Loãng xương ngày càng trở thành một vấn đề lớn đối với sức khỏe cộng đồng và xã hội. Mỗi năm trên thế giới có khoảng 200 triệu người bị loãng xương. Ở châu Âu, cứ mỗi giây có một người bị gãy xương do loãng xương. Nhưng chưa tới 50% số những người bị loãng xương được điều trị [1] [35]. Ở Pháp, số phụ nữ bị loãng xương sau mãn kinh ước tính khoảng 4,5 triệu người trong đó 10% bị tàn phế, giá tiền chi trả cho y tế là 350 triệu Francs hàng năm. Ở Hồng Kông, Peck W.A thống kê có 200 trường hợp gãy cổ xương đùi do loãng xương trên 100.000 nam giới và con số này ở phụ nữ là 380/100.000 phụ nữ [13]. Ở Mỹ, có khoảng hơn 10 triệu người bị loãng xương, trong đó ước tính 8 triệu là phụ nữ, 2 triệu là nam giới và chỉ từ 15 đến 20% trường hợp được chẩn đoán và điều trị.
Dự đoán trong 20 năm tới nước Mỹ sẽ có 350.000 bệnh nhân gãy cổ xương đùi hàng năm và chi phí cho bệnh này khoảng 31 đến 62 tỷ USD. Loãng xương đang tăng nhanh trên toàn cầu và trở thành một trong những vấn đề sức khỏe lớn của thế kỷ 21. Tuổi thọ trung bình của con người đang tăng lên một cách nhanh chóng trên toàn thế giới. Theo báo cáo của WHO, tuổi thọ trung bình của con người đã tăng từ 65 tuổi vào năm 1996 lên 68 tuổi vào năm 1998 và ước tính sẽ tăng từ 380 triệu người vào năm 2025. Điều này dự báo rằng, số những người từ 65 tuổi trở lên sẽ tăng từ 380 triệu người vào năm 1996 lên 800 triệu người vào năm 2025 [65]. Tuổi thọ của con người tăng dự báo tỷ lệ loãng xương và gãy xương tự phát sẽ tăng theo.
Những thập kỷ trước đây, loãng xương được coi là bệnh của các nước châu Âu cũng như các nước phát triển. Nhưng cho đến nay, cùng với sự phát triển kinh tế một cách nhanh chóng của các quốc gia châu Á thì loãng xương lại đang trở thành một thách thức lớn đối với các quốc gia này [49]. Dự tính đến năm 2025 toàn thế giới có khoảng 6,3 triệu trường hợp gãy cổ xương đùi do loãng xương và 51% số này thuộc các nước châu Á.
Trong thế kỷ 21, 50% gãy xương tự phát trên thế giới sẽ xảy ra ở châu Á và những nước kém phát triển.
HUPH
Các nghiên cứu về loãng xương tập trung chủ yếu trên nữ giới: Năm 1997, một nghiên cứu ở Đông Nam Á cho thấy tỷ lệ loãng xương ở phụ nữ là 25%, ở phụ nữ Nhật Bản độ tuổi từ 60 – 69 là 23,2%. Ở Hàn Quốc, 34,2% phụ nữ trên 50 tuổi bị giảm mật độ xương và 11,8% bị loãng xương. Tại Hồng Kông, tỷ lệ loãng xương cũng được nhận thấy là 10% và 45% ở nhóm tuổi 50 – 59 và 60 – 69. Loãng xương không những xảy ra ở người già mà người trẻ tuổi cũng có thể bị loãng xương, điều tra ở đối tượng phụ nữ Thái Lan từ 20 tuổi trở lên cho thấy tỷ lệ loãng xương là 18,5%. Gần đây loãng xương ở nam giới đã đƣợc quan tâm. Theo E.Seemen nhận xét thấy 30% nam giới trên 65 tuổi bị xẹp lún đốt sống do loãng xương và 30% gãy cổ xương đùi xảy ra trên nam giới.
6.2 Việt Nam
Ở Việt Nam, bệnh loãng xương chưa được quan tâm nhiều vì sau bao năm chiến tranh chúng ta đã phải đương đầu với nhiều căn bệnh ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng con người như: các bệnh nhiễm khuẩn, suy dinh dưỡng, các bệnh lý về tim mạch… Do điều kiện kinh tế và phương tiện chẩn đoán còn gặp nhiều khó khăn nên từ trước đến nay chưa có nghiên cứu nào về dịch tễ học bệnh loãng xương trên diện rộng do đó chúng ta chưa có một bức tranh khái quát về tình hình loãng xương tại Việt Nam. Tuy nhiên những nghiên cứu trên mẫu nhỏ cũng sơ bộ cho chúng ta thấy được tình hình loãng xương theo từng lứa tuổi, theo các khu vực địa lý khác nhau và cũng chỉ ra rằng loãng xương đang là một vấn đề cần đƣợc quan tâm tại Việt Nam.
Theo thống kê của Viện Lão khoa, tỷ lệ loãng xương vào những năm 90 khoảng 13 – 15% phụ nữ sau mãn kinh. Gần đây cho thấy tỷ lệ này dao động từ 28 – 36%. Năm 1996, Vũ Đình Chính bằng phương pháp chụp Xquang quy ước, sinh hóa cho 200 phụ nữ mãn kinh thuộc huyện Cẩm Bình, tỉnh Hải Hưng. Kết quả cho thấy tỷ lệ loãng xương chiếm 19%, tỷ lệ này tăng theo tuổi và thời gian mãn kinh. Tốc độ mãn kinh cao nhất ở độ tuổi 50 – 65 [7].
Cũng năm 1996, Vũ Thị Thanh Thủy với nghiên cứu một số yếu tố gãy lún đốt sống do loãng xương sau mãn kinh trên 270 phụ nữ sau mãn kinh ở 4 quận nội thành bằng phương pháp chụp Xquang cột sống và xét nghiệm sinh hóa. Nghiên cứu cho thấy tuổi, chiều cao, cân nặng, BMI có liên quan đến gãy lún đốt sống do loãng xương. Những phụ
HUPH
nữ có chiều cao < 145cm, cân nặng < 41kg là yếu tố làm tăng nguy cơ gãy lún đốt sống do loãng xương [33]. Năm 2001, Vũ Thị Thanh Thủy và cộng sự tiến hành đánh giá mật độ xương của 245 phụ nữ tuổi từ 22 – 85 đến điều trị tại khoa Cơ xương khớp của Bệnh viện Bạch Mai bằng phương pháp hấp thụ tia X năng lượng kép. Kết quả cũng cho thấy, yếu tố tuổi, chiều cao, cân nặng, tuổi mãn kinh, thời gian mãn kinh, số lần sinh con có liên quan rõ rệt với mật độ xương gót. Tần suất loãng xương ở những bệnh nhân có biểu hiện đau dọc xương dài, đau lưng, thắt lưng là cao (55,9% tại xương gót) [36].
Cũng bằng phương pháp này, năm 2001, Nguyễn Thị Thanh Phượng đã bước đầu nghiên cứu mật độ xương gót và xương cẳng tay ở 100 phụ nữ tuổi từ 20 đến 39 đang sống, làm việc và học tập tại Hà Nội thấy rằng: tuổi bắt đầu có kinh hầu nhƣ không có liên quan đến mật độ xương gót và xương cẳng tay [27]. Yếu tố tuổi và thường xuyên uống sữa, luyện tập thể dục, thể thao có ảnh hưởng tốt đến mật độ xương gót và xương cẳng tay. Với phương pháp đo hấp thụ tia X năng lượng kép được thực hiện trên máy PIXI – Lunar, Phạm Văn Tú, Trần Ngọc Ân, Vũ Thị Thanh Thủy đã nhận xét mật độ xương của 110 nam giới khỏe mạnh đang sống tại Hà Nội. Nghiên cứu cho thấy mật độ xương gót liên quan đến tuổi, chiều cao, cân nặng, hút thuốc lá. Chƣa thấy có mối liên quan đến uống rƣợu bia và luyện tập [35] [40].
Năm 2002, Trần Thị Tô Châu với đề tài nghiên cứu một số biểu hiện lâm sàng về Cơ xương khớp và đo mật độ xương gót bằng phương pháp siêu âm định lượng với cỡ mẫu nghiên cứu là 650 phụ nữ mãn kinh chia thành 3 nhóm (mãn kinh dưới 5 năm, mãn kinh từ 5 – 10 năm và mãn kinh trên 10 năm). Đo mật độ xương cho 173 phụ nữ mãn kinh được lấy ngẫu nhiên trong 650 đối tượng trên. Kết quả cho thấy, tỷ lệ loãng xương là 39,6%, tỷ lệ loãng xương tăng dần theo tuổi, tuổi và cân nặng là 2 yếu tố liên quan đến BUA [6].
Năm 2003, Vũ Thị Thu Hiền tiến hành khảo sát tình hình loãng xương và các yếu tố nguy cơ ở 2.232 phụ nữ trưởng thành từ 20 tuổi trở lên tại địa bàn Hà Nội. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ loãng xương tăng dần theo nhóm tuổi và tăng cao rất nhanh từ nhóm tuổi 50 – 59 trở lên, đó là giai đoạn sau mãn kinh 5 – 10 năm trở lên.
HUPH
Năm 2004, Vũ Thị Thanh Thủy đã nghiên cứu mật độ xương gót và xương cẳng tay ở nam giới từ 50 tuổi trở lên bằng phương pháp đo hấp thụ tia X năng lượng kép. Thấy rằng, mật độ xương gót tăng theo chiều cao, cân nặng, tập luyện, giảm theo tuổi, hút thuốc lá. Chƣa tìm thấy mối liên quan với uống rƣợu bia .
Năm 2005, Nguyễn Thị Hoài Châu và cộng sự đã bước đầu khảo sát tìm hiểu những yếu tố liên quan đến mật độ xương của 178 người đàn ông 50 tuổi trở lên đang sống tại thành phố Hồ Chí Minh. Sử dụng kỹ thuật siêu âm định lƣợng với kỹ thuật BUA. Kết quả cho thấy, tỷ lệ loãng xương chung là 19%, thiếu xương là 34,83%, bình thường là 46%.
Tỷ lệ loãng xương có liên quan đến tuổi, BMI, tập thể thao và hút thuốc lá [5]. Cũng trong năm 2005, Nguyễn Thị Kim Dung đã nghiên cứu mối liên quan đến tình trạng loãng xương ở phụ nữ huyện Gia Lâm. Kết quả cho thấy nhóm tuổi, tình trạng kinh nguyệt, chế độ luyện tập và thói quen sử dụng thực phẩm giàu calci có liên quan đến tình trạng loãng xương. Những phụ nữ có cân nặng < 40kg có nguy cơ tăng loãng xương [12].
Tỷ lệ loãng xương ở phụ nữ nội thành Hà Nội cũng được khảo sát trong một nghiên cứu cắt ngang của Phạm Thu Hương. Nghiên cứu được tiến hành trên 2194 phụ nữ tại 4 quận nội thành Hà Nội. Kết quả cho thấy tỷ lệ loãng xương là 16,4% có hiện tượng loãng xương sớm ở tuổi 20 - 29 tuổi (1,5%) và có mối liên quan giữa tuổi, cân nặng, chiều cao, số lần sinh con với tình trạng loãng xương [19].
Như vậy, hầu hết các nghiên cứu về loãng xương chủ yếu tập trung ở nữ giới và một số ở nam giới, chưa có nghiên cứu nào được thực hiện trên người cao tuổi ở cả hai giới.
Hơn nữa, việc xác định mối liên quan giữa tình trạng loãng xương và các yếu tố ảnh hưởng vẫn chưa được làm rõ. Vì vậy, việc nghiên cứu tình trạng loãng xương và một số yếu tố liên quan là vấn đề rất cần thiết của mỗi địa phương nhằm giúp địa phương xây dựng kế hoạch can thiệp phòng bệnh loãng xương tại cộng đồng mình trong tương lai.
HUPH