Bàn luận về một số yếu tố liên quan đến tình trạng loãng xương

Một phần của tài liệu Thực trạng loãng xương và một số yếu tố liên quan ở người cao tuổi tại phường láng hạ, quận đống đa, hà nội, năm 2011 (Trang 96 - 103)

Kết quả phân tích đơn biến cho thấy có 12 yếu tố liên quan đến tình trạng loãng xương đó là: tuổi, chiều cao, cân nặng, BMI, số lần sinh con, tiền sử gãy xương, tiền sử loãng xương, thói quen uống sữa, loại sữa uống, tần suất uống sữa, thời gian uống sữa và thói quen uống chè. Sau khi kiểm soát yếu tố nhiễu bằng mô hình hồi quy logistic đa biến chúng tôi nhận đƣợc 3 yếu tố liên quan đó là: tuổi, thời gian và tần suất uống sữa.

Chúng tôi chƣa tìm thấy mối liên quan giữa một số yếu tố sau với tình trạng loãng xương: giới, có uống Canxi, tuổi có kinh, tuổi mãn kinh, thói quen uống rượu bia, thói quen uống cà phê, thói quen hút thuốc lá, có tập thể dục thể thao.

3.1 Mối liên quan giữa tình trạng loãng xương và tuổi

HUPH

Tuổi càng cao thì nguy cơ loãng xương càng tăng. Điều này không chỉ thể hiện rõ trong nghiên cứu của chúng tôi mà còn trong rất nhiều nghiên cứu khác. Nghiên cứu của chúng tôi đã tìm thấy mối liên quan giữa tuổi và tình trạng loãng xương cả khi phân tích đơn biến và đa biến. Khi phân tích đơn biến cho thấy, độ mạnh của sự kết hợp OR là 4,4 lần, nhƣng sau khi kiểm soát yếu tố nhiễu độ mạnh này còn tăng lên là 5,9 lần. Đỗ Thị Khánh Hỷ cũng chỉ ra sự tăng của tình trạng loãng xương theo sự tăng của độ tuổi [20].

Các nghiên cứu trên nữ giới cũng có kết quả tương ứng. Kết quả nghiên cứu của Vũ Đình Chính tỷ lệ loãng xương cột sống tăng theo tuổi cũng như thời gian mãn kinh. Tỷ lệ loãng xương ở những phụ nữ trên 60 tuổi cao gấp 2 lần so với tuổi dưới 60, đặc biệt tỷ lệ loãng xương ở những phụ nữ 65 - 75 tuổi khá cao. Nghiên cứu này cũng giải thích có lẽ ở độ tuổi này ngoài sự mất xương nhanh do mãn kinh cộng với sự mất xương chậm nhưng kéo dài do tuổi già làm cho tổng khối xương bị mất tăng lên đáng kể và tỷ lệ loãng xương tất yếu cũng tăng lên [8].

Theo Smith và Rizect (1966) tần suất loãng xương với lún đốt sống ở nữ là 2,7% giữa 55 - 59 tuổi, 6,8% giữa 60 - 64 tuổi, 11,5% giữa tuổi 65 - 69 tuổi và 20,3% giữa 70 - 74 tuổi [64].

Theo Ringe, tỷ lệ loãng xương ở phụ nữ Đức ở độ tuổi 50 - 70 tuổi là 19,6%; tăng lên 68,8% ở tuổi trên 70 [43].

Qua phân tích ta thấy tuổi là yếu tố nguy cơ hàng đầu của tình trạng loãng xương. Tuy tuổi là một yếu tố không thể thay đổi được nhưng ta có thể dự phòng tránh loãng xương bằng cách khám sức khỏe định kỳ và bổ sung calci. Tốc độ già hóa của Việt Nam ngày càng tăng nhanh, tỷ lệ người già ngày càng cao, các vấn đề bệnh tật của tuổi già ngày càng nhiều [4], trong đó loãng xương là một bệnh lý rất cần được quan tâm chú trọng.

3.2 Mối liên quan giữa tình trạng loãng xương và chiều cao

Với chiều cao, nhiều tác giả cho rằng những người thấp bé có đỉnh khối lượng xương nhỏ hơn do đó họ có nhiều nguy cơ loãng xương hơn. Nghiên cứu của chúng tôi tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa chiều cao và tình trạng loãng xương với p < 0,0013.

Người có chiều cao dưới 150 cm có tỷ lệ loãng xương cao hơn người có chiều cao từ 150

HUPH

cm trở lên là 3,3 lần. Sự phân bố chiều cao của các nhóm tuổi rất đồng đều. Chúng tôi chƣa nhận thấy chiều cao của đối tƣợng giảm dần theo tuổi.

Nguyên nhân của sự biến đổi chiều cao ở tuổi già, theo một số tác giả do nhiều nguyên nhân, chẳng hạn sự giảm đi của trương lực thần kinh cơ, sự hẹp lại của đĩa đệm, những đặc tính về di truyền, … và có thể có một nguyên nhân khác, đặc biệt ở phụ nữ, là sự giảm dần kích thước chiều cao các thân đốt sống, tình trạng gù cột sống, hậu quả của xẹp, lún các đốt sống do loãng xương. Tuy nhiên, nghiên cứu của chúng tôi chưa phát hiện được sự giảm chiều cao rõ rệt ở người già. Để phát hiện sự giảm chiều cao thực sự, tốt nhất là đo chiều cao định kì. Theo dõi chiều cao, sự tiến triển của gù nhất là ở phụ nữ sau mãn kinh, theo Dequeker, rất có ích trong việc phát hiện, đánh giá sự tiến triển của tình trạng loãng xương [56].

3.3 Mối liên quan giữa tình trạng loãng xương và cân nặng

Cân nặng càng thấp thì nguy cơ loãng xương càng cao. Phụ nữ có cân nặng dưới 50 kg có tỷ lệ bị loãng xương cao gấp 4,8 lần so với phụ nữ hơn 50 kg, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê p < 0,001. Mối liên quan giữa cân nặng và loãng xương của chúng tôi cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu của Ballard P.A, Purdie D.W và cộng sự tiến hành đo mật độ xương bằng phương pháp đo hấp thụ tia X năng lượng kép cho 823 người thấy rằng trọng lượng trung bình của nhóm loãng xương là 60 ± 9,1 kg, trong khi đó ở nhóm không loãng xương là 69,2 ± 12,0, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,01 [44].

Theo Rodiguez và cộng sự, cân nặng là một trong hai yếu tố có thể dự đoán đƣợc tình trạng loãng xương.

Các nghiên cứu trên nữ giới của Vũ Đình Chính, Vũ Thị Thanh Thủy, Trần Thị Tô Châu cũng đều cho kết quả là nhóm loãng xương có cân nặng thấp hơn hẳn so với nhóm không loãng xương [8] [6] [33]. Theo Vũ Thị Thanh Thủy, những đối tượng có cân nặng từ 40 kg trở xuống có nhiều khả năng bị lún đốt sống do loãng xương hơn [33].

3.4 Mối liên quan giữa tình trạng loãng xương và BMI

BMI càng thấp nguy cơ loãng xương càng cao. BMI cũng là một yếu tố liên quan đến tình trạng loãng xương. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy những người có BMI

< 23 có nguy cơ loãng xương cao gấp 2,45 lần so với những người có BMI ≥ 23 (p <

HUPH

0,01). Điều này cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu trên nữ giới cũng có kết quả tương tự:

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoài Châu trên 305 phụ nữ tuổi từ 40 trở lên tại thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh miền Tây Nam Bộ cho kết quả là phụ nữ có BMI < 18,5 có tỷ lệ loãng xương lớn gấp hai lần phụ nữ có BMI ≥ 25 [5].

Nghiên cứu của Vũ Thị Thu Hiền cũng cho thấy chỉ số BMI có liên quan với tình trạng loãng xương p < 0,01 [54].

Người ta nhận xét rằng loãng xương dễ xuất hiện ở phụ nữ có thể tạng (khung cơ thể) nhỏ bé. Theo nhiề tác giả, sở dĩ những người có thể tạng nhỏ bé có nguy cơ loãng xương cao hơn những người to béo, vì họ có đỉnh khối lượng xương thấp hơn. Riggs và Melton đã công bố một công trình, trong đó các tác giả đã nhận xét loãng xương thường gặp ở phụ nữ có chiều cao và cân nặng nhỏ hơn người bình thường [43].

Những số liệu của chúng tôi phản ánh một thực tế là thể lực của cộng đồng người cao tuổi ở thủ đô nhìn chung là tốt, đa số ở mức độ bình thường, cũng có một vài trường hợp béo phì, thừa cân. Khó có thể đƣa ra lí do chắc chắn để giải thích cho vấn đề song qua điều tra thực tế chúng tôi thấy rằng, điều kiện sống, điều kiện kinh tế xã hội có lẽ là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới thể lực của họ. Những đối tượng điều tra đa số nghề nghiệp là hưu trí, có học vấn cao, điều kiện kinh tế tương đối đầy đủ.

3.5 Mối liên quan giữa có uống canxi với tình trạng loãng xương

Chúng ta đã biết rằng canxi đóng một vai trò quan trọng trong quá trình duy trì và phát triển khối lượng xương của cơ thể. Nhiều nghiên cứu cho thấy mối liên quan giữa lượng canxi bổ sung đưa vào với mật độ xương của cơ thể. Tuy nhiên, trong nghiên cứu của chúng tôi chƣa tìm thấy mối liên quan giữa việc bổ sung viên canxi và tình trạng loãng xương. Điều này có thể do tần suất xuất hiện của nhóm quá nhỏ nên chưa thấy sự khác biệt.

3.6 Mối liên quan giữa số lần sinh đẻ và tình trạng loãng xương

Quá trình mang thai làm tăng hoạt động của nội tiết tố giới tính do đó làm giảm nguy cơ loãng xương. Nhưng khi sinh con quá nhiều sẽ làm ảnh hưởng đến chuyển hóa calci của người mẹ bởi vì sự có thai gây ảnh hưởng đến thăng bằng nội môi của hệ thống

HUPH

xương người mẹ, calci từ người mẹ sẽ hấp thụ vào hệ thống xương của thai nhi. Do đó, nhu cầu calci của phụ nữ khi mang thai cao hơn bình thường (1200mg/ngày) [28]. Bởi vậy, nếu người phụ nữ sinh nhiều lần mà không được cung cấp đầy đủ calci cho cơ thể sẽ có nguy cơ loãng xương. Nhưng mặt khác, không sinh con cũng là một yếu tố nguy cơ của loãng xương. Trong nghiên cứu của chúng tôi, số đối tượng nghiên cứu sinh ít nhất một lần chiếm tỷ lệ cao 97%, trong đó riêng số phụ nữ có trên 3 con cũng chiếm tỷ lệ không nhỏ 51%, số chƣa đẻ lần nào là 3%. Tỷ lệ này của chúng tôi cao hơn nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Dung (2,8%). Nghiên cứu của chúng tôi thấy rằng phụ nữ chƣa sinh lần nào có nguy cơ bị loãng xương gấp 0,7 lần phụ nữ đã sinh ít nhất một lần.

Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của Vũ Đình Chính (1996) và Nordin.

Nghiên cứu trên 200 người để tìm mối liên quan giữa số con và loãng xương, Nordin thấy ở người càng đẻ nhiều, tỷ lệ loãng xương càng cao [8] [63].

Trong khi điều kiện sống còn khó khăn, chế độ làm việc còn vất vả, việc đẻ nhiều, đẻ sớm có lẽ cũng là một trong những nguyên nhân làm cho thể lực của người phụ nữ giảm sút. Theo Nordin, quá trình mang thai và cho con bú có thể làm hao tổn canxi, góp phần tăng tỷ lệ loãng xương [63].

3.7 Mối liên quan giữa tiền sử gãy xương và tình trạng loãng xương

Trong 228 đối tượng trả lời về tiền sử gãy xương, có 43 người có tiền sử gãy xương bị loãng xương, chiếm tỷ lệ 87,8%. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy những người có tiền sử bị gãy xương có nguy cơ bị loãng xương cao gấp 2,9 lần so với những người không có tiền sử loãng xương, p < 0,05.

Khối lượng chất xương hay mật độ khoáng của xương được chứng minh là có liên quan mật thiết với tỷ lệ gãy xương, khối lượng xương thấp được coi là một yếu tố nguy cơ tương đối của gãy xương. Xác định được khối xương là một biện pháp lý tưởng để phát hiện những đối tƣợng có nguy cơ và những biện pháp dự phòng thích hợp.

3.8 Mối liên quan giữa một số thói quen sinh hoạt với tình trạng loãng xương Ngoài các yếu tố đã đề cập ở trên thì các yếu tố về thói quen sinh hoạt nhƣ uống sữa, uống chè cũng có liên quan chặt chẽ với tình trạng loãng xương trong nghiên cứu của chúng tôi.

HUPH

3.8.1 Mối liên quan giữa uống sữa và loãng xương

Nhƣ chúng ta đã biế calci đóng một vai trò quan trọng trong quá trình duy trì và phát triển khối lượng xương của cơ thể. Ở những người phụ nữ sau mãn kinh có chế độ dinh dưỡng thiếu calci, khối lượng xương có thể giảm tới 15% do thiếu oestrogen và 16% do thiếu calci. Nhiều nghiên cứu cho thấy có mối liên quan giữa việc sử dụng thực phẩm giàu calci và thực phẩm tăng cường calci (sữa, bánh calci, pho mat,…) với mật độ xương của cơ thể. Ngoài việc uống bổ sung canxi thì uống sữa cũng là nguồn bổ sung canxi quan trọng cho nhu cầu cơ thể. Tuy nhiên, nghiên cứu của chúng tôi lại chỉ ra uống sữa là yếu tố nguy cơ với p < 0,01. Điều này có thể là do ĐTNC có nguy cơ loãng xương cao thì có chủ động uống sữa nhiều hơn các đối tƣợng khác. Kết quả chúng tôi có sự khác biệt với nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoài Châu với p > 0,05. Có lẽ do các nghiên cứu đo tiến hành ở thời điểm khác nhau và thói quen uống sữa ở cộng đồng nghiên cứu của họ khác chúng tôi [5].

Tuy nhiên, nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Phượng cho thấy mật độ xương cẳng tay của phụ nữ thường xuyên sử dụng 2 cốc sữa/ ngày (khoảng 400 ml) cao hơn 10% so với nhóm không dùng sữa (p < 0,01) [27].

W.S.S. Chee và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu can thiệp ở Malaysia trên 200 phụ nữ Trung Quốc tuổi từ 55 - 65 tuổi đã có thời gian mãn kinh từ 5 năm trở lên và đƣợc chia làm hai nhóm. Một nhóm có bổ sung 50g sữa có hàm lƣợng calci cao chứa 1200 mg calci mỗi ngày (tương đương với 2 cốc sữa mỗi ngày) và một nhóm ăn chế độ ăn bình thường trong 2 năm. Kết quả nghiên cứu cho thấy nhóm có chế độ ăn bổ sung sữa làm giảm tốc độ mất xương so với nhóm chứng một cách có ý nghĩa với p < 0,001 [47].

Ngoài ra, chúng tôi cũng đã tìm ra mối liên quan giữa tần suất uống sữa với tình trạng loãng xương trong cả phân tích đơn biến và đa biến. Phân tích cho thấy uống sữa càng nhiều và càng lâu thì càng giảm được nguy cơ loãng xương.

3.8.2 Mối liên quan giữa uống chè và tình trạng loãng xương

Trong nghiên cứu này của chúng tôi còn tìm thấy mối liên quan giữa thói quen uống chè với tình trạng loãng xương với OR = 2,119 với p < 0,05. Những người có thói quen không uống chè có nguy cơ bị loãng xương cao hơn những người không uống cà phê

HUPH

2,119 lần. Kết quả này tương đương với kết quả của Lê Thị Bích Hằng: những người không uống chè có nguy cơ loãng xương cao hơn những người uống chè 4,9 lần [14].

Như vậy, với những kết quả bước đầu thu được, chúng tôi hy vọng sẽ phần nào giúp cho những người làm công tác y tế và những người làm công tác xã hội nắm được một số tình hình về vấn đề loãng xương và mối liên quan của một số yếu tố với tình trạng loãng xương, từ đó có chế độ chính sách và những biện pháp phòng bệnh thích hợp. Tuy nhiên, còn nhiều vấn đề rất cần đƣợc tiến hành nghiên cứu tiếp, chẳng hạn nhƣ tiến hành nghiên cứu áp dụng siêu âm trên diện rộng, tại các khu vực địa lý khác nhau để có cái nhìn khái quát về tình trạng loãng xương và mối liên quan đặc thù của từng cộng đồng.

HUPH

Một phần của tài liệu Thực trạng loãng xương và một số yếu tố liên quan ở người cao tuổi tại phường láng hạ, quận đống đa, hà nội, năm 2011 (Trang 96 - 103)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(124 trang)