Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
2. Thực trạng loãng xương ở phường Láng Hạ
2.1 Tỷ lệ loãng xương của người cao tuổi ở phường Láng Hạ
Biểu đồ 5: Tỷ lệ loãng xương chung
Tỷ lệ loãng xương và giảm mật độ xương của người cao tuổi phường Láng Hạ khá cao, chiếm 75% ĐTNC, trong đó tỷ lệ loãng xương là 42,5% và tỷ lệ giảm mật độ xương là 32,5%. Nghĩa là trung bình trong 4 người, cứ 3 người có mật độ xương dưới mức bình thường mới có 1 người mật độ xương ở mức bình thường.
HUPH
Trung bình mật độ xương của ĐTNC là – 1,8 ± 1,6 (T – score) nằm ở mức giảm mật độ xương và ĐTNC có mật độ xương giảm thấp nhất là – 4,6 T – score.
2.2 Tỷ lệ loãng xương theo tuổi - Tỷ lệ loãng xương theo tuổi
Biểu đồ 6: Tỷ lệ loãng xương theo tuổi
Tỷ lệ loãng xương tăng dần theo tuổi, tỷ lệ này chỉ chiếm 20,3% ở độ tuổi từ 60 đến 69, tăng gấp đôi ở độ tuổi 70 đến 79 và tăng gấp 3 ở độ tuổi trên 80. Sự khác biệt về tỷ lệ loãng xương giữa các nhóm tuổi có ý nghĩa thống kê (p < 0,001).
GMĐX chiếm tỷ lệ chủ yếu ở nhóm tuổi 60 đến 69 và chiếm tỷ lệ khá cao ở 2 nhóm tuổi còn lại. Tỷ lệ GMĐX có xu hướng giảm theo độ tuổi.
- Tỷ trọng xương theo tuổi:
Bảng 4: Tỷ trọng trung bình của xương theo nhóm tuổi
Nhóm tuổi Tỷ trọng trung bình
của xương (X ± SD) Giá trị tối thiểu Giá trị tối đa
60 – 69 - 1,3 ± 1,5 - 4,5 3,3
HUPH
70 – 79 - 2,3 ± 1,4 - 4,6 2,9
>=80 - 2,7 ± 1,2 - 4,6 1,3
Kiểm định Anova, F = 17; p < 0,001
Tỷ trọng trung bình của xương giảm dần theo nhóm tuổi, các giá trị tối thiểu và tối đa cũng tương tự. Kiểm định Anova cho thấy, sự khác biệt về tỷ trọng xương giữa các nhóm tuổi có ý nghĩa thống kê với p < 0,001
2.3 Tỷ lệ loãng xương theo giới Bảng 5: Tỷ lệ loãng xương theo giới
Mật độ xương Giới
Loãng xương GMĐX Bình thường
N % N % N %
Nam 11 27,5 18 45,0 11 27,5
Nữ 63 33,5 79 42,0 46 24,5
χ 2 = 0,569; p > 0,05
Tỷ lệ loãng xương ở nữ giới cao hơn nam giới, 33,5% nữ giới bị loãng xương so với 27,5% nam giới bị loãng xương. Tỷ lệ GMĐX giữa nam và nữ chênh lệch không đáng kể. Tuy nhiên, sự khác biệt về tỷ lệ loãng xương giữa hai giới không có ý nghĩa thống kê ( p > 0,05). Điều này có thể do tỷ lệ nam giới tham gia nghiên cứu quá ít so với nữ giới.
2.4 Tỷ lệ loãng xương theo chiều cao
- Tỷ lệ loãng xương theo chiều cao của ĐTNC
HUPH
Biểu đồ 7: Tỷ lệ loãng xương theo chiều cao
Tỷ lệ loãng xương ở ĐTNC có chiều cao dưới 150cm là 46,2%, cao gấp đôi ĐTNC có chiều cao trên 150cm ( 25,0%). Tỷ lệ GMĐX không chênh lệch đáng kể ở hai nhóm. Sự khác biệt về tỷ lệ loãng xương giữa nhóm có chiều cao dưới 150cm và nhóm có chiều cao trên 150cm có ý nghĩa thống kê (p < 0,001).
- Tỷ trọng xương trung bình theo chiều cao của ĐTNC:
Bảng 6: Tỷ trọng xương trung bình theo chiều cao
Chiều cao Tỷ trọng trung bình
của xương (X ± SD) Giá trị tối thiểu Giá trị tối đa
< 150cm - 2,3 - 4,6 2,3
≥ 150cm - 1,5 - 4,6 3,3
Kiểm định Anova, F = 16,334; p < 0,001
Mật độ xương của nhóm có chiều cao dưới 150cm là – 2,3 T – score thấp hơn nhóm có chiều cao trên 150cm ( - 1,5 T – score) gần 2 lần. Kiểm định Anova cho thấy sự khác biệt về tỷ trọng xương giữa hai nhóm có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.
2.5 Tỷ lệ loãng xương theo cân nặng
HUPH
- Tỷ lệ loãng xương theo cân nặng của ĐTNC
Biểu đồ 8: Tỷ lệ loãng xương theo cân nặng
Tỷ lệ loãng xương ở những người có cân nặng dưới 50kg là 44,4% cao gần gấp đôi những người có cân nặng trên 50kg (24,6%). Sự khác biệt về tỷ lệ loãng xương ở hai nhóm cân nặng này là có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.
- Tỷ trọng trung bình xương theo cân nặng của ĐTNC Bảng 7: Tỷ trọng trung bình xương theo cân nặng
Cân nặng Tỷ trọng trung bình
của xương (X ± SD) Giá trị tối thiểu Giá trị tối đa
< 50kg - 2,3 - 4,5 2,3
≥ 50kg - 1,4 - 4,6 3,3
Kiểm định Anova, F = 17,628; p < 0,001
Mật độ xương của nhóm có cân nặng dưới 50kg là – 2,3 T – score thấp hơn nhóm có cân nặng trên 50kg ( - 1,5 T – score) gần 2 lần. Kiểm định Anova cho thấy sự khác biệt về tỷ trọng xương giữa hai nhóm có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.
HUPH
2.6 Tỷ lệ loãng xương theo BMI
Biểu đồ 9: Tỷ lệ loãng xương theo BMI
Tỷ lệ loãng xương tăng dần khi chỉ số BMI giảm dần, nghĩa là ĐTNC có chỉ số BMI càng cao thì tỷ lệ loãng xương càng thấp. Ở những ĐTNC có chỉ số BMI dưới 18,5 nghĩa là ĐTNC ở tình trạng gầy, nhẹ cân thì tỷ lệ loãng xương lên tới 58,3%. Trong khi đó, ở những ĐTNC có chỉ số BMI ≥ 23 nghĩa là ĐTNC ở dạng béo phì, thừa cân thì tỷ lệ loãng xương chỉ có 26,4%. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
2.7 Tỷ lệ loãng xương theo tình trạng sử dụng Canxi Bảng 8: Tỷ lệ loãng xương theo tình trạng sử dụng canxi
Mật độ xương Uống Canxi
Loãng xương GMĐX Bình thường Tổng
N % N % N % N %
Có uống 18 32,1 24 42,9 14 25,0 56 100
Không uống 56 32,6 73 42,4 57 25,0 172 100 χ 2 = 0,04; p > 0,05
Tỷ lệ loãng xương và giảm mật độ xương ở ĐTNC có sử dụng canxi và không sử dụng canxi gần nhƣ không chênh lệch. Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm này.
HUPH
2.8 Tỷ lệ loãng xương theo tiền sử sản phụ khoa - Tỷ lệ loãng xương theo tuổi bắt đầu có kinh
Bảng 9: Tỷ lệ loãng xương theo tuổi bắt đầu có kinh Mật độ xương
Tuổi có kinh
Loãng xương GMĐX Bình thường Tổng
N % N % N % N %
< 13 tuổi 5 41,7 5 41,7 2 16,6 12 100
13 – 19 tuổi 45 30,0 63 42,0 42 28,0 150 100
>19 tuổi 7 46,7 6 40,0 2 13,3 15 100
Không nhớ 6 54,5 5 45,5 0 0,0 11 100
χ 2 = 10,108; p > 0,05
Có 11 phụ nữ trong các ĐTNC không nhớ tuổi bắt đầu có kinh. Trong 117 phụ nữ nhớ được tuổi mãn kinh của mình thì tỷ lệ loãng xương cao ở những phụ nữ có kinh từ sau 19 tuổi hoặc trước 13 tuổi. Tỷ lệ này cao nhất là 46,7% ở phụ nữ có kinh sau 19 tuổi, sau đó là đến phụ nữ có kinh trước 13 tuổi với 41,7% bị loãng xương và chỉ chiếm 30,0% ở những phụ nữ bắt đầu có kinh trong khoảng 13 đến 19 tuổi. Tỷ lệ GMĐX không khác biệt đáng kể giữa các nhóm này. Sự khác biệt về tỷ lệ loãng xương giữa các nhóm không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.
- Tỷ lệ loãng xương theo tuổi mãn kinh
Bảng 10: Tỷ lệ loãng xương theo tuổi mãn kinh Mật độ xương
Tuổi mãn kinh
Loãng xương GMĐX Bình thường Tổng
N % N % N % N %
< 45 tuổi 6 18,8 19 59,4 7 21,9 32 100 45 – 55 tuổi 52 37,4 53 38,1 34 24,5 139 100
HUPH
Mật độ xương Tuổi mãn kinh
Loãng xương GMĐX Bình thường Tổng
N % N % N % N %
>55 tuổi 5 29,4 7 41,2 5 29,4 17 100
χ 2 = 5,976; p > 0,05
Tỷ lệ loãng xương cao nhất ở những ĐTNC mãn kinh trong độ tuổi 45 đến 55 tuổi, chiếm 37,4%. Ở những phụ nữ mãn kinh trước 45 tuổi hoặc sau 55 tuổi thì tỷ lệ này không chênh lệch đáng kể với 18,8% phụ nữ mãn kinh trước 45 tuổi bị loãng xương và 29,4% phụ nữ mãn kinh sau tuổi 55 bị loãng xương. Tuy vậy, tỷ lệ GMĐX lại phân bố không giống như tỷ lệ loãng xương. Tỷ lệ này cao nhất ở phụ nữ mãn kinh trước 45 tuổi với 59,4%. Tiếp đến là 41,2% ở những phụ nữ mãn kinh sau tuổi 55. Phụ nữ mãn kinh trong độ tuổi 45 – 55 tuổi thì tỷ lệ GMĐX chiếm 38,1%. Sự khác biệt về tỷ lệ loãng xương giữa các nhóm này không có ý nghĩa thống kê.
- Tỷ lệ loãng xương theo số lần sinh
Biểu đồ 10: Tỷ lệ loãng xương theo số lần sinh
HUPH
Tỷ lệ loãng xương cao nhất ở những ĐTNC sinh con từ 3 lần trở lên với 48,4%.
Tiếp đó là những phụ nữ chưa sinh lần nào cũng chiếm tỷ lệ loãng xương cao với 37,5%. Và cuối cùng, những phụ nữ sinh từ 1 – 2 con có tỷ lệ loãng xương thấp nhất với 16,9%. Tuy nhiên, tỷ lệ GMĐX lại cao hơn ở nhóm phụ nữ chƣa sinh lần nào với 50,0%. Tiếp đến là nhóm phụ nữ sinh từ 1 – 2 con với 44,6%. Phụ nữ sinh từ 3 lần trở lên tỷ lệ GMĐX cũng khá cao với 37,9%. Sự khác biệt về tỷ lệ loãng xương giữa ba nhóm này có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.
2.9 Tỷ lệ loãng xương theo tiền sử gãy xương và gia đình có tiền sử loãng xương 2.9.1 Tỷ lệ loãng xương theo tiền sử gãy xương
- Tỷ lệ loãng xương theo tiền sử gãy xương
Biểu đồ 11: Tỷ lệ loãng xương theo tiền sử gãy xương
Tỷ lệ loãng xương ở những ĐTNC đã từng gãy xương cao gấp đôi những ĐTNC đã từng gãy xương, 57,1% so với 25,7%. Sự khác biệt về tỷ lệ loãng xương giữa hai nhóm này có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.
- Tỷ lệ loãng xương theo số lần gãy xương
Bảng 11: Tỷ lệ loãng xương theo số lần gãy xương
HUPH
Mật độ xương Số lần gãy
Loãng xương GMĐX Bình thường Tổng
N % N % N % N %
1 24 58,5 13 31,7 5 9,8 42 100,0
2 2 33,3 2 33,3 2 33,3 6 100,0
3 2 100,0 0 0,0 0 0,0 2 100,0
N = 49; χ 2 = 4,682; p > 0,05
Có 49 trong số 228 ĐTNC đã từng bị gãy xương. Trong số này, tỷ lệ loãng xương ở những ĐTNC đã từng gãy xương 1 lần cao gấp đôi những ĐTNC đã từng gãy xương 2 lần và tỷ lệ loãng xương ở những người gãy xương 3 lần lên tới 100,0%. Tuy nhiên, sự khác biệt về tỷ lệ loãng xương giữa các nhóm này không có ý nghĩa thống kê với p >
0,05.
- Tỷ lệ loãng xương theo hoàn cảnh gãy xương
Bảng 12: Tỷ lệ loãng xương theo hoàn cảnh gãy xương Mật độ xương
Hoàn cảnh gãy
Loãng xương GMĐX Bình thường Tổng
N % N % N % N %
Sang chấn nặng 15 60,0 6 24,0 4 16,0 25 100,0 Sang chấn nhẹ 11 50,0 9 40,9 2 9,1 22 100,0
Khác 2 100,0 0 0,0 0 0,0 2 100,0
N = 49; χ 2 = 4,012; p > 0,05
Trong 49 ĐTNC đã từng bị gãy xương, có 2 ĐTNC tự nhiên gãy xương, không do lực tác động nhẹ hay nặng. Trong 47 ĐTNC còn lại, tỷ lệ loãng xương ở những ĐTNC gãy xương do lực tác động mạnh chiếm tỷ lệ chủ yếu với 60,0% và do lực tác động nhẹ là 50,0%
HUPH
. Sự khác biệt về tỷ lệ loãng xương giữa ba nhóm này không có ý nghĩa thống kê với p >
0,05.
2.9.2 Tỷ lệ loãng xương theo gia đình có tiền sử loãng xương
Biểu đồ 12: Tỷ lệ loãng xương theo gia đình có tiền sử loãng xương
Trong 228 ĐTNC, có 48 đối tượng không biết gia đình mình có tiền sử loãng xương.
Trong số các ĐTNC biết gia đình mình có tiền sử loãng xương hay không, tỷ lệ loãng xương ở những ĐTNC có người nhà bị loãng xương cao gấp đôi những ĐTNC không có người nhà bị loãng xương, 53,3% so với 28,7%. Sự khác biệt về tỷ lệ loãng xương giữa các nhóm này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
2.10 Tỷ lệ loãng xương theo thói quen ăn uống
2.10.1 Tỷ lệ loãng xương theo có thói quen uống sữa - Tỷ lệ loãng xương theo có thói quen uống sữa
Bảng 13: Tỷ lệ loãng xương theo có thói quen uống sữa Mật độ xương
Uống sữa
Loãng xương GMĐX Bình thường Tổng
N % N % N % N %
Có 35 30,4 43 37,4 37 32,2 115 100,0
Không 39 34,5 54 47,8 20 17,7 113 100,0
χ 2 = 6,597; p < 0,05
HUPH
Tỷ lệ loãng xương ở ĐTNC có thói quen uống sữa là 30,4% còn ở nhóm không có thói quen uống sữa là 34,5%. Tỷ lệ GMĐX của nhóm ĐTNC có thói quen uống sữa là 37,4% còn nhóm không có thói quen uống sữa là 47,8%. Sự khác biệt giữa hai nhóm này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
- Tỷ lệ loãng xương theo loại sữa uống
Bảng 14: Tỷ lệ loãng xương theo loại sữa uống Mật độ xương
Loại sữa
Loãng xương GMĐX Bình thường Tổng
N % N % N % N %
Sữa tươi 8 30,8 9 34,6 9 34,6 26 100,0
Sữa bột 26 34,7 30 40,0 19 25,3 75 100,0
Sữa đậu nành 1 16,7 0 0,0 5 83,3 6 100,0
Loại khác 0 0,0 4 50,0 4 50,0 8 100,0
N = 115; χ 2 = 16; p < 0,05
Trong 228 ĐTNC có 115 đối tượng có thói quen uống sữa. Tỷ lệ loãng xương ở ĐTNC có thói quen uống sữa bột (phần lớn là sữa Ensure, Enlene) là cao nhất với 34,7%.
Tiếp đó là những ĐTNC có thói quen uống sữa tươi với 30,8%. ĐTNC có thói quen uống sữa đậu nành là 16,7% còn những ĐTNC có thói quen uống các loại sữa khác nhƣ sữa chua, sữa đặc thì chỉ là 0,0%. Sự khác biệt giữa các nhóm này có ý nghĩa thống kê với p
< 0,05.
- Tỷ lệ loãng xương theo tần suất uống sữa
Bảng 15: Tỷ lệ loãng xương theo tần suất uống sữa
HUPH
Mật độ xương Tần suất uống sữa
LX GMĐX Bình thường Tổng
N % N % N % N %
Thường xuyên 25 35,2 28 39,4 18 25,4 71 100,0 Thỉnh thoảng 6 19,4 8 25,8 17 54,8 31 100,0
Ít khi 4 30,8 7 53,8 2 15,4 13 100,0
N = 115; χ 2 = 10,7; p < 0,05
Trong 115 ĐTNC có thói quen uống sữa, tỷ lệ loãng xương ở ĐTNC thường xuyên uống sữa chiếm tỷ lệ cao nhất là 35,2%, tiếp đó là nhóm ít khi uống với 30,8% và nhóm thỉnh thoảng uống chỉ chiếm 19,4%. Tỷ lệ GMĐX ở nhóm ít khi uống sữa chiếm tỷ lệ cao nhất với 53,8%. Tiếp đó, là nhóm thường xuyên uống với 39,4% và nhóm thỉnh thoảng uống là 25,8%. Sự khác biệt về tỷ lệ giữa các nhóm này có ý nghĩa thống kê với p
< 0,05.
- Tỷ lệ loãng xương theo thời gian uống sữa
Bảng 16: Tỷ lệ loãng xương theo thời gian uống sữa Mật độ xương
Thời gian uống sữa
Loãng xương GMĐX Bình thường Tổng
N % N % N % N %
Dưới 1 năm 14 50,0 7 25,0 7 25,0 28 100,0
1 – 2 năm 6 20,0 13 43,3 11 36,7 30 100,0
3 – 5 năm 10 31,2 16 50,0 6 18,8 32 100,0
Trên 5 năm 5 20,0 7 28,0 13 52,0 25 100,0
N = 115; χ 2 = 13,987; p < 0,05
HUPH
Trong 115 ĐTNC có thói quen uống sữa, tỷ lệ loãng xương ở ĐTNC có thời gian uống sữa dưới 1 năm chiếm tỷ lệ cao nhất là 50,0% và nhóm uống trên 5 năm hoặc từ 1 – 2 năm chiếm tỷ lệ thấp nhất là 20,0%. Tỷ lệ GMĐX cao nhất ở nhóm uống từ 3 – 5 năm và nhóm uống 1 – 2 năm với 50,0% và 43,3%. Sự khác biệt về tỷ lệ giữa các nhóm này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
2.10.2 Tỷ lệ loãng xương theo có thói quen uống rượu/bia Bảng 17: Tỷ lệ loãng xương theo có thói quen uống rượu/bia Mật độ xương
Uống rƣợu/bia
Loãng xương GMĐX Bình thường Tổng
N % N % N % N %
Có 19 33,3 24 42,1 14 24,6 57 100,0
Không 55 32,2 73 42,7 43 25,1 171 100,0
χ 2 = 0,027; p > 0,05
Tỷ lệ loãng xương và GMĐX ở nhóm ĐTNC có thói quen uống rượu bia và nhóm không có thói quen không chênh lệch đáng kể. Sự khác biệt về tỷ lệ giữa các nhóm này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.
2.10.3 Tỷ lệ loãng xương theo có thói quen uống chè (trà) - Tỷ lệ loãng xương theo có thói quen uống chè (trà)
Biểu đồ 13: Tỷ lệ loãng xương theo có thói quen uống chè (trà)
HUPH
Tỷ lệ loãng xương ở những ĐTNC có thói quen uống chè là 26,9% thấp hơn những ĐTNC không có thói quen uống chè (39,8%). Sự khác biệt về tỷ lệ giữa các nhóm này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
- Tỷ lệ loãng xương theo tần suất uống chè (trà)
Bảng 18: Tỷ lệ loãng xương theo tần suất uống chè (trà) Mật độ xương
Uống chè (trà)
Loãng xương GMĐX Bình thường Tổng
N % N % N % N %
Thường xuyên 27 26,7 42 41,6 32 31,7 101 100,0 Thỉnh thoảng 3 21,4 7 50,0 4 28,6 14 100,0
Ít khi 5 33,3 6 40,0 4 26,7 15 100,0
N = 130; χ 2 = 0,735; p > 0,05
Trong 228 ĐTNC có 130 đối tượng có thói quen uống chè. Tỷ lệ loãng xương ở những ĐTNC ít khi uống chè là cao nhất với 33,3%. Tiếp đến là nhóm thường xuyên uống với 26,7%. Và thấp nhất là nhóm thỉnh thoảng uống với 21,4%. Tỷ lệ GMĐX khác nhau không đáng kể giữa các nhóm. Sự khác biệt về tỷ lệ giữa các nhóm này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.
- Tỷ lệ loãng xương theo thời gian uống chè (trà)
Bảng 19: Tỷ lệ loãng xương theo thời gian uống chè (trà) Mật độ xương
Uống chè (trà)
Loãng xương GMĐX Bình thường Tổng
N % N % N % N %
Dưới 1 năm 8 47,1 5 29,4 4 23,5 17 100,0
1 – 2 năm 3 37,5 3 37,5 2 25,0 8 100,0
HUPH
3 – 5 năm 1 5,0 12 60,0 7 35,0 20 100,0 Trên 5 năm 23 27,1 35 41,2 27 31,8 85 100,0
N = 130; χ 2 = 10,462; p > 0,05
Trong 130 đối tượng có thói quen uống chè, tỷ lệ loãng xương ở những ĐTNC có thời gian uống chè dưới 1 năm chiếm tỷ lệ cao nhất là 47,1%. Tiếp đến là nhóm có thời gian uống chè từ 1 – 2 năm. Nhóm có tỷ lệ loãng xương thấp nhất là nhóm uống chè từ 3 – 5 năm. Sự khác biệt về tỷ lệ giữa các nhóm này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.
2.10.4 Tỷ lệ loãng xương theo có thói quen uống cà phê Bảng 20: Tỷ lệ loãng xương theo có thói quen uống cà phê Mật độ xương
Uống cà phê
Loãng xương GMĐX Bình thường Tổng
N % N % N % N %
Có 28 35,9 33 42,3 17 21,8 78 100,0
Không 46 30,7 64 42,7 40 26,6 150 100,0
χ 2 = 0,926; p > 0,05
Trong 228 ĐTNC có 78 đối tượng có thói quen uống cà phê. Tỷ lệ loãng xương ở những ĐTNC có thói quen uống cà phê là 35,9% cao hơn những ĐTNC không có thói quen uống cà phê (30,7%). Sự khác biệt về tỷ lệ giữa các nhóm này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.
2.10.5 Tỷ lệ loãng xương theo có thói quen hút thuốc Bảng 21: Tỷ lệ loãng xương theo có thói quen hút thuốc Mật độ xương
Hút thuốc
Loãng xương GMĐX Bình thường Tổng
N % N % N % N %
HUPH
Có 3 25,0 7 58,3 2 16,7 12 100,0
Không 71 32,9 90 41,7 55 25,5 216 100,0
χ 2 = 1,3; p > 0,05
Chỉ có 12 đối tƣợng trong 228 ĐTNC có thói quen hút thuốc. Tỷ lệ GMĐX ở những ĐTNC có thói quen hút thuốc là 58,3% cao hơn nhóm không có thói quen hút thuốc (41,7%). Sự khác biệt về tỷ lệ giữa các nhóm này không có ý nghĩa thống kê với p >
0,05.
2.11 Tỷ lệ loãng xương theo thói quen tập thể dục thể thao
Bảng 22: Tỷ lệ loãng xương theo có thói quen tập thể dục thể thao Mật độ xương
Tập TDTT
Loãng xương GMĐX Bình thường Tổng
N % N % N % N %
Có 53 29,3 80 44,2 48 26,5 181 100,0
Không 21 44,7 17 36,2 9 19,1 47 100,0
χ 2 = 3,968; p > 0,05
Phường Láng Hạ là một phường dân trí cao nên ý thức tập TDTT của người dân cũng rất cao, tỷ lệ các cụ tập TDTT chiếm tới 79,4%. Các môn TDTT các cụ tham gia tập rất phong phú: đi bộ là môn chủ yếu, bên cạnh đó thì vẫy tay, bơi cũng chiếm phần lớn, ngoài ra một số cụ tập yoga, khiêu vũ, cầu lông, bóng bàn… Tỷ lệ loãng xương của nhóm ĐTNC có tập TDTT là 29,3%, chỉ bằng một nửa nhóm không có thói quen tập TDTT (44,7%). Sự khác biệt về tỷ lệ giữa các nhóm này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.