PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là những người cao tuổi (≥ 60 tuổi) tại xã Hữu Hòa, huyện Thanh Trì, Hà Nội
- Tiêu chuẩn chọn người cao tuổi:
+ Người từ 60 tuổi trở lên sống tại địa phương
+ Đồng ý tham gia nghiên cứu
+ Người cao tuổi không có khả năng trả lời do bất cứ nguyên nhân gì hoặc không đồng ý tham gia nghiên cứu.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 4/2019 đến tháng 7/2019
- Địa điểm: xã Hữu Hòa, huyện Thanh Trì, TP Hà Nội.
Thiết kế nghiên cứu
- Sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, có phân tích
Cỡ mẫu
- Áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho NC mô tả căt ngang, được tính theo công thức:
Cỡ mẫu nhỏ nhất cần đạt được trong nghiên cứu này là n, với tỷ lệ người cao tuổi hiện mắc tăng huyết áp là 39% theo nghiên cứu của Lê Văn Hợi về đặc điểm nhân khẩu học và thực trạng tăng huyết áp tại 03 xã của huyện Ba Vì, Hà Nội.
Z1- /2: (Mức độ tin cậy 95%) = 1,96 d: Mức độ sai số chấp nhận được, trong nghiên cứu này ta chọn d = 0,06
Trong nghiên cứu này, cỡ mẫu được xác định là 278 NCT, với n = 253 Đề tài sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống và ước lượng tỷ lệ 10% dự phòng cho những người có thể bỏ cuộc hoặc từ chối phỏng vấn.
Phương pháp chọn mẫu
Sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nghiên hệ thống để chọn ĐTNC Toàn xã Hữu Hòa có 1.159 NC
+ Lập danh sách tất cả người cao tuổi (≥ 60 tuổi ) của xã Hữu Hòa (những người sinh năm 1959 trở về trước)
+ Tính khoảng cách mẫu k = N/n (với N là tổng số người cao tuổi của xã Hữu Hòa, n là cỡ mẫu tối thiểu)
Thay vào công thức tính được k = 1.159/278 = 4
Để chọn mẫu người cao tuổi, đầu tiên đánh số thứ tự trong danh sách Sau đó, bốc thăm ngẫu nhiên một trong bốn người đầu tiên Tiếp tục, cứ mỗi bốn người tiếp theo trong danh sách lại chọn một người cho đến khi đạt đủ cỡ mẫu 278 người.
+ Trong trường hợp đối tượng được chọn không tham gia nghiên cứu (tính cả
10 % dự phòng mà vẫn không đủ) thì tiếp tục chọn từ danh sách theo cách như trên
Phương pháp nghiên cứu bao gồm khám lâm sàng, đo huyết áp, đo các chỉ số nhân trắc và phỏng vấn bằng bộ câu hỏi có cấu trúc Chẩn đoán tăng huyết áp (THA) được thực hiện theo phân loại THA ở người lớn theo JNC-7 và Quyết định 3192/QĐ-BYT ngày 31/8/2010 của Bộ Y tế.
Phương pháp thu thập số liệu
2.6.1.Quy trình thu thập thông tin: Để đảm bảo tính khách quan và chính xác, đối tượng nghiên cứu được mời ra Trạm Y tế, sau đó nghỉ ngơi ít nhất 15 phút, sau đó được tiến hành theo tuần tự như sau: (i) đo huyết áp; (ii) đo chiều cao, vòng bụng, vòng mông, cân nặng; (iii) phỏng vấn bằng phiếu điều tra Đối tượng được dặn không sử dụng chất kích thích trong vòng 2 giờ trước khi tiến hành đo huyết áp Tất cả các số liệu thu thập được đều được ghi vào trong bộ phiếu câu hỏi phỏng vấn có cấu trúc (phụ lục 1)
2.6.2 Các điều kiện và kỹ thuật a) Đo huyết áp:
- Dụng cụ đo: Máy đo huyết áp là máy đo huyết áp kế thủy ngân ALPK2 sản xuất tại Nhật Bản sai số cho phép ± 5mmHg
Khi đo huyết áp (HA), cần thực hiện thống nhất trong nhóm nghiên cứu kỹ thuật đo HA động mạch cánh tay, với tay trái làm chuẩn trong tư thế nằm ngửa Đối tượng khám cần ngồi nghỉ ngơi tại phòng khám ít nhất 15 phút, tránh hoạt động mạnh và không sử dụng chất kích thích như rượu, cà phê, thuốc lá trong vòng 1 giờ trước khi đo.
Bề rộng bao đo nên bằng 80% chu vi cánh tay
Để tiến hành đo, đối tượng cần nằm yên tĩnh, sử dụng tay trái làm chuẩn và đặt cánh tay ngang tim Trong quá trình đo, hãy thả lỏng tay và không nói chuyện Bơm nhanh bao hơi lên để đảm bảo kết quả chính xác.
Đo huyết áp bắt đầu từ 200 mmHg, giảm với tốc độ 2 mmHg/giây Ghi lại huyết áp tâm thu (HATT) khi nghe thấy tiếng đập đầu tiên và chỉ ghi số hàng đơn vị mmHg Huyết áp tâm trương (HATTr) được ghi khi có sự thay đổi hoặc mất tiếng đập Cần đo huyết áp hai lần, cách nhau ít nhất 5 phút, và tính trung bình của hai lần đo Nếu chênh lệch giữa hai lần đo lớn hơn 5 mmHg, cần đo thêm lần thứ ba và lấy trị số trung bình Đo huyết áp ở cả hai tay, nếu có sự chênh lệch, lấy chỉ số ở tay có huyết áp cao hơn Đối với các chỉ số nhân trắc, đo cân nặng và chiều cao theo kỹ thuật quy chuẩn, từ đó tính chỉ số BMI Các kỹ thuật cân đo cụ thể sẽ được mô tả chi tiết.
Cân điện tử Omron là dụng cụ chính xác với độ sai số chỉ 0.1kg Mỗi ngày, cân được kiểm tra bằng một vật chuẩn có trọng lượng cố định đã được kiểm định, đảm bảo độ tin cậy Cân cần được đặt trên một mặt phẳng vững chắc để đạt hiệu quả tối ưu.
Khi thực hiện kỹ thuật cân đối tượng, người cân cần mặc bộ quần áo lót mỏng, bỏ dép, mũ và các đồ dùng kèm theo Đứng yên ở giữa cân, mắt nhìn thẳng về phía trước để đảm bảo độ chính xác của kết quả.
+ Đọc kết quả chính xác đến 100g
+ Không tiến hành cân những NCT bị liệt, bó bột…
Sử dụng thước dây vải mềm chia đến độ mm, dán thước sát vào tường sao cho vuông góc với mặt phẳng nền nhà, với vạch 0 trên thước chạm tới mặt phẳng nền.
Đối tượng thực hiện kỹ thuật đứng thẳng, với hai gót chân chụm lại và hai bàn chân mở một góc 60 độ, mắt nhìn thẳng về phía trước Các mốc như chẩm, bả vai, lưng, mông và gót chân cần phải nằm trên một đường thẳng, áp sát vào tường thẳng đứng Sử dụng một tấm gỗ phẳng nhỏ, kích thước 20×30 cm, đặt vuông góc với mặt tường và chạm sát tới đỉnh đầu của đối tượng.
+ Đọc kết quả: Giao tuyến giữa tấm gỗ và mặt tường cắt thước dây tại điểm tương ứng chiều cao đứng của đối tượng, lấy chính xác đến 0,1cm
+ Không tiến hành xác định chiều cao ở những người cao tuổi bị gù, mất chi, teo cơ …
Để đo vòng bụng và vòng mông, sử dụng thước dây trong khi đối tượng đứng thẳng, thoải mái, tay buông lỏng và thở bình thường, thực hiện đo khi thở ra nhẹ Vòng bụng được đo ngang qua rốn với thước đo ở mặt phẳng ngang, trong khi vòng mông là vòng lớn nhất đi qua mông, yêu cầu đối tượng đứng thẳng và mặc quần mỏng Kết quả cần được ghi chính xác đến 0,1 cm Ngoài ra, thực hiện phỏng vấn trực tiếp dựa trên bộ câu hỏi đã chuẩn bị.
Phỏng vấn đối tượng để thu thập các thông tin chung và các thông tin liên quan khác trong bộ phiếu câu hỏi phỏng vấn có cấu trúc.
Biến số nghiên cứu
Các biến số trong nghiên cứu gồm:
- Thông tin chung về nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu: Tuổi, giới, nghề nghiệp, trình độ học vấn, công việc hiện tại
- Thông tin liên quan đến các chỉ số nhân trắc: chiều cao, cân nặng, vòng eo, vòng mông
- Thông tin liên quan đến chỉ số huyết áp
- Kiến thức về phòng bệnh cao huyết áp
- Thực hành phòng tăng huyết áp
- Một số thói quen lối sống
Biến số Định nghĩa Phân loại
Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Tuổi Tuổi của NCT tính theo nhóm dương lịch Định lượng liên tục
Giới Giới tính của ĐTNC Nhị phân
Nghề nghiệp trước khi nghỉ hưu
Công việc mà ĐTNC có thu nhập chính Định danh
Trình độ học vấn Cấp học cao nhất mà ĐTNC trải qua
Chiều cao Tính theo cm Định lượng liên tục
Câng nặng Tính theo kg Định lượng liên tục
Vòng eo Tính theo cm Định lượng liên tục
Vòng mông Tính theo cm Định lượng liên tục
Tình trạng Huyết áp Là chỉ số HA tại thời điểm đo được Tính theo mmHg Định lượng liên tục
Tình trạng mắc THA ĐTNC đã từng được
CBYT chẩn đoán mắc THA hay không
Tiền sử mắc một số bệnh ĐTNC mắc trước khi nghiên cứu
Tiền sử THA của gia đình
Trong gia đình có cũng huyết thống với NCT có ai đã mắc
THA/TBMN/NMCT chưa (bố mẹ, anh chị em ruột)
Kiến thức về phòng bệnh THA
NCT đã từng nghe/ biết đến THA hay chưa
Kiến thức về chỉ số
NCT hiểu khi mắc THA thì chỉ số HA ở mức nào
Kiến thức về dấu hiệu
NCT biết biểu hiện của THA
Hiểu biết về các biến chứng
NCT biết các biến chứng của THA
Hiểu biết về đối tượng có nguy cơ bị THA
NCT biết những người có nguy cơ bị THA
NCT biết cách nào để phòng THA
Những người có nguy cơ dễ bị THA hoặc làm
THA nặng thêm Ăn nhiều chất béo, uống rượu bia, hút thuốc lá/lào; thể tạng béo phì, gia đình có người mắc THA
Biết cách phòng THA theo các nguồn thông tin
Báo, đài, ti vi, mạng, hàng xóm, bạn bè, người thân, cán bộ y tế
Thói quen kiểm tra HA NCT có/không kiểm tra
Thời gian kiểm tra HA Khám định kỳ hay khi có nghi ngờ THA
Nơi kiểm tra HA NCT đo HA tại nhà hay cơ sở y tế
Làm gì để phòng bệnh
Luyện tập thể thao; Bỏ thuốc lá; Cai rượu/bia;
Giảm cân nặng; Ăn nhiều rau/quả; Ăn ít chất béo; Ăn ít muối; Ăn ít
HUPH đường; Không thức quá khuya; Không biết/không trả lời; Khác (ghi rõ)
Phát hiện, chẩn đoán, điều trị THA
Nơi phát hiện, điều trị Căn dặn của bác sĩ Làm theo hướng dẫn của bác sĩ
Một số thói quen – lối sống
Hút thuốc lá/lào Có/không Nhị phân
Tần suất hút thuốc lá/lào
Hiếm khi hút, hàng ngày, hàng tuần
Số lần hút trung bình trong ngày
Số lần hút/ngày Định lượng
Uống rượu bia trong tháng
Số ngày uống trong tháng Định lượng
Uống rượu/bia trong ngày
Số ml rượu/bia uống trong ngày Định lượng Ăn mặn Có ăn mặn (ăn cùng mọi người nhưng ăn thêm nước mắm, muối, gia vị)
Nhị phân Ăn các loại quả/rau xanh/củ, quả làm rau
Lượng ăn trung bình 3 loại mỗi ngày Định lượng
Tham gia các hoạt động thể lực ít nhất 30 phút mỗi ngày
Ngoài công việc hàng ngày, có tham gia các hoạt động thể lực ít nhất
Các khái niệm dùng trong nghiên cứu
a) Huyết áp và Tăng huyết áp
Huyết áp là áp lực máu trong động mạch, thường được đo ở động mạch cánh tay Áp lực này do tim co bóp đẩy máu từ thất trái vào hệ động mạch, kết hợp với lực co bóp của thành mạch, giúp máu lưu thông đến các tế bào để cung cấp oxy và dinh dưỡng cho cơ thể Khi tim co bóp, áp lực trong động mạch đạt mức cao nhất, gọi là HATT (huyết áp tối đa) Ngược lại, khi tim nghỉ, áp lực giảm xuống mức thấp nhất, gọi là HATTr (huyết áp tối thiểu) Chỉ số huyết áp bình thường là dưới 120/80 mmHg.
Theo WHO và hội THA quốc tế, huyết áp được xác định là THA khi HATT ≥ 140mmHg và/hoặc HATTr ≥ 90mmHg Nghiên cứu dịch tễ cho thấy nguy cơ tai biến mạch não tăng cao ở người lớn có huyết áp ≥ 140 mmHg, trong khi tỷ lệ tai biến ở người có huyết áp < 140 mmHg giảm rõ rệt Chỉ số khối cơ thể (BMI) được tính bằng cân nặng (kg) chia cho chiều cao (m) bình phương.
Theo Tiểu ban công tác về béo phì của WHO khu vực Tây Thái Bình Dương
(2000) khuyến nghị phân loại béo phì cho người trưởng thành Châu Á:
Béo phì độ 2 ≥ 30 c) Tỷ lệ vòng bụng/vòng mông (WHR):
Theo Tạp chí Y học Lancet, béo bụng khi:
Nam tỷ lệ VB/VM > 0.95
Nữ tỷ lệ VB/VM > 0.86 d) Khái niệm người cao tuổi
Khi xã hội phát triển, chất lượng cuộc sống và tuổi thọ con người ngày càng tăng, dẫn đến sự gia tăng số lượng người cao tuổi Theo tiêu chuẩn của Liên hợp quốc và Luật Người cao tuổi Việt Nam, những người từ 60 tuổi trở lên được gọi là người cao tuổi Tổ chức Y tế thế giới cũng phân loại các lứa tuổi theo cách riêng của họ.
45-59: Trung niên 60-74: người cao tuối
75-90: Người già Trên 90: người già sống lâu e) Người cao tuổi ở Việt Nam
Tỷ lệ người cao tuổi (NCT) ở Việt Nam đang gia tăng nhanh chóng, phản ánh sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Đặc biệt, tuổi thọ trung bình của người Việt Nam đã tăng đáng kể, từ khoảng 32 tuổi trước năm 1945 lên 66 tuổi vào năm 1979.
1999 là 69 tuổi và hiện nay là 73.5 tuổi.[33].
Xử lý và phân tích số liệu
Sau khi thu thập, các phiếu điều tra được kiểm tra tính đầy đủ của thông tin
Dữ liệu được nhập bằng phần mềm Epidata 3.1, với 10% số phiếu được nhập lại để kiểm soát sai số Sau đó, dữ liệu được làm sạch bằng phần mềm SPSS trước khi tiến hành phân tích Phân tích dữ liệu được thực hiện bằng SPSS 22, sử dụng các thống kê mô tả và các phương pháp phân tích phù hợp.
Phân tích mô tả được sử dụng để cung cấp thông tin tổng quát về nhóm tuổi, giới tính, và nghề nghiệp chính trước đây của đối tượng nghiên cứu Nó cũng đánh giá kiến thức và thực hành về bệnh tăng huyết áp (THA), cùng với một số thói quen và lối sống liên quan Mục tiêu là mô tả thực trạng THA và xác định tỷ lệ người cao tuổi mắc bệnh này trong nhóm nghiên cứu.
Phân tích sự khác biệt giữa hai giá trị trung bình về chỉ số nhân trắc của đối tượng nghiên cứu ở giới tính nam và nữ được thực hiện thông qua phương pháp t-test Kết quả cho thấy có sự khác biệt đáng kể giữa hai nhóm, điều này có thể ảnh hưởng đến các yếu tố sinh lý và tâm lý của từng giới Việc sử dụng t-test giúp xác định mức độ ý nghĩa của sự khác biệt này, từ đó cung cấp thông tin quan trọng cho các nghiên cứu tiếp theo.
Kiểm định khi bình phương nhằm tìm hiểu mối liên quan giữa THA với yếu tố: nhóm tuổi (60-69 tuổi; 70-79 tuổi; từ 80 tuổi trở lên), giới tính, thừa cân béo
HUPH phì, tiền sử gia đình có người bị tăng huyết áp (THA), tiền sử gia đình có người bị tai biến mạch máu não (TBMMN) hoặc nhồi máu cơ tim (NMCT), cùng với thói quen ăn mặn, uống rượu bia, hút thuốc lá, thuốc lào, và thói quen tập thể dục, cũng như thói quen ăn rau quả, đều có ảnh hưởng đến tình trạng THA Cuối cùng, mô hình hồi quy đa biến (đã loại bỏ yếu tố nhiễu) được sử dụng để xác định tác động của các yếu tố này đối với THA.
- Các kiểm định trong nghiên cứu được thực hiện với khoảng tin cậy là 95% hay giá trị kiểm định p là nhỏ hơn 0,05.
Đạo đức trong nghiên cứu
Đề tài này đã được Hội đồng Đạo đức của trường Đại học Y tế Công cộng phê duyệt cho thực hiện (Quyết định số 141/YTCC-HD3 ngày 17 tháng
Để đạt được sự đồng thuận từ địa phương, nhóm nghiên cứu đã chủ động liên hệ và thông báo trước về mục đích, nội dung và phương pháp thực hiện nghiên cứu tại khu vực được chọn.
Tất cả các đối tượng nghiên cứu đã được thông báo rõ ràng về mục đích và nội dung nghiên cứu, từ đó tự nguyện tham gia và hợp tác hiệu quả Mọi thông tin cá nhân của họ được bảo mật và chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu.
Quá trình cân, đo đảm bảo tuyệt đối an toàn, riêng tư cho đối tượng
Các thông tin trong quá trình phỏng vấn không làm ảnh hưởng đến bản thân người được phỏng vấn và gia đình họ
Những người tham gia nghiên cứu được thông báo rõ ràng về mục đích của nghiên cứu và có quyền từ chối tham gia Họ sẽ ký vào bản thỏa thuận nếu tự nguyện đồng ý tham gia Sau khi nghiên cứu kết thúc, kết quả sẽ được báo cáo và phản hồi cho địa phương cũng như những người tham gia nếu có yêu cầu.
Nghiên cứu bắt đầu thực hiện ngay khi được thông qua Hội đồng đạo đức Trường Đại học Y tế công cộng
Hạn chế và biện pháp khắc phục
Các hạn chế trong nghiên cứu:
Do tính chất cắt ngang của nghiên cứu, việc giải thích các mối liên quan gặp nhiều hạn chế, và nghiên cứu chưa xác định được liệu tăng huyết áp (THA) xảy ra trước hay sau các yếu tố liên quan.
Do thời gian nghiên cứu hạn chế và ngân sách có giới hạn, nghiên cứu chỉ được thực hiện tại một xã, do đó mẫu ngẫu nhiên chỉ đại diện cho xã này Hơn nữa, nghiên cứu chưa thể tiến hành các xét nghiệm cận lâm sàng do chi phí tương đối cao.
HA dao động có thể dẫn đến sai số, đặc biệt khi phỏng vấn về thói quen như ăn uống, hút thuốc và tiền sử gia đình Những yếu tố này có thể gây ra sai số hệ thống và sự chủ quan từ phía người trả lời.
- Sai số đo lường: chọn điều tra viên có kinh nghiệm về cộng đồng, bác sĩ chuyên khoa nội đo HA
Tập huấn kỹ thuật cho điều tra viên bao gồm phỏng vấn thử và thảo luận để chỉnh sửa phiếu khảo sát phù hợp với thực tế Phần đo huyết áp sẽ do bác sĩ chuyên khoa Nội đảm nhiệm, trong khi các chỉ số nhân trắc sẽ được thực hiện bởi y tá tại Trạm Y tế.
- Công cụ cân đo phải được kiểm tra độ chính xác trước khi tiến hành
- Nghiên cứu viên trực tiếp tham gia và giám sát kiểm tra chất lượng tại thực địa cùng các điều tra viên HUPH
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Một số đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi và giới
Trong số 278 người cao tuổi (NCT), có 130 nam và 148 nữ, cho thấy tỷ lệ nữ giới chiếm 53,2%, cao hơn so với nam giới là 46,8% Đặc biệt, ở nhóm tuổi từ 80 trở lên, tỷ lệ nữ giới đạt 60% trong khi nam giới chỉ chiếm 40%.
Biểu đồ 3.1 Phân bố đối tượng theo trình độ học vấn
Trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu
≤ tiểu học THCS THPT Trung cấp trở lên
Trình độ học vấn của người cao tuổi (NCT) ở Việt Nam còn thấp, với tỷ lệ biết đọc biết viết chỉ đạt 63,3%, trong khi đó tỷ lệ học tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông lần lượt là 25,9% và 4,0% Đáng chú ý, tỷ lệ người có trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học và trên đại học chỉ chiếm 6,8% Những con số này phản ánh thực trạng giáo dục của NCT tại các vùng nông thôn và ngoại thành.
Bảng 3.2 Phân bố đối tượng theo nghề nghiệp chính trước đây
Cán bộ, công nhân viên 9 6,9 5,0 3,4 14 5,0
NCT chủ yếu làm ruộng, chiếm 67,6%, trong khi cán bộ viên chức chỉ chiếm 5,0%, nội trợ 7,9% và kinh doanh buôn bán 19,4% Tỷ lệ NCT làm cán bộ công chức ở nam giới cao hơn nữ giới, trong khi tỷ lệ nội trợ lại cao hơn ở nữ giới Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p 30 có nguy cơ bị THA cao gấp 4 lần so với người có BMI < 25, trong khi người có BMI từ 25 đến < 30 có nguy cơ cao gấp 2 lần Kết quả này phù hợp với nhiều nghiên cứu trước đó, khẳng định rằng những người thừa cân, béo phì có nguy cơ cao bị THA Nghiên cứu của Đào Thu Giang cũng chỉ ra rằng BMI và béo bụng có liên quan chặt chẽ với THA nguyên phát.
Nghiên cứu cho thấy, những người có tiền sử gia đình bị tăng huyết áp (THA) có nguy cơ mắc bệnh cao gấp 4,5 lần so với những người không có tiền sử này (CI95% = 2,08 – 9,61) Điều này chỉ ra mối liên quan chặt chẽ giữa tiền sử gia đình và tình trạng mắc THA trong đối tượng nghiên cứu.
4.3.3 Sử dụng mô hình hồi quy đa biến để xác định các yếu tố liên quan đến tình trạng mắc tăng huyết áp
Mô hình hồi quy đa biến cho thấy tỷ lệ mắc tăng huyết áp (THA) có liên quan đến tiền sử gia đình, nhóm tuổi và tình trạng thừa cân, béo phì Tuy nhiên, không tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa một số yếu tố nguy cơ như tiền sử gia đình có người bị tai biến mạch não (TBMMN), thói quen ăn mặn và thói quen ăn rau, củ, quả.
Phân tích cho thấy rằng nguy cơ tăng huyết áp (THA) tăng theo độ tuổi, với 22,8% ở nhóm 70-79 tuổi và 52,0% ở nhóm 80 tuổi trở lên, có sự khác biệt thống kê với P