Bàn luận về thực trạng loãng xương

Một phần của tài liệu Thực trạng loãng xương và một số yếu tố liên quan ở người cao tuổi tại phường láng hạ, quận đống đa, hà nội, năm 2011 (Trang 90 - 96)

HUPH

2.1 Bàn luận về tỷ lệ loãng xương chung

Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra, tỷ lệ loãng xương của người cao tuổi phường Láng Hạ là 32,5%, tỷ lệ giảm mật độ xương là 42,5%. Tỷ lệ loãng xương và giảm mật độ xương chung là 75,0%. Tỷ lệ này thấp hơn so với nghiên cứu của Đỗ Thị Khánh Hỷ tỷ lệ loãng xương ở người cao tuổi là 45,9%, tỷ lệ loãng xương và giảm mật độ xương là 80,8% [20]. Tuy nhiên khi so sánh với tỷ lệ loãng xương của phụ nữ từ 40 – 60 tuổi là 7,7% trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Dung [12], tỷ lệ loãng xương của nam giới từ 50 – 75 tuổi là 11,1% trong nghiên cứu của Lê Thị Bích Hằng [14] thì tỷ lệ này lại cao hơn rất nhiều. Nhìn vào các nghiên cứu cho thấy có sự tăng tỷ lệ loãng xương rõ rệt khi độ tuổi của ĐTNC tăng cao. Người cao tuổi là đối tượng có tỷ lệ loãng xương cao nhất trong các đối tƣợng đã đƣợc nghiên cứu.

2.2 Bàn luận về tỷ lệ loãng xương theo tuổi

Khi phân nhóm tuổi, nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng tỷ lệ loãng xương tăng theo độ tuổi. Ở độ tuổi 60 đến 69, tỷ lệ loãng xương mới là 20,3%, đến độ tuổi 70 đến 79 tỷ lệ này đã tăng lên gấp đôi là 44,6% và khi ở tuổi trên 80 thì tỷ lệ này tăng lên gấp ba là 60,0%. Kết quả này thấp hơn so với nghiên cứu của Đỗ Thị Khánh Hỷ: tỷ lệ loãng xương ở độ tuổi 60 đến 69 là 42,85%, 70 đến 79 là 66,6% và đạt tới 100% ở độ tuổi trên 80 [20].

Còn cao hơn nghiên cứu của Nguyễn Văn Công và Phan Thanh Hải bằng phương pháp Osteogram đã đưa ra tỷ lệ loãng xương ở độ tuổi 60 – 69 là 46,7% ở nam giới, 96,6% ở nữ giới; ở độ tuổi 70 – 79, tỷ lệ loãng xương ở nam giới là 83,3%, ở nữ giới là 98,0%; và ở độ tuổi trên 80 thì tỷ lệ này đạt 100,0% [9]. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của chúng tôi lại cao hơn so với nghiên cứu của Lê Thị Bích Hằng: tỷ lệ loãng xương ở độ tuổi 60 – 69 là 10,0%, ở độ tuổi 70 – 75 là 21,4% [14]. Điều này có thể là do ĐTNC của Lê Thị Bích Hằng là nam giới, còn của chúng tôi tập trung vào nữ giới nhiều hơn.

Như vậy, các nghiên cứu đều chỉ ra rằng tỷ lệ loãng xương tăng theo độ tuổi, tuổi càng cao thì nguy cơ loãng xương càng cao. Đặc biệt ở độ tuổi trên 80 thì tỷ lệ loãng xương có thể lên tới 100,0%.

2.3 Bàn luận về tỷ lệ loãng xương theo giới

HUPH

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ loãng xương ở nam giới là 27,5% thấp hơn tỷ lệ loãng xương ở nữ giới là 33,5%. Điều này phù hợp với các nghiên cứu trên cả hai giới như nghiên cứu của Đỗ Thị Khánh Hỷ: tỷ lệ loãng xương của nữ ở độ tuổi 70 – 79 là 71,8%, trong khi của nam cùng độ tuổi chỉ là 42,7% [20]; hoặc nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Thủy: tỷ lệ loãng xương ở nữ là 43,8% trong khi ở nam chỉ là 14,7% [32]; hoặc nghiên cứu của Nguyễn Văn Công và Phan Thanh Hải nhƣ đã đề cập ở phần tỷ lệ loãng xương theo tuổi [9].

Như vậy, các nghiên cứu đều chỉ ra rằng tỷ lệ loãng xương ở nữ giới cao hơn nam giới, hay nói cách khác, nữ giới có nguy cơ loãng xương cao hơn nam giới.

2.4 Bàn luận về tỷ lệ loãng xương theo chiều cao

Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra, tỷ lệ loãng xương của nhóm ĐTNC có chiều cao dưới 150cm là 46,2% còn ở nhóm trên 150cm chỉ là 25,0%. Sự khác nhau giữa các tỷ lệ này có ý nghĩa thống kê với p < 0,001. Điều này gợi ý đến chiều cao thấp làm tăng nguy cơ loãng xương. Tương tự với kết quả nghiên cứu của chúng tôi, nghiên cứu của Vũ Đình Chính cũng chỉ ra rằng phụ nữ có chiều cao dưới 140cm có triệu chứng lâm sàng gợi ý loãng xương là 40,3%, còn trên 160cm chỉ là 11,4%. Các nghiên cứu khác cũng gợi ý đến chiều cao thấp là yếu tố nguy cơ của loãng xương [8] [12] [14] [26].

2.5 Bàn luận về tỷ lệ loãng xương theo cân nặng

Nghiên cứu của chúng tôi đưa ra kết quả là: tỷ lệ loãng xương ở ĐTNC dưới 50kg là 44,4% cao gấp đôi ĐTNC trên 50kg (24,6%). Sự khác nhau giữa các tỷ lệ này có ý nghĩa thống kê với p < 0,001. Kết quả này tương đương với kết quả của Lê Thị Bích Hằng: tỷ lệ loãng xương ở nam giới có cân nặng dưới 50kg là 23,3% cao gấp đôi nam giới có cân nặng trên 50kg (11,8%) [14]. Một số nghiên cứu khác tiến hành trên nam giới cũng sử dụng mốc 50kg để so sánh tỷ lệ loãng xương như nghiên cứu của Nguyễn Hiếu Nhân, Phan Văn Tú… và cũng thấy tỷ lệ loãng xương của nam giới có cân nặng dưới 50kg cao hơn trên 50kg [25] [40]. Tương tự vậy, nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Dung cho thấy tỷ lệ loãng xương ở nữ giới có cân nặng dưới 40kg là cao nhất với 31,2%, các ĐTNC có cân nặng cao hơn thì có tỷ lệ loãng xương thấp hơn [12]. Vũ Thị Thanh Thủy, Nguyễn Thị Thanh Phƣợng, Vũ Đình Chính… cũng sử dụng mốc 40kg để so sánh tỷ lệ loãng

HUPH

xương của phụ nữ sau mãn kinh trong nghiên cứu của mình và cũng đưa ra kết quả tương tự nhƣ Nguyễn Thị Kim Dung [8] [27] [33].

Nhìn vào các kết quả của khá nhiều nghiên cứu đã đƣợc tiến hành trong hơn 10 năm qua gợi ý cho ta nghĩ đến nam giới có cân nặng dưới 50kg và nữ giới có cân nặng dưới 40kg có nguy cơ loãng xương cao hơn các đối tượng còn lại.

2.6 Bàn luận về tỷ lệ loãng xương theo chỉ số BMI

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy: Ở những ĐTNC có chỉ số BMI dưới 18,5 nghĩa là ĐTNC ở tình trạng gầy, nhẹ cân thì tỷ lệ loãng xương lên tới 58,3%; Trong khi đó, ở những ĐTNC có chỉ số BMI ≥ 23 nghĩa là ĐTNC ở dạng béo phì, thừa cân thì tỷ lệ loãng xương chỉ có 26,4%; Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Kết quả này phù hợp với rất nhiều nghiên cứu. Từ những nghiên cứu đƣợc tiến hành cách đây hơn chục năm nhƣ nghiên cứu của Vũ Đình Chính, Vũ Thị Thanh Thủy, Phan Văn Tú … [8] [33]

[40]đến những nghiên cứu mới đƣợc tiến hành trong những năm gần đây nhƣ nghiên cứu của Lê Thị Bích Hằng, Nguyễn Thị Kim Dung, Hồ Phạm Thục Lan…[14] [12] [21]

Các nghiên cứu đều đưa ra kết quả những người có chỉ số BMI càng thấp thì tỷ lệ loãng xương càng cao

2.7 Bàn luận về tỷ lệ loãng xương theo tiền sử sản phụ khoa

Trong khuôn khổ nghiên cứu có hạn, chúng tôi chỉ quan tâm tới 3 yếu tố đã đƣợc nhiều nghiên cứu chỉ ra là yếu tố nguy cơ của tình trạng loãng xương: tuổi bắt đầu có kinh, tuổi mãn kinh và số lần sinh.

Tuổi bắt đầu có kinh: Tỷ lệ này cao nhất là 46,7% ở phụ nữ có kinh sau 19 tuổi, sau đó là đến phụ nữ có kinh trước 13 tuổi với 41,7% bị loãng xương và chỉ chiếm 30,0% ở những phụ nữ bắt đầu có kinh trong khoảng 13 đến 19 tuổi.

Tuổi mãn kinh: Tỷ lệ loãng xương ở những phụ nữ mãn kinh trước 45 tuổi và sau 55 tuổi cao hơn những phụ nữ còn lại. Các nghiên cứu khác thường tìm hiểu thời gian mãn kinh của phụ nữ, nhƣng do ĐTNC của chúng tôi là các cụ bà hơn 60 tuổi nên khả năng nhớ đƣợc số năm mãn kinh của mình là rất khó khăn nên chúng tôi không đi sâu vào vấn đề này mà chỉ dừng lại ở mức tìm hiểu tuổi mãn kinh.

HUPH

Số lần sinh: Tỷ lệ loãng xương cao ở những ĐTNC sinh con từ 3 lần trở lên hoặc không sinh nở. Điều này phù hợp với các nghiên cứu trong và ngoài nước từ trước đến nay. Theo Sowers M.F và cộng sự những phụ nữ chưa sinh đẻ có mật độ xương cẳng tay thấp hơn 5,5% - 8,6% so với những phụ nữ đã sinh đẻ. Dequeker J. và cộng sự cũng thấy rằng mật độ xương của phụ nữ đẻ 1 – 2 lần thì cao hơn phụ nữ chưa sinh đẻ và phụ nữ sinh từ 4 lần trở lên có mật độ xương thấp hơn những người sinh từ 3 lần trở xuống.

2.8 Bàn luận về tỷ lệ loãng xương theo tiền sử gãy xương, loãng xương

Tiền sử gãy xương: Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ loãng xương ở những ĐTNC đã từng gãy xương cao gấp đôi những ĐTNC đã từng gãy xương, 57,1% so với 25,7%. Ngoài ra, chúng tôi còn tìm hiểu tỷ lệ loãng xương theo số lần gãy xương và hoàn cảnh gãy xương, qua đó thấy rằng: 100% trường hợp gãy xương 3 lần và 100%

trường hợp gãy xương là do tự nhiên không do lực tác động vào đều bị loãng xương.

Trong khuôn khổ nghiên cứu này, nói đến hoàn cảnh gãy xương là chúng tôi chỉ quan tâm đến lực tác động vào xương khiến xương bị gãy là mạnh hay yếu. Nghiên cứu của Lê Thị Bích Hằng cũng đề cập đến vấn đề tiền sử gãy xương tuy nhiên lại không phân tích tỷ lệ loãng xương theo yếu tố này. Thực tế lâm sàng cho thấy loãng xương dẫn tới gãy xương, tuy nhiên chưa có nhiều nghiên cứu tìm hiểu vấn đề theo chiều hướng ngược lại đó là những người đã từng gãy xương thì có khả năng loãng xương. Những người đã từng gãy xương nên quan tâm đến vấn đề loãng xương của bản thân. Tiền sử gãy xương rất quan trọng, một người đã bị gãy xương thì nguy cơ bị gãy xương lần thứ hai gia tăng từ 2 đến 3 lần so với trung bình dân số [60].

Gia đình có tiền sử loãng xương: trong nghiên cứu này của chúng tôi, cụm từ gia đình có tiền sử loãng xương được hiểu là ĐTNC có bố hoặc mẹ hoặc anh chị em ruột đã được phát hiện và chẩn đoán là loãng xương. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy ĐTNC mà gia đình có tiền sử loãng xương thì tỷ lệ loãng xương cao gấp đôi so với đối tượng còn lại, 53,3% so với 28,7%. Các tài liệu y văn đã chỉ ra rằng, di truyền cũng là một yếu tố quan trọng. Phụ nữ có mẹ từng bị gãy xương thường có mật độ xương thấp hơn trung bình và họ cũng có nguy cơ gãy xương cao gấp 3 lần so với phụ nữ mà mẹ chưa từng bị gãy xương. Rất ít nghiên cứu tìm hiểu về vấn đề này, nhưng chúng tôi đã mạnh dạn tìm

HUPH

hiểu và thấy rằng tỷ lệ khác biệt này là có ý nghĩa thống kê. Điều này gợi ý các nghiên cứu khác cũng nên tìm hiểu thêm yếu tố này để có thể đƣa ra cái nhìn tổng quan hơn.

2.9 Bàn luận về tỷ lệ loãng xương theo thói quen ăn uống

“Thói quen ăn uống” là một thuật ngữ rất rộng, trong khuôn khổ nghiên cứu này chúng tôi chỉ tìm hiểu một số thói quen đã đƣợc các nghiên cứu khác chỉ ra là có liên quan đến tình trạng loãng xương. Đó là các thói quen: uống sữa, uống rượu/bia, uống chè, uống cà phê và hút thuốc lá.

Thói quen uống sữa: Uống sữa không phải là thói quen phổ biến ở người cao tuổi, điều này là do điều kiện kinh tế trước đây còn khó khăn, sữa còn là một mặt hàng xa xỉ.

Cùng với sự phát triển của thời đại, uống sữa đã dần trở thành một thói quen của người dân. Phường Láng Hạ nằm ở trung tâm của thủ đô Hà Nội, đời sống vật chất tốt, trình độ dân trí cao nên tỷ lệ người cao tuổi có thói quen uống sữa cũng khá cao chiếm tới 50,4%.

Uống sữa là một thói quen tốt, nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ loãng xương ở những người có thói quen uống sữa là 30,4% còn ở nhóm không có thói quen uống sữa là 34,5%; tỷ lệ GMĐX của nhóm có thói quen uống sữa là 37,4% còn nhóm không có thói quen uống sữa là 47,8%; sự khác biệt giữa hai nhóm này có ý nghĩa thống kê với p <

0,05. Kết quả này tương đương với nghiên cứu của Lê Thị Bích Hằng [14]. Qua nghiên cứu của chúng tôi và của Lê Thị Bích Hằng cho thấy, nam giới và người cao tuổi là hai đối tƣợng ít có thói quen uống sữa nhất nhƣng cũng đã bắt đầu có ý thức uống sữa, tỷ lệ uống sữa đang dần được tăng lên, phải chăng đây là tín hiệu đáng mừng của việc người dân đã quan tâm nhiều hơn đến vấn đề loãng xương và đã có ý thức để bảo vệ bản thân.

Tiếp tục phân tích sâu hơn về thói quen uống sữa, chúng tôi tìm hiểu về loại sữa, tần suất uống sữa và thời gian uống sữa, thấy rằng: sữa đậu nành là một thứ nước uống không đắt tiền mà tỷ lệ loãng xương của nhóm dùng loại sữa nành là thấp nhất; người có thời gian dùng sữa dưới 1 năm thì tỷ lệ loãng xương cao hơn những nhóm còn lại.

Thói quen uống chè: Ngược lại với sữa, chè là một thứ nước uống phổ biến của người cao tuổi. Chúng tôi thấy rằng, tỷ lệ loãng xương ở những ĐTNC có thói quen uống chè là 26,9% thấp hơn những ĐTNC không có thói quen uống chè (39,8%). Sự khác biệt về tỷ lệ giữa các nhóm này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Kết quả này phù hợp với

HUPH

nghiên cứu của Lê Thị Bích Hằng cho thấy tỷ lệ loãng xương ở nam giới có thói quen uống chè là 6,2%, thấp hơn so với nam giới không có thói quen uống chè rất nhiều (25,45%) [14]. Tìm hiểu sâu hơn, chúng tôi thấy rằng, những người ít khi uống chè thì có tỷ lệ loãng xương cao hơn những người thường xuyên uống; người uống chè trên 5 năm thì tỷ lệ loãng xương thấp hơn người uống chè dưới 2 năm.

Thói quen uống cà phê, hút thuốc lá, uống rƣợu bia: vì ĐTNC của chúng tôi là người cao tuổi, lại chủ yếu là nữ nên đối tượng có thói quen hút thuốc, uống rượu, uống cà phê không phải là nhiều. Do vậy, chúng tôi không đi sâu vào bàn luận 3 yếu tố trên.

2.10 Bàn luận về tỷ lệ loãng xương theo thói quen tập thể dục thể thao

Phường Láng Hạ là một phường dân trí cao nên ý thức tập TDTT của người dân cũng rất cao, tỷ lệ các cụ tập TDTT chiếm tới 79,4%. Các môn TDTT các cụ tham gia tập rất phong phú: đi bộ là môn chủ yếu, bên cạnh đó thì vẫy tay, bơi cũng chiếm phần lớn, ngoài ra một số cụ tập yoga, khiêu vũ, cầu lông, bóng bàn… Tỷ lệ loãng xương của nhóm ĐTNC có tập TDTT là 29,3%, chỉ bằng một nửa nhóm không có thói quen tập TDTT (44,7%). Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Lê Thị Bích Hằng, nam giới không có thói quen tập thể dục thì tỷ lệ loãng xương là 22,8% cao gấp 3 lần nam giới có thói quen tập thể dục (7,5%). Tuy nhiên, chúng tôi không thấy Lê Thị Bích Hằng đề cập đến các môn thể dục mà ĐTNC tập [14].

Một phần của tài liệu Thực trạng loãng xương và một số yếu tố liên quan ở người cao tuổi tại phường láng hạ, quận đống đa, hà nội, năm 2011 (Trang 90 - 96)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(124 trang)