LỜI CẢM ƠN Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Bộ môn Lịch sử Việt Nam, Khoa khoa học xã hội, Phòng Quản lý đào tạo Sau đại học - Trường Đại học Hồng Đức; Đảng ủy, Hội đồng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND TỈNH THANH HÓA
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC
-
VŨ NGỌC KIM ANH
LỊCH SỬ VĂN HÓA VÙNG ĐẤT YÊN THÀNH
(YÊN MÔ, NINH BÌNH)
LUẬN VĂN THẠC SĨ: LỊCH SỬ VIỆT NAM
THANH HÓA, NĂM 2020
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND TỈNH THANH HÓA
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC
-
VŨ NGỌC KIM ANH
LỊCH SỬ VĂN HÓA VÙNG ĐẤT YÊN THÀNH
(YÊN MÔ, NINH BÌNH)
LUẬN VĂN THẠC SĨ: LỊCH SỬ
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 8229013 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Mai Văn Tùng
THANH HÓA, NĂM 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này không trùng lặp với các khóa luận, luận văn, luận án và các công trình nghiên cứu đã công bố
Người cam đoan
Vũ Ngọc Kim Anh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Bộ môn Lịch sử Việt Nam, Khoa khoa học xã hội, Phòng Quản lý đào tạo Sau đại học - Trường Đại học Hồng Đức; Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, các đồng chí lãnh đạo và cán bộ, nhân dân xã Yên Thành; cảm ơn cán bộ Thư viện tỉnh Ninh Bình, Trung tâm Bảo tồn di sản văn hóa, Sở Văn hóa tỉnh Ninh Bình…
đã cung cấp tư liệu cho tôi hoàn thành Luận văn này
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Phó Giáo sư, Tiến sỹ Mai Văn Tùng, người thầy trực tiếp hướng dẫn khoa học đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình triển khai đề tài nghiên cứu và hoàn thành
Luận văn này
Cuối cùng xin được cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, người thân của tôi đã quan tâm, ủng hộ, khích lệ, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài Luận văn
Thanh Hóa, tháng 9 năm 2020
Tác giả
Vũ Ngọc Kim Anh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1
3 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 5
5 Đóng góp của luận văn 6
6 Bố cục luận văn 7
Chương 1 VÀI NÉT VỀ VÙNG ĐẤT YÊN THÀNH 8
1.1 Khái quát vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên 8
1.1.1 Vị trí địa lí 8
1.1.2 Điều kiện tự nhiên 8
1.2 Quá trình hình thành vùng đất Yên Thành 10
1.2.1 Địa danh vùng đất Yên Thành trong lịch sử 10
1.2.2 Nguồn gốc dân cư và sự hình thành làng, xã 12
1.3 Đặc điểm về kinh tế, văn hóa, xã hội 15
1.3.1 Đặc điểm kinh tế 15
1.3.2 Đặc điểm văn hóa - xã hội 16
1.3.3 Truyền thống cách mạng 19
Tiểu kết chương 1 21
Chương 2 DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ 23
2.1 Di chỉ khảo cổ Mán Bạc 24
2.2 Hệ thống đền 29
2.2.1 Đền La 29
2.2.2 Đền thờ Tạ Danh Nghĩa 33
2.2.3 Đền Cả 36
2.2.4 Các đền khác 40
Trang 62.3 Hệ thống đình, chùa 41
2.3.1 Đình Lục Giáp 41
2.3.2 Chùa Bảo Liên 45
2.3.3 Các chùa khác 48
2.4 Hệ thống phủ, lăng, nhà thờ 48
2.4.1 Phủ Diện Sơn 48
2.4.2 Hệ thống lăng 51
2.4.3 Hệ thống nhà thờ 51
2.5 Thực trạng và giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể 52
2.5.1 Thực trạng 52
2.5.2 Giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị 54
Tiểu kết chương 2 55
Chương 3 DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ 56
3.1 Phong tục - tập quán, tôn giáo - tín ngưỡng 56
3.1.1 Phong tục - tập quán 56
3.1.2 Tôn giáo - tín ngưỡng 62
3.2 Lễ tiết, lễ hội truyền thống 68
3.2.1 Lễ tiết 68
3.2.2 Lễ hội 70
3.3 Trò chơi, văn học dân gian 76
3.3.1 Trò chơi dân gian 76
3.3.2 Văn học dân gian 78
3.4 Nghề gốm sứ 82
3.5 Thực trạng và giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể84 3.5.1 Thực trạng 84
3.5.2 Giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể 85
Tiểu kết chương 3 86
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90 PHỤ LỤC P1
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Tình hình phân bố dân cư hiện nay của xã Yên Thành (năm 2019)14 Bảng 2.1: Hệ thống di sản văn hóa vật thể xã Yên Thành 23
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ninh Bình nằm ở cực Nam đồng bằng châu thổ sông Hồng, tiếp giáp với đồng bằng sông Mã qua vùng núi Tam Điệp, có tuyến đường huyết mạch quốc gia chạy qua Vị trí địa lý đặc biệt ấy đã tạo cho Ninh Bình sở hữu nhiều cảnh quan thiên nhiên kỳ thú, cũng là nơi giao thoa văn hóa giữa các vùng, miền, khu vực từ bắc vào nam, từ miền núi đến đồng bằng và vùng ven biển, tạo nên màu sắc văn hóa độc đáo, ghi dấu trong các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể được người dân Ninh Bình trao truyền, gìn giữ từ hàng ngàn năm nay
Yên Mô là huyện vùng trũng phía Nam của tỉnh Ninh Bình Đây cũng là vùng đất được hình thành từ rất sớm, nơi lắng tụ nhiều trầm tích văn hóa Theo kết quả nghiên cứu khảo cổ học, vùng đất cổ Yên Mô có con người sống cách ngày nay hàng vạn năm Thời nhà Trần gọi là Mô Độ, thời thuộc Minh đổi tên Yên Mô thuộc châu Trường Yên Thời vua Lê Thánh Tông (1460- 1469) Yên Mô thuộc phủ Trường Yên Đầu thế kỷ XIX, thời nhà Nguyễn vẫn gọi là Yên Mô
Yên Thành là một xã thuộc huyện Yên Mô tỉnh Ninh Bình, trung tâm xã nằm cách thành phố Ninh Bình 22 km Đây là nơi đã khai quật được di chỉ khảo cổ học Mán Bạc nổi tiếng, là nơi phát tích nghề gốm Bát Tràng đầu tiên
và cũng là nơi gắn với địa danh lịch sử Mô Độ - kinh đô của nhà Hậu Trần Đây cũng là xã có truyền thống cách mạng, được công nhận Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân ở Ninh Bình
Với nhiệm vụ giảng dạy và nghiên cứu lịch sử dân tộc đã thôi thúc tôi khám phá về vùng đất Yên Thành Từ những lý do trên tôi mạnh dạn chọn vấn
đề nghiên cứu “Lịch sử văn hóa vùng đất Yên Thành (Yên Mô, Ninh Bình)”
làm đề tài luận văn Thạc sĩ lịch sử Việt Nam của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong các thư tịch của các vương triều phong kiến để lại, tiêu biểu như Đại Việt sử ký toàn thư do Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê biên soạn, ghi chép lịch sử nước ta từ năm 2879 TCN đến năm 1675, cung cấp nhiều thông tin về chủ trương, chính sách khai hoang thời Lê sơ, về một số sự kiện liên
Trang 10quan đến đê Hồng Đức [32], Đây là những vấn đề liên quan trực tiếp đến luận văn khi tìm hiểu về vùng đất Yên Thành (Yên Mô, Ninh Bình)
Trong sách Đại Nam nhất thống chí, tập 3 (phần viết về tỉnh Ninh Bình)
đã ghi lại một số sự kiện có liên quan đến vùng đất Yên Mô, Ninh Bình Tuy nhiên, ghi chép ở cuốn sách này chỉ dừng lại ở việc liệt kê sự kiện mà ít có sự phân tích, đánh giá Hơn nữa khi viết về đê Hồng Đức ở Yên Mô, Đại Nam nhất thống chí đã xác định sai thời điểm đắp đê và vị trí con đê này [51]
Trong bộ sử Khâm định Việt sử thông giám cương mục do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn [52, 55] Nội dung bộ sử sách ghi chép lịch sử nước ta
từ thời Hồng Bàng đến hết nhà Hậu Lê Bộ sách còn cung cấp nhiều thông tin
về các nhân vật, chú thích tên người, tên đất, chế độ thi cử Trong các ghi chép của Bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục có một số thông tin về chính sách khai hoang thời Lê sơ, việc đắp đê Hồng Đức liên quan đến vùng đất Yên Thành, Yên Mô
Đặc biệt trong sách Đồng Khánh địa dư chí ghi lại địa lý các tỉnh trong cả nước (chỉ gồm Bắc Kỳ và Trung Kỳ) thời vua Đồng Khánh (1886-1888) Mỗi tỉnh gồm các mục: vị trí, giới hạn, số huyện, tổng, xã, thôn, phường, số đinh, binh lính, ruộng đất, thuế khóa, phong tục, thổ sản, khí hậu, núi sông, đường
sá, đồn lũy, đền miếu, cổ tích, kỹ nghệ Ngoài ra, Đồng Khánh địa dư chí có bản đồ các huyện, phủ, tỉnh của nước ta thời đó [60] Những thông tin từ bộ sách này có giá trị tham khảo cho việc thực hiện luận văn này
Những năm gần đây đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về quản lý
di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia, các tư liệu được công bố dưới dạng sách, bài báo, tạp chí… Trong đó có thể kể đến một số tài liệu liên quan đến di tích lịch sử văn hóa của tỉnh Ninh Bình như “Ninh Bình theo dòng lịch sử văn hóa”
do Nguyễn Văn Trò chủ biên góp phần nhận diện được tiến trình lịch sử văn hóa của tỉnh Ninh Bình, cũng như khá nhiều di tích gắn với nhân vật thờ phổ biến, địa danh nơi có di tích [63]
Danh nhân Ninh Bình của tác giả Phạm Đình Nhân là tập hợp các bài viết
của nhiều tác giả về các danh nhân của Ninh Bình, liên quan mật thiết đến Ninh Bình [45]
Trang 11Địa chí Ninh Bình trình bày tổng lược về Ninh Bình trên các phương diện,
từ trang 760 đến trang 781, mục di tích lịch sử văn hóa, chương II, phần IV có nêu các di tích tiêu biểu của tỉnh Ninh Bình Mỗi huyện của Ninh Bình đều được khái quát các vấn đề lớn về lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hóa Phần viết về huyện Yên Mô cũng mang tính khái quát chung nhất về huyện [4]
Ninh Bình toàn tỉnh địa chí khảo biện của Nguyễn Tử Mẫn viết đầu thế
kỷ XIX Đây là một trong không nhiều tác phẩm địa chí về Ninh Bình Ngoài việc giới thiệu ranh giới địa lý trên cạn cũng như trên biển, hệ thống sông ngòi, cửa biển, núi non, hang động, thổ sản; tác giả đã chỉ dẫn cụ thể các thành trì, đền chùa, thành miếu; mô tả các định chế xã hội như dân số, điền địa, thuế quan; các sinh hoạt và quan hệ xã hội, các bậc đế vương, giới khoa bảng… sắp thành 29 mục Hành trạng của 23 nhân vật của Ninh Bình từ triều Đinh đến triều Nguyễn [35]
Địa chí văn hóa dân gian Ninh Bình của nhóm tác giả do Trương Đình
Tưởng làm chủ biên Tác phẩm trình bày văn hóa dân gian bao gồm truyền thuyết, phong tục, tập quán, lễ hội, ca dao, tục ngữ, địa danh, của Ninh Bình nói chung nhưng trong đó cũng có đề cập đôi nét về văn hóa dân gian xã Yên Thành [65]
Ngoài ra còn phải kể đến những công trình nghiên cứu của tác giả Đinh
Văn Viễn viết về làng Côi Trì (Yên Mô, Ninh Bình) tiêu biểu như “Tìm hiểu
Côi Trì Đinh bạ - 1722” [66]; “Vài nét về tình hình ruộng đất ở làng Côi Trì (Yên Mô, Ninh Bình) nửa đầu thế kỷ XIX qua tư liệu địa bạ” [68]; “Về bản giao ước nhượng đất, mở chợ của 2 xã Côi Trì và Yên Mô (nay thuộc huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình) năm 1775” [69]; “Di sản văn hóa làng Côi Trì (Yên
Mô, Ninh Bình)” [71]; “Truyền thống trọng lão ở làng Côi Trì qua Hương ước, Văn bia” [73]; “Khảo sát di sản văn hóa ở Yên Mỹ (Yên Mô - Ninh
Bình)” [72]
Nhìn chung, các nguồn tư liệu trên đây rất có giá trị khoa học, đều được chúng tôi tham khảo, kế thừa ở những mức độ khác nhau trong quá trình thực hiện luận văn này Tuy nhiên, từ tổng quan tình hình nghiên cứu cho thấy rằng, các nguồn tài liệu trên cũng chỉ mới nghiên cứu điểm xuyết vùng đất Yên
Trang 12Thành, Yên Mô ở một khía cạnh hay một vấn đề nào đó của lịch sử hoặc văn hóa làng xã nơi đây Chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu có hệ thống về lịch sử văn hóa vùng đất Yên Thành Vì vậy, việc tập trung nghiên cứu có hệ thống và toàn diện lịch sử văn hóa vùng đất Yên Thành là hết sức cần thiết, vừa có ý nghĩa khoa học vừa có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc
3 Mục đích, nhiệm vụ, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích
Đề tài nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển và tổng thể giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của vùng đất Yên Thành Trên cơ sở đó dựng lại diện mạo lịch sử văn hóa, đồng thời đánh giá thực trạng di sản văn hóa vùng đất Yên Thành và đề xuất các giải pháp bảo tồn phát huy giá trị
- Nghiên cứu về lịch sử văn hóa vùng đất Yên Thành không những nhận biết tổng quan về vùng đất này mà còn nhận biết được mối liên hệ giữa vùng đất Yên Thành với các vùng đất khác ở khu vực hạ lưu đôi bờ sông Hồng Từ
đó, có thể nhận thức được vai trò cũng như vị thế của vùng đất này trong dòng chảy lịch sử văn hóa Ninh Bình nói chung
Trang 13- Phạm vi về không gian: Tập trung nghiên cứu chủ yếu không gian các
làng xóm trên địa bàn xã Yên Thành
- Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu tiến trình lịch sử văn hóa vùng đất Yên Thành từ truyền thống đến hiện đại
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tài liệu
- Nguồn tài liệu thành văn
Các tài liệu thành văn liên quan đến đề tài chủ yếu là chữ quốc ngữ, một
số tài liệu bằng chữ Hán như văn bia, sắc phong, câu đối
- Nguồn tài liệu vật chất
Bao gồm các bia kí, di tích kiến trúc cổ hiện tồn tại trên vùng đất Yên Thành như đền, chùa, phủ
- Nguồn tài liệu văn hóa dân gian
Chủ yếu là phong tục, tập quán, lễ hội, lễ tục, truyền thuyết, chuyện kể dân gian, kho tàng ca dao và tục ngữ của vùng đất Yên Thành
- Nguồn tài liệu điền dã
Đây là nguồn tài liệu nghiên cứu trực tiếp của tác giả trên địa bàn nghiên cứu Chúng tôi sẽ thu thập, sưu tầm, thẩm định, xác minh tài liệu liên quan đến nội dung đề tài Cụ thể là các nguồn tài liệu liên quan đến cảnh quan môi trường tự nhiên, tài liệu di tích lịch sử văn hóa, lễ hội Nhìn chung, đây là nguồn tài liệu thực chứng rất quan trọng của đề tài
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, vận dụng phương pháp luận sử học Mác xít kết hợp với các phương pháp bộ môn, chủ yếu là phương pháp lịch sử, phương pháp lôgic
Phương pháp phân tích và tổng hợp nhằm sưu tầm, chọn lọc các tư liệu
có giá trị, độ tin cậy cao có liên quan đến đề tài, tiến hành phân tích từng mặt sau đó tổng hợp các thông tin lại với nhau để tạo ra hệ thống lý thuyết đầy đủ, sâu sắc theo từng vấn đề liên quan đến luận văn
Phương pháp so sánh nhằm đánh giá sự tương quan về văn hóa giữa các vùng miền cũng như giữa các thành tố văn hóa trong địa bàn nghiên cứu
Trang 14Phương pháp nghiên cứu liên ngành - khu vực học như: Lịch sử - dân tộc học - văn hóa học - địa lý học… để phân tích từ nhiều góc độ khác nhau, góp phần làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu đặt ra
Phương pháp điền dã dân tộc học và điều tra xã hội học là sử dụng các kỹ năng quan sát, phỏng vấn, ghi chép, chụp ảnh để thu thập và lưu giữ thông tin
về đời sống của người dân tại địa bàn nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu định tính thông qua nghiên cứu hồi cố: Trong nghiên cứu hồi cố về quá trình hình thành làng xã, nội dung nghiên cứu là các khía cạnh của đời sống văn hóa như: phong tục tập quán, lễ hội, quan hệ ứng xử… của người dân Đối tượng phỏng vấn là người cao tuổi am hiểu về văn hóa địa phương, cán bộ đã và đang tham gia công tác Đảng và chính quyền, một số chủ hộ gia đình
5 Đóng góp của luận văn
Luận văn góp phần dựng lại bức tranh sống động và toàn diện về lịch sử văn hóa vật chất cũng như văn hóa tinh thần của vùng đất Yên Thành (Yên
Mô, Ninh Bình) Lần đầu tiên, qua luận văn quá trình hình thành vùng đất Yên Thành, một số nét về tình hình, xu hướng phát triển của các lĩnh vực kinh tế,
xã hội và văn hóa Yên Thành từ khi thành lập đến nay được nghiên cứu toàn diện trên cơ sở hệ thống các tài liệu được khảo sát, sưu tầm, nghiên cứu ở trong và ngoài vùng đất Yên Thành
Luận văn đã cung cấp nguồn tài liệu tham khảo đáng tin cậy cho các nghiên cứu tương lai về lịch sử văn hóa của địa phương Thông qua luận văn đất và người nơi đây được biết đến chân thực hơn Đây cũng là một cách nhằm quảng bá các điểm du lịch - văn hóa, sinh thái nhân văn của vùng đất Yên Thành
Luận văn là nguồn tài liệu giúp cho nhân dân Yên Mô nói chung, nhân dân Yên Thành nói riêng hiểu thêm về lịch sử quê hương mình Đây còn là cơ
sở khoa học giúp những nhà quản lí ở cấp địa phương, làm tư liệu tham khảo trong quá trình lãnh đạo tổ chức phát triển địa phương, đặc biệt là vấn đề bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của cộng đồng làng xã, góp phần vào công cuộc xây dựng nông thôn mới tại địa phương Luận văn là tài liệu
Trang 15tham khảo cần thiết cho cán bộ, giáo viên làm công tác quản lý, nghiên cứu, giảng dạy lịch sử, văn hóa ở các nhà trường và một số cơ quan bảo tàng, văn hóa, du lịch ở Ninh Bình
6 Bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn có
bố cục 3 chương:
Chương 1 Vài nét về vùng đất Yên Thành
Chương 2 Di sản văn hóa vật thể
Chương 3 Di sản văn hóa phi vật thể
Trang 16Chương 1 VÀI NÉT VỀ VÙNG ĐẤT YÊN THÀNH
1.1 Khái quát vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên
1.1.1 Vị trí địa lí
Xã Yên Thành ở phía Tây Nam huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình, phía Đông giáp 2 xã Yên Mỹ và Yên Mạc; phía Tây giáp vùng đồi núi thành phố Tam Điệp; phía Bắc giáp xã Yên Hòa; phía Nam giáp 2 xã Yên Đồng và Yên Thái Xã Yên Thành (hiện nay) có diện tích tự nhiên 8,74 km2
Yên Thành có quá trình hình thành và phát triển khá lâu dài, có những nét độc đáo mà nhiều vùng đất khác hiếm có
Vào đầu giai đoạn Trung sinh, Kỷ Tri-át, cách ngày nay 225 triệu năm, chịu ảnh hưởng của chuyển động Ky mê ri (vào khoảng cuối kỷ Jura, đầu kỷ Bạch Phấn), đã tạo nên vùng núi hiện nay của Yên Thành, Yên Mô và của khu vực Ninh Bình Thời kỳ này, đồi núi Ninh Bình đã nổi khỏi mặt biển
Sang đến giai đoạn Tân sinh, kỷ Palêôgen (cách nay 70 triệu năm), Ninh Bình chịu ảnh hưởng của vận động tạo sơn An-pơ, đã nâng ghềnh phía nam của sông Hồng lên Nhưng vùng Yên Thành ít chịu ảnh hưởng vận động tạo sơn này Tiếp theo là thời kỳ biển tiến, biển lùi, và được phù sa sông Hồng, sông Đáy bồi đắp, từ một vùng biển cả, Yên Thành trở thành một vùng lục địa như ngày nay Những ngấn sóng đánh mòn chân núi đá vôi còn lại trên các dải núi ở Yên Thành là dấu tích biển thuở xa xưa còn lại Từ buổi đầu dựng nước, (cách nay khoảng 4000 năm) khoảng 2/3 đất Yên Mô phần lớn còn là biển cả Cấu trúc địa tầng, địa mạo như vậy, chúng ta có thể hình dung được thời Tiền sử và Sơ sử, vùng Yên Mô (xưa) mới chỉ có một phần núi đồi quanh khu vực Đồng Giao, một phần Yên Thắng, Yên Đồng và Yên Thành, các nhà địa chất học gọi chung là “Địa tầng Đồng Giao”, nhưng núi đá vôi có nhiều hang động cac tơ nằm trên bình nguyên phù sa cổ Đây là khu vực có nhiều hang động đá vôi và rừng rú Rừng và núi ăn ra tới biển [6; tr.1]
1.1.2 Điều kiện tự nhiên
Địa hình Yên Thành không đều, đa dạng, tương đối phức tạp, chạy suốt sườn phía Tây và Tây Nam là dải núi Tam Điệp, đoạn cuối cùng của dãy
Trang 17Trường Sơn từ Hòa Bình đổ về ra tới biển Yên Thành cùng với bảy xã miền Tây của huyện như xã Yên Thắng, Yên Đồng, là vùng đất cổ, do hiện tượng tạo sơn mà thành, có nhiều núi đá vôi trữ lượng hàng triệu mét khối Xen kẽ núi đá vôi là các đồi đất, thung lũng hẹp và những hang động đẹp Địa hình dốc dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam và từ Tây Nam xuống Đông Bắc Do có các dải núi đồi che chắn nên khi biển lùi, tạo nên các thung lũng trũng, bởi thế, đồng đất Yên Thành thường “ngoài ghềnh trong trũng”, sự bồi tụ và lắng đọng của phù sa cổ cũng không đồng đều, vì thế các doi đất màu xen kẽ đồng chiêm, đồng mùa, rất khó khăn trong việc quy hoạch trồng cấy Yên Thành là vùng đất bán sơn địa hình thành cách ngày nay hàng triệu năm Theo tài liệu đất Ninh Bình thì “Vào đầu nguyên đại Trung sinh kỷ Triat, cách đây khoảng 225 triệu năm chịu ảnh hưởng của chuyển động tạo sơn đã tạo nên vùng núi hiện nay” [6; tr.1]
Bên cạnh những đồi núi đá vôi là vùng đất chiêm trũng Vùng đất này vốn trước kia dưới chân núi còn là vùng nước của biển cả phía đông bắc của cửa biển Thần Phù Điều này cũng có thể chứng minh đây là vịnh biển cạn, khi biển lùi trong điều kiện kín sóng do nhiều núi đồi xung quanh của dãy Tam Điệp che chở nên không đủ phù sa bồi lấp mà để sót lại vùng trũng như hiện nay Như vậy đặc điểm nổi bật của địa hình Yên Thành gồm: vùng đồi núi đá
và những đồng đất cao là vùng đất cổ từ xưa đã có người sinh sống, vùng này thích hợp với việc trồng chè, vải, sắn Vùng đất thứ hai là vùng đồng trũng được biển bồi đắp, vùng đất này khoảng trên 500 năm trở lại đây mới hình thành đồng ruộng lúa nước như hiện nay Đây cũng là vùng đất hiểm yếu trong khu vực gắn liền với công cuộc giành độc lập ở thế kỉ XV
Yên Thành là một trong những xã miền núi Toàn xã có 23 quả núi, đồi mọc rải rác ở cả 15 thôn Núi đồi của xã nằm trong hệ thống núi đồi phía Tây Nam của tỉnh Ninh Bình Trong núi có nhiều hang động đẹp Dưới chân núi đồi là làng xóm và đồng ruộng Diện tích canh tác 740 ha, diện tích còn lại là núi đồi, làng xóm, sông rạch, đường xá
Sông ngòi Yên Thành dày đặc; quanh co, khuất khúc bởi địa hình phức tạp tạo nên Khí hậu thời tiết cũng khá phức tạp, vừa chịu ảnh hưởng khí hậu thời tiết gió mùa, vừa chịu ảnh hưởng khí hậu thời tiết tiểu vùng Mùa hè, mùa
Trang 18thu thường có mưa bão và có năm úng lụt khá lớn Mùa hè có gió nồm nam từ biển thổi vào nhưng cũng ảnh hưởng gió Tây Nam thổi tới, gây nóng nực, khó chịu, có ngày nhiệt độ lên tới 38-39 độ C Những tháng cuối mùa hè, nhiệt độ giảm xuống, mưa tăng đột biến, kèm theo giông bão, lũ lụt, gây nên tình trạng
“chiêm khê mùa úng” Là một trong những xã nằm dưới chân núi Tam Điệp, mùa đông sương muối khá dày đặc, nhất là những ô thung lũng thấp và kín gió Núi Tam Điệp chắn gió mùa Đông Bắc làm cho nhiệt độ xuống thấp đột ngột, tạo nên hiện tượng khô hanh kéo dài từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau
Địa hình thiên nhiên rừng núi nhiệt đới của Yên Thành với nhiều hang động, rừng xanh ăn ra tới lợi nước biển Đông, nên thời Tiền sử và Sơ sử rất hấp dẫn với người cổ giống như ở khu vực Đồng Giao Các tài liệu khảo cổ học cho biết con người có mặt ở huyện Yên Mô cách ngày nay 3 – 4 vạn năm
về trước Xã Yên Thành có hệ thống giao thông khá hoàn chỉnh bao gồm hệ thống đường bộ đã cơ bản được bê tông hóa, trục đường chính chạy qua địa bàn xã được nhựa hoá bên cạnh đó còn có đường đê Hồ Yên Thắng là tuyến đường được đầu tư xây dựng khá hiện đại Cùng với hệ thống sông ngòi, các tuyến đường liên huyện, liên xã chạy qua tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân giao lưu với các tỉnh miền Bắc, miền Trung, miền biển huyện Kim Sơn, miền Tây Bắc dễ dàng thuận tiện
1.2 Quá trình hình thành vùng đất Yên Thành
1.2.1 Địa danh vùng đất Yên Thành trong lịch sử
Xã Yên Thành gồm 15 thôn: Thôn La Phù, Phúc Bái, thôn Đanh, thôn Đoài, thôn Tiên An, thôn Tiên Dương, thôn Giang Khương, thôn Kênh, thôn Chín Hai, thôn Tám Ba, thôn Thượng Phường, thôn Bạch Liên, thôn Lộc, thôn Trại Đanh, thôn Yên Hóa
Theo sách “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi thì vùng đất này thời nhà Trần thuộc khu vực xứ Mô Độ Năm 1407, Trần Ngỗi lên ngôi Hoàng đế, lấy căn cứ cạnh bến Mô Độ làm nơi tế cờ xuất quân đánh giặc Thời thuộc Minh (1417-1427) đổi Mô Độ thành Yên Mô, thuộc châu Trường Yên, phủ Kiến Bình Thời Hậu Lê, đời vua Lê Thánh Tông, niên hiệu Quang Thuận (1460-1469), Yên Mô thuộc phủ Trường Yên
Trang 19Qua các đợt khảo sát khảo cổ học cho thấy sự có mặt sớm của con người trên mảnh đất này, các di tích không xa trong vòng bán kính khoảng 2 km có di chỉ khảo cổ học Đồng Vườn, di chỉ khảo cổ học Mán Bạc có cư dân tiền sử sống cách chúng ta ngày nay từ 3000 đến 7000 năm ở phía Tây Bắc; ngoài ra còn có một di tích thời Trần (đền La, thôn La Phù) đã được nhà nước công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia năm 1994 Và cũng có nhiều bằng chứng cho thấy nơi đây là trung tâm sản xuất gốm thời phong kiến ở Đông Nam đồng bằng Bắc Bộ, đó là sự quan hệ qua lại giữa các dòng họ có nghề truyền thống làm gốm ở Bát Tràng – Hà Nội và Yên Thành – Yên Mô cũng như những di vật còn xuất lộ dưới lòng đất
Vào đầu thế kỷ XVII, vùng đất này thuộc xã Bồ Xuyên, địa danh này có nghĩa là vùng sông (xuyên) có nhiều cây bồ bồ Theo như truyền thuyết thì khi người dân ở đây biết làm bát (làm gốm) thì đổi địa danh là Bồ Bát, khi làm được bát phủ men trắng thì gọi là Bạch Bát.Vào thế kỷ XVIII, vùng đất này thuộc xã Bạch Bát, huyện Yên Mô
Theo dòng lịch sử xã Yên Thành đã trải qua nhiều lần thay đổi địa danh, địa giới hành chính
Trước năm 1945, vùng đất xã Yên Thành thuộc tổng Bạch Liên huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình Năm 1946, xã Bồ Xuyên và xã Bạch Liên hợp nhất thành lập xã Đại Thành Các xã Tràng Khê (Trường Khê), Yên Duyên (Yên Diêu), Mã Chiên và Hoàng Nệ (Hoàng Trách) hợp nhất thành xã Đại Đồng Ngày 15 tháng 4 năm 1949, Ủy ban hành chính tỉnh Ninh Bình ra quyết định hợp nhất 3 xã Đại Đồng, Đại Thành, Yên Tế thành lập xã Yên Thành Năm
1956, thực hiện công cuộc cải cách ruộng đất, xã Yên Thành được chia tách thành 2 xã: Xã Yên Đồng gồm 2 xã Đại Đồng và Yên Tế (trước năm 1949); xã Yên Thành (giữ nguyên địa giới xã Đại Thành năm 1949) Tháng 10/1956, thôn Thượng Phường của xã Yên Thành được tách ra sáp nhập vào xã Yên Thắng nhưng đến tháng 10/1967 thôn Thượng Phường lại được sáp nhập vào
xã Yên Thành Năm 1949, có 7 thôn thuộc xã Bồ Xuyên: thôn La Phù, Phúc Bái, Thôn Lợi, thôn Đanh, thôn Đoài, thôn Đông và thôn Tiên An (trừ xóm Yên Lộc thuộc thôn La Phù nhập vào xã Yên Mỹ), 3 thôn của xã Bạch Liên:
Trang 20thôn Tiên Dương (trừ xóm Ba Mươi thuộc thôn Tiên Dương được sáp nhập vào xã Yên Đồng) tách thôn Giang Khương thuộc xã Yên Thái sáp nhập vào
xã Yên Thành, thôn Trại Đanh Năm 1957 thôn Kênh (trước kia là xóm) thuộc thôn Tiên An tách ra thành thôn mới của xã Yên Thành, Năm 1983, thực hiện chủ trương của tỉnh về việc di dân khai khẩn đất hoang xây dựng vùng kinh tế mới, xã Yên Thành thành lập thêm thôn Tám Ba Năm 1992, tiếp tục xây dựng vùng kinh tế mới địa bàn xã thành lập thôn mới, gọi là thôn Chín Hai [3; tr.5]
1.2.2 Nguồn gốc dân cư và sự hình thành làng, xã
Là xã nằm trong vùng đất cổ, có người Việt cổ sinh sống cách ngày nay
3000 năm Nơi đây, thành phần tộc người chủ yếu là người Kinh sinh sống Từ xưa, nhân dân sống bằng nghề trồng lúa nước và khai thác lâm sản (chủ yếu là đốn củi) và làm nghề thủ công nung gạch, đốt vôi và gốm Bạch Bát), ngày nay Yên Thành phát triển các nghề sản xuất vật liệu xây dựng, nung gốm xứ và dịch
vụ Đến năm 2017, dân số xã có 6.495 người, trong đó có 566 người theo đạo Công giáo (chiếm 8,7% dân số toàn xã), sống tập trung trong thôn Bạch Liên Quá trình hình thành làng xã ở Yên Thành là quá trình đấu tranh với thiên nhiên, cải tạo thiên nhiên cũng như bất kỳ một làng quê nào, khi đất đai hình thành thì con người di cư đến khai hoang lập ấp Tương truyền trước thế kỷ
XV vùng đất này đã có người sinh sống Dân đến đây đầu tiên là người họ Bùi quê ở Hà Nam Nghề chủ yếu là trồng chè, trồng dâu, vải Bên cạnh còn có nghề chài lưới Tuy vậy, dân cư lúc bấy giờ thưa thớt, sống chủ yếu dựa vào thiên nhiên Mãi đến thế kỷ XV, khi cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống quân Minh xâm lược dưới sự lãnh đạo của quý tộc nhà Trần là Trần Ngỗi và Trần Quý Khoáng vùng đất này mới được phát triển làng xã như ngày nay Năm 1407 Trần Ngỗi lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Hưng Khánh, lập hành cung ở Yên Mô, dựng cờ khởi nghĩa với tôn chỉ: Đánh đuổi giặc Minh và khôi phục lại cơ nghiệp nhà Trần Nghĩa quân lấy Cầm Sú, cạnh bến Mô Độ (Yên Mạc, Tam Điệp) làm nơi tế cờ xuất quân đánh giặc Đất Yên Thành là căn cứ tập luyện của nghĩa quân Những tên làng, tên núi, tên sông, cánh đồng
là thực tế chứng minh điều đó Hiện nay 11 thôn trong xã đều có lịch sử tên gọi gắn liền với cuộc khởi nghĩa của Trần Ngỗi và Trần Quý Khoáng
Trang 21Thôn Kênh: Là thôn nằm phần Nam xã Yên Thành Tục truyền là làng này nằm ven sông Kênh (kênh này bị lấp chỉ còn vết tích) Ở đây khi cuộc khởi nghĩa của Trần Giản Định đã xây dựng căn cứ, đặt một đồn của nghĩa quân Thôn Tiên: Là một dải đất cao ở phía đông nam xã Yên Thành, xưa còn gọi là Tiên An thôn Đây cũng là một đồn của nghĩa quân đóng đầu tiên về phía đông nam
Thôn Đanh: Nằm phía đông xã Trước đây còn gọi là Dinh Thọ Thôn Nghĩa là thôn có nhiều người sống lâu Ngoài ra trong cuộc kháng chiến chống quân Minh thôn Dinh là một đồn đóng thẳng hướng với sở chỉ huy của nghĩa quân (chính diện phía Đông) Coi như đồn quan trọng số một Nếu để địch phá
vỡ đồn này thì căn cứ của nghĩa quân rất nguy hiểm
Thôn Đoài: Xưa là thôn Đông Đoài, nay gọi tắt cho gọn Đồn nằm ở phía ngoài của nghĩa quân bảo vệ “Ngọc Thỏ cảng” Một căn cứ quân sự của nghĩa quân thời đó Ngọc Thỏ cũng là một ngọn núi giống hình con thỏ, thuộc địa phận thôn Đoài xã Yên Thành Bên cạnh núi là con sông chảy qua, vì vậy đây
là một cảng rất quan trọng cho nghĩa quân Núi Con Thỏ hiện nay đã bị khai thác để lấy đá
Thôn Lộc: Là nơi cất dấu, là nơi chứa lương thảo, tiền bạc (như tổng kho hậu cần), từ đây cấp lương thực, thực phẩm cho nghĩa quân nên gọi là (thôn Giàu có)
Thôn La: Nằm giữa xã Yên Thành Theo thần phả, Thái tử kiêm Thái Bảo sinh ra Trần Toàn Trung Trần Toàn Trung thấy núi Cái Bơn, núi có đỉnh như hoa ngọc bao quanh tựa búi tóc Vì vậy đặt tên là Trang La Phù Trong cuộc kháng chiến chống quân Minh trên đỉnh núi Cái Bơn đặt một đồn gác căn
cứ khởi nghĩa Ở đây có thể quan sát thấy địch từ xa, thường dùng trống và thanh la báo động
Thôn Đại: Đây là một bãi nổi nằm phía Đông xã Yên Thành Năm 1408 sau khi thắng trận Bô Cô nghĩa quân về bãi này làm lễ mừng chiến công và tưởng nhớ đến những người đã hy sinh ngoài mặt trận vì độc lập của dân tộc Thôn Bạch Liên: Xưa còn gọi là Bạch Bát Ở gần thôn này có một eo núi đường đi rất khó khăn Khi đoàn ngựa thồ lương thực, thực phẩm và bát ăn cơm của nghĩa quân Trần Giản Định, qua eo núi này đánh vỡ sọt bát, từ đó có
Trang 22tên là eo Bát Thôn gần eo núi được gọi là thôn Bạch Bát Dưới con mắt của các nhà địa lý, thôn Bạch Bát như một dải sen trắng nên gọi là Bạch Liên Thôn Tiên Dương: Đây là thôn nằm trên dải đất cao của núi đồi Tam Điệp bồi phần Tây xuống, thôn là đồi đất đỏ bao bọc Đây là vùng đất có sớm Khi phần Đông và Đông Nam còn là biển cả Vì vậy theo Triết tự “Tiên” là
“trước”, “Dương” là “bể”, nghĩa là vùng đất đứng phía trước biển
Thôn Thượng Phường: Nằm phần Bắc xã Yên Thành Trước năm 1960, vùng đất này thuộc xã Yên Thắng, huyện Tam Điệp Năm 1960, sát nhập Thượng Phường về Yên Thành, huyện Tam Điệp Đây là thôn đến sớm hơn tất
cả Thượng có nghĩa là cao, cũng có nghĩa là sớm Phường là xóm, trại Lúc đầu dân đến đây chủ yếu sống bằng nghề trồng chè, dâu, vải Sau này với làm nghề lúa nước như hiện nay
Thôn Giang Khương: Là thôn nằm cuối xã Yên Thành; bên cạnh sông Hội chảy ra cửa Thần Phù Nơi dây người dân trồng rất nhiều gừng Vì vậy xóm được mang tên Giang Khương Thôn này trước năm 1960 thuộc xã Yên Thái, huyện Tam Điệp Năm 1960 cắt về dưới sự quản lý của xã Yên Thành
Bảng 1.1: Tình hình phân bố dân cư hiện nay của xã Yên Thành (năm 2019)
Nguồn: Ủy ban nhân dân xã Yên Thành
Trang 23Theo gia phả các dòng họ ở Yên Thành có nguồn gốc chủ yếu từ Nam Hà đến khai hoang lập địa Ngày nay ở Yên Thành có những dòng họ sau: Họ Trần, họ Vũ, họ Bùi, Nguyễn, Hoàng, Lê, Lương, Tạ, Phạm, Ninh, Trịnh Đặc biệt, dòng họ Trần, họ Vũ, họ Bùi chiếm số lượng đông đảo trong thôn Họ Trần ở xóm La là dòng dõi tôn tạo của hai vua Trần Giản Định và Trần Trùng Quang Theo gia phả họ Trần dòng họ này đến đây từ khi lập ấp La Phù Tính đến nay là 21 đời Đây là dòng họ có truyền thống yêu nước trong mọi thời kỳ lịch sử cách mạng
1.3 Đặc điểm về kinh tế, văn hóa, xã hội
1.3.1 Đặc điểm kinh tế
Nền kinh tế nông nghiệp truyền thống đã hình thành và phát triển cùng với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Nó gắn liền với quá trình khai hoang lập ấp, phát triển sản xuất, mở mang văn hóa, xã hội và đấu tranh sinh tồn với thiên nhiên của các cộng đồng dân cư, từ những làng Việt cổ xưa, những công xã nông thôn đến các làng tiểu nông trong thời kỳ phong kiến Nền kinh tế nông nghiệp truyền thống ở Yên Thành là nền kinh tế trọng nông và tự cung, tự cấp Hầu như ở các làng đều có các hoạt động sản xuất tương tự giống nhau, bao gồm các hoạt động nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, buôn bán nhỏ
và khai thác sản vật tự nhiên để tự sản xuất những sản phẩm cho nhu cầu tiêu dùng cơ bản nhất của cư dân trong làng, xã Nông nghiệp là hoạt động căn bản nhất và luôn được xem là “nghề gốc” của đa số các hộ dân cư Hoạt động nông nghiệp bao trùm và chi phối đến tất cả các hoạt động kinh tế khác Trong đó, sản xuất lương thực, mà đặc biệt là sản xuất lúa gạo đã phát triển từ rất sớm và trở thành ngành sản xuất chính Bên cạnh sản xuất lúa gạo, người dân Yên Thành còn trồng các loại cây hoa màu, cây ăn quả và rau đậu thực phẩm, đồng thời với chăn nuôi gia súc, gia cầm, thả cá, đánh bắt thủy hải sản, khai thác sản vật tự nhiên… Song toàn bộ các hoạt động kinh tế này chỉ là các hoạt động phụ
để tận dụng lao động nông nhàn, bổ sung sản phẩm cho nhu cầu lương thực và phục vụ nhu cầu tiêu dùng trực tiếp của các hộ dân cư trong xã
Đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn hoạt động dịch vụ thương mại, tiểu thủ công nghiệp phát triển mạnh và đa
Trang 24dạng góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và thúc đẩy kinh tế phát triển Các nghề mộc, nề, đan bèo bồng, thảm cói luôn được duy trì, bên cạnh đó các nghề phục vụ dân sinh và sản xuất nông nghiệp như: cơ khí, vận tải, xay sát, chế biến bún, bánh ngày càng được mở rộng trong nhân dân Trên địa bàn xã có một số doanh nghiệp, nhà máy đứng chân như: Doanh nghiệp Hoàng Bá sản xuất gạch tuy nel, doanh nghiệp gốm sứ Bồ Bát, doanh nghiệp xây dựng Thành Lâm, hợp tác xã Vận tải Thùy Duyên hoạt động kinh doanh có hiệu quả tiếp tục thu hút số đông lao động của xã vào làm việc, góp phần vào giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho người dân địa phương Đến năm 2015, doanh thu từ sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ của xã đạt 51 tỷ đồng, năm 2016 đạt 52 tỷ đồng Kết quả trên chứng tỏ sự chuyển dịch tích cực trong
cơ cấu kinh tế của xã Thu ngân sách của xã hằng năm đạt 1 tỷ đồng (vượt mục tiêu Đại hội Đảng bộ xã lần thứ XXIV đề ra) [3; tr.204]
Việc giao lưu, trao đổi hàng hóa và hoạt động thương nghiệp cũng ngày càng mở rộng Chợ Kênh ở Yên Thành bắt đầu được hình thành từ đây Thời gian đầu, mỗi gia đình phải tự xoay sở với cuộc sống hằng ngày, song dần thì
có một bộ phận người tách dần ra và chuyên lo cung cấp những nhu yếu phẩm cần thiết cho cộng đồng trong xã và dần hình thành nên một đội ngũ thợ thủ công, hình thành nơi trao đổi hàng hóa Chợ Kênh nằm trên một khu đất rộng, chợ không quá lớn đủ để phù hợp với không gian chung của xã Sản phẩm được bán thường là các loại rau, củ, quả, các loại thực phẩm và đồ thủ công Các sản phẩm đều là cây nhà, lá vườn của người dân Yên Thành Chợ Kênh thường xuyên tấp nập, nhộn nhịp
Trong những năm tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nông thôn mới, nhân dân xã Yên Thành đã nỗ lực phấn đấu, thi đua lao động sản xuất xây dựng quê hương
và giành được những thành tựu rất đáng tự hào Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt
1.3.2 Đặc điểm văn hóa - xã hội
Các nhà nghiên cứu văn hóa cũng như sử học Việt Nam đều khẳng định 80% văn hóa vật thể là ở làng, xã Đó chính là “cây đa, bến nước, sân đình”, là
Trang 25ngôi chùa hay những ngôi nhà cổ Và cũng 80% văn hóa phi vật thể ra đời từ văn hóa làng, xã Đó là những phong tục tập quán, lễ hội, tín ngưỡng Như vậy, văn hóa làng xã không chỉ là những làn điệu dân ca, dân vũ Đó còn là phong tục tập quán, cách ứng xử, tâm lý, tín ngưỡng tôn giáo, phương thức hoạt động, nghề đặc trưng…
Ở các làng quê Việt Nam có rất nhiều làng nghề truyền thống Vùng đất Yên Thành nổi tiếng với nghề gốm Bồ Bát đã xuất hiện từ rất lâu và nay đã được phục hồi, phát triển Có thể nói rằng nghề thủ công thể hiện một phương diện của truyền thống văn hoá xã Giữ gìn và phát huy nghề thủ công truyền thống cổ truyền là góp phần giữ gìn truyền thống văn hoá dân tộc Do nắm được nhu cầu và thị hiếu của khách hàng, do áp dụng khoa học kỹ thuật nên làng nghề
đã không những tồn tại mà còn phát triển, đã tạo ra việc làm cho người dân, góp phần giữ gìn truyền thống văn hoá xã
Nhắc đến làng xã không thể không nhắc đến chợ Chợ là nơi lưu giữ tổng thể những nét văn hoá cũng như tục lệ của người dân nơi đó Ở vùng đất Yên Thành, chợ Kênh không chỉ dừng lại ở việc trao đổi mua bán hàng hoá, đây còn
là những nét văn hoá làng được thể hiện qua đời sống hàng ngày của người dân trong xã Thông qua hoạt động mua bán, trao đổi thông tin mà chợ trở thành nơi các phong tục văn hoá khác nhau tìm đến tiếng nói chung Một phần đời sống của người dân quê được khắc hoạ và thể hiện qua cái chợ làng Những chuyện hàng ngày của mỗi gia đình, mỗi người đều được thông tin qua cái chợ Người làng đi chợ cũng là dịp để họ gặp nhau, hỏi thăm nhau Nhắc đến chợ làng phải nhắc đến chợ làng ngày Tết Chợ làng ngày Tết còn là dịp gặp gỡ người xa xứ Người Việt có một đặc điểm dù đi đâu, làm gì và ở đâu thì hết năm thường về quê ăn Tết Người xa quê thích nhất được đi sắm Tết ở chợ làng, họ muốn mua những nải chuối quê, những quả cau, lá trầu để cúng tổ tiên Rồi họ rủ nhau đi mua lá dong, lá chuối để gói bánh chưng, bánh gai, mớ rau củ hành để ăn trong
ba ngày Tết Tất cả đều là sản phẩm của người dân quê.Chợ quê đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển văn hoá làng xã Nó không chỉ tồn tại như một sự vật được tái hiện hàng ngày mà còn là một nét văn hoá được truyền từ đời này sang đời khác
Trang 26Thờ cúng tổ tiên cũng là một nét đẹp văn hóa tinh thần của người dân Yên Thành Nó xuất phát từ lòng hiếu nghĩa “ơn sinh thành, công dưỡng dục” của cha mẹ, ông bà lúc còn sống cũng như quan niệm khi họ chết là về với tổ tiên nơi chín suối nhưng ông bà cha mẹ vẫn thường xuyên đi về thăm nom, phù hộ cho con cháu Bởi thế, việc thờ cúng cha mẹ, tổ tiên có ý nghĩa đặc biệt thiêng liêng Ngoài việc cúng giỗ thì việc thờ cúng tổ tiên còn được thực hiện đều đặn vào các ngày mồng 1, ngày rằm, dịp lễ Tết và bất kỳ khi nào trong nhà
có việc dựng vợ gả chồng, sinh con, làm nhà… người dân nơi đây đều thắp hương tưởng nhớ đến ông bà, tổ tiên cầu mong phù hộ mọi việc đều tốt đẹp
Ngoài thờ cúng tổ tiên, người dân Yên Thành còn thờ Thành Hoàng làng
là thờ những người có công khai khẩn và có những đóng góp to lớn cho làng Thờ Thành Hoàng làng được coi là biểu tượng khởi nguyên của làng với những nghi lễ trọng thể nhất Ngoài ra, một số nơi dân làng còn tổ chức thờ các vị thần khác: thờ thần tự nhiên (trời, đất, sông, núi); thờ Thổ công; thờ Táo quân, thờ thần Nông Song song với việc thờ thần là việc sùng bái các hiện tượng tự nhiên Người dân nơi đây còn có tục đặt lư hương ở các gốc cây đa, cây bồ đề cũng như cây cao bóng mát xung quanh đình (chùa, miếu, đền,…) Qua việc đó chúng ta thấy được việc thờ cúng ở xã Yên Thành chủ yếu đề cao lòng kính trọng thiêng liêng của con người trong các hiện tượng của cuộc sống một cách sâu sắc hơn
Trong đời sống cộng đồng làng xã Việt Nam, có lẽ không có một nơi nào là không có lễ hội (hội làng) Lễ hội là hình ảnh thu nhỏ nét văn hoá làng người Việt nói chung và từng làng từng xóm nói riêng Hội làng ở Yên Thành thường được tổ chức vào mùa xuân Như thường lệ cứ mỗi độ xuân về, khi đất trời giao hoà, thiên nhiên tươi tốt, khi con người tạm khép lại những vất vả lo
âu của cuộc sống đời thường sau một thời gian lao động mệt nhọc, người dân nơi đây lại háo hức trong không khí đón xuân Như vậy thông qua các hình thức lễ hội đó, đời sống sinh hoạt của người dân Yên Thành cũng trở nên phong phú, góp phần làm phong phú thêm văn hoá của xã Nếu văn hoá làng,
xã là hình thức thì hội làng chính là nội dung tái hiện lại nét văn hoá truyền thống của xã Từ hội làng ta có thể thấy bản sắc văn hoá của làng, xã
Trang 27Xã Yên Thành còn lưu giữ được các sinh hoạt văn hoá dân gian truyền thống Đó là các câu lạc bộ hát trống quân, hát đối trên đình, đền, chùa, tối có
“chiếu chèo” hoặc giao lưu văn nghệ, thơ ca Nói chung có nhiều hình thức sinh hoạt văn hóa mang đậm màu sắc dân gian truyền thống Nhìn chung các loại hình văn hoá dân gian trên đều nhằm hướng tới một đời sống tinh thần phong phú, làm cho con người quên đi những nỗi nhọc nhằn trong lao động,
sự khổ ải trong cuộc sống và vững tin hơn trong cuộc đấu tranh với tự nhiên – xã hội Qua đó, họ cầu mong một mùa làm ăn mưa thuận gió hoà, sóng yên biển lặng, khoai lúa đầy đồng, tôm cá đầy khoang, cuộc sống may mắn ấm no hạnh phúc
1.3.3 Truyền thống cách mạng
Người dân Yên Thành có truyền thống yêu nước và cách mạng, tinh thần chiến đấu kiên cường bất khuất Vùng đất Yên Thành ngày nay còn lưu giữ nhiều di tích lịch sử rạng ngời truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm của nhân dân ta
Tuy phải sống trong cảnh đói khổ lầm than nhưng nhân dân Yên Thành luôn giữ gìn truyền thống yêu nước, nung nấu ý chí sẵn sàng đứng lên lật đổ ách
áp bức bóc lột để giành độc lập tự do Từ thời nhà Đinh, nhà Trần đến thời Hậu
Lê, Quang Trung - Nguyễn Huệ, nhân dân xã Yên Thành dốc sức đóng góp lương thực, tiền của cùng với nhân dân cả nước chiến đấu chống ngoại xâm Năm 979, vua Chiêm đem quân đánh chiếm nước ta, đến cửa Thần Phù bị quân
ta do Phạm Hiển lãnh đạo đánh lui, trong đó có sự tham gia đánh giặc của nhân dân Yên Thành Đặc biệt, thời Trần chống quân Nguyên Mông, nhân dân xã Yên Thành góp sức, góp của cùng quân dân ta đánh giặc Khi Trần Ngỗi lui về đất Yên Mô, đóng hành dinh ở Yên Thành để chống giặc Minh, được nhân dân hết lòng ủng hộ góp công, góp của Từ năm 1883, thực dân Pháp đánh chiếm và đặt ách đô hộ ở Ninh Bình, nhân dân Yên Thành cùng nhân dân cả tỉnh đứng lên đấu tranh chống Pháp Tiêu biểu cho tinh thần yêu nước thời kỳ này là cụ Trịnh Công Khiêm, người thôn Đanh đứng lên vận động được một số người trong thôn tham gia các phong trào cứu nước do các văn thân sĩ phu khởi sướng lãnh đạo Đầu thế kỷ XX, dưới sự thống trị hà khắc của thực dân phong kiến, một số
Trang 28người trong xã làm đơn tố cáo bọn tổng lý, kỳ hào hách dịch, tham nhũng đã có tác dụng hạn chế sự bóc lột của chúng Cũng vào những năm đầu thế kỷ XX, được tin bọn Tây đoàn về xã bắt rượu lậu tại thôn Lộc, số đông thanh niên cùng dân làng đoàn kết dùng đao, kiếm, gậy, gộc đuổi đánh, làm tan vụ gây rượu giả của bọn tổng Lý Cũng trong những năm đầu thế kỷ XX, dân làng tuyên truyền vận động binh sĩ đồn Kênh nổi dậy hiệp lực đốt phá đồn, bọn chỉ huy phải bỏ chạy về huyện lị
Truyền thống yêu nước, căm thù giặc sâu sắc của nhân dân Yên Thành được khơi dậy, trở thành sức mạnh to lớn khi có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Kể từ khi Đảng ra đời nắm quyền lãnh đạo cách mạng, nhân dân Yên Thành một lòng đi theo Đảng, đấu tranh giành nhiều thắng lợi to lớn, trước tiên là cùng với nhân dân cả nước tiến hành Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám thành công, giành chính quyền trong cả nước; tiến hành thắng lợi các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược bảo vệ toàn vẹn nền độc lập của đất nước; tiến hành công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
xã hội chủ nghĩa
Từ đầu năm 1945, cao trào kháng Nhật cứu nước phát triển rộng khắp trong toàn tỉnh Ở huyện Yên Mô, phong trào đấu tranh cách mạng dâng cao
và trở thành cao trào kháng Nhật, cứu nước, phong trào đó đã tác động mạnh
mẽ tới xã Yên Thành Phong trào nổi lên từ khu căn cứ cách mạng Quỳnh Lưu lan nhanh tới huyện Yên Mô, Kim Sơn Cuối tháng 3/1945, nhân dân Bồ Xuyên thu được 15 tấn thóc chia cho dân nghèo, cứu hàng ngàn người thoát khỏi cảnh chết đói Phong trào phá kho thóc cứu đói tác động mạnh mẽ đến nhân dân xã Yên Thành Đến tháng 5/1945, phong trào lan nhanh ra hầu hết các thôn xóm trong xã, thức tỉnh tinh thần yêu nước trong nhân dân, đặc biệt tầng lớp thanh niên Đó là yếu tố quan trọng để khi thời cơ đến nhân dân đứng lên đấu tranh lật đổ chính quyền thực dân, phong kiến tay sai, giành chính quyền về tay nhân dân
Do có sự chuẩn bị chu đáo, nhận được tin khởi nghĩa giành chính quyền huyện Yên Mô, ngày 20/8/1945 mặc dù trời mưa rất to, Đoàn Thanh niên cứu quốc, Đội tự vệ và đông đảo nhân dân xã Yên Thành với vũ khí thô sơ và cờ,
Trang 29bang, biểu ngữ kéo về huyện lỵ, cùng quân dân trong huyện bao vây huyện lỵ làm cuộc khởi nghĩa giành chính quyền huyện Trưa ngày 21/8/1945, lực lượng khởi nghĩa xã Yên Thành cùng nhân dân trong huyện mít tinh chào mừng thắng lợi và chính quyền cách mạng lâm thời huyện ra mắt trước nhân dân
Cuộc khởi nghĩa giành chính quyền kết thúc thắng lợi, chính quyền về tay nhân dân Cùng với nhân dân cả nước, nhân dân xã Yên Thành đã phá tan hai tầng xiềng xích nô lệ của thực dân Pháp và phát xít Nhật, lật nhào ngai vàng phong kiến tay sai, thành lập nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam
Á Thắng lợi này mở ra một kỷ nguyên mới cho nhân dân xã Yên Thành nói riêng và nhân dân Việt Nam nói chung, mở đầu kỷ nguyên mới của lịch sử dân tộc- kỷ nguyên nhân dân lao động lên nắm chính quyền, làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh dân tộc
Thắng lợi của cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền tháng Tám năm
1945 đã thể hiện truyền thống yêu nước, đoàn kết, bền bỉ đấu tranh anh dũng chống ngoại xâm của nhân dân xã Yên Thành trong cuộc đấu tranh giành độc lập tự do cho dân tộc
Tiểu kết chương 1
Yên Thành là một vùng đất cổ, chủ nhân là cộng đồng cư dân người Việt
cổ đã cư trú từ đời này qua đời khác dần dần phát triển đến một mức cao hơn
mở rộng địa bàn cư trú dọc các triền sông, sinh sống bằng nghề hái lượm săn bắn rồi tiến tới học nghề trồng lúa nước và bắt đầu định cư lâu dài trong các làng xã
Quá trình hình thành và phát triển cộng đồng dân cư ở vùng đất này từ xa xưa đã gắn liền với quá trình tự hòa hợp, thích nghi và đấu tranh với tự nhiên cũng như kẻ thù ngoại bang Mồ hôi, công sức và cả sự hy sinh xương máu của bao thế hệ đã đổ xuống để vùng đất này đơm hoa kết trái Vị trí địa lý, đặc biệt với lịch sử lâu đời đã thực sự tạo nên chiều sâu văn hóa cho vùng đất này trở thành một không gian văn hóa tiêu biểu của thành phố Ninh Bình Ở đây không chỉ có truyền thống trong lao động sản xuất mà còn có truyền thống văn hóa dân tộc hàng ngàn năm còn hiện hữu trong đời sống hàng ngày Chính những điều đó hun đúc nên những giá trị truyền thống lịch sử - văn hóa lâu đời
Trang 30của vùng đất Yên Thành Với truyền thống lao động cần cù, thông minh sáng tạo, khéo léo dẻo dai nhưng cũng hết sức anh dũng, kiên cường trong đấu tranh chống ngoại xâm, để lại các dấu ấn văn hóa đa dạng phong phú…
Cùng với thời gian, những giá trị truyền thống lịch sử và kho tàng văn hóa vật thể và phi phật thể được người dân gìn giữ, phát huy Đó chính là di sản vô giá, một nguồn nội lực tinh thần to lớn để người dân Yên Thành sớm đạt được mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”
Trang 31Chương 2
DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ
Yên Thành là một vùng một đất gắn liền với hệ thống di sản văn hóa vật thể rất có giá trị trên nhiều phương diện lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật , tiêu biểu như đình, chùa, đền, nhà thờ Song do trải qua nhiều thiên tai, địch họa và những biến cố thăng trầm của lịch sử nên không ít giá trị văn hóa vật thể đã phần nào bị xuống cấp, hư hỏng hoặc bị phá dỡ nên có khi chỉ còn lại dấu tích
Bảng 2.1: Hệ thống di sản văn hóa vật thể xã Yên Thành
nay
1 Đền Thôn Kênh Đinh Tiên Hoàng Còn tồn tại
2 Đền Thôn Tiên Lý Ngư Đại Thần Bị hủy hoại
3 Đền Thôn Dinh Đức Thánh Trần Bị hủy hoại
4 Đền Thôn Đoài Lý Ngư Đại Thần Bị xuống cấp, hư
Còn tồn tại
Trang 3212 Đình Lục
Giáp Thôn Lộc
Trần Ngỗi, Trần Quý Khoáng, Trưởng Minh Ngọ, Thứ Minh Ngọ và Lý Minh Ngọ (Tam Ngọ)
Còn tồn tại
13 Phủ xóm
14 Phủ Thôn Bái Bối Mai công chúa Mới được phục hồi
15 Phủ Thôn La Bối Mai công chúa Đã phục hồi
Dương
Con gái út vua Trần Giản Định là Bối Mai công chúa
Còn tồn tại
17 Phủ
Thôn Thượng Phường
Thờ Mẫu Diện Sơn Còn tồn tại
18 Lăng Thôn La Thờ vua Trần Ngỗi Còn tồn tại
Trang 33học xác định thuộc giai đoạn văn hóa cuối Phùng Nguyên, đầu Đồng Đậu, có niên đại gần 4.000 năm cách ngày nay Tại đình làng Bát Tràng có đôi câu đối phản ánh lai lịch của cư dân và nghề gốm như sau:
Bồ di thủ nghệ khai đình vũ, Lan nhiệt tâm hương bái thánh thần
(Nghề từ làng Bồ ra, khởi dựng đình miếu, Lòng thành như hương Lan, cúng tạ thánh thần) Cùng với đôi câu đối trên là những truyền thuyết về cư dân từ Bồ Bát di
cư ra lập nghiệp ở Bát Tràng
Bồ Bát gồm Bồ Xuyên và Bạch Bát Thời Lê và đầu thời Nguyễn, nghĩa
là cho đến đầu thế kỉ XIX, xã Bồ Xuyên và trang Bạch Bát thuộc tổng Bạch Bát, huyện Yên Mô, phủ Trường Yên, trấn Thanh Hoa Ngoại
Trên cơ sở các nguồn sử liệu thu thập được, tháng 3 năm 1998, cán bộ Viện Khảo cổ học và Bảo tàng tỉnh Ninh Bình đã đến làng Bạch Liên, tìm hiểu những dấu tích khảo cổ học có liên quan đến nguồn gốc của làng gốm Bát Tràng Trong quá trình khảo sát, nghiên cứu, đã phát hiện được di tích Mán Bạc, theo đánh giá ban đầu thì đây là di chỉ thời đại kim khí có quy mô khá lớn Có thể di chỉ này thuộc giai đoạn tiền Đông Sơn
Năm 1999, Viện Khảo cổ học tiến hành khai quật lần thứ nhất di tích Mán Bạc Diện tích khai quật là 42m2
gồm 2 hố, tại hố thứ 2 vẫn còn cột mốc xi măng ghi rõ năm tháng khai quật Kết quả đợt khai quật này thu được nhiều di vật công cụ, gồm các loại rìu, bôn, đục, bàn mài, hòn ghè, lưỡi cưa, , đồ trang sức các loại bằng đá và các di vật bằng gốm gồm: chì lưới, bát, mâm bồng, chạc gốm và hơn 1 vạn mảnh gốm Bên cạnh đó còn phát hiện được 5 ngôi
mộ gồm 6 cá thể (một ngôi mộ táng chồng) tình trạng được lưu giữ rất tốt trong lòng đất Về niên đại, căn cứ vào trình độ kỹ thuật chế tác công cụ sản xuất, đồ trang sức, đồ gốm và nhất là hoa văn trang trí có thể thấy cư dân Mán Bạc đã ở vào thời đại kim khí Về nguồn gốc văn hóa, có thể nhận ra sự đồng đại của cư dân Mán Bạc với các nhóm cư dân Phùng Nguyên ở vùng sông Hồng hay từ các nhóm cư dân Hoa Lộc vùng ven biển, Cồn Chân Tiên khu vực ngã ba sông Mã – sông Chu, từ giai đoạn sớm trong mối quan hệ mật thiết với nhau [10]
Trang 34Năm 2001, Viện Khảo cổ học tiếp tục phối hợp cùng Bảo tàng Ninh Bình khai quật lần thứ 2, diện tích hố đào là 24m2
cách vách Nam của hố 2 trong đợt khai quật lần thứ nhất là 0,5m Kết quả cũng thu được khối lượng lớn di vật đá
và gốm phong phú cùng 10 ngôi mộ với 11 cá thể (01 ngôi mộ song táng) cũng trong tình trạng được bảo vệ rất tốt trong lòng đất Di tích Mán Bạc là một di tích khảo cổ học có thể được phát triển từ văn hóa Đa Bút (giai đoạn muộn) Yếu
tố kế thừa và phát triển này được chứng minh qua đồ gốm mang tính đặc trưng của di tích Mán Bạc Song, quá trình giao thoa và phát triển của di tích này nở rộ vào giai đoạn sơ kỳ thời đại kim khí Cư dân Mán Bạc là một cộng đồng cư dân sống định cư vùng cận biển.Nguồn sống chính có thể là nông nghiệp trồng trọt, trồng lúa nước, bên cạnh chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà Cư dân Mán Bạc phát triển nghề đánh cá, khai thác các sản vật của nước mặn, nước lợ và nước ngọt, cũng như săn bắn động vật và thu lượm thực vật Nghề làm gồm giữ vai trò quan trọng, bên cạnh đó còn có các hoạt động chế tác công cụ đá, xe sợi, dệt, đan lát, chế tác đồ trang sức, đồ dùng cho tín ngưỡng, tâm linh Trên cơ sở kinh tế nông nghiệp phát triển, cư dân Mán Bạc đã thành công trong việc khai hoang lấn biển ở vùng Ninh Bình.Chủ nhân di tích Mán Bạc có cuộc sống tinh thần phong phú với những sản phẩm độc đáo trong sinh hoạt đời thường.Di tích Mán Bạc hội tụ khá nhiều yếu tố của những nền văn hóa khác nhau như: Các nền văn hóa thuộc giai đoạn sơ kỳ thời đại kim khí ở ven biển Đông Bắc, đồng bằng châu thổ sông Hồng và đồng bằng sông Mã, sông Chu [10]
Năm 2004-2005, Viện Khảo cổ học phối hợp với Bảo tàng Ninh Bình hợp tác với các nhà khoa học Nhật Bản và Astralia tiến hành khai quật lần thứ 3 Diện tích khai quật là 36m2, nằm sát phía tây hố đào năm 2001 Kết quả phát hiện 35 ngôi mộ táng trong đó gần 30 bộ xương còn khá nguyên vẹn; 394 hiện vật đá gồm rìu, bôn, đục, cưa, dao, bàn mài, chì lưới, hòn ghè, mảnh vòng, hạt chuỗi và rất nhiều hiện vật gốm Mục tiêu của cuộc khai quật này là tìm hiểu
mộ táng, xương cốt chủ nhân di chỉ Sau khi khai quật đã phát hiện 35 ngôi mộ với gần 30 bộ xương cốt còn khá nguyên vẹn, đa phần là trẻ em Riêng về ý nghĩa khảo cổ học, táng tục mộ Mán Bạc, cùng những mộ văn hóa Phùng Nguyên phần nào giúp các nhà nghiên cứu nhận định về phương thức mai táng của con người trong giai đoạn bình tuyến Phùng Nguyên Sự có mặt rất đặc
Trang 35trưng của 2 nửa vỏ trai, trùng trục đặt ở hai lòng bàn tay người đã khuất khiến
ta liên tưởng đến sự gắn bó mật thiết, tới mức tôn sùng đối với biển cả của chủ nhân Mán Bạc Xét về địa tầng cư trú và địa tầng mộ táng Mán Bạc về cơ bản, tầng cư trú của hố đào có thời gian tồn tại không dài và địa tầng dày khoảng 1m chủ yếu ở tầng đất 1 và tầng đất 2 Ở tầng đất 3, các di vật được phát hiện ít dần và bình diện bị chia cắt thành hai nửa, nhuyễn thể vụn và cát nâu, mịn, cho thấy diện mạo ban đầu của di tích Mán Bạc khi cư dân đến sinh sống Nhưng người Mán Bạc không chỉ cư trú ở bên trên mà đã chôn người chết ở tầng đất này với các độ sâu khác nhau, sự có mặt của những mảnh gốm trong tầng này phần lớn là hậu quả của việc đào khoét huyệt mộ chôn cất người chết nhiều lần, nhiều đợt khiến gốm ở lớp cư trú trên vô thức bị đẩy xuống dưới như một thành phần của đất lấp mộ Ở gần đáy của lớp nhuyễn thể vụn (gần bề mặt sinh thổ), rải rác ở các ô sát vách Tây và Bắc đã tìm thấy một vài mảnh gốm dạng gốm tìm thấy trong di tích Đồng Vườn (di tích này thuộc văn hóa Đa Bút cách ngày nay từ 5000 đến 7000 năm) Có thể vào thời điểm cư trú của người Đồng Vườn họ đã đến Mán Bạc khai thác rừng, chặt cây hoặc bắt thú Sau đó, bẵng
đi một thời vài trăm năm, doi cồn cát bên ngoài doi nhuyễn thể hình thành, phủ lên phía trên nơi tìm thấy mảnh gốm Đồng Vườn Người Mán Bạc cư trú bên trên cồn cát và doi nhuyễn thể đó, xa cách với những mảnh gốm Đồng Vườn một khoảng thời gian khá dài Rất có thể ở đây có mối quan hệ ven biển của người Mán Bạc với người Hạ Long muộn Sự tồn tại của chạc gốm, bàn xoa gốm cùng một số yếu tố hoa văn khác hướng thêm cái nhìn về giao thoa Đông Khối, Cồn Chân Tiên, Hoa Lộc Như vậy Mán Bạc cũng cho thấy các giao thoa chằng chéo với vùng ven biển, với cư dân trong nội địa của di tích này Năm 2005, Viện Khảo cổ học tiếp tục phối hợp với Bảo tàng Ninh Bình khai quật 10m2 theo hướng Bắc Nam Hiện vật thu được gồm nhiều đồ đá, gốm, xương, vỏ nhuyễn thể và 9 ngôi mộ Cấu tạo địa tầng ở lần khai quật này
đã phát hiện được lớp cát màu vàng có sắc xanh nằm trên lớp vỏ nhuyễn thể màu nâu và màu đen là sinh thổ các hố khai quật năm 1999, năm 2001, năm
2004 – 2005 và nền đất thứ hai làm ranh giới giữa tầng văn hóa 2 và tầng văn hóa 3
Trang 36Năm 2007, Viện Khảo cổ học tiếp tục phối hợp với Bảo tàng Ninh Bình tiến hành khai quật lần thứ 5 với hai hố khai quật, tổng diện tích là 38m2 Hiện vật thu được gồm nhiều đồ đá, gốm, xương, vỏ nhuyễn thể và 45 ngôi mộ [10]
Di tích khảo cổ Mán Bạc có ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu các
di vật của quá khứ trong lòng đất, từ đó bước đầu xác định được đời sống tự nhiên, xã hội của cư dân Mán Bạc nói riêng, người Việt cổ nói chung thời kì tiền Đông Sơn Kết quả nghiên cứu bước đầu đã bổ sung tài liệu, hiện vật cho bảo tàng tỉnh Ninh Bình nhằm lưu giữ, trưng bày, giới thiệu về cuộc sống con người thời tiền sử
Kết quả nghiên cứu tại di tích Mán Bạc đến thời điểm này cho thấy cư dân cổ Mán Bạc có mối liên hệ tộc người với văn hóa Hoa Lộc, nhóm di tích Cồn Chân Tiên và có mối quan hệ chặt chẽ với cư dân văn hóa Phùng Nguyên
Ở di tích Mán Bạc phát hiện được di tích nền đất và hệ thống hố chân cột ở cả hai giai đoạn sớm, muộn đã góp thêm tư liệu để phác thảo về diện mạo cư trú, ngôi nhà của người Mán Bạc, đặc biệt, đã cơ bản khám phá được đời sống kinh
tế, văn hóa, xã hội của cư dân nơi đây Kết quả thu được từ nghiên cứu các tầng văn hóa cũng khẳng định sự biến đổi của khí hậu, địa mạo, làm thay đổi cảnh quan, môi trường ở Mán Bạc, đây là tư liệu quan trọng để dự báo biến đổi khí hậu trong tương lai ở tỉnh Ninh Bình và khu vực đồng bằng sông Hồng, vùng ven biển Bắc Bộ nói chung
Di tích Mán Bạc đã có đóng góp nhất định vào việc hình thành và phát triển các di tích sơ kỳ kim khí ở Ninh Bình như Núi Hai, hang Chợ Ghềnh, tiền
đề hình thành văn hóa Đông Sơn nói chung Thông qua các yếu tố văn hóa Mán Bạc , có thể thấy sự lan tỏa của văn hóa Phùng Nguyên ra phía biển, quá trình nam tiến của cư dân vùng duyên hải Đông Bắc, sự dịch chuyển của các
bộ lạc Cồn Chân Tiên, Hoa Lộc vào sâu nội địa, nói cách khác, ở Mán Bạc đã bắt đầu có sự cư trú xen kẽ giữa một số bộ lạc có văn hóa khác nhau
Nhìn chung, trên cơ sở kết quả nghiên cứu các dữ liệu thu thập được từ di tích Mán Bạc, có thể bổ sung thêm hệ thống tư liệu khoa học, lịch sử phục vụ cho công tác nghiên cứu về lịch sử, xã hội nước ta thời tiền sử cũng như quá trình biến đổi địa mạo vùng châu thổ sông Hồng nói riêng, vùng đồng bằng
Trang 37ven biển nước ta nói chung Đây là những tư liệu quan trọng để xây dựng các báo cáo về biến đổi khí hậu vùng ven biển nước ta trong tương lai, làm cơ sở cho việc hoạch định các chiến lược phát triển lâu dài, bền vững về các mặt kinh tế, văn hóa, xã hội của nước ta
2.2 Hệ thống đền
2.2.1 Đền La
Đền La được xây dựng trên đất làng La Đây là tên gọi lưu truyền từ trước đến nay Di tích đền La là niềm tự hào của nhân dân địa phương Các cấp chính quyền đã công nhận đền La là di tích lịch sử cấp quốc gia Di tích đền La mang đậm yếu tố lịch sử, đặc biệt với ý nghĩa là nơi lưu niệm những sự kiện lịch sử của một thời kỳ chống ngoại xâm của dân tộc, với nhiều nhân vật lịch
sử của đất nước như hai vị vua Trần Ngỗi và Trần Quý Khoáng
Nước ta bị nhà Minh chiếm và biến thành quận huyện của Trung Quốc Ngay từ thời gian đầu, giặc Minh xâm lược nước ta, cùng với nhân dân cả nước, nhân dân Ninh Bình cũng nhất tề đứng lên đánh giặc Tiêu biểu nhất là cuộc khởi nghĩa của Trần Ngỗi và Trần Quý Khoáng
Trần Ngỗi là con thứ của vua Trần Nghệ Tông (1370-1372) được nhà Trần phong tước vương là Giản Định vương Sang xâm lược nước ta, Trương Phụ yết bảng tìm bắt con cháu và quan lại nhà Trần nên Trần Ngỗi phải vào xứ
Mô Độ (huyện Yên Mô) để lánh nạn Một người yêu nước, ở Thiên Trường là Trần Triệu Cơ lúc bấy giờ đang chuẩn bị nổi dậy, đem quân đến đón Giản Định về tôn làm minh chủ của cuộc khởi nghĩa Sỡ dĩ nghĩa quân lấy địa bàn này vì đây là vùng bán sơn địa, phía tây là dãy núi đá vôi Tam Điệp trùng trùng, phía đông nam là biển cả, rất thuận lợi cho cuộc khởi nghĩa
Ngày 1/11/1407 Trần Ngỗi lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Hưng Khánh lập hành cung ở Yên Mô, dựng cờ khởi nghĩa với tôn chỉ: Đánh đuổi giặc Minh và khôi phục lại cơ nghiệp nhà Trần Nghĩa quân lấy Gầm Sú, cạnh bến Mô Độ, Yên Mạc, huyện Yên Mô làm nơi tế cờ xuất quân đánh giặc Các
sử gia phong kiến coi sự kiện này là mốc mở đầu thời kỳ hậu Trần trong lịch
sử Sau một thời gian hoạt động, nghĩa quân đã làm chủ một vùng rộng lớn Cuộc khởi nghĩa đã tập hợp được một số quan lại quý tộc yêu nước của nhà
Trang 38Trần như Đặng Tất, Nguyễn Cảnh Chân… Đến cuối năm 1408, phong trào kháng chiến phát triển rầm rộ ở khắp nơi Nhân cơ hội ấy Trần Ngỗi mở cuộc tấn công ra vùng Ninh Bình, Nam Hà, lực lượng nghĩa quân ngày càng lớn mạnh Trước thanh thế của nghĩa quân, Minh Thành Tổ phải cử Kiều Quốc Công Mộc Thanh làm “chinh di” điều động khoảng 4 vạn rưỡi quân ở Trung Quốc tiến sang nước ta, Trần Ngỗi quyết định chọn bến Bô Cô làm trận địa chiến để tiêu diệt một bộ phận quan trọng quân địch Ngày 30/12/1408 (14/12 Mậu Tý) cuộc chiến đấu diễn ra suốt 7 giờ dưới sự chỉ huy trực tiếp của Trần Ngỗi, Đặng Tất Cuộc chiến đấu đã giết chết các tướng giặc, đô đốc Lữ Nghị tham chính ti bố Giao Chỉ Lưu Đức, Đô chỉ huy sứ Liễu Tống cùng 10 vạn quân lính Chiến thắng Bô Cô là chiến thắng lớn nhất của nghĩa quân quí tộc Trần mà xứ Mô Độ nói riêng và Tam Điệp nói chung là căn cứ, là điểm xuất phát của cuộc tiến công này Có thể nói Mô Độ và cả lộ Trường Yên là lưỡi kiếm sắc của nghĩa quân nhà Hậu Trần đánh mạnh vào kẻ thù Cuộc khởi nghĩa của Trần Ngỗi kéo dài gần 3 năm (1407-1409) đã thu được những thắng lợi lớn Năm 1409 nghĩa quân của Trần Ngỗi bị quân Minh đánh bại vì uy tín
và năng lực hạn chế của bộ phận lãnh đạo nên cuộc khởi nghĩa không phát triển thành trung tâm đoàn kết phong trào cả nước và cuối cùng bị thất bại Trần Ngỗi được đưa vào Nghệ An làm thái thượng hoàng Trong một trận đánh
ở Hạ Bồng (Hải Hưng) Trần Ngỗi bị giặc bắt và giải sang Trung Quốc [6] Sau cuộc khởi nghĩa của Trần Ngỗi là cuộc khởi nghĩa của Trần Quí Khoáng (1409 - 1413) cũng phát triển mạnh mẽ
Trần Quí Khoáng còn gọi là Trần Quí Khoách, ông thân vương nhà Trần, cháu vua Trần Nghệ Tông (1370 - 1372), cháu thúc bá với Trần Giản Định Khi nội bộ cuộc khởi nghĩa Trần Ngỗi có mâu thuẫn các tướng Đặng Dung, Nguyễn Cảnh Dị tôn Trần Quí Khoáng làm thủ lĩnh một cuộc khởi nghĩa khác Quí Khoáng lên ngôi vua và lấy tên hiệu là Trùng Quang Trần Quí Khoáng vẫn duy trì một lực lượng ở Mô Độ Một bộ phận lớn nghĩa quân do các tướng Nguyễn Cảnh Dị, Đặng Dung chỉ huy kéo ra bắc đóng tại Mô Độ, củng cố căn
cứ đánh địch Lực lượng nghĩa quân lớn mạnh, cả vùng núi Tam Điệp là khu vực hoạt động của các ông Tháng 12 năm 1413 cuộc khởi nghĩa tổ chức đánh
Trang 39quân Minh ở Ái Tử (Bình Trị Thiên), cuộc khởi nghĩa bị thất bại vua và các tướng lĩnh đều bị bắt Cuộc khởi nghĩa của Trần Ngỗi và Trần Quí Khoáng đã giáng cho kẻ thù những đòn liên tiếp và tạo tiền đồ cho những cuộc khởi nghĩa sau này giành thắng lợi hoàn toàn Các cuộc khởi nghĩa đó thất bại chủ yếu là
do uy tín và năng lực của bộ phận lãnh đạo không cao Họ không có đủ khả năng để lãnh đạo nhân dân ta làm nhiệm vụ giải phóng dân tộc Điều đó đã chứng tỏ quí tộc Trần đã lỗi thời với tiến trình lịch sử của dân tộc Vì vậy nhiều cuộc khởi nghĩa do quí tộc Trần lãnh đạo đã bị dìm trong biển máu Bên cạnh hai vua, di tích còn thờ Thái tử và Phán Thú Thái tử kiêm Thái bảo là con của Trần Giản Định, người có công cùng vua cha là Trần Giản Định chiêu binh chống lại quân Minh Sau này mất mộ để ở xứ Mả Lặn (thuộc địa phương) Trần Phán Thú tức là Trần Ngô Lĩnh là con thứ của vua Trần Giản Định, thời Trần Giản Định ông giữ chức Thượng tướng đóng quân ở xứ Bồ Câu, thuộc xứ Nghệ An để chống quân Chiêm Thành Trong một trận giao tranh với quân Chiêm Thành ông đã hi sinh ở đây Để tưởng nhớ đến công lao của ông, nhân dân địa phương đã thờ ông trong đền La
Trong cuộc khởi nghĩa của Trần Ngỗi, tướng có công nhất chúng ta phải kể đến Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân Đặng Tất là tướng quan trọng của cuộc khởi nghĩa Trần Ngỗi Đầu năm 1409, do mâu thuẫn trong nội bộ, Trần Ngỗi nghi ngờ đã giết hai ông Sau này con cháu Hậu Trần sinh sống ở đây đã lập đền thờ tưởng nhớ các vị vua, tướng đã chiến đấu trên mảnh đất Mô Độ Đền được đặt trên đất làng La Phù, phủ Trường Yên (sau mở thành xã Bồ Bồ)
Trải qua gần 600 năm, đất nước ta đã trải qua nhiều chặng đường lịch sử, khu di tích cùng với con cháu Hậu Trần đi vào các cuộc kháng chiến chống xâm lược Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1946-1954), khu vực di tích luôn là căn cứ đóng quân của các đơn vị bộ đội chủ lực,
bộ đội địa phương và dân quân du kích Đền La ở phía Tây làng La, có địa thế đẹp Đền quay hướng Đông Nam Cách 800m về phía Đông Bắc là núi Phượng Lĩnh Đây là núi đá vôi hình chim Phượng Phía Bắc cách di tích khoảng 1,5km là núi Cái Sơn hay còn gọi là núi Búi Tóc (vì núi có đỉnh như hoa ngọc bao quanh tựa búi tóc) Phía Tây khoảng 1km là núi Kim Qui Phía Nam là núi
Trang 40Long Mã Trước đền là một ao có diện tích 5 sào (Bắc bộ) Hiện nay ao này đã cạn dùng để cấy lúa Đền La kiến trúc chữ đinh với 3 gian tiền đường và 3 gian chính cung Khu vực nội tự (trừ ao) còn lại với diện tích hơn 5 sào (Bắc Bộ), xung quanh đền là ruộng lúa nước Tòa tiền đường, chính cung đã bị hư hỏng
do thiên nhiên tàn phá, thực dân Pháp càn quét Do vậy đền được trùng tu nhiều lần Phần lớn kiến trúc còn lại mang phong cách thời Nguyễn Đề tài trang trí trong đền là đài sen, lá lật, long án, hổ phù…
a Tòa tiền đường:
Lòng nhà dài 7,3m, rộng 3,75m, nền nhà được lát gạch Tòa tiền bái được chia làm 3 gian, 4 vì kèo và gác đốc, gian giữa rộng 2,7m Hai gian cạnh, mỗi gian rộng 2,2m Nhà tiền bái tường xây bằng gạch đá có bề dày 20cm, toàn bộ
hệ thống cột, kèo làm bằng gỗ lim Cột nhà có đường kính 0,25m Hiên nhà được 4 cột bằng gỗ để nâng đỡ mái hiên Cột có 4 mặt, mỗi cạnh cột là 0,18 x 0,18m, cao 1,9m Tất cả hệ thống cột được kê trên đá tảng Các nét chạm khắc
ở nhà tiền bái chủ yếu mang đề tài sen, mây tập trung chủ yếu nhất là những vì kèo Những bức xà nách ngoài hiên được chạm khắc đài sen, lá lật, lá cuộn với, những đường nét khỏe khoắn tinh xảo Theo lời kể của các cụ cao tuổi trong làng, trong cuộc kháng chiến chống thực dân pháp xâm lược Đền là trụ sở của công binh xưởng Ngoài ra năm 1951, địch đã đốt phá, đốt đền này Vì vậy, hai giải vũ hai bên đền cũng bị phá hủy hoàn toàn cùng toàn bộ sắc phong trong đền Nhà tiền bái là nơi để kiệu, gian chính giữa là nơi tế lễ
b Chính cung:
Tiếp với tòa tiền bái là tòa chính cung, chạy dài vào phía trong Lòng chính cung sau 6,9m, rộng 4,4m, được chia làm 3 gian, mỗi gian dài 2,3m Hệ thống tường nhà chính cung cũng được xây bằng đá, trát vôi vữa Các vì kèo, cột được làm bằng lim vững chắc 6 cột của chính cung được đặt lên 6 hòn đá tảng khổ rộng 0,5x0,5m, cột có đường kính 30cm, ở các vì kèo được chạm khắc tinh vi, đề tài chủ yếu là lá lật, đài sen, lá dắt Bên cạnh còn có những đường chỉ viền chạy xung quanh những con ngang, trụ đấu Theo thượng lương thì chính cung được trùng tu năm Quý Dậu, niên hiệu Bảo Đại (1921), vì