ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Nghiên cứu định lượng a Người cao tuổi đang sinh sống tại huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh
NCT từ 60 tuổi trở lên
Người cao tuổi có khả năng giao tiếp, trả lời được phỏng vấn, có đủ năng lực hành vi để trả lời các câu hỏi
- Đang mắc bệnh nặng không thể tham gia
- Không có mặt tại địa bàn nghiên cứu trong thời điểm tiến hành thu thập số liệu
- Không đồng ý tham gia nghiên cứu b Sổ sách, báo cáo kết quả hoạt động chương trình NCT tại các xã, thị trấn năm
Trạm trưởng Trạm Y tế xã, thị trấn, Chủ tịch, Phó chủ tịch NCT xã, NCT hiện đang sinh sống tại thôn thuộc 2 xã trên địa bàn nghiên cứu
Tiêu chí chọn: Đồng ý tham gia phỏng vấn
- Đang mắc bệnh nặng không thể tham gia
- Không có mặt tại địa bàn cứu trong thời điểm tiến hành thu thập số liệu
2.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu
Từ tháng 11 năm 2019 đến tháng 9 năm 2020 Địa điểm: Tại xã Châu Phong, xã Đào Viên, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh
Nghiên cứu cắt ngang có phân tích kết hợp định lượng với định tính
2.4 Cỡ mẫu và chọn mẫu
2.4.1 Cấu phần định lượng a Cỡ mẫu: Áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho giá trị trung bình (38)
Công thức tính cỡ mẫu tối thiểu cho nghiên cứu được xác định bằng biểu thức \((Z_{1-\alpha/2})^2 \sigma^2 n d^2\), trong đó \(n\) là cỡ mẫu tối thiểu cần thiết, \(\alpha\) là mức ý nghĩa thống kê với giá trị \(\alpha = 0,05\), và \(Z_{1-\alpha/2} = 1,96\) Độ lệch chuẩn \(\sigma\) được chọn là 23,9, dựa trên nghiên cứu của Nhâm Ngọc Hà năm 2015 Giới hạn sai số chấp nhận được được xác định là \(d = 3,0\).
Thay các chỉ số vào công thức trên: n = 243 người cao tuổi
Để đảm bảo tính chính xác của nghiên cứu, chúng tôi đã dự phòng 10% đối tượng có thể từ chối tham gia hoặc không thể tiếp cận tại thời điểm nghiên cứu, do đó cỡ mẫu được xác định là 268 người cao tuổi Cuối cùng, nghiên cứu đã phỏng vấn thành công 262 người cao tuổi.
Nhóm nghiên cứu đã lập danh sách tất cả người cao tuổi từ 60 tuổi trở lên tại 2 xã Đào Viên và Châu Phong, với tổng số 2769 người Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên được sử dụng để đảm bảo tính đại diện cho nghiên cứu.
- Chọn đối tượng theo danh sách đã được lập tại 2 xã
+ Tính khoảng cách mẫu k = N/n (N là tổng số người cao tuổi của 2 xã), n là cỡ mẫu nghiên cứu n= 268 -> k = 10
Chọn người cao tuổi từ danh sách do hội NCT và trạm y tế xã cung cấp, tiến hành lựa chọn ngẫu nhiên từ số 1 đến 10, và chọn NCT thứ 8 ở đầu danh sách.
HUPH sẽ chọn người tham gia nghiên cứu từ danh sách bằng cách bắt đầu từ người thứ 8 và cộng thêm hệ số k (8+k) để xác định người tiếp theo Quy trình này tiếp tục theo công thức 8 + (n-1) x k cho đến khi đủ số lượng mẫu nghiên cứu Nếu người được chọn không đồng ý tham gia hoặc không thể tiếp cận, sẽ chọn người tiếp theo trong danh sách để phỏng vấn.
2.4.2 Cấu phần định tính a Cỡ mẫu: nhóm nghiên cứu tiến hành chọn
- Cán bộ y tế: 02 trạm trưởng
- Cán bộ địa phương: 02 Chủ tịch, Phó chủ tịch hội NCT
Người cao tuổi: Chọn 10 NCT hiện đang sinh sống tại địa phương và không có ý định di cư Đối với việc chọn mẫu trong nghiên cứu định tính, cán bộ y tế, cán bộ địa phương và NCT sẽ được chọn mẫu chủ đích, với sự khác biệt về nhóm tuổi, giới tính, nghề nghiệp hiện tại, BHYT và tình trạng sức khỏe hiện tại.
2.5 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Công cụ thu thập số liệu
Công cụ thu thập số liệu trong nghiên cứu này là phiếu phỏng vấn cá nhân dành cho người cao tuổi (NCT) tại huyện Quế Võ, bao gồm 10 câu hỏi về các yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống (CLCS) của NCT và 65 câu hỏi mô tả chi tiết về CLCS Bộ công cụ này đã được áp dụng cho 262 NCT và được chỉnh sửa phù hợp trước khi tiến hành thu thập số liệu chính thức Đặc biệt, công cụ đo lường CLCS NCT được sử dụng trong nghiên cứu này dựa trên bộ công cụ do tác giả Nguyễn Thanh Hương và cộng sự tại Trường Đại học Y tế Công Cộng phát triển.
Trước khi thu thập số liệu chính thức, nhóm nghiên cứu đã thảo luận với Chủ tịch NCT, Trạm trưởng và chuyên trách NCT của hai xã Họ đã tiến hành phỏng vấn thử năm NCT tại mỗi xã để xác định phương pháp hỏi phù hợp cho từng đối tượng nghiên cứu.
Phiếu phỏng vấn gồm 2 phần:
- Thông tin chung: tuổi, giới, dân tộc, tôn giáo, tình trạng hôn nhân, TĐHV, BHYT, bệnh mạn tính…
- Câu hỏi đo lường CLCS của NCT: gồm 65 câu hỏi bao trùm 6 khía cạnh liên quan đến CLCS của NCT
2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu
Nhóm nghiên cứu đã thực hiện phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu bằng cách sử dụng phiếu phỏng vấn có cấu trúc, đồng thời tiến hành phỏng vấn sâu với 10 đối tượng nghiên cứu theo cấu trúc đã được quy định.
2.5.3 Quy trình thu thập số liệu a Điều tra thử
Mỗi xã sẽ chọn ra 10 người cao tuổi và giáo viên thể dục để phối hợp với đội ngũ điều tra viên thực hiện một cuộc khảo sát thử nghiệm Mục đích của cuộc khảo sát này là xác định nội dung, tổng thời gian trả lời, cũng như những câu hỏi khó hiểu hoặc không phù hợp với đối tượng nghiên cứu Đồng thời, sẽ tiến hành tập huấn cho các điều tra viên để đảm bảo chất lượng và hiệu quả của quá trình điều tra.
- Thành phần: là cán bộ chuyên trách, công tác viên NCT của hai xã Đào Viên và Châu Phong
- Thời gian: 01 buổi tại Trung tâm Y tế huyện Quế Võ
Tài liệu tập huấn bao gồm bộ câu hỏi nhằm đo lường chất lượng cuộc sống của người cao tuổi Giám sát viên sẽ giới thiệu bộ câu hỏi này cho cán bộ tham gia phỏng vấn trong quá trình thực hiện.
+ Giám sát viên hướng dẫn ĐTV thực hiện hỏi và cách điền nội dung, thông tin vào bảng hỏi
Giám sát viên cần giải thích rõ ràng các nội dung của câu hỏi và đảm bảo rằng người tham gia phỏng vấn đã đồng ý tham gia nghiên cứu Đồng thời, việc tổ chức thu thập số liệu cũng phải được thực hiện một cách cẩn thận và có hệ thống.
- Nghiên cứu viên liên hệ với chủ tịch NCT, trạm trưởng, cán bộ chuyên trách tiến hành phỏng vấn
- Đối với thu thập thông tin định lượng
Nghiên cứu viên và điều tra viên tiến hành phỏng vấn người cao tuổi (NCT) trong quá trình khám sức khỏe và kiểm tra bệnh không lây nhiễm tại trạm Nếu NCT không tham gia khám sức khỏe định kỳ hoặc không được quản lý bệnh không lây nhiễm tại trạm, điều tra viên sẽ đến tận nhà để thực hiện phỏng vấn.
ĐTV tiến hành phỏng vấn NCT bằng cách chào hỏi và giới thiệu thông tin cá nhân, đồng thời giải thích rõ ràng lợi ích của việc tham gia nghiên cứu Sau khi NCT xác nhận đồng ý tham gia, điều tra viên sẽ thực hiện phỏng vấn theo bảng hỏi Để đạt hiệu quả cao nhất, điều tra viên cần nhấn mạnh rằng mọi thông tin liên quan trong quá trình phỏng vấn sẽ được giữ bí mật.
Để thu thập thông tin định tính, cần thực hiện phỏng vấn sâu đối tượng nghiên cứu theo bộ câu hỏi trong cùng khoảng thời gian Quá trình phỏng vấn sẽ tiếp tục cho đến khi đạt đủ cỡ mẫu nghiên cứu Kết quả từ nghiên cứu định tính giúp nghiên cứu viên hiểu rõ hơn về thái độ và hành vi của người cao tuổi, những yếu tố có thể đã bị bỏ qua trong quá trình thu thập thông tin định lượng.
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang có phân tích kết hợp định lượng với định tính
Cỡ mẫu và chọn mẫu
2.4.1 Cấu phần định lượng a Cỡ mẫu: Áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho giá trị trung bình (38)
Công thức tính cỡ mẫu tối thiểu cho nghiên cứu được xác định bằng biểu thức \((Z_{1-\alpha/2})^2 \sigma^2 n d^2\), trong đó \(n\) là cỡ mẫu tối thiểu cần thiết, \(\alpha\) là mức ý nghĩa thống kê với giá trị \(\alpha = 0,05\), và \(Z_{1-\alpha/2} = 1,96\) Độ lệch chuẩn \(\sigma\) được chọn là 23,9, dựa trên nghiên cứu của Nhâm Ngọc Hà năm 2015 Giới hạn sai số chấp nhận được được xác định là \(d = 3,0\).
Thay các chỉ số vào công thức trên: n = 243 người cao tuổi
Để đảm bảo tính chính xác của nghiên cứu, chúng tôi đã dự phòng 10% đối tượng có thể từ chối tham gia hoặc không thể tiếp cận tại thời điểm nghiên cứu, do đó cỡ mẫu được xác định là 268 người cao tuổi Cuối cùng, nghiên cứu đã phỏng vấn thành công 262 người cao tuổi.
Nhóm nghiên cứu đã lập danh sách tất cả người cao tuổi từ 60 tuổi trở lên tại 2 xã Đào Viên và Châu Phong, với tổng số 2769 người Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên được sử dụng để đảm bảo tính đại diện cho nghiên cứu.
- Chọn đối tượng theo danh sách đã được lập tại 2 xã
+ Tính khoảng cách mẫu k = N/n (N là tổng số người cao tuổi của 2 xã), n là cỡ mẫu nghiên cứu n= 268 -> k = 10
Chọn người cao tuổi từ danh sách do hội NCT và trạm y tế xã cung cấp, tiến hành lựa chọn ngẫu nhiên từ số 1 đến 10, và chọn NCT thứ 8 ở đầu danh sách.
HUPH sẽ chọn người tham gia nghiên cứu từ danh sách bằng cách bắt đầu từ người thứ 8 và cộng thêm hệ số k (8+k) để xác định người tiếp theo Quy trình này tiếp tục theo công thức 8 + (n-1) x k cho đến khi đủ số lượng mẫu nghiên cứu Nếu người được chọn không đồng ý tham gia hoặc không thể tiếp cận, sẽ chọn người tiếp theo trong danh sách để phỏng vấn.
2.4.2 Cấu phần định tính a Cỡ mẫu: nhóm nghiên cứu tiến hành chọn
- Cán bộ y tế: 02 trạm trưởng
- Cán bộ địa phương: 02 Chủ tịch, Phó chủ tịch hội NCT
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã chọn 10 người cao tuổi (NCT) đang sinh sống tại địa phương và không có ý định di cư Việc chọn mẫu được thực hiện một cách có chủ đích, bao gồm cán bộ y tế, cán bộ địa phương và NCT Đặc biệt, NCT được chọn sẽ có sự khác biệt về nhóm tuổi, giới tính, nghề nghiệp hiện tại, bảo hiểm y tế (BHYT) và tình trạng sức khỏe hiện tại.
Công cụ và phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Công cụ thu thập số liệu
Công cụ thu thập số liệu trong nghiên cứu này là phiếu phỏng vấn cá nhân dành cho người cao tuổi (NCT) tại huyện Quế Võ, bao gồm 10 câu hỏi về các yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống (CLCS) của NCT và 65 câu hỏi mô tả chi tiết về CLCS Bộ công cụ này đã được áp dụng cho 262 NCT và được chỉnh sửa để phù hợp trước khi tiến hành thu thập số liệu chính thức Đặc biệt, công cụ đo lường CLCS NCT được sử dụng dựa trên bộ công cụ do tác giả Nguyễn Thanh Hương và cộng sự tại Trường Đại học Y tế Công Cộng phát triển, nhằm đảm bảo tính chính xác và phù hợp với bối cảnh Việt Nam.
Trước khi thu thập số liệu chính thức, nhóm nghiên cứu đã thảo luận với Chủ tịch NCT, Trạm trưởng và chuyên trách NCT của hai xã Họ đã tiến hành phỏng vấn thử năm NCT từ mỗi xã để xác định phương pháp hỏi phù hợp cho từng đối tượng nghiên cứu.
Phiếu phỏng vấn gồm 2 phần:
- Thông tin chung: tuổi, giới, dân tộc, tôn giáo, tình trạng hôn nhân, TĐHV, BHYT, bệnh mạn tính…
- Câu hỏi đo lường CLCS của NCT: gồm 65 câu hỏi bao trùm 6 khía cạnh liên quan đến CLCS của NCT
2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu
Nhóm nghiên cứu đã thực hiện phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu bằng cách sử dụng phiếu phỏng vấn có cấu trúc, đồng thời tiến hành phỏng vấn sâu với 10 đối tượng nghiên cứu theo cấu trúc đã được quy định.
2.5.3 Quy trình thu thập số liệu a Điều tra thử
Mỗi xã sẽ chọn ra 10 người cao tuổi (NCT) để phối hợp với Giám sát viên (GSV) và Điều tra viên (ĐTV) thực hiện điều tra thử nhằm xác định nội dung, tổng thời gian trả lời, cũng như những câu hỏi khó hiểu hoặc không phù hợp với đối tượng nghiên cứu Đồng thời, cần tổ chức tập huấn cho các điều tra viên để nâng cao hiệu quả công việc.
- Thành phần: là cán bộ chuyên trách, công tác viên NCT của hai xã Đào Viên và Châu Phong
- Thời gian: 01 buổi tại Trung tâm Y tế huyện Quế Võ
Tài liệu tập huấn bao gồm bộ câu hỏi nhằm đánh giá chất lượng cuộc sống của người cao tuổi (NCT) Giám sát viên sẽ giới thiệu bộ câu hỏi này cho cán bộ tham gia phỏng vấn trong quá trình thực hiện.
+ Giám sát viên hướng dẫn ĐTV thực hiện hỏi và cách điền nội dung, thông tin vào bảng hỏi
Giám sát viên cần giải thích rõ ràng các nội dung của câu hỏi và đảm bảo rằng trong quá trình phỏng vấn, người tham gia nghiên cứu (NCT) phải đồng ý tham gia Đồng thời, việc tổ chức thu thập số liệu cũng cần được thực hiện một cách có hệ thống.
- Nghiên cứu viên liên hệ với chủ tịch NCT, trạm trưởng, cán bộ chuyên trách tiến hành phỏng vấn
- Đối với thu thập thông tin định lượng
Nghiên cứu viên và điều tra viên tiến hành phỏng vấn người cao tuổi (NCT) trong quá trình khám sức khỏe và kiểm tra bệnh không lây nhiễm tại trạm Nếu NCT không tham gia khám sức khỏe định kỳ hoặc không được quản lý bệnh không lây nhiễm tại trạm, điều tra viên sẽ đến tận nhà để thực hiện phỏng vấn.
ĐTV tiến hành phỏng vấn NCT bằng cách chào hỏi và giới thiệu thông tin cá nhân, đồng thời giải thích rõ lợi ích của việc tham gia nghiên cứu Sau khi NCT xác nhận đồng ý tham gia, điều tra viên sẽ thực hiện phỏng vấn theo bảng hỏi Để đạt hiệu quả cao nhất, điều tra viên cần nhấn mạnh rằng mọi thông tin liên quan trong quá trình phỏng vấn sẽ được giữ bí mật.
Để thu thập thông tin định tính, cần thực hiện phỏng vấn sâu đối tượng nghiên cứu theo bộ câu hỏi trong cùng khoảng thời gian Quá trình phỏng vấn sẽ tiếp tục cho đến khi đạt đủ cỡ mẫu, giúp nghiên cứu viên hiểu rõ hơn về thái độ và hành vi của người cao tuổi, những khía cạnh có thể đã bị bỏ qua trong quá trình thu thập thông tin định lượng.
Biến số nghiên cứu
Bộ công cụ đánh giá CLCS của NCT tại Việt Nam do tác giả Nguyễn Thanh Hương và cộng sự phát triển, bao gồm các biến số trong nghiên cứu NCT tại hai xã Đào Viên và Châu Phong Chi tiết về các biến số được trình bày trong phụ lục 4.
Nhóm biến số liên quan đến thông tin chung của người cao tuổi (NCT) bao gồm các yếu tố như tuổi tác, giới tính, tôn giáo, nghề nghiệp, tình hình kinh tế, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, người sống cùng, cũng như tình trạng mắc bệnh và bảo hiểm y tế của họ.
Nhóm biến số đánh giá chất lượng cuộc sống của người cao tuổi (NCT) bao gồm 6 khía cạnh chính, với tổng cộng 65 biến số liên quan đến chất lượng cuộc sống, trong đó có sức khỏe thể chất và khả năng.
HUPH lao động, tinh thần/mối quan hệ/hỗ trợ trong sinh hoạt, môi trường, thực hành tâm linh, tín ngưỡng, kinh tế
Nhóm biến số liên quan đến chủ đề định tính bao gồm 8 câu hỏi về chất lượng cuộc sống của người cao tuổi, tập trung vào các khía cạnh như tinh thần, kinh tế, sức khỏe thể chất, khả năng lao động, môi trường, và tâm linh/tín ngưỡng.
Thước đo và tiêu chuẩn đánh giá
Sử dụng thang đo Likert 5 mức độ để đánh giá các ý kiến trả lời cho từng câu hỏi, với các mức độ từ 1 Rất không đồng ý, 2 Không đồng ý, 3 Trung lập, 4 Đồng ý, đến 5 Rất đồng ý.
* Bộ công cụ đo lường CLCS NCT gồm 6 thành tố:
- Sức khỏe thể chất gồm 18 câu (câu 1 – câu 18)
- Khả năng lao động 7 câu (câu 19 – câu 25)
- Tinh thần/mối quan hệ/hỗ trợ trong sinh hoạt 17 câu (câu 26 – câu 42)
- Môi trường sống 7 câu (câu 43 – câu 49)
- Tín ngưỡng/Tâm linh 2 câu (câu 50, 51)
- Kinh tế 13 câu (câu 52 – câu 65)
* Cách tính điểm và phân loại
Bộ công cụ đo lường CLCS NCT tại Việt Nam có tổng cộng 65 câu hỏi, với điểm số cao nhất là 325 điểm (65 x 5) và thấp nhất là 65 điểm (65 x 1), cho thấy điểm số càng cao thì mức độ CLCS càng cao Một số câu hỏi được thiết kế để đo lường theo chiều hướng nghịch, như cảm giác mệt mỏi, chán nản và đau nhức cơ thể Trong quá trình phân tích, mức điểm tương ứng cho 19 câu hỏi này đã được điều chỉnh, với quy đổi điểm như sau: 1=5; 2=4; 3=3; 4=2; 5=1, chi tiết cách chấm điểm được trình bày trong Phụ lục 2 và Phụ lục 3.
Phương pháp phân tích số liệu
Kiểm tra nội dung và thông tin trên phiếu phỏng vấn từ điều tra viên là rất quan trọng Nếu phiếu phỏng vấn thiếu thông tin hoặc có thông tin sai lệch, điều tra viên cần quay lại gặp đối tượng nghiên cứu để cập nhật đầy đủ.
Các số liệu thu thập từ bộ câu hỏi phỏng vấn đã được mã hóa và nhập vào máy tính bằng phần mềm Epidata, sau đó được phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0.
- Thống kê mô tả: tần suất, tỷ lệ (%), giá trị trung bình, độ lệch chuẩn
Sử dụng kiểm định hai giá trị trung bình và kiểm định Anova để phân tích và so sánh sự khác biệt về điểm trung bình CLCSNCT theo các yếu tố liên quan.
Kết quả phân tích được trình bày dưới dạng bảng biểu và biểu đồ.
Vấn đề đạo đức nghiên cứu
Hội đồng đạo đức trường Đại học Y tế công cộng đã thông qua nghiên cứu số 132/2020/YTCC-HD3 vào ngày 03/4/2020, chấp thuận các vấn đề đạo đức liên quan đến nghiên cứu y sinh học.
Nghiên cứu này hoàn toàn tập trung vào lợi ích và sức khỏe của cộng đồng, không chứa các câu hỏi nhạy cảm Tất cả các đối tượng tham gia đều được lựa chọn và tự nguyện đồng ý tham gia, với sự giải thích rõ ràng về mục đích và nội dung nghiên cứu trước khi tiến hành phỏng vấn.
Tất cả thông tin của đối tượng sẽ được bảo mật và chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu Chỉ những người nghiên cứu mới có quyền truy cập vào các thông tin này.
Điều tra viên không được ép buộc đối tượng nghiên cứu khi họ từ chối trả lời câu hỏi phỏng vấn Đối tượng nghiên cứu có quyền rút lui khỏi nghiên cứu bất kỳ lúc nào mà không phải chịu bất kỳ ràng buộc nào từ nhóm nghiên cứu.
Nghiên cứu được sự đồng ý và ủng hộ của lãnh đạo Trung tâm Y tế huyện Quế
Võ Kết thúc nghiên cứu sẽ có báo cáo phản hồi kết quả cho Trung tâm Y tế huyện Quế
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thông tin chung về người cao tuổi
Bảng 3.1 Phân bố đối tượng tham gia nghiên cứu theo nhóm tuổi, trình độ học vấn và tình trạng hôn nhân của người cao tuổi (n&2)
Kết quả nghiên cứu cho thấy trong tổng số 262 người tham gia, nam giới chiếm 41,6% với 109 người, trong khi nữ giới chiếm 58,4% với 153 người Nhóm tuổi 60-69 có số lượng người tham gia nhiều nhất, đạt 127 người (48,5%), tiếp theo là nhóm tuổi 70-79 với 91 người (34,7%), và nhóm tuổi 80-90 chiếm tỷ lệ thấp nhất với 16,8%.
Về TĐHV trong tổng 262 đối tượng tham gia nghiên cứu thì NCT có TĐHV trên THCS 60,4% TĐHV THCS ở nam giới 25,4%, và ở nữ giới 14,2%
Chỉ có 1,1% người cao tuổi tham gia nghiên cứu chưa từng kết hôn, trong đó chủ yếu là nữ giới Đa số người cao tuổi, chiếm 76,3%, đều có vợ hoặc chồng, trong khi những người ly hôn, ly thân hoặc góa vợ/góa chồng chiếm tỷ lệ còn lại.
HUPH chồng chủ yếu là nữ giới, tỷ lệ nữ giới sống 1 mình trong nghiên cứu chiếm 32,7% trong khi đó nam giới chỉ chiếm 3,7%
Bảng 3.2 Phân bố hoàn cảnh sống, nghề nghiệp chính trước đây và nghề nghiệp hiện tại của đối tượng tham gia nghiên cứu
Sống cùng vợ/chồng 65 59,6 66 43,1 131 50 Sống cùng con cháu 42 38,5 69 45,1 111 42,4
Nghề nghiệp chính trước đây
Nghề nghiệp chính hiện tại
Hưu trí/Không làm gì 21 19,3 14 9,2 35 13,4
Khác 14 12,8 17 11,1 31 11,8 Đa số NCT đã kết hôn sống cùng nhau chiếm tỉ lệ cao nhất chiếm 50% và số NCT sống cùng con cháu chiếm tỷ lệ 42,9% Tỷ lệ NCT sống 1 mình chủ yếu là nữ giới chiếm 11,8% trong khi đó nam giới chiếm 1,8%
Trước đây, 86,6% người cao tuổi (NCT) tham gia nghiên cứu có nghề nghiệp chính là làm ruộng, trong khi 11,8% là viên chức và 1,5% là công nhân/thủ công.
Theo bảng số liệu, 74,8% đối tượng tham gia nghiên cứu hiện đang làm nghề nông, trong đó tỷ lệ nữ giới làm ruộng chiếm 79,7%.
Tại HUPH, tỷ lệ nam giới chiếm 67,9% Trong số này, nhóm người cao tuổi tham gia vào các hoạt động như hưu trí hoặc không làm gì chiếm 13,4%, trong khi những người làm các công việc khác như buôn bán nhỏ chiếm 11,8%.
Thu nhập của người cao tuổi (NCT) chủ yếu đến từ lao động tự làm như nông nghiệp, chăn nuôi, kinh doanh và nghề thủ công, bên cạnh nguồn trợ cấp từ con cái hoặc xã hội Hầu hết NCT đều cho biết cuộc sống kinh tế của họ còn khó khăn, với chi phí sinh hoạt và ăn uống hạn chế Họ thường phải chi tiêu cho các khoản như cỗ bàn, ma chay, thăm hỏi ốm đau, và đặc biệt lo lắng về chi phí khi phải nhập viện Một NCT chia sẻ: “Tôi già rồi, ăn uống cũng không đáng là bao, nhưng vào mùa cỗ có đám xứ của người thân, họ hàng, làng xóm, tôi phải đi mừng, và khi người thân ốm đau, chi phí có thể lên tới vài triệu đồng, trong khi con cái cũng chưa khá giả gì.”
Người cao tuổi (NCT) mong muốn sự độc lập và không muốn phụ thuộc vào con cháu về mặt kinh tế, dù sống cùng hay sống một mình Họ cảm thấy việc phụ thuộc vào con cái là bất tiện và muốn tự mình làm ra thu nhập để có thể tự lo cho bản thân, như một cụ đã chia sẻ: “Nhiều khi nghĩ phụ thuộc vào con cái bất tiện lắm cô à” và “Tự mình làm ra sau đó tiết kiệm thì cũng đủ đi dám cỗ này nọ… đỡ phải xin con cái.”
Chủ tịch hội NCT của hai xã cho biết rằng hầu hết người cao tuổi ở đây làm ruộng và rất chăm chỉ Họ không chỉ tham gia vào công việc gia đình để giúp đỡ con cháu mà còn tận dụng thời gian để trồng trọt và chăn nuôi, như nuôi bò và lợn Điều này diễn ra vì con cháu của họ đều làm việc tại các công ty, và các cụ vẫn rất tích cực tham gia vào các hoạt động lao động.
Bảng 3.3 Phân bố tình trạng bị ốm, mắc bệnh mãn tính và bảo hiểm y tế của người cao tuổi
Bị ốm trong 1 tháng vừa qua
Mắc từ 2 bệnh trở lên 19 17,4 26 17 45 17,2
Trong nghiên cứu, 86,6% người cao tuổi (NCT) có bảo hiểm y tế (BHYT), trong khi 13,4% không có thẻ BHYT Tỷ lệ NCT bị ốm trong tháng qua là 37%, còn lại 63% không bị ốm Chủ tịch NCT tại hai xã cho biết, hầu hết NCT có thẻ BHYT nhờ vào trợ cấp của bên bảo trợ thương binh xã hội cho những người từ 65 tuổi trở lên Những NCT không có thẻ BHYT chủ yếu nằm trong độ tuổi 60-65, thường là những người vẫn phải lao động, làm ruộng với thu nhập không ổn định, và con cái chưa có điều kiện kinh tế khá giả.
Tỷ lệ người cao tuổi (NCT) không mắc bệnh chiếm 44,3%, trong khi 38,5% mắc một bệnh và 17,2% mắc từ hai bệnh trở lên Nhìn chung, NCT trong nghiên cứu vẫn khá khỏe mạnh; mặc dù có bệnh, họ vẫn tham gia lao động và sản xuất Theo cán bộ hội người cao tuổi, “Các cụ ở đây khỏe lắm, phần lớn.”
HUPH vẫn duy trì hoạt động nông nghiệp với những người cao tuổi, trong đó có cụ hơn 70 tuổi vẫn làm ruộng Nhiều cụ khác, dù yếu hơn hoặc lớn tuổi hơn, vẫn tiếp tục trồng rau và nuôi gia cầm Số lượng cụ không thể lao động do bệnh tật là không nhiều.
Trong tháng qua, tỷ lệ người bị ốm và mắc bệnh đạt 37%, trong đó nữ giới chiếm 25,8% và nam giới 10,8% Tỷ lệ nữ giới mắc một bệnh là 22,4%, trong khi nam giới là 16,4% Theo Trạm trưởng trạm y tế xã, nhiều người cao tuổi đến lấy thuốc huyết áp thường kèm theo các bệnh như đau đầu và cơ xương khớp, do địa bàn xa Trung tâm Y tế, dẫn đến 2/3 số người đến khám bệnh tại trạm là người cao tuổi.
Chất lượng cuộc sống của người cao tuổi
Không bao giờ Hiếm khi Thi thoảng
(n) (%) (n) (%) (n) (%) (n) (%) (n) (%) Đau nhức/tê/ mỏi cơ thể 14 5,3 19 7,3 188 71,8 25 9,5 16 6,1
Khó khăn trong đi lại 70 26,7 25 9,5 136 51,9 28 10,7 3 1,1
Mất ngủ/khó ngủ 13 5,0 16 6,1 211 80,5 17 6,5 5 1,9 Dùng thuốc để chữa bệnh 56 21,4 17 6,5 96 36,6 27 10,3 66 25,2
Khám/chữa bệnh tại các cơ sở y tế 59 22,5 20 7,6 114 43,5 21 8,0 48 18,3
Theo bảng 3.4, các vấn đề sức khỏe của người cao tuổi (NCT) tại hai xã Đào Viên và Châu Phong cho thấy 36,6% NCT thi thoảng phải sử dụng thuốc chữa bệnh, trong khi 25,2% NCT thường xuyên cần dùng thuốc để điều trị.
HUPH tình trạng thi thoảng đau nhức/tê mỏi cơ thể chiếm 28%, việc NCT thi thoảng đến khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế 43,5%
Bảng 3.5 Phân bố tần suất vấn đề khả năng lao động của người cao tuổi (n&2)
Không bao giờ Hiếm khi Thi thoảng
Không tự mình làm được các công việc nhà
Cần đến sự giúp đỡ của người khác trong việc vệ sinh
Phải giúp đỡ con cháu
(không phải về vật chất)
Theo bảng thống kê, tỷ lệ người cao tuổi (NCT) không cần sự giúp đỡ trong việc vệ sinh đạt 76,3% Hơn một phần ba NCT (37%) có khả năng tự thực hiện các công việc nhà Ngoài ra, 32,1% NCT thi thoảng cần hỗ trợ từ con cháu trong các công việc hàng ngày, trong khi 26,1% thường xuyên phải giúp đỡ con cháu Qua phỏng vấn, đa số NCT đều thể hiện sự độc lập trong sinh hoạt hàng ngày.
HUPH chia sẻ rằng: "Các con đều đi làm ở công ty, tôi ở nhà chăm sóc cháu, nấu nướng, và đưa đón cháu đi học Trong lúc khỏe, tôi cũng tranh thủ làm thêm 2, 3 sào ruộng để có thóc ăn Vào ngày nghỉ, các con cũng cố gắng giúp đỡ."
Bảng 3.6 Phân bố tần suất vấn đề tinh thần quan hệ hỗ trợ trong sinh hoạt của người cao tuổi (n&2)
Không bao giờ Hiếm khi Thi thoảng
Có người chia sẻ, tâm sự, trao đổi khi cần 50 19,1 41 15,6 50 19,1 46 17,6 75 28,6
Lo lắng về vấn đề hậu sự (yên tâm về con cái, vấn đề ma chay) của bản thân
Cảm thấy cô đơn trong cuộc sống hàng ngày
Nhận được sự quan tâm, chăm sóc, chia sẻ, trò chuyện của con cháu
Có những bữa ăn vừa miệng, hợp ý thích trong bữa ăn hàng ngày
Nghiên cứu cho thấy rằng 28,6% người cao tuổi (NCT) thường xuyên nhận được sự quan tâm và chăm sóc từ con cháu Đáng chú ý, 60,7% NCT không bao giờ cảm thấy cô đơn trong cuộc sống hàng ngày, trong khi 53,4% không lo lắng về vấn đề hậu sự của bản thân Hơn nữa, 43,3% NCT không bao giờ cảm thấy buồn chán Một người tham gia phỏng vấn chia sẻ: “Tôi chẳng có gì lo lắng cho các cháu, giờ các con đều có công ăn việc làm, có thu nhập, thỉnh thoảng chúng cho tiền để tiêu vặt Tôi có nuôi con gà, trồng rau, ngoài nhà ăn không hết tôi mang bán cũng có ít tiền nho nhỏ để dành dụm.” (PVS2 _TTN _ 84 tuổi).
Bảng 3.7 Phân bố tần suất vấn đề môi trường sống của người cao tuổi(n&2)
Rất không tốt Không tốt Phân vân hài lòng Rất hài lòng
Mức độ trong lành của môi trường tự nhiên
23 8,8 59 22,5 24 9,2 150 57,3 6 2,3 Điều kiện địa lý nơi đang sống
Mức độ an ninh trật tự nơi đang sinh sống
Trong số 262 người cao tuổi được khảo sát, 57,3% hài lòng với mức độ trong lành của môi trường sống, 81,3% cảm thấy hài lòng về điều kiện địa lý nơi cư trú, và 73,7% hài lòng về mức độ an ninh Số lượng người không hài lòng về điều kiện địa lý nơi mình sống cũng đáng chú ý.
HUPH hiện đang sinh sống chiếm 22,5% Nhiều người dân bày tỏ sự không hài lòng với điều kiện môi trường hiện tại Một người phỏng vấn cho biết: “Tôi không hài lòng với điều kiện môi trường bây giờ, đêm ngủ hay sáng sớm tôi đều ngửi thấy mùi khét do nhà máy xử lý rác gây ra” (PVS6 _ VTT _70 tuổi) Một người cao tuổi khác cũng chia sẻ: “Rác sinh hoạt hàng ngày có xe chở rác thường xuyên, nhưng người dân vẫn vứt rác lung tung, vỏ thuốc phun sâu ngoài đồng thì vứt đầy bờ mương.”
Bảng 3.8 Phân bố tần suất vấn đề kinh tế của người cao tuổi (n&2)
Không bao giờ Hiếm khi Thi thoảng
Có nguồn thu nhập hàng tháng 8 3,1 75 28,6 38 14,5 113 43,1 28 10,7
Phụ thuộc vào con cái người thân hoặc các nguồn khác về kinh tế
Nhận được sự hỗ trợ về kinh tế từ con cái, người thân
Hỗ trợ về kinh tế cho con cái hay người thân
Theo bảng số liệu, 43,1% người cao tuổi (NCT) có nguồn thu nhập hàng tháng ổn định, trong khi 28,7% NCT hiếm khi có thu nhập.
Theo nghiên cứu, 38,9% người cao tuổi (NCT) không bao giờ phụ thuộc vào con cái hay các nguồn kinh tế khác, trong khi 26,5% thỉnh thoảng phụ thuộc vào con cái Đặc biệt, 46,9% NCT không hỗ trợ kinh tế cho con cái hay người thân Một NCT chia sẻ: “Vợ chồng tôi không có lương hưu, con cái cũng không khá giả, chỉ đủ sống qua ngày.” Một NCT khác cho biết: “Hai vợ chồng không có lương hưu, chỉ sống nhờ trợ cấp xã hội, khi ốm đau thì con cái phải lo cho bố mẹ.” Những câu chuyện này phản ánh thực trạng khó khăn của nhiều NCT trong việc duy trì cuộc sống và hỗ trợ gia đình.
Bảng 3.9 Đánh giá chung về chất lượng cuộc sống của người cao tuổi (n&2)
Không hài lòng Phân vân Hài lòng Rất hài lòng
Quan hệ gia đình và xã hội 2 0,8 4 1,5 18 6,9 201 76,7 37 14,1
Môi trường sống (tự nhiên và xã hội)
Chất lượng cuộc sống chung 3 1,1 28 10,7 29 11,1 174 66,4 28 10,7
Theo bảng số liệu, 40,1% người cao tuổi (NCT) hài lòng với sức khỏe thể chất của mình, trong khi 47,3% lại cảm thấy phân vân về vấn đề này Tuy nhiên, đa số NCT (76,3%) cho biết họ khá hài lòng với cuộc sống tinh thần của mình.
HUPH như khá hài lòng về mối quan hệ gia đình và xã hội (76,7%), Môi trường sống (77,1%), đời sống kinh tế (61,5%) và hài lòng với khả năng lao động (46,2%)
Nhìn chung, tỷ lệ lớn NCT được đánh giá CLCS ở mức độ hài lòng (66,9%), và đặc biệt có 10,7% NCT rất hài lòng với CLCS của mình
Bảng 3.10 trình bày phân bố điểm trung bình chất lượng cuộc sống của người cao tuổi theo các khía cạnh, với tổng điểm tối đa và điểm trung bình cùng độ lệch chuẩn được nêu rõ.
Quy đổi theo thang điểm 10
Tinh thần, quan hệ gia đình trong sinh hoạt 120 95,9 9,3 8,0
Thực hành tâm linh, tín ngưỡng 10 7,1 2,1 7,1
Kinh tế 50 34,4 6,9 6,9 Điểm CLCS nói chung 325 239,9 22,0 7,4 Điểm quy đổi theo thang điểm10 = điểm trung bình / điểm tối đa
Bảng phân bố cho thấy điểm CLCS của NCT tại 2 xã Đào Viên và Châu Phong có khía cạnh tinh thần và quan hệ gia đình đạt điểm cao nhất với trung bình CLCS là 95,9, tương đương 8,0/10 Ngược lại, khía cạnh kinh tế có điểm CLCS thấp nhất là 34,4, tương đương 6,9/10 Các khía cạnh khác như sức khỏe thể chất, khả năng lao động, môi trường sống và thực hành tâm linh tín ngưỡng lần lượt đạt từ 7,0 đến 7,2 điểm Tổng điểm CLCS trong nghiên cứu là 239,9 ± 22,0, tương ứng với 7,4 điểm theo thang điểm 10, đạt mức khá.
Bảng 3.11 Xếp hạng chất lượng cuộc sống người cao tuổi Điểm CLCS
Qua nghiên cứu trên 262 đối tượng tại xã Đào Viên và xã Châu Phong, điểm chất lượng cuộc sống (CLCS) của người cao tuổi (NCT) được xếp hạng ở mức trung bình.
212 đối tượng chiếm 80,9%, và 37 đối tượng có điểm CLCS ở mức tốt chiếm 15,3%, 9 đối tượng còn lại có điểm CLCS xếp hạng ở mức thấp chiếm 3,8%
Xếp hạng CLCS của nam giới và nữ giới đều ở mức trung bình, với tỷ lệ nam giới đạt 41% và nữ giới 59% Đặc biệt, tỷ lệ NCT có điểm xếp hạng CLCS tốt trong nhóm nam giới cao hơn so với nữ giới.
3.3 Một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của người cao tuổi
Bảng 3.12 Điểm trung bình các khía cạnh CLCS trong nhóm nam và nữ
Trung bình sự khác biệt p-value Giá trị kiểm định
Tinh thần, quan hệ gia đình trong sinh hoạt 96,5 (8,8) 95,4 (9,7) -1,146 p = 0,328 t = - 0,980 Môi trường sống 17,7 (3,5) 17,5 (3,5) -0,221 p = 0,613 t = - 0,507
Thực hành tâm linh, tín ngưỡng 6,7 (2,2) 7,4 (2,1) 0,760 p = 0,005 t = - 2,865 Kinh tế 35,6 (6,4) 33,5 (7,1) -2,069 p = 0,017 t = - 2,410 Điểm CLCS nói chung 243,1
Điểm trung bình chất lượng cuộc sống (CLCS) của nam giới cao hơn nữ giới, thể hiện qua năm khía cạnh: sức khỏe thể chất, khả năng lao động, tinh thần, và quan hệ gia đình trong sinh hoạt Tuy nhiên, trong khía cạnh thực hành tâm linh và tín ngưỡng, nữ giới lại có điểm trung bình CLCS cao hơn Sự khác biệt về điểm trung bình CLCS giữa hai giới là có ý nghĩa thống kê với giá trị p ≤ 0,05.
Qua phỏng vấn sâu, Chủ tịch hai xã cho biết rằng khi tổ chức tham quan di tích và lễ hội chùa chiền, nữ NCT thường tham gia nhiều hơn nam NCT Điều này cho thấy sự tích cực của nữ giới trong các hoạt động văn hóa và lễ hội tại địa phương.
“ Các cụ ông chỗ chúng tôi đã phần tham gia kháng chiến, công tác xã hội có lương