Một số yếu tố liên quan đến tình trạng loãng xương ở phường Láng Hạ

Một phần của tài liệu Thực trạng loãng xương và một số yếu tố liên quan ở người cao tuổi tại phường láng hạ, quận đống đa, hà nội, năm 2011 (Trang 71 - 84)

Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3. Một số yếu tố liên quan đến tình trạng loãng xương ở phường Láng Hạ

HUPH

Bảng 23: Liên quan giữa tuổi với tình trạng loãng xương

Tuổi

LX và GMĐX

χ 2 ; p

OR CI 95%

Không

N % N %

>70 77 89,5 9 10,5

χ 2 = 17,093 p < 0,001

OR = 4,4 (2,017 – 9,464) 60 – 70 94 66,2 48 33,8

Tổng 171 75,0 57 25,0

Có mối liên quan giữa tuổi và tình trạng loãng xương với p < 0,001. Tuổi càng cao thì nguy cơ loãng xương và giảm mật độ xương càng cao. Tỷ lệ loãng xương và giảm mật độ xương ở những người trên 70 tuổi là 89,5%, trong khi ở nhóm còn lại chỉ là 66,2%.

Những người trên 70 tuổi có nguy cơ loãng xương và giảm mật độ xương cao hơn những người dưới 70 tuổi 4,4 lần.

3.2 Mối liên quan giữa giới và tình trạng loãng xương Bảng 24: Liên quan giữa giới với tình trạng loãng xương

Giới

LX và GMĐX

χ 2 ; p

OR CI 95%

Không

N % N %

Nữ 142 75,5 46 24,5

χ 2 = 0,159 p > 0,05

OR = 1,2 (0,542 – 2,528)

Nam 29 72,5 11 27,5

Tổng 171 75,0 57 25,0

Chưa thấy có mối liên quan giữa giới và tình trạng loãng xương với p > 0,05.

HUPH

3.3 Mối liên quan giữa chiều cao và tình trạng loãng xương Bảng 25: Liên quan giữa chiều cao với tình trạng loãng xương

Chiều cao

LX và GMĐX

χ 2 ; p

OR CI 95%

Không

N % N %

< 150cm 70 87,5 10 12,5

χ 2 = 11,135 p = 0,001

OR = 3,3 (1,543 – 6,879)

≥ 150 cm 101 68,2 47 31,8 Tổng 171 75,0 57 25,0

Có mối liên quan giữa chiều cao và tình trạng loãng xương với p = 0,001. Chiều cao càng thấp thì nguy cơ loãng xương và giảm mật độ xương càng cao. Tỷ lệ loãng xương và giảm mật độ xương ở những người có chiều cao dưới 150cm là 87,5% trong khi ở nhóm còn lại chỉ là 68,2%. Những người cao dưới 150cm có nguy cơ loãng xương và giảm mật độ xương cao hơn những người cao trên 150cm 3,3 lần.

3.4 Mối liên quan giữa cân nặng và tình trạng loãng xương Bảng 26: Liên quan giữa cân nặng với tình trạng loãng xương

Cân nặng

LX và GMĐX

χ 2 ; p

OR CI 95%

Không

N % N %

< 50 kg 81 90,0 9 10,0

χ2 =16,546 p <0,001

OR = 4,80 (2,217 – 10,394)

≥ 50 kg 90 65,2 48 34,8 Tổng 171 75,0 57 25,0

HUPH

Có mối liên quan giữa cân nặng và tình trạng loãng xương với p < 0,001. Cân nặng càng thấp thì nguy cơ loãng xương và giảm mật độ xương càng cao. Tỷ lệ loãng xương và giảm mật độ xương ở những người có cân nặng dưới 50kg là 90,0%, trong khi ở nhóm còn lại chỉ là 65,2%. Những người có cân nặng dưới 50kg có nguy cơ loãng xương và giảm mật độ xương cao hơn những người có cân nặng trên 50kg là 4,8 lần.

3.5 Mối liên quan giữa chỉ số BMI và tình trạng loãng xương Bảng 27: Liên quan giữa chỉ số BMI với tình trạng loãng xương

Chỉ số BMI

LX và GMĐX

χ 2 ; p

OR CI 95%

Không

N % N %

< 23 115 81,6 26 18,4

χ2= 7,589 p < 0,05

OR = 2,4 (1,329 – 4,512)

≥ 23 56 64,4 31 35,6

Tổng 171 75,0 57 25,0

Có mối liên quan giữa chỉ số BMI và tình trạng loãng xương với p < 0,05. Chỉ số BMI càng thấp thì nguy cơ loãng xương và giảm mật độ xương càng cao. Tỷ lệ loãng xương và giảm mật độ xương ở những người có chỉ số BMI dưới 23 là 81,6%, trong khi ở nhóm còn lại là 64,4%. Những người có chỉ số BMI dưới 23 có nguy cơ loãng xương và giảm mật độ xương cao hơn những người có chỉ số BMI trên 23 là 2,4 lần.

3.6 Mối liên quan giữa uống Canxi và tình trạng loãng xương Bảng 28: Liên quan uống Canxi với tình trạng loãng xương

Uống Canxi

LX và GMĐX

χ 2 ; p

OR CI 95%

Không

HUPH

N % N % Không uống 129 75,0 43 25,0

χ2= 0 p > 0,05

OR = 1 (0,498 – 2,007) Có uống 42 75,0 14 25,0

Tổng 171 75,0 57 25,0

Chưa thấy có mối liên quan giữa việc có uống Canxi và tình trạng loãng xương với p

> 0,05. Tỷ lệ loãng xương và giảm mật độ xương ở cả nhóm uống hay không uống Canxi đều là 75,0%.

3.7 Mối liên quan giữa tiền sử sản phụ khoa và tình trạng loãng xương 3.7.1 Mối liên quan giữa tuổi bắt đầu có kinh và tình trạng loãng xương Bảng 29: Liên quan tuổi bắt đầu có kinh với tình trạng loãng xương

Tuổi có kinh

LX và GMĐX

χ 2 ; p

OR CI 95%

Không

N % N %

Trước 13 tuổi

và sau 19 tuổi 23 85,2 4 14,8

χ2= 2,282 p > 0,05

OR = 2,2 (0,73 – 6,853) 13 – 19 tuổi 108 72,0 42 28,0

Tổng 131 74,0 46 26,0

Chưa thấy có mối liên quan giữa việc tuổi có kinh và tình trạng loãng xương với p

> 0,05.

3.7.2 Mối liên quan giữa tuổi mãn kinh và tình trạng loãng xương Bảng 30: Liên quan tuổi mãn kinh với tình trạng loãng xương

HUPH

Tuổi mãn kinh

LX và GMĐX

χ 2 ; p

OR CI 95%

Không

N % N %

Trước 45 và

sau 55 tuổi 37 75,5 12 24,5

χ2= 0 p > 0,05

OR = 1 (0,468 – 2,129) 45 – 55 tuổi 105 75,5 34 24,5

Tổng 142 75,5 46 24,5

Chưa thấy có mối liên quan giữa việc tuổi mãn kinh và tình trạng loãng xương với p > 0,05. Tỷ lệ loãng xương và giảm mật độ xương ở cả nhóm mãn kinh trong độ tuổi 45 đến 55 tuổi và nhóm còn lại đều là 75,5%.

3.7.3 Mối liên quan giữa số lần sinh và tình trạng loãng xương Bảng 31: Liên quan số lần sinh với tình trạng loãng xương

Số lần sinh

LX và GMĐX

χ 2 ; p

OR CI 95%

Không

N % N %

0 hoặc ≥ 3 lần 91 86,7 14 13,3

χ2= 16,076 p < 0,001

OR = 4,1 (1,994 – 8,341) 1 – 2 lần 51 61,4 32 38,6

Tổng 142 75,5 46 24,5

Có mối liên quan giữa việc số lần sinh và tình trạng loãng xương với p < 0,001. Tỷ lệ loãng xương và giảm mật độ xương ở những phụ nữ chưa sinh lần nào hoặc sinh từ 3 lần trở lên là 86,7%, trong khi những phụ nữ sinh từ 1 – 2 lần thì tỷ lệ này chỉ là 61,4%. Những phụ nữ chƣa

HUPH

sinh lần nào hoặc sinh từ 3 lần trở lên có nguy cơ bị loãng xương và giảm mật độ xương cao hơn những phụ nữ sinh từ 1 – 2 lần là 4,1 lần.

3.8 Mối liên quan giữa tiền sử gãy xương, loãng xương và tình trạng loãng xương - Mối liên quan giữa có tiền sử gãy xương với tình trạng loãng xương

Bảng 32: Liên quan có tiền sử gãy xương với tình trạng loãng xương

Tiền sử gãy xương

LX và GMĐX

χ 2 ; p

OR CI 95%

Không

N % N %

43 87,8 6 12,2

χ2= 6,073 p < 0,05

OR = 2,9 (1,145 – 7,12) Không 128 71,5 51 28,5

Tổng 171 75,0 57 25,0

Có mối liên quan giữa việc có tiền sử gãy xương và tình trạng loãng xương với p < 0,05. Tỷ lệ loãng xương và giảm mật độ xương ở những người đã từng gãy xương là 87,8%, trong khi ở những người chưa từng gãy xương là 71,5%. Người đã từng gãy xương có nguy cơ bị loãng xương và giảm mật độ xương cao hơn người chưa từng gãy xương là 2,9 lần.

- Mối liên quan giữa gia đình có tiền sử loãng xương với tình trạng loãng xương Bảng 33: Liên quan gia đình có tiền sử loãng xương với tình trạng loãng xương

Tiền sử loãng xương

LX và GMĐX

χ 2 ; p

OR CI 95%

Không

N % N %

27 90,0 3 10,0

χ2 = 6,337 p < 0,05

OR = 4,0 (1,149 – 13,787) Không 104 69,3 46 30,7

Tổng 131 72,8 49 27,2

HUPH

Có mối liên quan giữa việc gia đình có tiền sử loãng xương và tình trạng loãng xương với p < 0,05. Tỷ lệ loãng xương và giảm mật độ xương ở những người gia đình có tiền sử loãng xương là 90,0%, trong khi tỷ lệ này ở những người gia đình không có tiền sử loãng xương là 69,3%. Người có gia đình có tiền sử loãng xương có nguy cơ bị loãng xương và giảm mật độ xương cao hơn người có gia đình không có tiền sử loãng xương là 4 lần.

3.9 Mối liên quan giữa thói quen ăn uống và tình trạng loãng xương 3.9.1 Mối liên quan giữa uống sữa và tình trạng loãng xương - Mối liên quan giữa có thói quen uống sữa và tình trạng loãng xương

Bảng 34: Liên quan giữa có thói quen uống sữa với tình trạng loãng xương

Uống sữa

LX và GMĐX

χ 2 ; p

OR CI 95%

Không

N % N %

Không 78 67,8 37 32,2

χ2= 6,448 p < 0,05

OR = 0,453 (0,243 – 0,844)

93 82,3 20 17,7

Tổng 171 75,0 57 25,0

Có mối liên quan giữa có thói quen uống sữa và tình trạng loãng xương với p < 0,05.

Không giống nhƣ những nghiên cứu khác, nghiên cứu của chúng tôi lại cho thấy uống sữa là yếu tố nguy cơ của tình trạng loãng xương. Điều này có thể là do những người có nguy cơ loãng xương cao hơn thì có ý thức uống sữa cao hơn những người khác.

- Mối liên quan giữa loại sữa uống và tình trạng loãng xương

Bảng 35: Liên quan giữa loại sữa uống với tình trạng loãng xương

Loại sữa

LX và GMĐX

χ 2 ; p

OR CI 95%

Không

HUPH

N % N % Sữa tươi, sữa bột 73 72,3 28 27,7

χ2= 6,986 p < 0,05

OR = 4,7 (1,447 – 15,224) Sữa đậu nành,

sữa khác 5 35,7 9 64,3

Tổng 78 67,8 37 32,2

Có mối liên quan giữa loại sữa uống và tình trạng loãng xương với p < 0,05. Những người thường xuyên uống sữa tươi, sữa bột có tỷ lệ loãng xương và giảm mật độ xương là 72,3%, trong khi những người uống sữa đậu nành và các loại sữa khác như sữa chua, sữa đặc thì tỷ lệ này chỉ là 35,7%. Những người uống sữa tươi, sữa bột có nguy cơ loãng xương cao hơn những người uống sữa đậu nành, sữa khác là 4,7 lần.

- Mối liên quan giữa tần suất uống sữa và tình trạng loãng xương

Bảng 36: Liên quan giữa tần suất uống sữa với tình trạng loãng xương

Tần suất uống sữa

LX và GMĐX

χ 2 ; p

OR CI 95%

Không

N % N %

Thỉnh thoảng

hoặc ít khi 25 56,8 19 43,2 χ2 = 3,907 p = 0,064<

0,1

OR = 0,4 (0,201 – 0,996) Thường xuyên 53 74,6 18 25,4

Tổng 78 67,8 37 32,2

Có mối liên quan giữa tần suất uống sữa và tình trạng loãng xương với p < 0,1. Cũng giống như việc có thói quen uống sữa, nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra việc thường xuyên uống sữa lại là yếu tố nguy cơ của tình trạng loãng xương. Điều này có thể là do những người có nguy cơ loãng xương thì có ý thức uống sữa thường xuyên hơn.

HUPH

- Mối liên quan giữa thời gian uống sữa và tình trạng loãng xương

Bảng 37: Liên quan giữa thời gian uống sữa với tình trạng loãng xương

Thời gian uống sữa

LX và GMĐX

χ 2 ; p

OR CI 95%

Không

N % N %

≤ 5 năm 66 73,3 24 26,7

χ2= 5,652 p < 0,05

OR = 3,0 (1,195 – 7,425)

>5 năm 12 48,0 13 52,0

Tổng 78 67,8 37 32,2

Có mối liên quan giữa thời gian uống sữa và tình trạng loãng xương với p < 0,05. Uống sữa càng lâu thì càng ít có nguy cơ loãng xương. Tỷ lệ loãng xương và giảm mật độ xương ở những người uống sữa dưới 5 năm là 73,3%, trong khi ở những người uống trên 5 năm thì tỷ lệ này chỉ là 48,0%. Người uống sữa dưới 5 năm có nguy cơ loãng xương và giảm mật độ xương cao hơn người uống sữa trên 5 năm là 3,0 lần.

3.9.2 Mối liên quan giữa uống rượu/bia và tình trạng loãng xương Bảng 38: Liên quan giữa có thói quen uống rượu/bia với tình trạng loãng xương

Uống rƣợu/bia

LX và GMĐX

χ 2 ; p

OR CI 95%

Không

N % N %

43 75,4 14 24,6

χ2= 0,008 p > 0,05

OR = 1,032 (0,515 – 2,068) Không 128 74,9 43 25,1

Tổng 171 75,0 57 25,0

HUPH

Chƣa thấy có mối liên quan giữa có thói quen uống rƣợu bia và tình trạng loãng xương với p > 0,05.

3.9.3 Mối liên quan giữa uống chè (trà) và tình trạng loãng xương - Mối liên quan giữa có thói quen uống chè (trà) với tình trạng loãng xương

Bảng 39: Liên quan giữa có thói quen uống chè (trà) với tình trạng loãng xương

Uống chè (trà)

LX và GMĐX

χ 2 ; p

OR CI 95%

Không

N % N %

Không 81 82,7 17 17,3

χ2= 5,518 p < 0,05

OR = 2,1 (1,114 – 4,024)

90 69,2 40 30,8

Tổng 171 75,0 57 25,0

Có mối liên quan giữa có thói quen uống chè (trà) và tình trạng loãng xương với p

< 0,05. Tỷ lệ loãng xương và giảm mật độ xương ở những người không có thói quen uống chè (trà) là 82,7%, trong khi đó tỷ lệ này ở những người có thói quen uống chè chỉ là 69,2%. Người không có thói quen uống chè có nguy cơ loãng xương và giảm mật độ xương cao gấp 2,1 lần những người có thói quen uống chè.

- Mối liên quan giữa tần suất uống chè với tình trạng loãng xương

Bảng 40: Liên quan giữa tần suất uống chè với tình trạng loãng xương

Tần suất uống chè

LX và GMĐX

χ 2 ; p

OR CI 95%

Không

N % N %

Thỉnh thoảng

hoặc ít khi 21 72,4 8 27,6 χ2= 0,18 OR = 1,2

HUPH

Thường xuyên 69 68,3 32 31,7 p > 0,05 (0,487 – 3,042)

Tổng 90 69,2 40 30,8

Chưa thấy có mối liên quan giữa tần suất uống chè (trà) và tình trạng loãng xương với p > 0,05.

- Mối liên quan giữa thời gian uống chè với tình trạng loãng xương

Bảng 41: Liên quan giữa thời gian uống chè (trà) với tình trạng loãng xương

Thời gian uống chè

LX và GMĐX

χ 2 ; p

OR CI 95%

Không

N % N %

≤ 5 năm 32 71,1 13 28,9

χ2= 0,115 p > 0,05

OR = 1,1 (0,52 – 2,525)

>5 năm 58 68,2 27 31,8

Tổng 90 69,2 40 30,8

Chưa thấy có mối liên quan giữa thời gian uống chè và tình trạng loãng xương với p > 0,05.

3.9.4 Mối liên quan giữa uống cà phê và tình trạng loãng xương

Bảng 42: Liên quan giữa có thói quen uống cà phê với tình trạng loãng xương

Uống cà phê

LX và GMĐX

χ 2 ; p

OR CI 95%

Không

N % N %

61 78,2 17 21,8

χ2= 0,66 p > 0,05

OR = 1,3 (0,683 – 2,494) Không 110 73,3 40 26,7

Tổng 171 75,0 57 25,0

HUPH

Chƣa thấy có mối liên quan giữa có thói quen uống cà phê và tình trạng loãng xương với p > 0,05.

3.9.5 Mối liên quan giữa hút thuốc lá và tình trạng loãng xương

Bảng 43: Liên quan giữa có thói quen hút thuốc lá với tình trạng loãng xương

Hút thuốc

LX và GMĐX

χ 2 ; p

OR CI 95%

Không

N % N %

10 83,3 2 16,7

χ2= 0,51 p > 0,05

OR = 1,7 (0,363 – 8,037) Không 161 74,5 55 25,5

Tổng 171 75,0 57 25,0

Chưa thấy có mối liên quan giữa có thói quen hút thuốc lá và tình trạng loãng xương với p > 0,05.

3.10 Mối liên quan giữa thói quen tập thể dục thể thao và tình trạng loãng xương - Mối liên quan giữa có thói quen tập thể dục thể thao với tình trạng loãng xương

Bảng 44: Liên quan giữa có thói tập thể dục thể thao với tình trạng loãng xương

Tập TDTT

LX và GMĐX

χ 2 ; p

OR CI 95%

Không

N % N %

Không 38 80,9 9 19,1

χ2= 1,13 p > 0,05

OR = 1,5 (0,686 – 3,385) 133 73,5 48 26,5

Tổng 171 75,0 57 25,0

HUPH

Chƣa thấy có mối liên quan giữa có thói quen tập thể dục thể thao và tình trạng loãng xương với p > 0,05.

- Mối liên quan giữa thời gian luyện tập thể dục thể thao với tình trạng loãng xương

Bảng 45: Liên quan giữa thời gian luyện tập thể dục thể thao với tình trạng loãng xương

Thời gian tập TDTT

LX và GMĐX

χ 2 ; p

OR CI 95%

Không

N % N %

< 30 phút 28 75,7 9 24,3

χ2= 0,177 p > 0,05

OR = 1,2 (0,501 – 2,666)

≥ 30 phút 105 72,9 39 27,1 Tổng 133 73,5 48 26,5

Chƣa thấy có mối liên quan giữa thời gian luyện tập thể dục thể thao và tình trạng loãng xương với p > 0,05.

3.11 Kết quả phân tích đơn biến

Qua phân tích đơn biến bằng kiểm định Khi bình phương với các bảng 2 x 2, kết quả cho thấy có 12 yếu tố sau có liên quan đến tình trạng loãng xương của người cao tuổi: tuổi, chiều cao, cân nặng, chỉ số BMI, số lần sinh, tiền sử gãy xương, tiền sử loãng xương, có thói quen uống sữa, loại sữa thường uống, tần suất uống sữa, thời gian uống sữa và có thói quen uống chè.

Một phần của tài liệu Thực trạng loãng xương và một số yếu tố liên quan ở người cao tuổi tại phường láng hạ, quận đống đa, hà nội, năm 2011 (Trang 71 - 84)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(124 trang)