 giá trị: đã từng bị gãy xương và chưa bao giờ bị gãy xương
Tổng số lần gãy xương từ trước đến nay Định lƣợng Phỏng vấn
Vị trí trên cơ thể đã từng bị gãy xương Định danh Phỏng vấn
8 Hoà n cảnh gãy xương Độ mạnh của lực tác động vào xương khiến xương bị gãy Định danh Phỏng vấn
Gia đình (bố, mẹ, anh chị em ruột) được chẩn đoán là loãng xương tại các Nhị phân Phỏng vấn
Biến số Khái niệm biến Phân loại Phương pháp thu thập số liệu bị loãng xương
10 Số lần sinh con Tổng số lần sinh con của ĐTNC Định lƣợng Phỏng vấn
Số năm từ khi sinh ra đến khi có kinh nguyệt lần đầu tiên, tính theo dương lịch Định lƣợng Phỏng vấn
Số năm từ khi sinh ra đến khi không có kinh nguyệt, tính theo dương lịch h Định lƣợng Phỏng vấn
13 Thói quen uống sữa/ rƣợu
(chè)/ cà phê/ hút thuốc lá
Tình uống sữa/ rƣợu (bia)/ trà (chè)/ cà phê/ hút thuốc lá từ trước đến nay của ĐTNC, có 2 giá trị: có hoặc không có
14 Tần suất uống sữa/ rƣợu
(chè)/ cà phê/ hút thuốc lá
Số lần uống sữa/ rƣợu (bia)/ trà (chè)/ cà phê/ hút thuốc lá trong 1 tuần Định danh Phỏng vấn
15 Thời Tổng thời gian ĐTNC có thói quen Định danh Phỏng vấn
Biến số Khái niệm biến Phân loại Phương pháp thu thập số liệu gian duy trì thói quen uống sữa/ rƣợu
(chè)/ cà phê/ hút thuốc lá uống sữa/ rƣợu (bia)/ trà (chè)/ cà phê/ hút thuốc lá
16 Thói quen luyện tập thể dục, thể thao
Tình trạng tập TDTT của ĐTNC trong
1 năm qua, có 2 giá trị: có hay không có thói quen luyện tập TDTT
17 Môn tập Môn thể dục, thể thao thường tập nhất(đi bộ, yoga, cầu lông…) Định danh Phỏng vấn
18 Tần suất tập Số lần tập TDTT trong 1 tuần Định danh Phỏng vấn
Trung bình số phút trong 1 lần tập lớn hơn hoặc nhỏ hơn 30 phút Nhị phân Phỏng vấn
Tính đạo đức của nghiên cứu
Nghiên cứu chỉ được thực hiện khi nhận được sự chấp thuận từ Hội đồng Đạo đức Trường Đại học Y tế công cộng, cùng với sự đồng ý của Trung tâm y tế quận Đống Đa và Ủy ban nhân dân phường Láng Hạ Ngoài ra, Trạm y tế phường Láng Hạ, Hội người cao tuổi phường Láng Hạ, Hội phụ nữ phường Láng Hạ và các đối tượng nghiên cứu cũng phải đồng ý tham gia Tất cả thông tin của đối tượng sẽ được bảo mật và chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu.
Tất cả các đối tượng nghiên cứu sẽ được thông báo rõ ràng về mục đích và nội dung nghiên cứu để họ tự nguyện tham gia và hợp tác hiệu quả Các đối tượng sẽ được đo mật độ xương miễn phí tại vị trí xương gót chân bằng phương pháp siêu âm định lượng.
Những người bị loãng xương hoặc có nguy cơ loãng xương sẽ được thông báo kết quả và được tư vấn hướng dẫn phòng và điều trị.
Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số
9.1 Hạn chế và sai số
Nghiên cứu chỉ tập trung vào nhóm người cao tuổi (NCT) trong một phường, do đó, kết quả thu được chỉ có giá trị thực tiễn tại khu vực nghiên cứu và không thể đại diện cho NCT của toàn quận hay toàn thành phố.
- Sai số đo lường khi tiến hành đo cân nặng, chiều cao, mật độ xương
- Phỏng vấn theo bộ câu hỏi đƣợc thiết kế sẵn vì vậy không tránh khỏi sai số nhớ lại
Để hạn chế sai số trong quá trình phỏng vấn, cần tiến hành tập huấn kỹ lưỡng cho cán bộ tham gia Bảng câu hỏi phỏng vấn nên được thiết kế một cách logic, sử dụng ngôn ngữ dễ hiểu và phù hợp với ngôn ngữ địa phương, giúp đối tượng điều tra dễ dàng hiểu và trả lời Ngoài ra, việc thực hiện pretest bộ câu hỏi sẽ giúp xác định những câu hỏi dễ hiểu cho đối tượng nghiên cứu.
- Các công cụ như cân, thước đo sẽ phải được kiểm tra chính xác trước khi triển khai thu thập số liệu
- Giám sát chặt chẽ trong quá trình điều tra.
Những đóng góp của nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu sẽ được gửi đến TYT phường Láng Hạ, TTYT quận Đống Đa, các Chi hội NCT có ĐTNC, và Hội NCT phường Láng Hạ sau khi hoàn tất nghiên cứu và được Hội đồng nghiên cứu của trường Đại học Y tế công cộng phê duyệt.
Nghiên cứu này cung cấp thông tin quan trọng để phát hiện và tìm kiếm phương pháp dự phòng điều trị sớm loãng xương, từ đó nâng cao sức khỏe, chất lượng cuộc sống và góp phần kéo dài tuổi thọ cho người dân.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thông tin chung về đối tƣợng nghiên cứu
1.1 Đặc điểm về tuổi, giới, cân nặng, chiều cao, BMI của đối tượng nghiên cứu
- Đặc điểm về tuổi, cân nặng, chiều cao, BMI của ĐTNC
Bảng 1: Đặc điểm về tuổi, cân nặng, chiều cao, BMI
STT Các thông số Giá trị trung bình
X ± SD Giá trị tối thiểu Giá trị tối đa
Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 70 ± 7, với độ tuổi trẻ nhất là 60 và lớn nhất là 91 Chiều cao trung bình là 153 ± 7 cm, phản ánh thể trạng nhỏ bé của người Việt Nam, trong đó chiều cao thấp nhất là 130 cm do gù cột sống và cao nhất là 172 cm Về cân nặng, trung bình là 52,4 ± 8,6 kg, với đối tượng nhẹ cân nhất chỉ 30 kg, trong khi đối tượng nặng nhất lên tới 90 kg, gấp ba lần người nhẹ cân nhất Chỉ số BMI trung bình cũng được ghi nhận trong nghiên cứu.
HUPH khoảng giá trị cận bình thường 22,3 Tuy vậy cũng có đối tượng rất gầy BMI = 14,6 và ngƣợc lại có đối tƣợng thuộc diện béo phì (BMI = 32)
- Đặc điểm về nhóm tuổi và giới của ĐTNC
Biểu đồ 1: Phân bố nhóm tuổi Biểu đồ 2: Phân bố giới
Bảng 2: Phân bố nhóm tuổi và giới
Tổng 40 100,0 188 100,0 228 100,0 ĐTNC tập trung ở nhóm tuổi 60 đến 69 (chiếm 58%), nhóm tuổi trên 80 chiếm tỷ lệ nhỏ (13%) Tỷ lệ nữ giới tham gia nghiên cứu lớn hơn hẳn so với nam giới, 82% so với 18% Có sự khác biệt về phân bố nhóm tuổi ở hai giới Ở nam giới, nhóm tuổi 70 đến 79 chiếm tỷ lệ cao nhất là 37,5%, không chênh lệch quá nhiều so với nhóm tuổi trên 80 có tỷ lệ thấp nhất là 27,5% Trong khi đó, ở nữ giới, tỷ lệ cao nhất là 63,3% ở nhóm tuổi từ 60
Tỷ lệ ĐTNC ở độ tuổi từ 60 đến 69 là 69%, cao hơn nhiều so với nhóm tuổi trên 80, chỉ chiếm 10,1% Điều này cho thấy ĐTNC chủ yếu là nữ trong độ tuổi từ 60 đến 69.
1.2 Đặc điểm về trình độ học vấn và nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu
- Đặc điểm về trình độ học vấn của ĐTNC
Biểu đồ 3: Đặc điểm về trình độ học vấn
Gần như toàn bộ đối tượng người cao tuổi (ĐTNC) đều biết chữ, với chỉ 3 trường hợp không biết chữ ĐTNC có trình độ học vấn cao, trong đó 54% có trình độ từ trung cấp trở lên, và đặc biệt, tỷ lệ người có trình độ đại học hoặc sau đại học chiếm tới 33% tổng số ĐTNC.
- Đặc điểm về nghề nghiệp của ĐTNC
Biểu đồ 4 cho thấy đặc điểm nghề nghiệp của ĐTNC, trong đó 78% là cán bộ hưu trí Hơn 3/4 ĐTNC là nữ, dẫn đến tỷ lệ nghề nghiệp nội trợ hoặc làm việc tại nhà chiếm 15,4% Tỷ lệ ĐTNC làm buôn bán hoặc các nghề khác rất nhỏ.
1.3 Đặc điểm về tình trạng hôn nhân và quy mô hộ gia đình của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3: Đặc điểm tình trạng hôn nhân và quy mô hộ gia đình của ĐTNC
Thông tin Tần số Tỷ lệ (%)
Quy mô hộ gia đình Gia đình hạt nhân 57 25,0
Gia đình nhiều thế hệ 171 75,0
Gần 75% đối tượng tham gia nghiên cứu đang sống cùng vợ hoặc chồng, trong khi 28,6% sống một mình Đặc biệt, 75% đối tượng sống cùng con cháu trong gia đình nhiều thế hệ, gấp ba lần số người sống trong các gia đình hạt nhân chỉ có cặp vợ chồng (25%).
Thực trạng loãng xương ở phường Láng Hạ
2.1 Tỷ lệ loãng xương của người cao tuổi ở phường Láng Hạ
Biểu đồ 5: Tỷ lệ loãng xương chung
Tỷ lệ loãng xương và giảm mật độ xương ở người cao tuổi tại phường Láng Hạ rất cao, với 75% dân số bị ảnh hưởng Trong đó, tỷ lệ loãng xương đạt 42,5% và tỷ lệ giảm mật độ xương là 32,5% Điều này có nghĩa là trong 4 người cao tuổi, chỉ có 1 người có mật độ xương ở mức bình thường, trong khi 3 người còn lại có mật độ xương dưới mức bình thường.
Trung bình mật độ xương của ĐTNC là – 1,8 ± 1,6 (T – score) nằm ở mức giảm mật độ xương và ĐTNC có mật độ xương giảm thấp nhất là – 4,6 T – score
2.2 Tỷ lệ loãng xương theo tuổi
- Tỷ lệ loãng xương theo tuổi
Biểu đồ 6: Tỷ lệ loãng xương theo tuổi
Tỷ lệ loãng xương tăng dần theo tuổi, tỷ lệ này chỉ chiếm 20,3% ở độ tuổi từ 60 đến
69, tăng gấp đôi ở độ tuổi 70 đến 79 và tăng gấp 3 ở độ tuổi trên 80 Sự khác biệt về tỷ lệ loãng xương giữa các nhóm tuổi có ý nghĩa thống kê (p < 0,001)
GMĐX chiếm tỷ lệ chủ yếu ở nhóm tuổi 60 đến 69 và chiếm tỷ lệ khá cao ở 2 nhóm tuổi còn lại Tỷ lệ GMĐX có xu hướng giảm theo độ tuổi
- Tỷ trọng xương theo tuổi:
Bảng 4: Tỷ trọng trung bình của xương theo nhóm tuổi
Nhóm tuổi Tỷ trọng trung bình của xương (X ± SD) Giá trị tối thiểu Giá trị tối đa
Tỷ trọng xương trung bình giảm theo nhóm tuổi, với các giá trị tối thiểu và tối đa cũng tương tự Kiểm định Anova cho thấy sự khác biệt về tỷ trọng xương giữa các nhóm tuổi là có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.
2.3 Tỷ lệ loãng xương theo giới
Bảng 5: Tỷ lệ loãng xương theo giới
Loãng xương GMĐX Bình thường
Tỷ lệ loãng xương ở nữ giới cao hơn nam giới, với 33,5% nữ giới bị loãng xương so với 27,5% nam giới Mặc dù tỷ lệ GMĐX giữa hai giới không chênh lệch đáng kể, sự khác biệt về tỷ lệ loãng xương không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05), có thể do số lượng nam giới tham gia nghiên cứu quá ít so với nữ giới.
2.4 Tỷ lệ loãng xương theo chiều cao
- Tỷ lệ loãng xương theo chiều cao của ĐTNC
Biểu đồ 7: Tỷ lệ loãng xương theo chiều cao
Tỷ lệ loãng xương ở đối tượng nữ có chiều cao dưới 150cm là 46,2%, gấp đôi so với đối tượng nữ có chiều cao trên 150cm (25,0%) Mặc dù tỷ lệ gãy xương không có sự khác biệt đáng kể giữa hai nhóm, nhưng sự khác biệt về tỷ lệ loãng xương giữa nhóm chiều cao dưới 150cm và nhóm trên 150cm là có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.
- Tỷ trọng xương trung bình theo chiều cao của ĐTNC:
Bảng 6: Tỷ trọng xương trung bình theo chiều cao
Chiều cao Tỷ trọng trung bình của xương (X ± SD) Giá trị tối thiểu Giá trị tối đa
Mật độ xương của nhóm người có chiều cao dưới 150cm là -2,3 T-score, thấp hơn gần 2 lần so với nhóm có chiều cao trên 150cm với T-score là -1,5 Kiểm định Anova cho thấy sự khác biệt về tỷ trọng xương giữa hai nhóm này có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.
2.5 Tỷ lệ loãng xương theo cân nặng
- Tỷ lệ loãng xương theo cân nặng của ĐTNC
Biểu đồ 8: Tỷ lệ loãng xương theo cân nặng
Tỷ lệ loãng xương ở người có cân nặng dưới 50kg đạt 44,4%, gần gấp đôi so với nhóm có cân nặng trên 50kg với tỷ lệ 24,6% Sự khác biệt này giữa hai nhóm có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.
- Tỷ trọng trung bình xương theo cân nặng của ĐTNC
Bảng 7: Tỷ trọng trung bình xương theo cân nặng
Cân nặng Tỷ trọng trung bình của xương (X ± SD) Giá trị tối thiểu Giá trị tối đa
Mật độ xương của nhóm có cân nặng dưới 50kg là -2,3 T-score, thấp hơn gần 2 lần so với nhóm có cân nặng trên 50kg với T-score là -1,5 Kiểm định Anova cho thấy sự khác biệt về tỷ trọng xương giữa hai nhóm có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.
2.6 Tỷ lệ loãng xương theo BMI
Biểu đồ 9: Tỷ lệ loãng xương theo BMI
Tỷ lệ loãng xương có xu hướng tăng khi chỉ số BMI giảm, cho thấy những người có chỉ số BMI cao có nguy cơ loãng xương thấp hơn Cụ thể, ở những người có chỉ số BMI dưới 18,5 (tình trạng gầy, nhẹ cân), tỷ lệ loãng xương đạt 58,3%, trong khi ở những người có chỉ số BMI ≥ 23 (tình trạng béo phì, thừa cân), tỷ lệ này chỉ là 26,4% Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
2.7 Tỷ lệ loãng xương theo tình trạng sử dụng Canxi
Bảng 8: Tỷ lệ loãng xương theo tình trạng sử dụng canxi
Loãng xương GMĐX Bình thường Tổng
Tỷ lệ loãng xương và giảm mật độ xương ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 có sử dụng canxi và không sử dụng canxi gần như không khác biệt Hai nhóm này không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.
2.8 Tỷ lệ loãng xương theo tiền sử sản phụ khoa
- Tỷ lệ loãng xương theo tuổi bắt đầu có kinh
Bảng 9: Tỷ lệ loãng xương theo tuổi bắt đầu có kinh
Loãng xương GMĐX Bình thường Tổng
Có 11 phụ nữ trong các ĐTNC không nhớ tuổi bắt đầu có kinh Trong 117 phụ nữ nhớ được tuổi mãn kinh của mình thì tỷ lệ loãng xương cao ở những phụ nữ có kinh từ sau 19 tuổi hoặc trước 13 tuổi Tỷ lệ này cao nhất là 46,7% ở phụ nữ có kinh sau 19 tuổi, sau đó là đến phụ nữ có kinh trước 13 tuổi với 41,7% bị loãng xương và chỉ chiếm 30,0% ở những phụ nữ bắt đầu có kinh trong khoảng 13 đến 19 tuổi Tỷ lệ GMĐX không khác biệt đáng kể giữa các nhóm này Sự khác biệt về tỷ lệ loãng xương giữa các nhóm không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05
- Tỷ lệ loãng xương theo tuổi mãn kinh
Bảng 10: Tỷ lệ loãng xương theo tuổi mãn kinh
Loãng xương GMĐX Bình thường Tổng
Loãng xương GMĐX Bình thường Tổng
Tỷ lệ loãng xương cao nhất ở phụ nữ mãn kinh trong độ tuổi 45 đến 55, đạt 37,4% Trong khi đó, tỷ lệ loãng xương ở phụ nữ mãn kinh trước 45 tuổi là 18,8% và sau 55 tuổi là 29,4% Tuy nhiên, tỷ lệ gãy xương (GMĐX) lại khác biệt, với 59,4% ở phụ nữ mãn kinh trước 45 tuổi, 41,2% ở phụ nữ sau 55 tuổi, và 38,1% ở nhóm 45-55 tuổi Sự khác biệt về tỷ lệ loãng xương giữa các nhóm này không có ý nghĩa thống kê.
- Tỷ lệ loãng xương theo số lần sinh
Biểu đồ 10: Tỷ lệ loãng xương theo số lần sinh
Tỷ lệ loãng xương cao nhất là ở những phụ nữ sinh con từ 3 lần trở lên, đạt 48,4%, tiếp theo là nhóm phụ nữ chưa sinh lần nào với 37,5%, trong khi nhóm sinh từ 1 – 2 con có tỷ lệ thấp nhất là 16,9% Đáng chú ý, tỷ lệ gãy xương (GMĐX) lại cao nhất ở nhóm chưa sinh lần nào với 50,0%, tiếp theo là nhóm sinh từ 1 – 2 con với 44,6%, và nhóm sinh từ 3 lần trở lên với 37,9% Sự khác biệt về tỷ lệ loãng xương giữa ba nhóm này có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.
2.9 Tỷ lệ loãng xương theo tiền sử gãy xương và gia đình có tiền sử loãng xương
2.9.1 Tỷ lệ loãng xương theo tiền sử gãy xương
- Tỷ lệ loãng xương theo tiền sử gãy xương
Biểu đồ 11: Tỷ lệ loãng xương theo tiền sử gãy xương
Tỷ lệ loãng xương ở những đối tượng nữ cao tuổi (ĐTNC) đã từng gãy xương cao gấp đôi so với những ĐTNC chưa từng gãy xương, với 57,1% so với 25,7% Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.
- Tỷ lệ loãng xương theo số lần gãy xương
Bảng 11: Tỷ lệ loãng xương theo số lần gãy xương
Loãng xương GMĐX Bình thường Tổng
Có 49 trong số 228 ĐTNC đã từng bị gãy xương Trong số này, tỷ lệ loãng xương ở những ĐTNC đã từng gãy xương 1 lần cao gấp đôi những ĐTNC đã từng gãy xương 2 lần và tỷ lệ loãng xương ở những người gãy xương 3 lần lên tới 100,0% Tuy nhiên, sự khác biệt về tỷ lệ loãng xương giữa các nhóm này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05
- Tỷ lệ loãng xương theo hoàn cảnh gãy xương
Bảng 12: Tỷ lệ loãng xương theo hoàn cảnh gãy xương
Loãng xương GMĐX Bình thường Tổng
Sang chấn nặng 15 60,0 6 24,0 4 16,0 25 100,0 Sang chấn nhẹ 11 50,0 9 40,9 2 9,1 22 100,0
Trong 49 ĐTNC đã từng bị gãy xương, có 2 ĐTNC tự nhiên gãy xương, không do lực tác động nhẹ hay nặng Trong 47 ĐTNC còn lại, tỷ lệ loãng xương ở những ĐTNC gãy xương do lực tác động mạnh chiếm tỷ lệ chủ yếu với 60,0% và do lực tác động nhẹ là 50,0%
Sự khác biệt về tỷ lệ loãng xương giữa ba nhóm này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05
2.9.2 Tỷ lệ loãng xương theo gia đình có tiền sử loãng xương
Biểu đồ 12: Tỷ lệ loãng xương theo gia đình có tiền sử loãng xương
Một số yếu tố liên quan đến tình trạng loãng xương ở phường Láng Hạ
3.1 Mối liên quan giữa tuổi và tình trạng loãng xương
Bảng 23: Liên quan giữa tuổi với tình trạng loãng xương
Có một mối liên hệ chặt chẽ giữa tuổi tác và tình trạng loãng xương với giá trị p < 0,001 Nguy cơ loãng xương và giảm mật độ xương tăng lên theo độ tuổi, với tỷ lệ loãng xương ở những người trên 70 tuổi đạt 89,5%, so với 66,2% ở nhóm tuổi còn lại Những người trên 70 tuổi có nguy cơ loãng xương và giảm mật độ xương cao gấp 4,4 lần so với những người dưới 70 tuổi.
3.2 Mối liên quan giữa giới và tình trạng loãng xương
Bảng 24: Liên quan giữa giới với tình trạng loãng xương
Chưa thấy có mối liên quan giữa giới và tình trạng loãng xương với p > 0,05
3.3 Mối liên quan giữa chiều cao và tình trạng loãng xương
Bảng 25: Liên quan giữa chiều cao với tình trạng loãng xương
Có một mối liên hệ rõ ràng giữa chiều cao và tình trạng loãng xương với giá trị p = 0,001 Những người có chiều cao thấp hơn 150cm có nguy cơ loãng xương và giảm mật độ xương cao hơn 3,3 lần so với những người cao trên 150cm Tỷ lệ loãng xương và giảm mật độ xương ở nhóm chiều cao dưới 150cm đạt 87,5%, trong khi nhóm còn lại chỉ là 68,2%.
3.4 Mối liên quan giữa cân nặng và tình trạng loãng xương
Bảng 26: Liên quan giữa cân nặng với tình trạng loãng xương
Có một mối liên hệ chặt chẽ giữa cân nặng và tình trạng loãng xương với giá trị p < 0,001 Cân nặng thấp làm tăng nguy cơ loãng xương và giảm mật độ xương Cụ thể, tỷ lệ loãng xương ở những người có cân nặng dưới 50kg lên tới 90,0%, trong khi nhóm còn lại chỉ là 65,2% Những người có cân nặng dưới 50kg có nguy cơ loãng xương và giảm mật độ xương cao gấp 4,8 lần so với những người nặng trên 50kg.
3.5 Mối liên quan giữa chỉ số BMI và tình trạng loãng xương
Bảng 27: Liên quan giữa chỉ số BMI với tình trạng loãng xương
Có mối liên hệ đáng kể giữa chỉ số BMI và tình trạng loãng xương với p < 0,05 Chỉ số BMI thấp làm tăng nguy cơ loãng xương và giảm mật độ xương Cụ thể, tỷ lệ loãng xương và giảm mật độ xương ở những người có chỉ số BMI dưới 23 đạt 81,6%, trong khi nhóm có chỉ số BMI cao hơn chỉ là 64,4% Những người có chỉ số BMI dưới 23 có nguy cơ loãng xương và giảm mật độ xương cao gấp 2,4 lần so với những người có chỉ số BMI trên 23.
3.6 Mối liên quan giữa uống Canxi và tình trạng loãng xương
Bảng 28: Liên quan uống Canxi với tình trạng loãng xương
Chưa thấy có mối liên quan giữa việc có uống Canxi và tình trạng loãng xương với p
> 0,05 Tỷ lệ loãng xương và giảm mật độ xương ở cả nhóm uống hay không uống Canxi đều là 75,0%
3.7 Mối liên quan giữa tiền sử sản phụ khoa và tình trạng loãng xương
3.7.1 Mối liên quan giữa tuổi bắt đầu có kinh và tình trạng loãng xương
Bảng 29: Liên quan tuổi bắt đầu có kinh với tình trạng loãng xương
Trước 13 tuổi và sau 19 tuổi 23 85,2 4 14,8 χ 2 = 2,282 p > 0,05
Chưa thấy có mối liên quan giữa việc tuổi có kinh và tình trạng loãng xương với p
3.7.2 Mối liên quan giữa tuổi mãn kinh và tình trạng loãng xương
Bảng 30: Liên quan tuổi mãn kinh với tình trạng loãng xương
Không có mối liên quan rõ ràng giữa tuổi mãn kinh và tình trạng loãng xương với giá trị p > 0,05 Tỷ lệ loãng xương và giảm mật độ xương ở nhóm mãn kinh từ 45 đến 55 tuổi và nhóm còn lại đều đạt 75,5%.
3.7.3 Mối liên quan giữa số lần sinh và tình trạng loãng xương
Bảng 31: Liên quan số lần sinh với tình trạng loãng xương
Có mối liên hệ đáng kể giữa số lần sinh và tình trạng loãng xương với p < 0,001 Tỷ lệ loãng xương và giảm mật độ xương ở phụ nữ chưa sinh hoặc sinh từ 3 lần trở lên là 86,7%, trong khi tỷ lệ này ở phụ nữ sinh từ 1 đến 2 lần chỉ là 61,4%.
Phụ nữ sinh từ 3 lần trở lên có nguy cơ loãng xương và giảm mật độ xương cao gấp 4,1 lần so với những người chỉ sinh từ 1 đến 2 lần.
3.8 Mối liên quan giữa tiền sử gãy xương, loãng xương và tình trạng loãng xương
- Mối liên quan giữa có tiền sử gãy xương với tình trạng loãng xương
Bảng 32: Liên quan có tiền sử gãy xương với tình trạng loãng xương
Có mối liên quan đáng kể giữa tiền sử gãy xương và tình trạng loãng xương với giá trị p < 0,05 Tỷ lệ loãng xương và giảm mật độ xương ở những người đã từng gãy xương đạt 87,8%, trong khi con số này ở những người chưa từng gãy xương chỉ là 71,5% Những người có tiền sử gãy xương có nguy cơ mắc loãng xương và giảm mật độ xương cao gấp 2,9 lần so với những người không có tiền sử này.
- Mối liên quan giữa gia đình có tiền sử loãng xương với tình trạng loãng xương
Bảng 33: Liên quan gia đình có tiền sử loãng xương với tình trạng loãng xương
Có mối liên quan giữa tiền sử loãng xương trong gia đình và tình trạng loãng xương với p < 0,05 Tỷ lệ loãng xương và giảm mật độ xương ở những người có gia đình có tiền sử loãng xương đạt 90,0%, trong khi tỷ lệ này chỉ là 69,3% ở những người không có tiền sử Những người có gia đình có tiền sử loãng xương có nguy cơ mắc bệnh cao gấp 4 lần so với những người không có tiền sử.
3.9 Mối liên quan giữa thói quen ăn uống và tình trạng loãng xương
3.9.1 Mối liên quan giữa uống sữa và tình trạng loãng xương
- Mối liên quan giữa có thói quen uống sữa và tình trạng loãng xương
Bảng 34: Liên quan giữa có thói quen uống sữa với tình trạng loãng xương
Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng có mối liên quan giữa thói quen uống sữa và tình trạng loãng xương với p < 0,05 Khác với các nghiên cứu trước, chúng tôi phát hiện rằng uống sữa có thể là yếu tố nguy cơ dẫn đến loãng xương Điều này có thể do những người có nguy cơ loãng xương cao hơn thường có ý thức uống sữa nhiều hơn so với những người khác.
- Mối liên quan giữa loại sữa uống và tình trạng loãng xương
Bảng 35: Liên quan giữa loại sữa uống với tình trạng loãng xương
Sữa đậu nành, sữa khác 5 35,7 9 64,3
Có một mối liên hệ đáng kể giữa loại sữa uống và tình trạng loãng xương với giá trị p < 0,05 Cụ thể, những người tiêu thụ sữa tươi và sữa bột có tỷ lệ loãng xương và giảm mật độ xương lên tới 72,3%, trong khi tỷ lệ này ở những người uống sữa đậu nành và các loại sữa khác như sữa chua, sữa đặc chỉ là 35,7% Điều này cho thấy rằng nguy cơ loãng xương ở những người uống sữa tươi và sữa bột cao gấp 4,7 lần so với những người tiêu thụ sữa đậu nành và các loại sữa khác.
- Mối liên quan giữa tần suất uống sữa và tình trạng loãng xương
Bảng 36: Liên quan giữa tần suất uống sữa với tình trạng loãng xương
Thỉnh thoảng hoặc ít khi 25 56,8 19 43,2 χ 2 = 3,907 p = 0,064<
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy có mối liên quan giữa tần suất uống sữa và tình trạng loãng xương với p < 0,1 Việc thường xuyên uống sữa được xác định là yếu tố nguy cơ của loãng xương, có thể do những người có nguy cơ cao hơn thường có thói quen uống sữa nhiều hơn.
- Mối liên quan giữa thời gian uống sữa và tình trạng loãng xương
Bảng 37: Liên quan giữa thời gian uống sữa với tình trạng loãng xương
Có một mối liên hệ đáng kể giữa thời gian tiêu thụ sữa và tình trạng loãng xương với giá trị p < 0,05 Những người uống sữa lâu dài có nguy cơ loãng xương thấp hơn Cụ thể, tỷ lệ loãng xương và giảm mật độ xương ở những người uống sữa dưới 5 năm là 73,3%, trong khi tỷ lệ này chỉ còn 48,0% ở những người uống sữa trên 5 năm Điều này cho thấy người tiêu thụ sữa dưới 5 năm có nguy cơ loãng xương và giảm mật độ xương cao gấp 3 lần so với những người uống sữa trên 5 năm.
3.9.2 Mối liên quan giữa uống rượu/bia và tình trạng loãng xương
Bảng 38: Liên quan giữa có thói quen uống rượu/bia với tình trạng loãng xương
Chƣa thấy có mối liên quan giữa có thói quen uống rƣợu bia và tình trạng loãng xương với p > 0,05
3.9.3 Mối liên quan giữa uống chè (trà) và tình trạng loãng xương
- Mối liên quan giữa có thói quen uống chè (trà) với tình trạng loãng xương
Bảng 39: Liên quan giữa có thói quen uống chè (trà) với tình trạng loãng xương
Có mối liên quan giữa có thói quen uống chè (trà) và tình trạng loãng xương với p
Tỷ lệ loãng xương và giảm mật độ xương ở những người không uống chè là 82,7%, trong khi con số này ở những người có thói quen uống chè chỉ là 69,2% Điều này cho thấy người không uống chè có nguy cơ loãng xương và giảm mật độ xương cao gấp 2,1 lần so với những người thường xuyên uống chè.
- Mối liên quan giữa tần suất uống chè với tình trạng loãng xương
Bảng 40: Liên quan giữa tần suất uống chè với tình trạng loãng xương
Thỉnh thoảng hoặc ít khi 21 72,4 8 27,6 χ 2 = 0,18 OR = 1,2
Chưa thấy có mối liên quan giữa tần suất uống chè (trà) và tình trạng loãng xương với p > 0,05
- Mối liên quan giữa thời gian uống chè với tình trạng loãng xương
Bảng 41: Liên quan giữa thời gian uống chè (trà) với tình trạng loãng xương
Chưa thấy có mối liên quan giữa thời gian uống chè và tình trạng loãng xương với p > 0,05
3.9.4 Mối liên quan giữa uống cà phê và tình trạng loãng xương
Bảng 42: Liên quan giữa có thói quen uống cà phê với tình trạng loãng xương
Chƣa thấy có mối liên quan giữa có thói quen uống cà phê và tình trạng loãng xương với p > 0,05
3.9.5 Mối liên quan giữa hút thuốc lá và tình trạng loãng xương
Bảng 43: Liên quan giữa có thói quen hút thuốc lá với tình trạng loãng xương
Chưa thấy có mối liên quan giữa có thói quen hút thuốc lá và tình trạng loãng xương với p > 0,05
3.10 Mối liên quan giữa thói quen tập thể dục thể thao và tình trạng loãng xương
- Mối liên quan giữa có thói quen tập thể dục thể thao với tình trạng loãng xương
Bảng 44: Liên quan giữa có thói tập thể dục thể thao với tình trạng loãng xương
Chƣa thấy có mối liên quan giữa có thói quen tập thể dục thể thao và tình trạng loãng xương với p > 0,05
- Mối liên quan giữa thời gian luyện tập thể dục thể thao với tình trạng loãng xương
Bảng 45: Liên quan giữa thời gian luyện tập thể dục thể thao với tình trạng loãng xương
Chƣa thấy có mối liên quan giữa thời gian luyện tập thể dục thể thao và tình trạng loãng xương với p > 0,05
3.11 Kết quả phân tích đơn biến
Qua phân tích đơn biến bằng kiểm định Khi bình phương với các bảng 2 x 2, có 12 yếu tố liên quan đến tình trạng loãng xương ở người cao tuổi, bao gồm: tuổi, chiều cao, cân nặng, chỉ số BMI, số lần sinh, tiền sử gãy xương, tiền sử loãng xương, thói quen uống sữa, loại sữa thường uống, tần suất uống sữa, thời gian uống sữa và thói quen uống chè.
Phân tích đa biến
Bảng 46: Mô hình hồi quy dự đoán các yếu tố liên quan đến tình trạng loãng xương
Sữa đậu nành, sữa khác
Thỉnh thoảng hoặc ít khi *
N = 228; ( * ) = Nhóm so sánh; (-) = Không áp dụng Kiểm định tính phù hợp của mô hình (Hosmer & Lemeshow Test): χ 2 = 5,581; df = 8; p = 0,694
Mô hình hồi quy logistic được phát triển dựa trên 11 yếu tố từ các mối liên quan đã xác định qua phân tích đơn biến Kết quả từ bảng 54 cho thấy, sau khi kiểm soát yếu tố nhiễu của 10 yếu tố, có 3 mối liên quan đáng kể với tình trạng loãng xương.
- Người có tuổi trên 70 có nguy cơ loãng xương cao hơn người từ 60 – 70 tuổi 5,9 lần
- Người có uống sữa dưới 3 lần/ tuần có nguy cơ loãng xương bằng 0,3 lần người uống sữa ít nhất 4 – 5 lần/ tuần
- Người có thời gian uống sữa dưới 5 năm có nguy cơ loãng xương cao hơn người có uống sữa trên 5 năm 3,8 lần.
BÀN LUẬN
Bàn luận về đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
1.1 Bàn luận về đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là người cao tuổi (người có tuổi ≥ 60) [17]còn minh mẫn, không mắc các bệnh liên quan đến chuyển hóa calci như: tiểu đường, suy thận, bệnh giáp trạng, các bệnh viêm loét dạ dày tá tràng, ung thƣ dạ dày, u tiền liệt tuyến, không điều trị corticoid kéo dài trên 30 ngày
Mặc dù đã tiến hành sàng lọc và thiết lập khung mẫu trước khi thu thập số liệu, chương trình khám sức khỏe có sự tham gia của bác sỹ từ bệnh viện Bạch Mai đã thu hút sự quan tâm lớn từ các cụ trong phường, bao gồm cả những người không nhận được giấy mời Chương trình đã có sự tham gia của 301 người cao tuổi phường Láng Hạ Sau khi sàng lọc lần hai, 73 đối tượng không đủ tiêu chuẩn đã được loại bỏ, để lại 228 đối tượng nghiên cứu, vượt qua cỡ mẫu tối thiểu cần thiết là 195 người Đây được xem là một thành công của chương trình.
Nghiên cứu được thực hiện trên cả hai giới, nhưng có sự chênh lệch đáng kể về giới tính với 82,5% là nữ Điều này có thể do các cụ bà quan tâm nhiều hơn đến vấn đề loãng xương so với các cụ ông, và cũng vì thành phần cộng tác viên gửi giấy mời chủ yếu là Hội phụ nữ, dẫn đến việc giấy mời đến tay các cụ bà nhiều hơn.
Độ tuổi trung bình trong nghiên cứu là 69,7 ± 7, với cụ bà lớn tuổi nhất là 91 tuổi Hơn một nửa số người tham gia (58,3%) nằm trong độ tuổi 60 đến 69, trong khi 28,5% ở độ tuổi 70 đến 79 và chỉ 13,2% trên 80 tuổi Sự khác biệt giữa các tỷ lệ này có ý nghĩa thống kê với p < 0,001, cho thấy rằng số lượng người tham gia giảm dần theo độ tuổi, phù hợp với mô hình người cao tuổi tại Việt Nam.
Chỉ số thể lực của ĐTNC cho thấy chiều cao trung bình là 150 ± 7 cm, với 35,1% có chiều cao dưới 150 cm Cân nặng trung bình là 52,4 ± 8,6 kg, trong đó nặng nhất là 90 kg và nhẹ nhất là 30 kg Chỉ số BMI trung bình là 22,3 ± 2,6, cho thấy thể trạng chung là thấp bé, chủ yếu do tỷ lệ nữ chiếm 82,5% Nghiên cứu của chúng tôi tương đương với nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Dung, với chiều cao trung bình 151,2 ± 5,19 cm và cân nặng 51,1 ± 7,8 kg So với nghiên cứu của Vũ Đình Chính, chỉ số thể lực của chúng tôi cao hơn, cho thấy ĐTNC ở khu vực thành thị có chỉ số thể lực tốt hơn khu vực nông thôn Điều kiện sống và kinh tế xã hội có thể là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến thể lực của cộng đồng người cao tuổi ở thủ đô.
Phường Láng Hạ có trình độ dân trí cao, với hơn 50% dân số có trình độ từ trung cấp trở lên, trong đó tỷ lệ người có trình độ đại học hoặc sau đại học đạt 32,9% Chỉ có 1,3% dân số không biết chữ, cho thấy mức độ giáo dục cao Nghề nghiệp của người cao tuổi chủ yếu là cán bộ hưu trí, chiếm 77,6%, trong khi 15,4% là nội trợ do tỷ lệ nữ giới cao Những tỷ lệ này khác biệt so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Dung, nơi trình độ học vấn chủ yếu là trung học cơ sở với 57,54%.
Huyện Gia Lâm chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, chiếm 55,09% tổng diện tích, điều này phản ánh vị trí ngoại thành của huyện Ngược lại, quận Đống Đa, nằm ở trung tâm Hà Nội, chủ yếu phát triển công nghiệp và quản lý Nhà nước.
Tình trạng hôn nhân và cuộc sống của người cao tuổi cho thấy 72,4% vẫn sống cùng vợ/chồng Trong số này, chỉ 25,0% không sống cùng con cháu, trong khi 75,0% người cao tuổi vẫn sống cùng gia đình Tỷ lệ này cao hơn so với tỷ lệ chung của người cao tuổi tại Việt Nam.
1.2 Bàn luận về phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được áp dụng là mô tả cắt ngang có phân tích tại một thời điểm, chỉ cho phép xác định tỷ lệ hiện mắc của bệnh loãng xương (ĐTNC) mà chưa đánh giá thực trạng thực sự trong cộng đồng Hiện tại, chưa có nghiên cứu nào tìm hiểu mối liên quan giữa thói quen uống chè, một loại nước phổ biến trong người cao tuổi, và các môn tập luyện với tình trạng loãng xương Nghiên cứu này đã đề cập đến những vấn đề đó Để đánh giá tình trạng loãng xương, chúng tôi đã chọn phương pháp siêu âm định lượng gót chân, một phương pháp đã được áp dụng rộng rãi trên thế giới Máy đo mật độ xương bằng siêu âm gót chân có thiết kế gọn nhẹ, dễ sử dụng, không gây ảnh hưởng bởi tia xạ, chi phí thấp, và kết quả đo bằng phương pháp DEXA là tiêu chuẩn vàng cho chẩn đoán loãng xương, rất phù hợp cho sàng lọc tại cộng đồng Phương pháp này cũng được sử dụng trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoài Châu, Trần Thị Tô Châu, Nguyễn Thị Kim Dung, và Lê Thị Bích Hằng.
Nhiều nghiên cứu về loãng xương đã áp dụng các phương pháp khác nhau để đo mật độ xương, bao gồm phương pháp hấp thụ tia X năng lượng kép của Đỗ Thị Khánh Hỷ và các cộng sự, phương pháp Osteogram của Nguyễn Văn Công và Phan Thanh Hải, thăm dò X quang kết hợp với sinh hóa của Vũ Đình Chính, cũng như chụp X quang đốt sống của Vũ Thị Thanh Thủy.
Bàn luận về thực trạng loãng xương
2.1 Bàn luận về tỷ lệ loãng xương chung
Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra, tỷ lệ loãng xương của người cao tuổi phường Láng
Tỷ lệ giảm mật độ xương ở người cao tuổi là 32,5%, trong đó tỷ lệ loãng xương và giảm mật độ xương chung đạt 75,0% So với nghiên cứu của Đỗ Thị Khánh Hỷ, tỷ lệ loãng xương ở người cao tuổi là 45,9% và tỷ lệ loãng xương cùng giảm mật độ xương là 80,8% Tuy nhiên, khi so sánh với tỷ lệ loãng xương ở phụ nữ từ 40 – 60 tuổi (7,7%) trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Dung và tỷ lệ loãng xương ở nam giới từ 50 – 75 tuổi (11,1%) trong nghiên cứu của Lê Thị Bích Hằng, tỷ lệ này lại cao hơn nhiều Các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ loãng xương tăng rõ rệt theo độ tuổi, với người cao tuổi là nhóm có tỷ lệ loãng xương cao nhất.
2.2 Bàn luận về tỷ lệ loãng xương theo tuổi
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ loãng xương tăng theo độ tuổi, với 20,3% ở độ tuổi 60-69, 44,6% ở độ tuổi 70-79, và 60,0% ở độ tuổi trên 80 Kết quả này thấp hơn so với nghiên cứu của Đỗ Thị Khánh Hỷ, trong đó tỷ lệ loãng xương ở độ tuổi 60-69 là 42,85%, 70-79 là 66,6%, và đạt 100% ở độ tuổi trên 80 Ngược lại, nghiên cứu của Nguyễn Văn Công và Phan Thanh Hải cho thấy tỷ lệ loãng xương ở độ tuổi 60-69 là 46,7% ở nam giới và 96,6% ở nữ giới, trong khi ở độ tuổi 70-79, tỷ lệ này là 83,3% ở nam giới và 98,0% ở nữ giới, và đạt 100% ở độ tuổi trên 80 Tuy nhiên, kết quả của chúng tôi lại cao hơn so với nghiên cứu của Lê Thị Bích Hằng.
Tỷ lệ 69 tuổi chiếm 10,0%, trong khi độ tuổi 70 – 75 là 21,4% [14] Sự khác biệt này có thể do ĐTNC của Lê Thị Bích Hằng chủ yếu là nam giới, trong khi nghiên cứu của chúng tôi tập trung nhiều hơn vào nữ giới.
Tỷ lệ loãng xương tăng theo độ tuổi, với nguy cơ cao hơn ở những người lớn tuổi Đặc biệt, ở độ tuổi trên 80, tỷ lệ loãng xương có thể đạt tới 100%.
2.3 Bàn luận về tỷ lệ loãng xương theo giới
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ loãng xương ở nam giới là 27,5%, thấp hơn so với 33,5% ở nữ giới Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước đó, như nghiên cứu của Đỗ Thị Khánh Hỷ cho thấy tỷ lệ loãng xương ở nữ giới độ tuổi 70 – 79 là 71,8%, trong khi nam giới cùng độ tuổi chỉ là 42,7% Nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Thủy cũng chỉ ra tỷ lệ loãng xương ở nữ là 43,8%, trong khi ở nam chỉ là 14,7% Thêm vào đó, nghiên cứu của Nguyễn Văn Công và Phan Thanh Hải đã đề cập đến tỷ lệ loãng xương theo độ tuổi.
Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ loãng xương ở nữ giới cao hơn so với nam giới, điều này có nghĩa là nữ giới có nguy cơ mắc bệnh loãng xương lớn hơn.
2.4 Bàn luận về tỷ lệ loãng xương theo chiều cao
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ loãng xương ở nhóm ĐTNC có chiều cao dưới 150cm là 46,2%, trong khi nhóm trên 150cm chỉ là 25,0%, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,001) Điều này cho thấy chiều cao thấp có thể làm tăng nguy cơ loãng xương Tương tự, nghiên cứu của Vũ Đình Chính chỉ ra rằng phụ nữ có chiều cao dưới 140cm có triệu chứng lâm sàng gợi ý loãng xương là 40,3%, trong khi tỷ lệ này ở nhóm trên 160cm chỉ là 11,4% Các nghiên cứu khác cũng xác nhận chiều cao thấp là yếu tố nguy cơ của loãng xương.
2.5 Bàn luận về tỷ lệ loãng xương theo cân nặng
Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ loãng xương ở đối tượng nghiên cứu nam giới dưới 50kg là 44,4%, gấp đôi so với nhóm trên 50kg (24,6%), với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,001) Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Lê Thị Bích Hằng, cho thấy tỷ lệ loãng xương ở nam giới dưới 50kg là 23,3%, cao gấp đôi so với nhóm trên 50kg (11,8%) Nhiều nghiên cứu khác cũng xác nhận tỷ lệ loãng xương cao hơn ở nam giới dưới 50kg, như nghiên cứu của Nguyễn Hiếu Nhân và Phan Văn Tú Đối với nữ giới, nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Dung chỉ ra rằng tỷ lệ loãng xương cao nhất là 31,2% ở nhóm dưới 40kg, trong khi các nhóm nặng hơn có tỷ lệ thấp hơn Các nghiên cứu của Vũ Thị Thanh Thủy và Nguyễn Thị Thanh Phượng cũng sử dụng mốc 40kg để so sánh tỷ lệ loãng xương.
HUPH xương của phụ nữ sau mãn kinh trong nghiên cứu của mình và cũng đưa ra kết quả tương tự nhƣ Nguyễn Thị Kim Dung [8] [27] [33]
Nghiên cứu trong hơn 10 năm qua cho thấy nam giới có cân nặng dưới 50kg và nữ giới dưới 40kg có nguy cơ loãng xương cao hơn so với các nhóm khác.
2.6 Bàn luận về tỷ lệ loãng xương theo chỉ số BMI
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng, ở những đối tượng nữ có chỉ số BMI dưới 18,5 (tình trạng gầy, nhẹ cân), tỷ lệ loãng xương lên tới 58,3% Ngược lại, ở những đối tượng có chỉ số BMI ≥ 23 (tình trạng béo phì, thừa cân), tỷ lệ loãng xương chỉ là 26,4% Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 Kết quả này phù hợp với nhiều nghiên cứu trước đây, từ nghiên cứu của Vũ Đình Chính, Vũ Thị Thanh Thủy, Phan Văn Tú đến các nghiên cứu gần đây của Lê Thị Bích Hằng, Nguyễn Thị Kim Dung, Hồ Phạm Thục Lan Tất cả đều cho thấy rằng, chỉ số BMI càng thấp thì tỷ lệ loãng xương càng cao.
2.7 Bàn luận về tỷ lệ loãng xương theo tiền sử sản phụ khoa
Trong nghiên cứu này, chúng tôi tập trung vào ba yếu tố chính được xác định là nguy cơ gây loãng xương, bao gồm tuổi bắt đầu có kinh, tuổi mãn kinh và số lần sinh.
Tỷ lệ phụ nữ bị loãng xương cao nhất là 46,7% ở những người bắt đầu có kinh sau 19 tuổi, tiếp theo là 41,7% ở phụ nữ có kinh trước 13 tuổi, trong khi chỉ có 30,0% ở những người bắt đầu có kinh trong khoảng từ 13 đến 19 tuổi.
Tỷ lệ loãng xương ở phụ nữ mãn kinh trước 45 tuổi và sau 55 tuổi cao hơn so với những phụ nữ khác Mặc dù nhiều nghiên cứu tập trung vào thời gian mãn kinh, nhưng do đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là các cụ bà trên 60 tuổi, việc nhớ chính xác số năm mãn kinh là khó khăn Do đó, chúng tôi chỉ tập trung vào việc tìm hiểu tuổi mãn kinh mà không đi sâu vào chi tiết thời gian.
Tỷ lệ loãng xương cao hơn ở những phụ nữ sinh con từ 3 lần trở lên hoặc không sinh nở, theo các nghiên cứu trong và ngoài nước Sowers M.F và cộng sự chỉ ra rằng phụ nữ chưa sinh đẻ có mật độ xương cẳng tay thấp hơn từ 5,5% đến 8,6% so với những người đã sinh Ngoài ra, Dequeker J và cộng sự cũng phát hiện rằng mật độ xương của phụ nữ sinh 1-2 lần cao hơn so với phụ nữ chưa sinh, trong khi phụ nữ sinh từ 4 lần trở lên có mật độ xương thấp hơn so với những người sinh từ 3 lần trở xuống.
2.8 Bàn luận về tỷ lệ loãng xương theo tiền sử gãy xương, loãng xương
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ loãng xương ở những người đã từng gãy xương cao gấp đôi so với những người không có tiền sử gãy xương, với 57,1% so với 25,7% Đặc biệt, 100% trường hợp gãy xương 3 lần và 100% trường hợp gãy xương do tự nhiên đều bị loãng xương Chúng tôi chỉ quan tâm đến lực tác động vào xương khi gãy, phân loại thành mạnh hoặc yếu Mặc dù nghiên cứu của Lê Thị Bích Hằng cũng đề cập đến tiền sử gãy xương, nhưng không phân tích tỷ lệ loãng xương theo yếu tố này Thực tế lâm sàng cho thấy loãng xương dẫn đến gãy xương, nhưng chưa có nhiều nghiên cứu về khả năng loãng xương ở những người đã từng gãy xương Những người này cần chú ý đến tình trạng loãng xương của bản thân, vì tiền sử gãy xương rất quan trọng; nguy cơ gãy xương lần thứ hai có thể tăng từ 2 đến 3 lần so với trung bình dân số.
Bàn luận về một số yếu tố liên quan đến tình trạng loãng xương
Kết quả phân tích đơn biến chỉ ra 12 yếu tố liên quan đến tình trạng loãng xương, bao gồm tuổi, chiều cao, cân nặng, BMI, số lần sinh con, tiền sử gãy xương, tiền sử loãng xương, thói quen uống sữa, loại sữa uống, tần suất uống sữa, thời gian uống sữa và thói quen uống chè Sau khi áp dụng mô hình hồi quy logistic đa biến để kiểm soát yếu tố nhiễu, chúng tôi xác định được 3 yếu tố chính có liên quan là tuổi, thời gian và tần suất uống sữa.
Chưa có mối liên hệ rõ ràng giữa các yếu tố như giới tính, việc bổ sung Canxi, tuổi có kinh, tuổi mãn kinh, thói quen uống rượu bia, uống cà phê, hút thuốc lá và việc tập thể dục với tình trạng loãng xương.
3.1 Mối liên quan giữa tình trạng loãng xương và tuổi
Tuổi tác là yếu tố quan trọng làm tăng nguy cơ loãng xương, như được chứng minh trong nhiều nghiên cứu, bao gồm cả nghiên cứu của chúng tôi Kết quả phân tích đơn biến cho thấy mối liên hệ giữa tuổi và tình trạng loãng xương với độ mạnh kết hợp OR là 4,4 lần, và sau khi kiểm soát yếu tố nhiễu, độ mạnh này tăng lên 5,9 lần Đỗ Thị Khánh Hỷ cũng xác nhận sự gia tăng tình trạng loãng xương theo độ tuổi Nghiên cứu của Vũ Đình Chính chỉ ra rằng tỷ lệ loãng xương cột sống tăng theo tuổi và thời gian mãn kinh, với tỷ lệ ở phụ nữ trên 60 tuổi gấp 2 lần so với phụ nữ dưới 60 Đặc biệt, tỷ lệ loãng xương ở phụ nữ từ 65 đến 75 tuổi rất cao, do sự kết hợp giữa mất xương nhanh chóng do mãn kinh và mất xương chậm nhưng kéo dài do tuổi tác.
Theo Smith và Rizect (1966) tần suất loãng xương với lún đốt sống ở nữ là 2,7% giữa
55 - 59 tuổi, 6,8% giữa 60 - 64 tuổi, 11,5% giữa tuổi 65 - 69 tuổi và 20,3% giữa 70 - 74 tuổi [64]
Theo Ringe, tỷ lệ loãng xương ở phụ nữ Đức ở độ tuổi 50 - 70 tuổi là 19,6%; tăng lên 68,8% ở tuổi trên 70 [43]
Tuổi tác là yếu tố nguy cơ chính dẫn đến loãng xương, một tình trạng bệnh lý ngày càng phổ biến ở người cao tuổi Mặc dù tuổi tác không thể thay đổi, nhưng việc khám sức khỏe định kỳ và bổ sung canxi có thể giúp phòng ngừa loãng xương Với tốc độ già hóa nhanh chóng của Việt Nam và tỷ lệ người già ngày càng tăng, các vấn đề sức khỏe liên quan đến tuổi tác, đặc biệt là loãng xương, cần được chú trọng và quan tâm hơn.
3.2 Mối liên quan giữa tình trạng loãng xương và chiều cao
Nghiên cứu cho thấy rằng chiều cao có ảnh hưởng đáng kể đến nguy cơ loãng xương, với những người có chiều cao dưới 150 cm có tỷ lệ loãng xương cao hơn so với những người cao từ 150 cm trở lên Kết quả thống kê cho thấy sự khác biệt này là có ý nghĩa với p < 0,0013, cho thấy rằng những người thấp bé có đỉnh khối lượng xương nhỏ hơn và do đó có nguy cơ loãng xương cao hơn.
Chiều cao trung bình của HUPH đạt 3,3 cm trở lên, với sự phân bố chiều cao giữa các nhóm tuổi rất đồng đều Chúng tôi chưa quan sát thấy sự giảm chiều cao theo độ tuổi của đối tượng.
Sự biến đổi chiều cao ở tuổi già có thể do nhiều nguyên nhân, bao gồm giảm trương lực thần kinh cơ, hẹp đĩa đệm, và yếu tố di truyền Đặc biệt ở phụ nữ, sự giảm kích thước chiều cao các thân đốt sống và tình trạng gù cột sống do xẹp, lún đốt sống do loãng xương cũng là nguyên nhân quan trọng Tuy nhiên, nghiên cứu của chúng tôi không phát hiện sự giảm chiều cao rõ rệt ở người già Để phát hiện sự giảm chiều cao thực sự, việc đo chiều cao định kỳ là cần thiết, đặc biệt là theo dõi sự tiến triển của gù ở phụ nữ sau mãn kinh, điều này rất hữu ích trong việc đánh giá tình trạng loãng xương.
3.3 Mối liên quan giữa tình trạng loãng xương và cân nặng
Cân nặng thấp làm tăng nguy cơ loãng xương, với phụ nữ có cân nặng dưới 50 kg có tỷ lệ mắc bệnh cao gấp 4,8 lần so với những người nặng hơn 50 kg (p < 0,001) Nghiên cứu của Ballard P.A, Purdie D.W và cộng sự cho thấy trọng lượng trung bình của nhóm loãng xương là 60 ± 9,1 kg, trong khi nhóm không loãng xương là 69,2 ± 12,0 kg, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,01).
Theo Rodiguez và cộng sự, cân nặng là một trong hai yếu tố có thể dự đoán đƣợc tình trạng loãng xương
Nghiên cứu của Vũ Đình Chính, Vũ Thị Thanh Thủy và Trần Thị Tô Châu cho thấy nhóm phụ nữ bị loãng xương có trọng lượng thấp hơn rõ rệt so với nhóm không bị loãng xương Đặc biệt, Vũ Thị Thanh Thủy chỉ ra rằng những người có cân nặng từ 40 kg trở xuống có nguy cơ cao hơn bị lún đốt sống do loãng xương.
3.4 Mối liên quan giữa tình trạng loãng xương và BMI
BMI thấp làm tăng nguy cơ loãng xương, và đây là một yếu tố quan trọng liên quan đến tình trạng này Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng những người có chỉ số BMI thấp có nguy cơ cao hơn mắc bệnh loãng xương.
< 23 có nguy cơ loãng xương cao gấp 2,45 lần so với những người có BMI ≥ 23 (p <
0,01) Điều này cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu trên nữ giới cũng có kết quả tương tự:
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoài Châu trên 305 phụ nữ từ 40 tuổi trở lên tại thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh miền Tây Nam Bộ cho thấy rằng phụ nữ có chỉ số BMI dưới 18,5 có nguy cơ loãng xương cao gấp hai lần so với những người có chỉ số BMI từ 25 trở lên.
Nghiên cứu của Vũ Thị Thu Hiền cũng cho thấy chỉ số BMI có liên quan với tình trạng loãng xương p < 0,01 [54]
Loãng xương thường dễ xuất hiện ở phụ nữ có thể tạng nhỏ bé, do họ có đỉnh khối lượng xương thấp hơn so với những người có thể tạng to béo Nhiều tác giả đã chỉ ra rằng phụ nữ có chiều cao và cân nặng nhỏ hơn mức bình thường có nguy cơ cao mắc bệnh loãng xương Nghiên cứu của Riggs và Melton cũng đã xác nhận mối liên hệ này.
Số liệu của chúng tôi cho thấy thể lực của người cao tuổi tại thủ đô nhìn chung là tốt, với đa số ở mức độ bình thường, mặc dù vẫn có một số trường hợp béo phì và thừa cân Mặc dù không thể xác định lý do chính xác, nhưng điều kiện sống và kinh tế xã hội có thể là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến thể lực của họ Đối tượng khảo sát chủ yếu là người hưu trí, có trình độ học vấn cao và điều kiện kinh tế tương đối đầy đủ.
3.5 Mối liên quan giữa có uống canxi với tình trạng loãng xương
Canxi là yếu tố quan trọng trong việc duy trì và phát triển khối lượng xương Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra mối liên hệ giữa lượng canxi bổ sung và mật độ xương Tuy nhiên, nghiên cứu của chúng tôi không tìm thấy mối liên quan giữa việc bổ sung viên canxi và tình trạng loãng xương, có thể do kích thước mẫu quá nhỏ để phát hiện sự khác biệt.
3.6 Mối liên quan giữa số lần sinh đẻ và tình trạng loãng xương
Quá trình mang thai làm tăng hoạt động của nội tiết tố giới tính, giúp giảm nguy cơ loãng xương Tuy nhiên, việc sinh con quá nhiều có thể ảnh hưởng đến chuyển hóa canxi của người mẹ, do sự mang thai tác động đến sự cân bằng nội môi của hệ thống.