Theo báo cáo của Hiệp hội loãng xương Quốc tế, mỗi năm trên thế giới có khoảng 200 triệu người bị loãng xương trong đó có khoảng ¼ số phụ nữ trên 60 tuổi bị gãy xương do loãng xương, cứ
Trang 1PHAN THỊ THANH HƯƠNG
THỰC TRẠNG LOÃNG XƯƠNG VÀ MỘT SỐ YẾU
TỐ LIÊN QUAN Ở PHỤ NỮ TỪ 50 TUỔI TRỞ LÊN
TẠI XÃ YÊN LÂM, HUYỆN YÊN ĐỊNH
TỈNH THANH HÓA NĂM 2017
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
Hà Nội – 2017HUPH
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
PHAN THỊ THANH HƯƠNG
THỰC TRẠNG LOÃNG XƯƠNG VÀ MỘT SỐ YẾU
TỐ LIÊN QUAN Ở PHỤ NỮ TỪ 50 TUỔI TRỞ LÊN
TẠI XÃ YÊN LÂM, HUYỆN YÊN ĐỊNH
TỈNH THANH HÓA NĂM 2017
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
GVHD: TS Đỗ Chí Hùng
Hà Nội – 2017 HUPH
Trang 3Trong quá trình hoàn thành luận văn thuộc chương trình đào tạo Thạc sĩ
Y tế công cộng, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các thầy cô giáo, bạn bè cũng như của nhà trường và gia đình
Để có kết quả này, lời đầu tiên tôi xin gửi lời cám ơn chân thành nhất và cũng như bày tỏ lòng kính trọng, sự biết ơn sâu sắc đến TS.BS.Đỗ Chí Hùng, người đã giúp đỡ, tận tình hướng dẫn tôi trong thời gian thực hiện luận văn
Tôi xin trân trọng cám ơn UBND xã Yên Lâm, trạm y tế xã Yên Lâm, các cán bộ trạm y tế, cũng như người dân xã Yên Lâm đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập tài liệu và thông tin cho chủ đề luận văn của tôi
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn Ban Giám hiệu, các thầy giáo, cô giáo và các phòng ban của trường Đại học Y tế công cộng đã hướng dẫn, bổ sung kiến thức trong quá trình học tập nghiên cứu của tôi
Sau cùng tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cơ quan, gia đình, những bạn
bè thân thiết của tôi đã tạo điều kiện cũng như chia sẻ kinh nghiệm, những khó khăn, thuận lợi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn của tôi
Hà Nội, ngày tháng 9 năm 2017
HUPH
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC HÌNH ẢNH vii
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ x
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU xi
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Sơ lược về cấu trúc xương, chức năng, sự tăng trưởng và chu chuyển xương 4
1.1.1.Cấu trúc và chức năng của xương 4
1.1.2 Sự tăng trưởng và chu chuyển xương 4
1.2.1 Khái niệm loãng xương 6
1.2.2 Phân loại loãng xương 6
1.2.4 Các triệu chứng lâm sàng của loãng xương 8
1.2.5 Hậu quả loãng xương: 11
1.2.6 Dự phòng loãng xương: 13
1.3 Các phương pháp chuẩn đoán loãng xương và đo mật độ xương 14
1.3.1 Các phương pháp chuẩn đoán loãng xương 14
1.3.2 Các phương pháp đo mật độ xương 15
1.3.3 Lựa chọn phương pháp đo mật độ xương phù hợp với nghiên cứu: 17
1.4 Tình hình nghiên cứu loãng xương trên thế giới và Việt Nam 17
1.4.1 Tình hình nghiên cứu loãng xương trên thế giới 17
1.5 Một số đặc điểm về địa bàn nghiên cứu 22
1.6 Khung lý thuyết 23
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Đối tượng nghiên cứu 25
HUPH
Trang 52.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 26
2.3 Thiết kế nghiên cứu 26
2.4 Phương pháp chọn mẫu 26
2.4.1 Cỡ mẫu 26
2.4.2 Chọn mẫu 27
2.5 Phương tiện, công cụ và phương pháp thu thập số liệu 27
2.5.1 Phương tiện thu thập: 27
2.5.2 Công cụ thu thập số liệu 27
2.5.3 Phương pháp thu thập số liệu 28
2.5.4 Tổ chức thu thập số liệu 28
2.6 Phương pháp phân tích số liệu: 30
2.7 Biến số nghiên cứu 31
2.8 Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu 31
2.9 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 34
2.10 Sai số và biện pháp khắc phục 34
2.10.1 Sai số và hạn chế của nghiên cứu 34
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36
3.1 Một số thông tin chung 36
3.1.1 Thông tin về đối tượng nghiên cứu 36
3.1.2.Tiền sử gãy xương và tiếp cận truyền thông về bệnh loãng xương 37
3.1.3.Tiền sử sản phụ khoa 38
3.1.4 Hình thái cơ thể của đối tượng nghiên cứu 39
3.2 Thực trạng loãng xương 40
3.3 Kiến thức, thái độ, thực hành của ĐTNC 40
3.3.1 Kiến thức của ĐTNC về bệnh LX 40
HUPH
Trang 63.3.2 Thái độ với bệnh loãng xương của đối tượng nghiên cứu 42
3.3.3 Thực hành dự phòng bệnh về loãng xương của ĐTNC 43
3.4 Kết quả phân tích các yếu tố liên quan: 44
3.4.1.Phân tích đơn biến: 44
3.4.1.1 Mối liên quan giữa tình trạng loãng xương với các yếu tố nhân khẩu học 44
Chương 4: BÀN LUẬN 56
4.1 Một số đặc điểm về đối tượng nghiên cứu 56
4.1.1 Cỡ mẫu nghiên cứu: 56
4.1.2 Tuổi của đối tượng nghiên cứu 56
4.1.3 Trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu 56
4.1.4 Nghề nghiệp trước đây và hiện tại 57
4.2 Thực trạng loãng xương 60
4.3 Kiến thức, thái độ, thực hành của đối tượng nghiên cứu 61
4.3.1 Kiến thức của đối tượng nghiên cứu 61
4.3.2 Thái độ với bệnh loãng xương 63
4.3.3 Thói quen, thực hành dự phòng về bệnh loãng xương 64
4.5 Bàn luận về mối liên quan giữa đo mật độ xương và bộ câu hỏi phỏng vấn 71
4.6 Hạn chế của nghiên cứu 71
Chương 5: KẾT LUẬN 73
5.1 Tình trạng loãng xương 73
5.2 Kiến thức, thái độ, thực hành dự phòng bệnh của đối tượng nghiên cứu 73
Chương 6: KHUYẾN NGHỊ 75
6.1 Đối với phụ nữ từ 50 tuổi trở lên 75
6.2 Đối với ngành y tế, các cấp chính quyền 75
PHỤ LỤC 82
Phụ lục 1: Biến số nghiên cứu 82
HUPH
Trang 7Phụ lục 2: Phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu 93 Phụ lục 3: Bộ câu hỏi phỏng vấn 94
HUPH
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
LX Loãng xương
WHO Tổ chức Y tế thế giới (Word Health Organization)
ĐTNC Đối tượng nghiên cứu
IOF Hiệp hội loãng xương quốc tế (International Osteoporosis Foundation MĐX Mật độ xương
BMI Chỉ số khối cơ thể (Body Mass Index)
KAP Kiến thức, thái độ, thực hành ( Knowledge, Attitude, Practice)
QUS Siêu âm định lượng (Quantitative Ultrasound)
HUPH
Trang 9DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1 Quá trình chu chuyển xương 6
Hình 1.2 Loãng xương 7
Hình 1.3 Mật độ xương ở nam và nữ 8
Hình 1.4 Tỷ lệ tàn phế do loãng xương so với các bệnh ác tính thường gặp 13
Hình 1.5 Phân bố loãng xương tại một số nước và khu vực 18
HUPH
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.4 Tiền sử tiếp cận thông tin 38
Bảng 3.5 Tiền sử sản phụ khoa 38
Bảng 3.6 Thông tin về hình thái cơ thể 39
Bảng 3.8 Thông tin tình trạng loãng xương 40
Bảng 3.9 Phân bố điểm kiến thức về bệnh loãng xương 40
Bảng 3.14 Phân bố điểm thái độ về bệnh loãng xương 42
Bảng 3.18 Mối liên quan giữa loãng xương với nhóm tuổi 44
Bảng 319 Mối liên quan giữa loãng xương với trình độ học vấn 45
Bảng 3.20 Mối liên quan giữa loãng xương với tính chất công việc 45
Bảng 3.21 Mối liên quan giữa loãng xương với tiền sử gãy xương 46
Bảng 3.22 Mối liên quan giữa loãng xương với số lần sinh con3 46
Bảng 3.23 Mối liên quan giữa loãng xương với tuổi mãn kinh 47
Bảng 3.24 Mối liên quan giữa loãng xương với thời gian sau mãn kinh 47
Bảng 3.25 Mối liên quan giữa loãng xương với chiều cao 48
Bảng 3.26 Mối liên quan giữa loãng xương với cân nặng 48
Bảng 3.27 Mối liên quan giữa loãng xương với tình trạng dinh dưỡng (BMI) 49
Bảng 3.28 Mối liên quan giữa tình trạng loãng xương với kiến thức về bệnh 49
Bảng 3.29 Mối liên quan giữa loãng xương với thái độ về bệnh 50
Bảng 3.30 Mối liên quan giữa loãng xương với thói quen uống sữa 50
Bảng 3.31 Mối liên quan giữa loãng xương với thời gian uống sữa 51
Bảng 3.32 Mối liên quan giữa loãng xương với thói quen uống chè 51
Bảng 3.33 Mối liên quan giữa loãng xương với thời gian uống sữa 51
Bảng 3.34 Mối liên quan giữa loãng xương với thói quen sử dụng thực phẩm giàu canxi 52
Bảng 3.35 Mối liên quan giữa loãng xương với thời gian sử dụngthực phẩm giàu canxi 52
Bảng 3.36 Mối liên quan giữa loãng xương với thói quen bổ sung canxi 53
Bảng 3.37 Mối liên quan giữa loãng xương với thói quen tập thể dục 53
HUPH
Trang 11Bảng 3.38 Mối liên quan giữa loãng xương với thói quen uống rượu 53
loãng xương 54
HUPH
Trang 12DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.2 Phân bố nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu 36
Biểu đồ 3.3 Phân loại kinh tế hộ gia đình 37
Biểu đồ 3.7 Phân bố tình trạng dinh dưỡng dựa vào chỉ số BMI 39
Biểu đồ 3.10 Phân nhóm kiến thức đối tượng 41
Biểu đồ 3.11 Phân loại kiến thức của đối tượng nghiên cứu 41
Biểu đồ 3.12 Kiến thức đúng về yếu tố nguy cơ gây bệnh 42
Biểu đồ 3.13 Kiến thức đúng về biện pháp dự phòng 42
Biểu đồ 3.15 Phân nhóm thái độ đối tượng nghiên cứu 43
Biểu đồ 3.17 Phân bố các thói quen không có lợi cho hệ xương 44
HUPH
Trang 13TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Loãng xương là một bệnh hay gặp ở phụ nữ đặc biệt ở độ tuổi ≥ 50 tuổi trở lên Vấn đề tìm hiểu và từ đó phòng tránh loãng xương và các biến chứng của nó tại cộng đồng là điều hết sức quan trọng do vậy chúng tôi tiến hành đề
tài nghiên cứu: Thực trạng loãng xương và một số yếu tố liên quan ở phụ nữ từ
50 tuổi trở lên tại xã Yên Lâm, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa năm 2017”với
2 mục tiêu: 1 Mô tả thực trạng loãng xương ở phụ nữ từ 50 tuổi trở lên tại xã Yên Lâm, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa năm 2017 2 Xác định một số yếu
tố liên quan đến tình trạng loãng xương ở phụ nữ từ 50 trở lên tại xã Yên Lâm,
huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa năm 2017 Phương pháp nghiên cứu: Mô
tả cắt ngang phân tích, sử dụng phương pháp định lượng 200 phụ nữ từ 50 tuổi trở lên tại 10 thôn thuộc xã Yên Lâm theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên
hệ thống được phỏng vấn và đo mật độ xương Kết quả: Mật độ xương trung
bình của đối tượng nghiên cứu là: (-2,6 điểm) Tỷ lệ loãng xương của quần thể
là 63,5%, tỷ lệ giảm mật độ xương là 34,5% KAP về phòng chống loãng xương: kiến thức đạt 39,5%, thái độ 73,2% Thói quen có lợi bổ sung các thực phẩm giàu canxi thông qua bữa ăn hàng ngày (68,5%); Những thói quen có hại như hút thuốc lá, uống rượu/bia, uống cà phê < 6% hai yếu tố chính liên quan đến loãng xương là tuổi trên 60 (OR = 3,4) và cân nặng < 45kg càng thấp nguy
cơ loãng xương càng cao (OR = 2,4) Khuyến nghị: Đối với phụ nữ trên 50
tuổi nên chủ động giữ trọng lượng cơ thể cân nặng > 45kg Nên kiểm tra mật
độ xương định kỳ, tăng cường bổ sung các loại thực phẩm giàu canxi Đối với ngành y tế: Tăng cường hiệu quả các biện pháp truyền thông về loãng xương
và các biện pháp phòng chống loãng xương
HUPH
Trang 14Mức độ nặng nề của biến chứng gãy xương trong bệnh loãng xương được xếp tương đương với nhồi máu cơ tim trong bệnh thiếu máu cơ tim cục bộ và đột quỵ Hiện nay loãng xương đang được coi là “bệnh dịch âm thầm” đang lan rộng khắp thế giới, ngày càng có xu hướng gia tăng và trở thành gánh nặng đối với chương trình chăm sóc sức khỏe cộng đồng Theo Tổ chức Y tế thế giới loãng xương là nguyên nhân đứng hàng thứ hai gây nên bệnh tật, chỉ sau bệnh tim mạch và cũng là bệnh dễ đe dọa đến tính mạng người bệnh [6, 8]
Theo báo cáo của Hiệp hội loãng xương Quốc tế, mỗi năm trên thế giới
có khoảng 200 triệu người bị loãng xương trong đó có khoảng ¼ số phụ nữ trên
60 tuổi bị gãy xương do loãng xương, cứ 3 phụ nữ cao tuổi thì có 1 người bị loãng xương Mỗi giây trên thế giới có 4 trường hợp bị gãy xương và 4 triệu trường hợp bị gãy xương mới mỗi năm; chi phí cho điều trị cho gãy xương là 31,7 tỉ Euro mỗi năm [4,5]
Tại Việt Nam, ước tính có 2,5 triệu người bị loãng xương và có trên 150.000 trường hợp bị gãy xương do loãng xương.Theo số liệu khảo sát bước đầu của Viện Dinh dưỡng, bệnh loãng xương ảnh hưởng tới 1/3 phụ nữ và 1/8 đàn ông trên 50 tuổi [17] Có khoảng 20% số người trên 60 tuổi bị loãng xương trong đó đã có nhiều biến chứng (lún xẹp đốt sống, gù vẹo cột sống…) chưa kể
số người bị gẫy cổ xương đùi [15]
HUPH
Trang 15Tổ chức Chống loãng xương quốc tế (IOF) đánh giá hiện nay tại Châu
Á, trong đó có Việt Nam, chi phí điều trị loãng xương tăng rất nhanh Ước tính tới năm 2050, thế giới có thể phải tiêu tốn tới trên 131 tỉ USD để chữa trị những
ca chấn thương liên quan đến loãng xương [25]
Yên Lâm là một xã miền núi thuộc vùng kinh tế đặc biệt khó khăn 135 duy nhất thuộc huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa Nơi đây có đến 70% dân số của xã là đồng bào dân tộc Mường Kinh tế nông nghiệp, chăn nuôi và khai thác đá là chủ yếu Xuất phát từ đặc thù khá nổi bật tại địa bàn về kinh tế, địa hình, dân số và qua tham khảo các tài liệu nghiên cứu, đây là những cơ sở luận
chứng để chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng loãng xương và một số
yếu tố liên quan ở phụ nữ từ 50 tuổi trở lên tại xã Yên Lâm, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa năm 2017”, nhằm cung cấp thông tin, bằng chứng xây dựng
các chương trình can thiệp, tăng cường tuyên truyền phòng tránh các nguy cơ loãng xương ở lứa tuổi này tại xã
HUPH
Trang 16MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực trạng loãng xương ở phụ nữ từ 50 tuổi trở lên tại xã Yên Lâm, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa năm 2017
2 Xác định một số yếu tố liên quan đến tình trạng loãng xương ở phụ nữ
từ 50 trở lên tại xã Yên Lâm, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa năm 2017
HUPH
Trang 17Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Sơ lược về cấu trúc xương, chức năng, sự tăng trưởng và chu chuyển xương
1.1.1.Cấu trúc và chức năng của xương
Bộ xương chiếm khoảng 15-17% trọng lượng cơ thể và được coi là ngân hàng khoáng chất của cơ thể Xương có ba chức năng:[1]
- Chức năng vận động và làm chỗ bám cho cơ thể vận động
- Chức năng bảo vệ các tạng sống và tủy
- Chức năng chuyển hóa dự trữ các ion cho toàn bộ cơ thể đặc biệt là canxi và phosphat
Dựa vào đặc điểm sinh lý, xương có thể chia ra làm hai loại: xương xốp
và xương đặc Xương đặc được canxi hóa 80-90% khối lượng xương Xương xốp được canxi hóa 15-25% khối lượng xương Xương đặc có chức năng bảo
vệ còn xương xốp có chức năng chuyển hoá [22]
1.1.2 Sự tăng trưởng và chu chuyển xương
Trong quá trình phát triển cơ thể, khối lượng xương trải qua 3 giai đoạn [28]:
- Giai đoạn đầu: Khối lượng xương tăng dần và đạt đến giá trị tối đa (gọi
là khối lượng xương đỉnh)
- Giai đoạn hai: Giai đoạn mất xương chậm, giai đoạn này phụ thuộc vào tuổi và giới, nữ thường ở tuổi mãn kinh và nam khoảng 52 tuổi
- Giai đoạn ba: Giai đoạn mất xương nhanh, giai đoạn này xuất hiện ở nữ giới sau mãn kinh
Quá trình chuyển hóa xương bị chi phối bởi các tế bào xương: tạo cốt bào (Osteoblast), cốt bào (Osteocyte), hủy cốt bào (Ostoclast) và các tế bào lót (lining cell) Ngoài ra các bạch cầu đơn nhân, đại thực bào và tế bào mast cũng
có ảnh hưởng tới quá trình chu chuyển xương [20]
HUPH
Trang 18+ Tạo cốt bào (Osteoblast): là tế bào có nhân hình thoi, có nhiệm vụ sản sinh ra các thành phần của nền xương (các sợi collagen và các chất nền), có vai trò quan trọng trong quá trình canxi hóa [22]
+ Cốt bào (Osteocyte): Loại tế bào này được hình thành từ Osteoblast có vai trò quan trọng trong sự trao đổi canxi giữa xương và dịch ngoại bào [19]
+ Hủy cốt bào (Ostoclast): là tế bào khổng lồ đa nhân, có nhiệm vụ tiêu xương [19]
Quá trình tạo – hủy xương xảy ra theo một chu trình có kiểm soát Ở người trưởng thành, chu trình này bắt đầu khi xương cũ bị đào thải và sau đó xương mới bị thay thế [28] Bình thường hai quá trình này được duy trì một cách cân bằng cho đến khoảng 40 tuổi Từ tuổi này trở lên hủy cốt bào hoạt động quá mức, hủy xương cao hơn tạo xương dẫn đến giảm khối lượng xương theo thời gian, đặc biệt ở giai đoạn mãn kinh gây nên tình trạng LX [22]
Các yếu tố ảnh hưởng đến chu chuyển xương [13]
+ Parathyroid hormon (PTH): Kích thích sự sản sinh vitamin D (1,25D)
và giúp chuyển canxi từ xương đến máu
+ Calcitonin (từ tuyến giáp): Ức chế các tế bào hủy xương; giảm nồng
độ calcium trong máu
+ Calcitriol (1,25D): Kích thích sản sinh collagen, osteopontin, osteocalcin; tăng nồng độ canxi trong máu; kích thích các tế bào hủy xương; kích thích lưu giữ canxi; kích thích hấp thụ canxi
+ Estrogen: Kích thích thụ thể calcitonin, ức chế quá trình hủy xương, cũng có thể kích thích quá trình tạo xương
+ Testosterone: Kích thích tăng trưởng của cơ, tăng stress trên xương, tăng quá trình tạo xương
HUPH
Trang 19+ Prostaglandins: Kích thích quá trình hủy xương và tạo xương…
Hình 1.1 Quá trình chu chuyển xương [13]
1.2 Khái niệm, phân loại và cơ chế bệnh sinh loãng xương
1.2.1 Khái niệm loãng xương
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) năm 1993 loãng xương được định nghĩa: Loãng xương là một bệnh lý của xương, đặc trưng bởi sự giảm khối lượng xương kèm theo hư biến cấu trúc của xương dẫn đến tăng tính dễ gẫy của xương, tức là có nguy cơ gẫy xương Do vậy cần đo mật độ xương để đánh giá nguy cơ gẫy xương [14]
Năm 2001 Tổ chức y tế thế giới (WHO) đã thống nhất đưa ra định nghĩa
LX như sau: Loãng xương được đặc trưng bởi sự thay đổi sức mạnh của xương Sức mạnh này được đặc trưng bởi mật độ xương và chất lượng của xương Chất lượng xương được được đánh giá bởi các thông số: cấu trúc của xương, chu chuyển xương (turnover rate), độ khoáng hóa, tổn thương tích lũy (damage accumulation), tính chất của các chất cơ bản của xương Trong các thông số này, chu chuyển xương đóng một vai trò quan trọng[14]
1.2.2 Phân loại loãng xương [14]
Theo nguyên nhân, loãng xương được chia làm hai loại là loãng xương nguyên phát và loãng xương thứ phát Loãng xương nguyên phát được chia thành hai týp: loãng xương sau mãn kinh (týp 1) và loãng xương tuổi già (týp 2)
HUPH
Trang 201.2.2.1 Loãng xương nguyên phát: là loại loãng xương không tìm thấy
căn nguyên nào khác ngoài tuổi tác hoặc tình trạng mãn kinh ở phụ nữ Nguyên nhân do quá trình lão hóa của tạo cốt bào, làm xuất hiện tình trạng mất cân bằng giữa hủy và tạo xương, gây nên thiếu sản xương
Loãng xương nguyên phát týp1 (hoặc loãng xương sau mãn
kinh): thường gặp ở phụ nữ khoảng từ 50 – 60 tuổi, đã mãn kinh) Tổn thương
chủ yếu là mất chất khoáng ở xương xốp (xương bè), biểu hiện bằng lún các đốt sống hoặc gẫy xương Nguyên nhân loãng xương là do sự giảm estrogen, giảm tiết hormon cận giáp trạng, tăng thải canxi qua nước tiểu, suy giảm hoạt động enzym 25-OH-Vitamin D1α hydroxylase
Loãng xương nguyên phát týp 2 (loãng xương tuổi già): xuất hiện ở cả nam và nữ, thường trên 70 tuổi Mất chất khoáng toàn thể cả xương xốp (xương bè) và xương đặc (xương vỏ) Biểu hiện chủ yếu là gãy cổ xương đùi, xuất hiện thường sau 75 tuổi cả nam và nữ Loại loãng xương này liên quan đến hai yếu
tố quan trọng là giảm hấp thụ canxi, giảm chức năng tạo cốt bào dẫn tới cường cận giáp thứ phát
1.2.2.2 Loãng xương thứ phát: là loại loãng xương tìm thấy nguyên
nhân do một số bệnh hoặc một số thuốc gây nên Thường gặp triệu chứng loãng xương trong các bệnh suy sinh dục, cường vỏ thường thận, dùng nội tiết tố vỏ thượng thận kéo dài điều trị corticoid, cường cận giáp, cường giáp, rối loạn hấp
thu, thiếu canxi, bất động dài ngày, điều trị bằng heparin kéo dài
Hình 1.2 Loãng xương [17]
HUPH
Trang 211.2.3 Cơ chế bệnh sinh của loãng xương
Mất chất khoáng tăng dần theo tuổi là một hiện tượng sinh lý bình thường, khi bị tăng quá mức sẽ trở thành loãng xương Mức độ thưa xương sinh
lý khác nhau giữa nam và nữ: Ở nam giới, khối lượng bè xương giảm dần một cách đều đặn, gần 27% trong khoảng thời gian từ 20 – 80 tuổi Nữ giới mất xương nhiều hơn (gần 40% trong cùng khoảng thời gian đó) với một sự gia tăng nhanh trong vòng 20 năm sau mãn kinh Loãng xương xuất hiện khi sự thưa xương trở nên quá mức, khiến bộ xương không chịu nổi sức ép cơ học, khi đó
có thể xuất hiện gãy xương [21]
Nguyên nhân của loãng xương liên quan đến sự gia tăng của tuổi tác, sự giảm hoạt động của tạo cốt bào dẫn đến giảm sự tạo xương Ngoài ra, ở người
có tuổi còn có sự giảm hấp thu canxi ở cả hai giới, thường do thiếu canxi trong chế độ ăn, giảm tổng hợp vitamin D tại da… Các yếu tố này dẫn đến sự tăng tiết hormon cận giáp trạng (cường cận giáp trạng thứ phát), gây thiểu năng xương [21]
Hình 1.3 Mật độ xương ở nam và nữ theo độ tuổi [24]
1.2.4 Các triệu chứng lâm sàng của loãng xương
- Xẹp đốt sống: Đau xuất hiện khi có một đốt sống mới bị xẹp, hoặc đốt sống tiếp tục bị xẹp nặng hơn Đau xuất hiện tự nhiên hoặc liên quan tới gắng
HUPH
Trang 22sức hoặc chấn thương nhỏ, thường biểu hiện bằng đau cột sống cấp tính, khởi phát đột ngột, không lan, không có triệu chứng chèn ép thần kinh kèm theo Đau giảm rõ rệt khi nằm và giảm dần rồi biến mất sau vài tuần Tuy nhiên, một
tỷ lệ rất lớn các lún xẹp đốt sống không có triệu chứng đau sột sống Có những bệnh nhân trước khi lún xẹp đốt sống không bao giờ có đau cột sống [14]
- Rối loạn tư thế cột sống: Khi xẹp nhiều đốt sống, cột sống thường bị biến dạng, điển hình nhất là gù cong đoạn cột sống lưng – thắt lưng Bệnh nhân
bị giảm chiều cao, gù đoạn lưng Biến dạng này có thể làm bệnh nhân đau cột sống và đau do cọ sát sườn – chậu [14]
- Gẫy xương: Các vị trí thường gặp là đầu trên xương đùi, đầu trên xương cánh tay, đầu dưới xương cẳng tay, xương sườn, xương chậu và xương cùng [14]
1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới loãng xương và mật độ xương
- Yếu tố di truyền: người da đen ít bị loãng xương hơn người da trắng, người gầy và thấp hay bị loãng xương hơn; một số loãng xương có tính chất gia đình như trong nhà có người bị loãng xương hoặc gãy xương thì có nguy
cơ mắc bệnh cao hơn
- Yếu tố chuyển hóa: thiếu canxi hoặc vitamin D
- Yếu tố hormon: tăng tiết hormon cận giáp trạng hoặc corticoid vỏ thượng thận có thể dẫn đến loãng xương thứ phát, giảm tiết ostrogen đóng vai trò quan trọng trong loãng xương
- Loãng xương do thuốc: sử dụng glucocorticoid, heparin kéo dài Corticoid ngăn cản sự phát triển của tế bào tạo xương, giảm bớt sự tổng hợp các chất tạo keo và protein collagen của xương Bên cạnh đó chúng thúc đẩy
sự thái hóa của các tế bào xương và tế bào tạo xương [21]
- Giới: phụ nữ có nguy cơ xuất hiện loãng xương tiên phát cao hơn nam giới gấp 6-8 lần do khối lượng xương của họ thấp hơn và có một quá trình mất xương nhanh hơn sau mãn kinhliên quan đến thay đổi hormon nội tiết tố Sự
HUPH
Trang 23mất xương của nữ xuất hiện sớm hơn nam giới từ 15 – 20 năm do hậu quả của
sự suy giảm chức năng buồng trứng một cách nhanh chóng [37]
- Tuổi: tuổi càng cao mật độ xương càng giảm Ở người già có sự mất cân bằng giữa tạo xương và hủy xương Chức năng của tạo cốt bào bị suy giảm
là một nguyên nhân dẫn tới tình trạng mất xương ở tuổi già Một nguyên nhân thứ hai dẫn tới sự mất xương ở người già là sự suy giảm hấp thu canxi ở ruột
và sự giảm tái hấp thu canxi ở ống thận [22] Boyabov M.A và cộng sự trong nghiên cứu ở 8869 phụ nữ tại Bulgary trong độ tuổi từ 20-87 cho thấy, mật độ xương cẳng tay giảm theo tuổi với tỷ lệ là 20,5% với nhóm tuổi dưới 50 và 32,5% với nhóm tuổi từ 50 trở lên [48]
- Estrogen: năm 1940 Albright là người đầu tiên đã tìm thấy được mối liên hệ giữa LX và giảm chức năng của buồng trứng ở phụ nữ Sau đó nhiều kết quả nghiên cứu đã khẳng định kết luận của Albright Sự mất xương ở nữ xuất hiện sớm hơn từ 15-20 năm so với nam giới là hậu quả của sự suy giảm chức năng buồng trứng một cách nhanh chóng [11]
- Yếu tố dinh dưỡng: dinh dưỡng ảnh hưởng rất lớn đến tình trạng của
bộ xương Chế độ ăn không đầy đủ canxi sẽ ảnh hưởng đến sự đạt được đỉnh cao của khối xương và sự mất xương sau này Một nghiên cứu được tiến hành trên 200 phụ nữ Trung Quốc 57 tuổi và được bổ sung 2 ly sữa giàu canxi mỗi ngày, kết quả cho thấy ở nhóm nghiên cứu uống sữa có tốc độ mất xương chậm hơn rõ rệt so với nhóm không uống sữa [15]
- Yếu tố cân nặng: ở những phụ nữ nhẹ cân sự mất xương xảy ra nhanh hơn và tần suất gãy cổ xương đùi và xẹp đốt sống do LX cao hơn [8] Ngược lại cân nặng cao là một yếu tố bảo vệ cơ thể khỏi tình trạng mất xương thông qua việc tăng tạo xương và tăng chuyển hóa androgen của tuyến thượng thận thành estron ở mô mỡ Cân nặng dưới 40 kg, hay giảm trọng lượng quá nhanh trong thời gian gần đây là nguy cơ dẫn đến loãng xương của những người trên
50 tuổi [7] Năm 2003, theo báo cáo của nhóm chuyên gia tư vấn phối hợp
HUPH
Trang 24WHO/FAO cho thấy cân nặng cơ thể thấp làm tăng nguy cơ gãy xương do loãng xương cho cả nam và nữ trên 50 tuổi [49]
- Yếu tố chiều cao: những người có tầm vóc nhỏ có khối lượng xương thấp hơn nên dễ có nguy cơ LX Theo khuyến cáo của Hiệp hội chống loãng xương thế giới, những người trên 50 tuổi có chiều cao giảm từ 3cm trở lên so với độ tuổi 20 – 30 tuổi thì có nguy cơ cao về loãng xương [7] Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Lan và cộng sự, những người có chiều cao thấp < 147cm có nguy cơ giảm mật độ xương nhanh hơn những người có chiều cao trên 147cm[15]
- Yếu tố vận động: sự giảm vận động ở những người lớn tuổi cũng là yếu
tố nguy cơ dẫn đến sự mất xương Sự vận động của các cơ kích thích sự tạo xương và tăng khối lượng xương Ngược lại, sự giảm vận động dẫn tới mất xương nhanh [2] Theo nghiên cứu của tác giả Lưu Ngọc Giang và Nguyễn Thị Trúc thì không vận động thể lực là một yếu tố nguy cơ của loãng xương và gãy xương, tiêu chuẩn vận động trong nghiên cứu là đi bộ trong khoảng 30 phút, 2-
3 lần mỗi tuần, liên tục trên 1 năm Trong một nghiên cứu kéo dài 4 năm, Smith E.L và cộng sự đã so sánh 2 nhóm đối tượng, một nhóm có luyện tập earobic
45 phút/lần, 3 lần/tuần và nhóm không luyện tập Kết quả cho thấy tỷ lệ mất xương ở nhóm luyện tập giảm hơn so với nhóm không luyện tập [5]
- Các yếu tố khác: uống rượu, hút thuốc lá, sử dụng nhiều cafein, tình trạng sinh đẻ đều có ảnh hưởng tới LX
- Các bệnh ảnh hưởng tới LX: cường giáp, cường cận giáp, cushing, đái tháo đường, sau cắt dạ dày, ruột, rối loạn tiêu hóa kéo dài, suy thận, xơ gan, suy giáp, viêm khớp mạn tính: viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp
1.2.5 Hậu quả loãng xương:
1.2.5.1.Hậu quả đối với cá nhân người bệnh
- Đau xương tiến triển mãn tính: đau do loãng xương tiến triển từng đợt, đau tăng khi vận động, giảm khi nghỉ ngơi
HUPH
Trang 25- Đau thắt lưng, cột sống dẫn đến hạn chế vận động: cúi, ngửa, nghiêng
- Lún đốt sống dẫn đến gù, vẹo, chèn ép rễ thần kinh của tủy
- Gãy xương tự nhiên, hoặc chỉ sau một chấn thương rất nhẹ: gãy cổ xương đùi, gãy xương cổ tay, gãy ngành ngồi háng xương chậu, dẫn đến tàn phế, tử vong [18]
- Người cao tuổi bị gãy xương và loãng xương dễ tử vong và mắc nhiều bệnh sau gãy xương như: viêm đường hô hấp, tiết niệu, tiêu hóa… và bị di chứng phải có người trợ giúp suốt đời
1.2.5.2 Hậu quả đối với gia đình bệnh nhân
Loãng xương không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người bệnh
mà còn gây ra những ảnh hưởng gián tiếp đối với gia đình bệnh nhân như thời gian chăm sóc, tiền bạc, tâm lý
1.2.5.3 Hậu quả đối với xã hội:
Loãng xương là một vấn đề sức khỏe y tế công cộng nổi cộm và có tác động to lớn về mặt kinh tế và xã hội ở mỗi quốc gia và thế giới Theo WHO, mặc dù LX dễ dàng được chuẩn đoán và điều trị, tuy nhiên hầu hết người bệnh không được chuẩn đoán sớm và điều trị kịp thời, triệt để và hậu quả là có hàng triệu người có nguy cơ cao với gãy xương Bên cạnh đó do sự gia tăng dân số người cao tuổi làm số người bị gãy xương do loãng xương tăng lên gấp 2-3 lần trong một vài thập kỷ tiếp theo Điều này dẫn đến hệ thống y tế của rất nhiều quốc gia đã không thể đáp ứng đầy đủ các phương tiện để phát hiện và điều trị bệnh cho cộng đồng Ước tính chi phí trực tiếp cho điều trị do gãy xương của các nước Châu Âu, Mỹ và Canada vào khoảng 48 tỷ đô la mỗi năm Dự đoán
HUPH
Trang 26chi phí sẽ lên tới 60 tỷ đô la năm 2030 Các chi phí gián tiếp cho điều trị loãng xương chỉ tính riêng ở Mỹ tốn khoảng 4,5 – 4,6 tỷ đô la mỗi năm [5]
Hình 1.4 Tỷ lệ tàn phế do loãng xương so với các bệnh ác tính thường gặp [24]
1.2.6 Dự phòng loãng xương:
- Phát hiện sớm: Các công trình nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy những người giảm mật độ xương là hoàn toàn có thể dự phòng được hoặc ít nhất là làm chậm quá trình tiến triển thành loãng xương Phát hiện sớm sự mất xương ở giai đoạn giảm mật độ xương sẽ có ý nghĩa quan trọng để áp dụng kịp thời các biện pháp dự phòng tích cực
- Bổ sung đầy đủ canxi: Cung cấp đầy đủ canxi suốt đời là sự cần thiết
để đạt được đỉnh khối lượng xương và duy trì sức khỏe Phụ nữ trưởng thành nhu cầu canxi là 1.000 – 1.200 mg/ngày Phụ nữ trên 50 tuổi, mãn kinh có thể cần tới 1.500 mg/ngày Lượng canxi tối đa an toàn là 2.500mg/ngày [11, 18]
- Bổ sung đầy đủ Vitamin D: Vitamin D có vai trò quan trọng trong chuyển hóa canxi và xương, làm tăng hấp thu canxi trong ruột bằng cách tăng tổng hợp các protein chuyên chởcanxi qua ruột Người trưởng thành nhu cầu vitamin D cần 200UI/ngày Tuy nhiên, mỗi ngày tiếp xúc với ánh nắng mặt trời
HUPH
Trang 27(để hở mặt, cánh tay, cẳng tay) khoảng 30 phút là đủ lượng vitamin D cần thiết [11, 18]
- Tập thể dục thường xuyên: Việc luyện tập đều đặn 30 phút/ngày giúp tăng cường sự cân bằng và duy trì độ dẻo dai của hệ thống xương, giảm nguy
cơ loãng xương và gãy xương ở người cao tuổi Các bài tập thể dục nên kéo dài suốt đời ở mọi lứa tuổi, để phòng ngừa loãng xương và sức khỏe nói chung
- Duy trì cân nặng vừa phải
- Tránh hút thuốc lá và uống quá nhiều rượu, bia, cafe, theo các nghiên cứu uống rượu: ≥ 8g cồn tinh hoặc 375ml bia 60ml hoặc 30ml rượu mạnh/ngày; hay hút thuốc lá ≥ 20 điếu/ngày sẽ dẫn đến nguy cơ loãng xương[7]
- Phòng ngừa té ngã
- Liệu pháp hormon thay thế (HRRT): là liệu pháp dùng estrogen tổng hợp hoặc progestin HRT được dùng để thay thế cho việc thiếu hụt nội tiết tố của người phụ nữ vào giai đoạn mãn kinh HRRT giúp giảm các triệu chứng mãn kinh và tác dụng ngăn chặn sự mất xương xảy ra sau khi mãn kinh HRRT đặc biệt có hiệu quả với chứng loãng xương trong 5 năm đầu tiên sau mãn kinh [18]
1.3 Các phương pháp chẩn đoán loãng xương và đo mật độ xương 1.3.1 Các phương pháp chẩn đoán loãng xương
Năm 1994, WHO chính thức công bố phương pháp chẩn đoán LX dựa vào mật độ xương và sử dụng thước đo T-score T-score của một cá thể là chỉ
số MĐX của cá thể đó so với MĐX của một người trẻ tuổi có sức khỏe bình thường Theo đó một người được chẩn đoán mắc loãng xương nếu có giá trị T-score < -2,5 Những người có T-score trong khoảng từ -2,5 đến -1 thì được chẩn đoán bị thiếu xương, những người bình thường là những người có T-score > -1[21]
HUPH
Trang 281.3.2 Các phương pháp đo mật độ xương
Hiện nay có rất nhiều phương pháp đo MĐX để chẩn đoán loãng xương
và mỗi phương pháp đều có ưu và nhược điểm riêng
Phương pháp sinh hóa: phương pháp chẩn đoán này dựa trên X-quang
và kết quả đo khối lượng xương Các xét nghiệm sinh hóa, máu, nước tiểu thường ít thay đổi một cách có ý nghĩa và đặc hiệu ở những người có loãng xương so với đối tượng bình thường
Ưu điểm: đây là phương pháp không xâm nhập, có thể lặp lại nhiều lần,
có thể kết hợp với đo khối lượng xương và đánh giá sự chuyển hóa xương bằng những chỉ số sinh hóa đặc biệt
Nhược điểm: độ nhạy và độ đặc hiệu thấp
Đo hấp phụ năng lượng quang phổ đơn (Sing le Energy Photon Absorptiomtry- SPA): là phương pháp được ra đời từ năm 1963, dựa vào sự
thay đổi của chùm tia phát ra từ nguồn phóng xạ hướng vào vùng cần nghiên cứu của xương
Ưu điểm: Máy gọn nhẹ, liều tia xạ thấp (5-10 mrem), dễ áp dụng tại cộng đồng
Nhược điểm: Chỉ áp dụng ở những vị trí xương ngoại vi không đo được xương đùi, xương cột sống Tỷ lệ sai lầm 4 - 5%
Đo hấp phụ năng lượng quang phổ kép (Dual Energy Photon Absorptiometry- DPA): sử dụng hai nguồn photon có mức năng lượng khác
nhau (44 và 100 Kev), hệ số hấp thụ của xương và mô mềm khác nhau cho phép đánh giá chính xác khối lượng xương nên có thể tiến hành đo tại vị trí xương có nhiều mô mềm xung quanh Liều tia xạ khoảng 15 mrem
Ưu điểm: có thể đo được bất kỳ vị trí nào của xương
Nhược điểm: Đắt, không thể dùng để nghiên cứu tách biệt giữa phần xương đặc hay xương xốp, thời gian thăm dò dài (> 20 phút) Tỷ lệ sai lầm 3-6%, khó triển khai ở cộng đồng
HUPH
Trang 29Chụp cắt lớp vi tính định lượng (QCT): đo MĐX của xương đặc và
xương xốp tại cột sống và xương hông và một loại QCT có tên peripheral QCT (pQCT) sử dụng để đo mật độ xương ở chi (như xương cổ tay)
Ưu điểm: QCT cho biết tỷ trọng khoáng xương thực sự 3 chiều của xương, có khả năng nghiên cứu tách biệt các phần xương bè, vỏ xương và xương cột sống
Nhược điểm: QCT ít được áp dụng vì giá thành cao, sử dụng liều xạ cao (200 – 1500 mrem) và kém chính xác hơn DEXA, P-DEXA hay DPA; thời gian thăm dò kéo dài (15 phút), khó thực hiện tại cộng đồng
Siêu âm định lượng (QUS): là phương pháp phát chùm siêu âm qua vị
trí xương gót, bánh chè hoặc xương cẳng tay để đánh giá chất lượng xương QUS sử dụng hai đầu dò, một đầu dò truyền xung siêu âm và một đầu dò nhận xung siêu âm ở bên đối diện của xương
Ưu điểm: phương pháp siêu âm nhanh, không gây đau và không sử dụng chất phóng xạ như trong phương pháp X- quang, dễ thực hiện tại cộng đồng
Nhược điểm: không đo được mật độ xương của các xương gần rạn, gãy
do loãng xương như cổ xương đùi và xương sống
Đo hấp thụ tia X năng lượng đơn (SXA): phương pháp này cũng dựa
trên nguyên lý SPA, tuy nhiên nguồn tia xạ được thay thế bằng tia X SXA được ứng dụng để đo các vị trí đầu dưới xương quay và xương gót chân
Đo hấp thụ tia X năng lượng kép (DXA): sử dụng hai chùm tia X hướng
vào một số vị trí nào đó của cơ thể như cột sống, cổ xương đùi hay toàn bộ cơ thể và đo năng lượng của chùm tia đó khi nó ra khỏi cơ thể
Ưu điểm: độ chính xác cao, thời gian thăm dò ngắn, liều tia thấp (2-4 mrem) Rất có giá trị trong thử nghiệm lâm sàng
Nhược điểm: chi phí cao, phải thực hiện tại các cơ sở y tế chuyên khoa
HUPH
Trang 301.3.3 Lựa chọn phương pháp đo mật độ xương phù hợp với nghiên cứu:
Có rất nhiều phương pháp thăm dò khối lượng xương khác nhau, mỗi phương pháp đều có ưu và nhược điểm, lựa chọn một phương pháp thích hợp
để nghiên cứu đòi hỏi cân nhắc nhiều yếu tố: thời gian, kinh phí, độ chính xác, khả năng sẵn có…
Căn cứ vào đặc tính nghiên cứu cộng đồng, những ưu, nhược điểm của các phương pháp đo mật độ xương, chúng tôi sử dụng phương pháp siêu âm định lượng trong nghiên cứu, phương pháp này đã được sử dụng khá nhiều trong các điều tra cộng đồng do phương pháp đơn giản, gọn nhẹ, dễ vận chuyển,
dễ thực hiện
1.4 Tình hình nghiên cứu loãng xương trên thế giới và Việt Nam 1.4.1 Tình hình nghiên cứu loãng xương trên thế giới
Theo báo cáo của Hiệp hội loãng xương Quốc tế, mỗi năm trên thế giới
có khoảng 200 triệu người bị loãng xương trong đó có khoảng ¼ số phụ nữ trên
60 tuổi bị gãy xương do loãng xương Mỗi giây trên thế giới có 4 trường hợp
bị gãy xương và 4 triệu trường hợp bị gãy xương mới mỗi năm; chi phí điều trị cho gãy xương là 31,7 tỉ Euro mỗi năm Cũng theo số liệu của IOF, trên thế giới, cứ 3 phụ nữ thì có 1 người bị LX; ở nam giới, tỉ lệ này là 1/5 Người ta thấy ở Châu Âu, cứ 30 giây có một người bị gãy xương do loãng xương
Dự báo tới năm 2050, toàn thế giới có khoảng 6,3 triệu trường hợp bị gãy
cổ xương đùi do loãng xương và 51% số này sẽ ở các nước Châu Á Tỷ lệ loãng xương ở phụ nữ Châu Á sau mãn kinh là từ 17 đến 21% Tỷ lệ gãy xương do loãng xương ở Đông Nam Á chiếm 17,4% toàn thế giới [5,16,17, 24, 33, 40]
Năm 2008 tác giả Kanis, JA nghiên cứu trên đối tượng từ 50 – 80 tuổi ở
cả nam và nữ tại Thụy Điển, cho thấy: tỷ lệ loãng xương ở nam là 6,3% và ở phụ nữ là 21,2% [36].Năm 2010 theo nghiên cứu của IOF tại Liên Bang Nga
tỷ lệ loãng xương ở phụ nữ là 33,8% và nam giới là 26,9%; Ở Belarus, tỷ lệ loãng xương chung là 30%, cứ 5 người > 55 tuổi có 1 người bị loãng xương
HUPH
Trang 31Cùng năm tại Ba Lan kết quả nghiên cứu cho thấy: tỷ lệ loãng xương ở phụ nữ trên 55 tuổi là18,5% và tỷ lệ thiểu sản xương là 40,7% [32].
Cũng theo IOF năm 2011 có khoảng 1,4 triệu nữ giới và 0,6 triệu nam giới từ 50 tuổi trở lên tại Nam Phi bị loãng xương[34]
Hình 1.5 Phân bố loãng xương tại một số nước và khu vực [24]
Bên cạnh những nghiên cứu về tỷ lệ mắc loãng xương, một số tác giả cũng tiến hành nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành đối với bệnh loãng xương
Năm 2016, tác giả Wang L và cộng sự trong nghiên cứu can thiệp kéo dài 4 năm về mô hình giáo dục sức khoẻ và quản lý phòng ngừa loãng xương tại Trung Quốc trên 436 bệnh nhân bị loãng xương được phân nhóm ngẫu nhiên vào hai nhóm: nhóm câu lạc bộ loãng xương và nhóm tự kiểm soát về loãng xương Trong đánh giá trước can thiệp, không có sự khác biệt đáng kể nào về sức khỏe giữa hai nhóm và sau 4 năm những bệnh nhân thuộc nhóm câu lạc bộ loãng xương đã được giảm nhẹ đáng kể so với nhóm tự kiểm soát về LX (P
Trang 32tỷ lệ loãng xương là 3,8%, những người sống ở nông thôn tỷ lệ này là 19,1%
và những người sống ở thành thị tỷ lệ loãng xương là 13,3% Nghiên cứu này cho thấy trình độ giáo dục, hoàn cảnh sống có liên quan đến sức khoẻ xương ở nhóm phụ nữ sau mãn kinh[50]
Nghiên cứu cắt ngang của Hernandez-Rauda R1, Martinez-Garcia S năm 2004 về kiến thức, thói quen sống liên quan đến loãng xương ở 197 phụ
nữ tại El Salvador, gồm ba nhóm tuổi từ 25-35 tuổi, 36-49 tuổi, và từ 50 tuổi trở lên có kết luận rằng kiến thức, thói quen phòng ngừa, bao gồm việc ăn đủ chất canxi và hoạt động thể chất có liên quan đến nguy cơ gia tăng loãng xương trong cộng đồng phụ nữ ở El Salvador [51]
Nghiên cứu của tác giả N.Aggar Wal và cộng sự cũng chỉ ra rằng thói quen ăn uống đầy đủ canxi và thói quen tập thể dục có mối liên quan chặt chẽ đến mật độ xương Theo tác giả, những người có chế độ ăn không đáp ứng đầy
đủ nhu cầu canxi của cơ thể và không có thói quen tập thể dục thường xuyên là những người chịu tác động mạnh nhất của bệnh [21]
Năm 2007, trong nghiên cứu của Gemalmaz A và cộng sự với 768 phụ
nữ từ 40-70 tuổi ở một vùng nông thôn Thổ Nhĩ Kỳ cũng cho thấy người có trình độ học vấn cao thì có nhận thức chính xác về bệnh LX hơn những người khác [58]
Cùng năm nghiên cứu của Jalili Z và cộng sự ở 770 phụ nữ trên 45 tuổi
ở Kerman (miền nam Iran) cho thấy mối liên quan thống kê giữa các yếu tố như: trình độ học vấn, nghe thông tin về bệnh LX, điểm kiến thức, thái độ về tính nghiêm trọng của bệnh với thực hành loãng xương [59]
Năm 2003, nghiên cứu của Yu S và Huang Y.C ở 447 phụ nữ trên 40 tuổi ở Đài Loan, Đài Bắc và Trung Quốc cũng cho thấy kiến thức, tiền sử khám bệnh, thái độ đối với tính nghiêm trọng của bệnh LX, niềm tin với việc điều trị bệnh LX sớm, trình độ học vấn có liên quan thống kê với thực hành dự phòng bệnh [18]
HUPH
Trang 331.4.2 Tình hình nghiên cứu loãng xương tại Việt Nam
Hiện nay ở Việt Nam chưa có số liệu chính xác về tỷ lệ loãng xương, gẫy xương do loãng xương và toàn bộ các chi phí cho bệnh loãng xương Ước tính năm 2014, số người bị loãng xương là 3,2 triệu người, trong đó nữ giới chiếm 76%; 190.000 trường hợp gãy xương do loãng xương; 29.000 trường hợp bị gãy xương hông Dự báo tới năm 2030: số người bị loãng xương là 4,5 triệu, tăng 170-180%[24] Theo Hội Thấp khớp Việt Nam số lượng phụ nữ bị loãng xương độ tuổi từ 50 tuổi trở lên có thể là hơn 7 triệu người vào năm 2050 Theo
số liệu khảo sát bước đầu của Viện Dinh dưỡng, bệnh loãng xương ảnh hưởng tới 1/3 phụ nữ và 1/8 đàn ông trên 50 tuổi [17] Có khoảng 20% số người trên
60 tuổi bị loãng xương trong đó đã có nhiều biến chứng (lún xẹp đốt sống, gù vẹo cột sống…) chưa kể số người bị gẫy cổ xương đùi [15]
Một cuộc khảo sát năm 2013 báo cáo rằng từ 10-25% bệnh nhân bị gãy xương hông ở Việt Nam được xử lý bằng phẫu thuật và trung bình thời gian để phẫu thuật hông là hơn 3 ngày Chi phí điều trị gãy xương hông giá từ 1.000 đến 4.000 USD/mỗi lần điều trị Chi phí điều trị LX tương đương với điều trị bệnh đái tháo đường, và cao hơn nhiều so với 2 căn bệnh ung thư ở phụ nữ là: ung thư vú và ung thư cổ tử cung Đặc biệt, điều trị LX không biến chứng chiếm hơn 50% thu nhập bình thường của người Việt Nam, nên hầu như người Việt Nam không có khả năng theo đuổi quá trình điều trị lâu dài, hết năm này qua tháng nọ[15]
Năm 2015, Nguyễn Thị Ngọc Lan và cộng sự với đề tài nghiên cứu khảo sát yếu tố nguy cơ loãng xương ở phụ nữ Việt Nam từ 50 tuổi trở lên và nam giới 60 tuổi trở lên, cho thấy các yếu tố nguy cơ loãng xương của nữ giới ≥ 50 tuổi là tuổi, cân nặng thấp (< 42 kg), mãn kinh trên 12 tháng không liên quan đến thai kỳ, số lần sinh con ≥ 5 con, chiều cao thấp < 147 cm [15]
Năm 2014, bằng nghiên cứu ảnh hưởng của mãn kinh sớm và corticoid đến mức độ loãng xương ở 281 phụ nữ mãn kinh và 50 đàn ông trên 50 tuổi
HUPH
Trang 34của Phí Văn Khoa, Đoàn Văn Đệ, Nguyễn Thị Phi Nga, Nguyễn Minh Núi cho thấy: tỷ lệ loãng xương chung là 66,2%, tỷ lệ loãng xương tăng dần theo độ tuổi, thói quen hút thuốc lá làm tăng nguy cơ loãng xương, phụ nữ bị mãn kinh sớm bị loãng xương nặng hơn, đặc biệt corticoid làm tăng nguy cơ loãng xương
rõ rệt [10]
Tỷ lệ loãng xương cũng được khảo sát trong một nghiên cứu cắt ngang của Nguyễn Minh Sinh năm 2012 ở 250 người cao tuổi trên 60 tại xã Tam Thanh, Vụ Bản, Nam Định, kết quả cho thấy: tỷ lệ loãng xương là 52,8%, tỷ lệ giảm mật độ xương là 31,2% Nghiên cứu đã chỉ ra hai yếu tố liên quan đến thực trạng loãng xương là thói quen sử dụng thực phẩm giàu canxi và tuổi của đối tượng nghiên cứu Những người từ 70 tuổi trở lên có nguy cơ mắc bệnh cao hơn 2,9 lần so với những người dưới 70 tuổi Những người không có thói quen
sử dụng thường xuyên thực phẩm giàu canxi trong bữa ăn có nguy cơ mắc bệnh cao gấp 13,9 lần so với những người hay có thói quen này [21]
Cũng trong năm 2012 tác giả Lưu Thị Hồng Hạnh tiến hành nghiên cứu thực trạng loãng xương ở 357 phụ nữ mãn kinh trên 5 năm trong độ tuổi 50-70 tại xã Tam Hưng – huyện Thanh Oai – Hà Nội năm 2012 cho kết quả: Tỷ lệ loãng xương là 39,3%; tỷ lệ đối tượng GMĐX là 53,6%, các yếu tố tuổi, cân nặng, chiều cao, thời gian mãn kinh, tuổi mãn kinh, thói quen tập thể dục thể thao, tiền sử ngã gãy xương có mối liên quan đến nguy cơ loãng xương[5]
Nghiên cứu của hai tác giả Ninh Thị Nhung và Phạm Ngọc Khái xác định nguy cơ loãng xương ở phụ nữ 40-65 tuổi qua đánh giá chỉ số khối cơ thể và mức độ tiêu thụ thực phẩm cho kết quả: những phụ nữ có tần suất tiêu thụ cá, tôm, tép ở mức không thường xuyên thì nguy cơ loãng xương cao hơn so với nhóm tiêu thụ thường xuyên [18]
Tác giả Nguyễn Thị Kim Dung nghiên cứu trên 285 phụ nữ có độ tuổi từ 40-60 tuổi sinh sống tại 5 xã trên địa bàn huyện Gia Lâm cũng đã tìm ra một số
HUPH
Trang 35yếu tố liên quan về cân nặng, thời gian mãn kinh, tần suất sử dụng một số loại thực phẩm giàu canxi và chế độ luyện tập thể dục với bệnh LX Ngoài ra những người có thói quen ăn đậu phụ chỉ 1-4 lần/tháng có nguy cơ bị loãng xương cao gấp 76 lần so với những người ăn đậu phụ hàng ngày; những phụ nữ không luyện tập thể dục thường xuyên có nguy cơ giảm mật độ xương cao gấp 11,7 lần so với những phụ nữ thường xuyên tập ≥ 30 phút mỗi ngày [4]
Như vậy các đề tài nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam đã đề cập một
số yếu tố nguy cơ liên quan đến loãng xương như tuổi, chiều cao, BMI, thời gian mãn kinh, tuổi mãn kinh… và một số các thói quen hàng ngày như chế độ
ăn bổ sung canxi, luyện tập thể dục… cũng như kiến thức, trình độ của đối tượng đều có liên quan đến tình trạng loãng xương Những kết quả này là gợi
ý cho các chương trình dự phòng bệnh trong cộng đồng có tính khả thi cao
1.5 Một số đặc điểm về địa bàn nghiên cứu
Yên Lâm là một xã miền núi thuộc vùng kinh tế đặc biệt khó khăn 135 duy nhất thuộc huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa Xã có 10 thôn, trong đó hầu hết các thôn đều có người đồng bào dân tộc Mường sinh sống chiếm 70% dân
số của xã Diện tích của xã là 16,96 km2, với dân số khoảng 7800 người, mật
độ dân số gần 460 người/km2
Xã Yên Lâm là một vùng đất trũng nằm dọc theo một nhánh sông Mã, được bồi đắp từ sông Mã nên có đất nông nghiệp màu mỡ thuận lợi cho việc làm nông nghiệp Người dân chủ yếu làm nương rẫy như trồng cây lúa, cây mía
và cây sắn, gần đây có trồng cây ớt và một số hộ gia đình buôn bán và làm nghề khai thác đá Mặc dù đã có nhiều chính sách ưu tiên đối với phụ nữ, song điều kiện sống và làm việc của người dân ở đây còn khó khăn, sức khỏe vẫn chưa thực sự được chăm sóc đầy đủ, trong đó có tình trạng loãng xương, nhất là đối với phụ nữ trong độ tuổi trên 50 tại xã, là độ tuổi có những giảm sút đáng kể trong sức khỏe Tại xã chưa có thống kê cụ thể về các trường hợp gãy xương
HUPH
Trang 36do loãng xương của phụ nữ trên 50 tuổi, song trong thực tế qua các đợt khám sức khỏe của trung tâm y tế xã tổ chức số phụ nữ lớn tuổi bị đau xương, đau khớp đến khám chiếm tỷ lệ không nhỏ, số người bị còng rất nhiều
Khung lý thuyết có 6 nhóm yếu tố bao gồm: kiến thức, thái độ, thực hành
về loãng xương, các yếu tố về nhân trắc học (tuổi, chiều cao, cân nặng, BMI), yếu tố về tiền sử gãy xương, tiếp cận thông tin và yếu tố về tiền sử sản phụ khoa (tuổi kinh nguyệt, tuổi mãn kinh….)
HUPH
Trang 37Tiền sử về gãy xương, bệnh, yếu tố di truyền
và tiếp cận dịch vụ y tế, truyền thông
- Tiền sử gãy xương
- Mắc các bệnh về cường giáp, suy thận, cơ xương khớp…
- Có dùng thuốc đặc biệt dùng corticoid thường xuyên không?
- Gia đình có người bị loãng xương/gãy xương
- Kênh tiếp cận thông tin
- Nắm được khái niệm về loãng
xương, những khái niệm về phòng
- Tính nguy hiểm của bệnh: cảm nhận của ĐTNC về sự nguy hiểm khi bị mắc bệnh
- Lợi ích của các hoạt động ảnh hưởng tốt đến bệnh: cảm nhận của ĐTNC về lợi ích của ciêc tập TD,
bổ sung canxi…
HUPH
Trang 38Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành ở phụ nữ từ 50 tuổi trở lên đang sinh sống tại
xã Yên Lâm, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa
Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu:
- Phụ nữ trên 50 tuổi: Chúng tôi chọn đối tượng nghiên cứu là nữ giới bởi vì nữ giới được coi là đối tượng có nguy cơ loãng xương cao hơn nam giới Sau 50 tuổi, do tình trạng lão hóa, sự hoạt động của các tạo cốt bào giảm dần
về số lượng và chất lượng, trong khi các hủy cốt bào vẫn hoạt động bình thường; một số nội tiết tố cũng có tác động nhiều trên sự hoạt động của tạo và hủy cốt bào, đặc biệt là nội tiết tố sinh dục nữ, khi buồng trứng ngừng hoạt động (mãn kinh) thì quá trình tạo xương giảm đi rất nhiều Ở Việt Nam bệnh loãng xương ảnh hưởng tới 1/3 phụ nữ và 1/8 đàn ông trên 50 tuổi Theo tác giả E.Yliao và cộng sự, tỷ lệ LX ở phụ nữ độ tuổi 30-39 chỉ là 0,5% và tăng lên 4,4% ở nhóm
40-49 tuổi, con số này ở độ tuổi từ 50-59 tuổi là 23,9% [53]
- Sinh sống tại xã Yên Lâm, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa ít nhất từ
6 tháng trở lên tính đến thời điểm nghiên cứu (được quản lý theo danh sách của trạm y tế xã)
- Không bị mắc các bệnh về tâm thần
- Có khả năng giao tiếp và trả lời các câu hỏi
- Đồng ý tham gia nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ đối tượng nghiên cứu:
- ĐTNC vắng mặt tại thời điểm tiến hành nghiên cứu
- Không có khả năng giao tiếp và trả lời các câu hỏi
- Mắc các bệnh về tâm thần
HUPH
Trang 39- Những người đang bị thương ở hai chân không thể đo được hoặc không còn nguyên vẹn cả hai chân
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: Từ tháng 01/2017 – 6/2017
- Địa điểm: xã Yên Lâm, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang phân tích, sử dụng phương pháp định lượng
n:cỡ mẫu tối thiểu
Z: hệ số tin cậy, với α=0,05 phân bố chuẩn Z1- /2= 1,96
p: là tỷ lệ ước tính phụ nữ bị loãng xương, lựa chọn p = 0,13 (kết quả nghiên cứu thăm dò những phụ nữ từ 50 tuổi trở lên có gợi ý loãng xương của
Vũ Đình Chính) [3] Có sự tương đồng về đối tượng, độ tuổi: phụ nữ từ 50 tuổi trở lên và địa bàn nghiên cứu: thuộc vùng nông thôn giữa hai nghiên cứu
d: độ chính xác mong muốn, chọn d = 0,05
Thay vào công thức trên ta có:
𝑛 = 1,96
2 0,13 (1 − 0,13)0,052 = 173, 79 Làm tròn n là 174 và cộng thêm khoảng 15% đối tượng có thể từ chối tham gia nghiên cứu, cỡ mẫu tối thiểu của nghiên cứu là: 200
HUPH
Trang 402.4.2 Chọn mẫu
Bước 1: Lập danh sách tất cả các gia đình có phụ nữ trong độ tuổi từ 50
tuổi trở lên(theo danh sách của trạm y tế xã) N = 600
Bước 2: Tính khoảng cách mẫu (k)
k = N/n, trong đó N là số nữ giới trên 50 tuổi = 600, n là mẫu nghiên cứu
= 200, thay vào công thức ta có k = 3
Bước 3: Chọn đối tượng nghiên cứu
Người đầu tiên được chọn là người được chọn ngẫu nhiên có số thứ tự
từ 1 đến 3 Người thứ hai là người có số thứ tự của người thứ nhất cộng với ba Người thứ ba là người có số thứ tự của người thứ hai cộng với ba Cứ như vậy cho đến khi đủ cỡ mẫu là 200 (theo vần alphabet từ trên xuống dưới)
2.5 Phương tiện, công cụ và phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Phương tiện thu thập:
- Cân, đo chiều cao: sử dụng cân sức khỏe có thước đo chiều cao của trạm y tế xã
- Máy siêu âm đo tỷ trọng xương gót chân
Ở đây chúng tôi sử dụng máy siêu âm đo loãng xương Snost 3000
2.5.2 Công cụ thu thập số liệu
Bộ câu hỏi thiết kế theo mục tiêu gồm 3 phần (phụ lục2):
Phần A: Thông tin chung của ĐTNC
Phần B: Các chỉ số nhân trắc học và mật độ xương
HUPH