Nghiên cứu lịch sử văn hóa vùng đất Quang Thiện góp phần làm phong phú, sâu sắc hơn tri thức về văn hóa làng xã, văn hóa truyền thống của dân tộc.. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Những năm g
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND TỈNH THANH HÓA
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC
TẠ THỊ LOAN
LỊCH SỬ VĂN HÓA VÙNG ĐẤT QUANG THIỆN
(KIM SƠN, NINH BÌNH)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 8229013
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Định
THANH HÓA, NĂM 2022
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này không trùng lặp với các khóa luận, luận văn, luận án và các công trình nghiên cứu đã công bố
Người cam đoan
Tạ Thị Loan
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn Thạc sĩ của tôi được hoàn thành, cùng với sự nỗ lực phấn đấu của bản thân là sự giúp đỡ quý báu của các cá nhân, tập thể và ban, ngành
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Thị Định
- người trực tiếp hướng dẫn khoa học - đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, tận tình chỉ
bảo tôi trong suốt quá trình triển khai đề tài nghiên cứu và hoàn thành Luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Khoa học xã hội, đặc biệt là bộ môn Lịch sử Việt Nam - Trường Đại học Hồng Đức
Xin chân thành cảm ơn cán bộ phòng Văn hoá huyện Kim Sơn, phòng quản lý di sản thuộc sở Văn hoá thể thao và du lịch tỉnh Ninh Bình, Ban quản
lí di tích và danh thắng Ninh Bình, thư viện tỉnh Ninh Bình, thư viện trường Đại học Hồng Đức, và các cụ lão thành trông coi di tích đã cung cấp thông tin,
số liệu và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này
Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người thân trong gia đình và bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ về tinh thần, vật chất để tôi có thể hoàn thành luận văn Thạc sĩ của mình
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong nghiên cứu, song chắc chắn Luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các quý thầy cô, đồng nghiệp và các bạn!
Thanh Hóa, tháng 9 năm 2022
Tác giả
Tạ Thị Loan
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Đóng góp của luận văn 8
7 Bố cục của luận văn 9
Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ VÙNG ĐẤT QUANG THIỆN 10
1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên 10
1.1.1 Vị trí địa lý 10
1.1.2 Điều kiện tự nhiên 10
1.2 Quá trình hình thành vùng đất Quang Thiện 13
1.2.1.Vùng đất Quang Thiện trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 13
1.2.2 Vùng đất Quang Thiện từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay17 1.3 Truyền thống lịch sử - văn hóa tiêu biểu 20
1.3.1.Truyền thống lịch sử 20
1.3.2.Truyền thống văn hóa 22
Tiểu kết chương 1 26
Chương 2 DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ 27
2.1 Đền thờ Nguyễn Công Trứ 27
2.1.1.Vị trí, quá trình hình thành - tôn tạo 27
2.1.2 Cấu trúc đền thờ 28
2.2 Quần thể di tích chùa Lạc Thiện 33
2.2.1.Vị trí, cảnh quan 33
2.2.2.Nghi môn, vườn tháp 34
Trang 52.2.3.Phủ Lạc Thiện 35
2.2.4.Chùa Lạc Thiện 36
2.2.5.Miếu Lạc Thiện 38
2.2.6.Nhà thờ tổ 43
2.3 Nhà thờ Giáo xứ Ứng Luật 44
2.3.1.Vị trí; quá trình hình thành, tôn tạo 44
2.3.2.Cảnh quan, cấu trúc 44
2.4 Thực trạng và giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể 46 2.4.1 Thực trạng 46
2.4.2.Giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể 49
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 50
CHƯƠNG 3 DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ 51
3.1 Phong tục - tập quán, tôn giáo - tín ngưỡng 51
3.1.1 Tục Mừng thọ 51
3.1.2 Tín ngưỡng 52
3.1.3.Tôn giáo 57
3.2 Lễ hội 62
3.2.1.Lễ hội đền Nguyễn Công Trứ 62
3.2.2.Lễ Giáng sinh 71
3.3 Nghề thủ công truyền thống 74
3.3.1 Nghề dệt chiếu cói 74
3.3.2 Nghề đan bèo 77
3.4 Thực trạng và giải pháp bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa phi vật thể 80
3.4.1 Thực trạng 80
3.4.2 Giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể 81
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 83
KẾT LUẬN 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86 PHỤ LỤC P1
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT STT Ký hiệu, chữ viết tắt Đƣợc hiểu là
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1 Văn hóa đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển mỗi quốc gia Nghị quyết Trung ương V khóa VIII (tháng 7 năm 1998) khẳng định: văn hóa “là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội”, là “nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của sự phát triển”… Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 BCH TƯ Đảng khóa
XI (6/2014) chỉ rõ: “văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị,
xã hội”
Nghiên cứu, tìm hiểu về văn hóa nhằm thực hiện đường lối của Đảng, Nhà nước về bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống; xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; đồng thời góp phần phát triển toàn diện đất nước
2 Ninh Bình án ngữ cửa ngõ cực nam miền Bắc Việt Nam.Vùng đất Ninh Bình xưa là nơi định đế đô của các triều đại Đinh, Tiền Lê, đầu triều Lý; đồng thời cũng là địa bàn quân sự quan trọng qua các thời kỳ lịch sử Với vị thế đặc biệt về giao thông, địa hình, lịch sử, văn hóa đồng thời sở hữu hai khu vực là di sản thế giới và khu dự trữ sinh quyển thế giới, Ninh Bình hiện là một trung tâm kinh tế - văn hóa nhiều tiềm năng
Kim Sơn thuộc vùng duyên hải phía nam tỉnh Ninh Bình Sự thành lập huyện Kim Sơn gắn liền tên tuổi Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ và cuộc khai hoang lấn biển kỳ vĩ của cư dân Việt cách đây 2 thế kỷ Nhờ sức lao động sáng tạo không ngừng của bao thế hệ, Kim Sơn ngày nay đã trở thành một trong những trọng điểm kinh tế - chính trị của tỉnh Vùng đất này được biết đến với vai trò trung tâm của Giáo phận Phát Diệm, đồng thời là “địa chỉ vàng” của nhiều di sản văn hóa vật thể, phi vật thể có giá trị
3 Quang Thiện là một trong 25 xã, thị trấn của huyện Kim Sơn, truyền thống lịch sử - văn hóa lâu đời Vùng đất này lưu giữ quần thể di tích lịch sử - văn hóa đặc sắc, gồm nhiều đền, chùa, miếu, phủ… như: đền thờ Nguyễn
Trang 8Công Trứ, miếu Lạc Thiện, miếu Ứng Luật, chùa phủ Lạc Thiện Nhiều nghề thủ công truyền thống tiếp tục được trao truyền như đan - đóng thuyền, dệt lụa, hoa nan, sơn son thếp vàng, dệt chiếu cói… Nơi đây còn bảo lưu di sản văn học - nghệ thuật dân gian vô cùng phong phú và đậm bản sắc gồm ca dao, tục ngữ, ca trù
Nghiên cứu lịch sử văn hóa vùng đất Quang Thiện góp phần làm phong phú, sâu sắc hơn tri thức về văn hóa làng xã, văn hóa truyền thống của dân tộc Kết quả nghiên cứu góp thêm luận cứ khoa học cho việc đề xuất giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, định hướng xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay Bên cạnh đó, đề tài còn thiết thực quảng bá hình ảnh và truyền thống văn hóa tốt đẹp của địa phương; khơi dậy niềm tự hào và ý thức gìn giữ, phát huy giá trị di sản
Xuất phát từ những lý do trên tôi mạnh dạn chọn vấn đề nghiên cứu
“Lịch sử văn hóa vùng đất Quang Thiện (Kim Sơn, Ninh Bình)” làm đề tài
luận văn Thạc sĩ chuyên ngành lịch sử Việt Nam
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Những năm gần đây đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về văn hóa làng xã nói chung, văn hóa vùng đất Quang Thiện - Kim Sơn - Ninh Bình nói riêng được công bố dưới dạng sách, bài báo, tạp chí Liên quan đến đề tài
có một số công trình tiêu biểu sau đây:
+ Công cuộc khẩn hoang thành lập huyện Kim Sơn (1829) (Đào Tố
Uyên, LATS Lịch sử, 1991) [43]
Trong công trình này, tác giả đã trình bày một cách có hệ thống toàn bộ công cuộc khẩn hoang thành lập huyện Kim Sơn từ thành phần tham gia, cách thức tổ chức khai hoang, hệ thống kênh mương đến cách thức lập làng, ấp, cũng như đời sống của nhân dân trong những ngày đầu khai phá
+ Sự biến đổi của làng - xã Việt Nam ngày nay ở đồng bằng sông Hồng
(Tô Duy Hợp, 2000)
Công trình với 250 trang gồm 5 chương, tập trung trình bày những vấn
đề cụ thể như: Làng - xã đồng bằng sông Hồng trong quá trình chuyển đổi
Trang 9sang nền kinh tế thị trường; quá trình nâng cao chất lượng và hiệu quả các dịch vụ xã hội theo cơ chế thị trường; sự biến đổi trong văn hóa; sự biến đổi trong hệ thống quản; quá trình chuyển đổi các quan hệ xã hội cơ bản trong
làng - xã Tác giả khẳng định: “Cho đến nay, cúng đình và lễ hội đình vẫn là
sinh hoạt tôn giáo - tín ngưỡng quan trọng nhất ở các cộng đồng nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng Có điều khác so với truyền thống là thiết chế đình không còn là nơi sinh hoạt gắn liền với giáp, một tổ chức được lập nên theo cơ chế giới tính, người phụ nữ đã có quyền cúng tế tại đình, mặc dù chưa được tham gia vào ban tế tự, vào việc tổ chức hội” [25; tr.119]
+ Mấy vấn đề văn hóa làng xã Việt Nam trong lịch sử (Phan Đại
Doãn, 2004)
Cuốn sách gồm ba phần Phần thứ nhất khái quát về văn hóa làng Việt Nam, phần thứ hai bàn về gia đình dòng họ, phần thứ ba về con người và thiên nhiên trong vũ trụ quan truyền thống của người Việt Tác giả khẳng định
“Đặc điểm tư tưởng và tôn giáo người Việt là đa nguyên và dung hợp Người
Việt không theo một tôn giáo duy nhất (thuần Phật giáo như một số nước Đông Nam Á hay Cơ đốc ở Châu Âu) Cho đến thế kỉ XX trên đất nước ta các loại thần (tổ tiên, thành hoàng, Nho, Phật, Đạo) đều tồn tại đồng thời trong từng khu vực, trong từng làng xã, thậm chí trong từng gia đình và con người…” [17; tr.260]
+ Địa chí văn hóa dân gian Ninh Bình (Trương Đình Tưởng, 2004) [42]
Cuốn sách giới thiệu lịch sử văn hóa dân gian (bao gồm phong tục, tập quán, lễ hội, ca dao, tục ngữ, địa danh, ) của Ninh Bình nói chung nhưng trong đó cũng có đề cập đôi nét về văn hóa dân gian vùng đất Quang Thiện; qua đó, góp phần quảng bá các giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể và những truyền thống văn hóa tốt đẹp của địa phương
+ Phong tục làng xóm Việt Nam đất lề quê thói (Nhất Thanh - Vũ Văn
Khiếu, 2005) [35]
Trang 10Công trình với 491 trang gồm 13 chương, trình bày những nét đặc trưng riêng biệt về truyền thống của con người Việt Nam từ hình dáng, tính tình, đến đời sống vật chất tinh thần, phong tục tập quán, Đó là những thông tin tham khảo hữu ích đối với việc thực hiện luận văn
+ Làng xã Việt Nam một số vấn đề kinh tế văn hóa xã hội (Phan Đại
Doãn, 2008)
Cuốn sách với 247 trang gồm 3 chương, tập trung nghiên cứu kết cấu kinh tế, văn hóa, xã hội của làng xã Việt Nam Đánh giá về thủ công nghiệp Việt
Nam Tác giả cho rằng: “Đặc điểm nổi bật của thủ công nghiệp truyền thống là
sự kết hợp nông nghiệp với thủ công nghiệp ở nhiều cấp độ và sắc thái khác nhau tạo ra kiểu làng nghề” “Tuy nhiên sự phân công này rất hạn chế, chậm chạp, kéo dài và không triệt để Xét về mặt hình thái kinh tế, các làng nghề thủ công vẫn là loại làng công - nông - thương nghiệp” [16; tr.64, 65]
+ Một số vấn đề làng xã Việt Nam (Nguyễn Quang Ngọc, 2009)
Công trình gồm hai phần Phần một làm rõ sự ra đời và những biến đổi của làng xã trong tiến trình lịch sử và sự trở lại vị trí của thôn làng truyền thống trong nông thôn Việt Nam, kết cấu kinh tế - xã hội làng Việt cổ truyền
và văn hóa xóm làng Phần hai nghiên cứu trường hợp làng buôn Đan Loan, quá trình thành lập, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa Tác giả
nhận định “Làng Việt Nam có lịch sử lâu dài và kể từ khi vua Hùng dựng
nước Văn Lang cho đến nay, lúc nào nó cũng giữ vị trí hết sức trọng yếu trên tất cả các mặt của đời sống đất nước Làng Việt Nam tuy đã trải qua nhiều biến đổi lớn lao và sâu sắc, nhưng nó vẫn còn dồi dào sức sống và vẫn là hiện hữu trong đời sống nông thôn nước ta” [29;tr.150]
+ Địa chí Ninh Bình (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2010) [8]
Công trình khắc họa diện mạo vùng đất và con người Ninh Bình trên nhiều khía cạnh, từ khu vực địa lý, môi trường tự nhiên, hành chính dân cư; từ lịch sử hình thành, hệ thống kinh tế, chính trị đến tình hình, văn hóa, xã hội Tác giả có đề cập đến một số di tích lịch sử - văn hóa, lễ hội và nhân vật tiêu
biểu của vùng đất Quang Thiện
Trang 11+ Kim Sơn vùng đất mở (Lã Đăng Bật, 2010) [10]
Cuốn sách khái quát đặc điểm về điều kiện tự nhiên, khí hậu, dân cư và quá trình khai phá vùng đất, hình thành huyện Kim Sơn; tình hình ruộng đất,
đê điều, các chợ, nghề và làng nghề tiêu biểu của địa phương dưới thời Nguyễn Công trình giới thiệu các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể tiêu biểu của vùng đất Kim Sơn, trong đó có đền thờ Nguyễn Công Trứ
+Văn hóa dân gian huyện Kim Sơn (Đỗ Danh Gia, 2016) [20]
Công trình nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển văn hóa vùng đất Kim Sơn Trên cơ sở đó dựng lại diện mạo lịch sử văn hóa, đồng thời đánh giá thực trạng di sản văn hóa vùng đất và đề xuất các giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị của các di sản đó
+ Lịch sử phật giáo Ninh Bình (Nguyễn Đại Đồng, 2017) [19]
Công trình nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của phật giáo Ninh Bình Nội dung chính gồm Ninh Bình vùng đất, con người và truyền thống; Phật giáo Ninh Bình qua các thời Đinh, Lê, Lý, Trần, Nguyễn; Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Ninh Bình 35 năm xây dựng và pháp triển
+Văn hóa sông nước Ninh Bình (Mai Đức Hạnh, 2018)
Cuốn sách gồm 435 trang với 4 chương trình bày về điều kiện tự nhiên, văn hóa sông nước, văn hóa vùng miền và văn hóa làng - xã của Ninh Bình
Đối với sông Ân, tác giả khẳng định,“Người Kim Sơn coi sông Ân là nguồn
gốc sinh và dưỡng Con sông giữ trong lòng nó trang sử, bản anh hùng ca về con người, ở đất Bởi vậy mà người Kim Sơn gọi sông Ngang thành sông Ân,
Ân Giang, Lí Ân, hay Ân Huệ” [22; tr.284]
+ Cơ cấu tổ chức của làng việt cổ truyền ở Bắc Bộ: nghiên cứu
(Nguyễn Tử Chi, 2019)
Đây là công trình nghiên cứu về cơ cấu tổ chức trong một bức tranh toàn cảnh về làng Việt cổ truyền, những chiều tổ chức của làng Việt cổ truyền, vận hành cơ cấu xem như một tổng thể Đánh giá về cơ cấu làng Việt
xưa, tác giả cho rằng: “Ta thấy một tiểu xã hội trồng lúa nước, chen chúc
Trang 12giữa vô vàn tiểu xã hội đồng dạng, nhưng vẫn độc lập lẫn nhau, đã phân hóa giai cấp, nhưng cơ bản là xã hội tiểu nông, trong đó mọi người dân nam giới
đã đến tuổi trưởng thành được tập hợp lại thành nhiều hình thức tổ chức khác nhau: ngõ, xóm, họ, giáp, phe, phường, hội… Từng người tiểu nông một có mặt trong hầu hết các hình thức tổ chức, do đó có khả năng tự thực hiện trên nhiều chiều của cuộc sống xã hội và tinh thần” [11; tr.194]
Nhìn chung cho đến nay, trong nước đã có khá nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vùng đất Quang Thiện (Kim Sơn - Ninh Bình) Một số vấn
đề đã được đề cập ở những mức độ khác nhau như điều kiện tự nhiên, quá trình hình thành làng xã, cấu trúc đền thờ Nguyễn Công Trứ Đó là những tư liệu quý để chúng tôi tham khảo, kế thừa trong quá trình triển khai đề tài Tuy nhiên, tính đến thời điểm hiện tại, chưa công trình nào nghiên cứu một cách chuyên sâu, có hệ thống về lịch sử văn hóa vùng đất này Đặc biệt, việc làm
rõ cơ sở hình thành, xác định giá trị lịch sử - văn hóa, đánh giá thực trạng và
đề xuất giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy giá trị di sản vẫn đang tiếp tục được được đặt ra; đề tài cần tập trung giải quyết
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu cơ sở hình thành, quá trình phát triển và giá trị các loại hình di sản văn hóa của vùng đất Quang Thiện Từ đó, đề tài đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị di sản
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên; quá trình hình thành làng xã và cộng đồng dân cư; truyền thống lịch sử - văn hóa tiêu biểu của vùng đất Quang Thiện
- Khảo tả hệ thống di sản văn hóa vật thể, phi vật thể
- Đánh giá giá trị lịch sử - văn hóa, khảo sát thực trạng, tìm giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị di sản vùng đất
Trang 134 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là lịch sử hình thành vùng đất gắn liền với quá trình dân cư và truyền thống lịch sử - văn hóa; các loại hình di sản văn hóa tiêu biểu của vùng đất Quang Thiện
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tài liệu
Trong quá trình thực hiện đề tài luận văn, chúng tôi dựa vào các nguồn tài liệu sau:
- Nguồn tài liệu thành văn
Đây là nguồn tài liệu tham khảo chính của đề tài Ngoại trừ một số văn bia, sắc phong, câu đối bằng chữ Hán, hầu hết tài liệu thành văn đều bằng
tiếng Việt Trong đó, thể loại chủ yếu là các bộ sử gốc (Đại Việt sử kí toàn thư,
Lịch triều hiến chương loại chí,….), sách địa chí (Đại Nam nhất thống chí, Đồng Khánh địa dư chí, , Địa chí Ninh Bình…), lịch sử đảng bộ, lịch sử địa phương;
các công trình chuyên khảo về làng xã, văn hóa làng xã Việt Nam hoặc công trình nghiên cứu về di sản văn hóa vùng đất Quang Thiện – Kim Sơn – Ninh Bình; hồ sơ di tích lịch sử - văn hóa …
- Nguồn tài liệu vật chất
Bao gồm bia kí, hiện vật trong các di tích kiến trúc cổ hiện tồn tại trên vùng đất Quang Thiện như đền, chùa, miếu, phủ
- Nguồn tài liệu văn hóa dân gian
Trang 14Bao gồm truyền thuyết, truyện kể dân gian, ca dao, tục ngữ, dân ca về vùng đất, con người Quang Thiện
- Nguồn tài liệu điền dã
Nguồn tài liệu điền dã là kết quả trực tiếp từ quá trình thực tế, thực địa của tác giả tại địa bàn nghiên cứu Cụ thể là việc tìm hiểu cảnh quan môi trường tự nhiên, các di tích lịch sử văn hóa, lễ hội hoặc gặp gỡ trao đổi với người địa phương…Nhìn chung, đây là nguồn tài liệu thực chứng rất quan trọng của đề tài
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Đề tài sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, trong đó chủ yếu là phương pháp lịch sử và phương pháp logic Phương pháp lịch sử trình bày quá trình hình thành và phát triển của vùng đất Quang Thiện theo tiến trình thời gian Phương pháp logic lý giải cơ sở hình thành và xác định rõ giá trị lịch sử - văn hóa vùng đất Quang Thiện, đánh giá thực trạng, đồng thời
đề xuất giải pháp phù hợp để bảo tồn và phát huy giá trị di sản
- Phương pháp phân tích và tổng hợp nhằm sưu tầm, chọn lọc tư liệu, tiến hành phân tích từng mặt sau đó tổng hợp thông tin để tạo ra hệ thống tư liệu đầy đủ, sâu sắc theo từng vấn đề liên quan
- Phương pháp nghiên cứu khu vực học xem xét các giá trị văn hóa của Quang Thiện trong mối quan hệ hữu cơ với điều kiện tự nhiên, môi trường xã hội và hoàn cảnh lịch sử, để từ đó có thể rút ra đặc trưng văn hóa vùng đất
- Phương pháp điền dã được vận dụng vào việc khảo sát thực tế, đo đạc, chụp ảnh, thu thập thông tin về hệ thống di sản văn hóa vật thể và phi vật thể trên địa bàn Quang Thiện
6 Đóng góp của luận văn
Lần đầu tiên qua luận văn, bức tranh sống động và toàn diện về lịch sử văn hóa vật chất cũng như văn hóa tinh thần của vùng đất Quang Thiện (Kim Sơn, Ninh Bình) được khắc họa rõ nét trên cơ sở hệ thống tài liệu phong phú,
là kết quả sưu tầm, khảo sát trong và ngoài địa bàn Quang Thiện
Trang 15Trên cơ sở nghiên cứu nguồn gốc hình thành, giá trị lịch sử văn hóa, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phù hợp, đề tài góp thêm luận cứ khoa học cho việc hoạch định chính sách văn hóa của địa phương; đồng thời góp phần giáo dục ý thức bảo tồn, phát huy giá trị di sản
Kết quả nghiên cứu đề tài góp phần làm phong phú nguồn tư liệu lịch
sử địa phương; bổ trợ các hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, học tập một số chuyên ngành liên quan như Lịch sử, Quản lý văn hóa, Việt Nam học
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung luận văn được cấu trúc làm 3 chương
Chương 1: Khái quát về vùng đất Quang Thiện
Chương 2: Di sản văn hóa vật thể
Chương 3: Di sản văn hóa phi vật thể
Trang 16Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ VÙNG ĐẤT QUANG THIỆN 1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
1.1.1 Vị trí địa lý
Quang Thiện là một trong 25 xã của huyện Kim Sơn Huyện được
thành lập bởi Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ trong công cuộc khai hoang lấn biển cách đây 2 thế kỷ Huyện Kim Sơn nằm ở phía Đông Nam tỉnh Ninh
Bắc giáp huyện Yên Khánh, huyện Yên Mô; phía Đông giáp huyện Nghĩa Hưng (Nam Định); phía Tây giáp huyện Nga Sơn (Thanh Hóa); phía Nam giáp biển Đông [57]
Quang Thiện nằm cách thành phố Ninh Bình 24 km, cách thị trấn Phát
Diệm 3 km về phía Đông Về địa giới, xã Quang Thiện giáp xã Như Hòa ở
phía Đông, xã Đồng Hướng phía Tây, huyện Nghĩa Hưng (tỉnh Nam Định) về phía Nam (qua sông Đáy) và huyện Yên Khánh phía Bắc
Đường quốc lộ 10 nối thị trấn Phát Diệm với thành phố Ninh Bình - trung tâm văn hóa, kinh tế và chính trị của cả tỉnh Tuyến đường Lạc Thiện chạy dọc xã sang tỉnh Nam Định được nâng cấp thành quốc lộ 21B Ngoài ra,
hệ thống các tuyến liên thôn, liên xã, liên huyện, liên tỉnh đang được mở rộng
để phục vụ thiết thực cho sự phát triển kinh tế xã hội và sinh hoạt của người dân Quang Thiện Sông Vực chảy dọc xã, sông Ân ngang qua rất thuận tiện giao thông đường thủy
Có thể nói, Quang Thiện là trung tâm địa lí của huyện Kim Sơn Với vị trí địa lí, giao thông tương đối thuận lợi, xã Quang Thiện có điều kiện để phát triển và mở rộng giao lưu kinh tế, văn hóa - xã hội
1.1.2 Điều kiện tự nhiên
Địa hình
Quang Thiện - Kim Sơn là vùng thuần khiết đồng bằng, địa hình tương đối bằng phẳng, không có dốc núi xen kẽ Độ cao thấp dần ra phía biển, nghiêng theo hướng Bắc - Nam và Đông -Tây, độ cao trung bình so với mực nước biển khoảng 0,9 - 1,2m
Trang 17Đất đai
Quang Thiện nói riêng và Kim Sơn nói chung xưa kia là bãi sa bồi Trải qua biến thiên của lịch sử cùng với bàn tay lao động cần cù sáng tạo của con người, nơi đây đã trở thành làng mạc trù phú
Quang Thiện có tổng diện tích tự nhiên 792,21 ha; trong đó, diện tích đất nông nghiệp 563,49 ha, đất phi nông nghiệp 213,60 ha Đất trồng lúa 473,13 ha, đất màu 1,32 ha, đất vườn trong khu dân cư 34,94 ha, đất mặt nước 10,71 ha.Thành phần lớp đất mặt từ cát pha đến đất thịt trung bình, độ mùn khá cao, các chất dinh dưỡng trong đất phong phú, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, có thể trồng hai vụ lúa, một vụ màu trong năm
Khí hậu
Cũng như các địa phương khác của Kim Sơn, Quang Thiện nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm và thường xuyên chịu ảnh hưởng của mưa bão Mùa hè nóng, mưa nhiều, có gió Tây khô nóng Mùa đông lạnh,
ít mưa, có sương giá, sương muối và gió mùa Đông Bắc Mùa mưa bắt đầu từ tháng 6, kết thúc muộn nhất Bắc Bộ (tháng 10 hàng năm); mưa nhiều vào tháng 7, tháng 8 Tổng lượng mưa trung bình hàng năm 1.900mm, lượng bốc hơi trung bình/năm 22mm, lượng mưa lớn nhất 457,5mm, lượng mưa trung bình 270mm Nhiệt độ trung bình/năm 23,40C (nhiệt độ cao nhất là 41,10C, thấp nhất 2.40C) Độ ẩm không khí trung bình 86% (độ ẩm cao nhất 91%, thấp nhất 61%) Tốc độ gió lớn nhất 4m/s, trung bình 3,5m/s Bão thường đổ
bộ vào Quang Thiện từ tháng 6 đến tháng 9 hàng năm, bão mạnh có khi trên cấp 11 – 12 [57]
Sông ngòi
Hệ thống sông ngòi huyện Kim Sơn khá dày đặc; các sông lớn gồm có: Sông Đáy, sông Càn, sông Yêm, sông Vạc, sông Ân… Liên quan trực tiếp đến đời sống kinh tế - xã hội ở Quang Thiện có sông Vạc, sông Ân
Sông Vạc bắt đầu từ huyện Hoa Lư chảy qua các huyện Yên Mô, Yên Khánh chảy vào huyện Kim Sơn, bắt đầu từ xã Yên Mật (thường gọi là sông
Trang 18Trì Chính) chảy dọc xã Quang Thiện vào sông Đáy, qua cửa Đài Giang hay còn gọi là Kim Đài đổ ra biển Đông [57]
Sông Ân (hay sông Ngang) là sông đào (năm 1829), nối sông Đáy ở phía đông với sông Càn ở phía tây Sông có chiều dài 13,5km, chiều rộng 15m, sâu từ 2,5 đến 3m Đây là con sông duy nhất, chảy vắt qua bãi bồi, ngang qua giữa tất cả các ấp, trại, lý giáp theo hướng đông tây Bởi thế, người dân gọi là sông Ngang Sông Ân là con sông chính để từ đây các con sông nhỏ chảy qua từ tây bắc đổ vào sông Đáy, ra biển ở Đông Nam Nước đồng lớn, sông “nghiêng đồng” đổ nước ra bể để tiêu úng Nước triều cường, nước sông Đáy mang phù sa, mang dinh dưỡng vào sông Ân, ra sông Đáy mà thoát
ra biển Như một cơ thể sống, đường bộ, là bộ xương, sông Ân là dộng mạch chủ, nước như dòng máu cần mẫn chở phù sa theo các con sông nhỏ, kênh rạch, mương máng mà nuôi dưỡng các cánh đồng trở nên màu mỡ, tốt tươi, thơm hương cói, óng lúa vàng, mùa màng bội thu
Những năm tháng chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, con sông Ân chứng kiến bao cuộc tiễn đưa người ra trận, bao lời ước hẹn ngày trở về nên đôi lứa, bao nỗi đau thầm lặng sục sôi, quyết liệt, người hậu phương, người tiền tuyến; bao chiến tích đánh Pháp diệt tề, bắn rơi phản lực Mỹ ngay tại quê hương
Những ngày gian khổ lùi xa, người đi bình an trở về, nước sông đỏ lựng phù sa, người trí dũng trở về lại ra khơi đánh bắt cá, lại quai đê lấn biển, lại khai hoang thuần đất, nối chí cha anh xây dựng vùng kinh tế mới, quy tụ nên thị tứ, thị trấn Người Kim Sơn sống bám theo con sông Ân đã trở thành
“thị dân” với những đình đền thờ thần, chùa thờ Phật, miếu phủ Mẫu, nhà thờ
họ, nhà thờ xứ thánh đường của Đức Chúa Trời, để giáo dân “ kính chúa yêu nước” nhưng vẫn đậm đà thuần phác người quê Sông Ân vẫn thuyền bè xuôi ngược, lúa cói nhiều, ngon và bền đẹp, con người tự vươn mình đủ tầm thao lược, sự uyên bác để phát triển kinh tế trong sách lược an dân, làng nghề vươn đến trời Tây, để Uy Viễn tướng công vui lòng và tự hào bởi có người kế nghiệp [22; tr.283 - 284]
Trang 191.2 Quá trình hình thành vùng đất Quang Thiện
1.2.1.Vùng đất Quang Thiện trước Cách mạng tháng Tám năm 1945
Công cuộc khai phá, hình thành vùng đất Quang Thiện – Kim Sơn gắn liền vai trò của Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ
Nguyễn Công Trứ (1778 - 1858) người làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, là người văn võ song toàn, làm quan trải ba đời vua triều Nguyễn (Minh Mệnh, Thiệu Trị Tự Đức) Ông có đóng góp lớn trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là công cuộc khẩn hoang mở mang ruộng đất, làng xã
Trong những năm tháng làm quan nhiều nơi ở Bắc thành, Nguyễn Công Trứ đã hiểu được nguyên nhân sâu xa của các cuộc khởi nghĩa nông dân là nạn tham quan ô lại và nông dân không có ruộng đất Ông dâng sớ xin được
“khẩn ruộng hoang” vùng ven biển Tiền Châu (Chân Đinh) và Yên Khánh, Yên Mô (Ninh Bình) để “yên nghiệp dân nghèo”, vua Minh Mệnh chuẩn y, cử ông làm Doanh điền sứ, trực tiếp đứng ra tổ chức, chỉ huy
Khi đang quai đê Tiền Hải, (vào khảng năm 1827), ông đã cho người đến miền đất sa bồi ven biển Ninh Bình khảo sát thực tế Sau khi tổ chức khai khẩn vùng đất Tiền Châu (Chân Đinh) thành công, nhận thấy vùng đất bồi ven biển Ninh Bình đã thành thổ màu mỡ phì nhiêu có thể cấy lúa, Nguyễn Công Trứ lại tâu lên vua Minh Mạng xin khai khẩn: “Thần trộm thấy ở các huyện Yên Khánh, Yên Mô thuộc Ninh Bình, cùng chỗ đối ngạn với huyện Nam Chân thuộc Nam Định, một dải bãi biển còn nhiều đất hoang rậm, đất cấy lúa được chẳng kém gì Tiền Hải Xin cho đến đo đạc để lập thành ấp lý” [59]
Trước khi Nguyễn Công Trứ về đây, Kim Sơn còn là vùng đất ven biển thuộc phủ Trường Yên với hơn 3.000 mẫu, cây cỏ mọc um tùm Gia phả họ Phạm (Phạm Nhương) có ghi vùng đất này hồi đó: “Phương kỳ sơ lai thủy, diễm mần như lôi, lô cao mạn địa, xa lãng liên thiên” Nghĩa là: Lúc đầu mới đến muỗi như sấm, cỏ lau, cỏ lác mọc đầy, đất sóng cát liền trời [66]
Bởi vậy, mặc dù đã có kinh nghiệm từ việc khẩn hoang ở Tiền Hải, việc khai khẩn ở Kim Sơn cũng không dễ dàng bởi vùng cửa biển này vốn có tiếng
Trang 20là dữ dằn, gió to, sóng lớn Cả một vùng bãi bồi sình lầy ngập nửa người, lau lách mênh mông, việc đi lại để quai đê đắp đường, đào sông hết sức khó khăn Làm việc xong, người dân phải để công cụ ngoài đồng, không thể mang về nhà Nơi tập trung công cụ sau này gọi là làng Cáo Bên cạnh những trở ngại của thiên nhiên, lúc mới đến đây, dân Kim Sơn còn bị giặc biển, trộm cướp vào quấy rối Nguyễn Công Trứ đã cho dựng đồn, ngày đêm có người canh gác để kịp báo cho dân làng khi có dấu hiệu cướp phá Vì thế, đến nay, dân ở đây còn truyền lại câu ca “Lạc Thiện có chợ có đồn cầm canh” [66]
Nguyễn Công Trứ thể hiện một khả năng đặc biệt trong quy hoạch, xây dựng các công trình thủy lợi Ông vận dụng phương pháp quy hoạch theo lối tỉnh điền Trước hết, ông đã cho đào sông Ân nối sông Vạc với sông Cản để lấy nước ngọt [67] Từ sông Ân, Nguyễn Công Trứ cho đào kênh tưới nước cho tất cả các lý, ấp, trại; cứ mỗi làng lớn hoặc hai làng nhỏ lại có một con sông chạy dọc theo chiều dài của làng để thau chua rửa mặn và tiêu úng Nhờ
đó, diện tích đất được khai thác tối đa, đưa vào sử dụng
Các sông, mương chạy dọc theo làng, ấp cùng các mương nhỏ dẫn nước vào đồng ruộng tạo thành hệ thống tưới tiêu tự chảy hết sức hiệu quả Hệ thống sông ngòi bao quanh cũng là ranh giới giữa các làng, là đường giao thông quan trọng, giúp cho việc đi lại, chuyên chở thóc gạo, hoa màu trở nên thuận tiện Đất của các sông, kênh mương đắp về một phía, tạo thành đường
bộ của làng [33; tr.337]
Cần lưu ý rằng, đất ở vùng này thường xuyên ngập mặn, muốn có đất trồng trọt thì phải chống mặn cho đất Thông thường, người xưa ngăn cách khu vực khai hoang với biển bằng cách đắp đê biển Cách làm này có hạn chế là khi
đê vỡ, nước biển sẽ tràn vào, ngấm sâu vào đất nên không thể tiếp tục canh tác Tuy nhiên, Nguyễn Công Trứ lại không làm theo cách của người xưa mà ông cho đào sông, mương để rút nước chua mặn, dẫn nước ngọt vào đồng ruộng; cách làm này ngày nay người ta gọi là “ngọt hoá”, “thau chua, rửa mặn” Nhờ
đó, góp phần mở rộng diện tích, nâng cao năng suất trên đồng ruộng [63]
Trang 21Tổng cộng, Nguyễn Công Trứ đã cho đào đắp hơn 30 con sông lớn, nhỏ và mương máng với chiều dài trên 100km (chưa tính sông Ân), thể tích
đất Đây được đánh giá là hệ thống thủy nông đạt đến trình độ khoa học và mang tính hiệu quả cao ở vùng đồng bằng Bắc Bộ trong thời đại phong kiến [67]
Việc đào kênh mương cùng tiến hành song song với việc làm đường, quật thổ, bồi cư, phân chia địa giới, bố trí khu dân cư, khu canh tác, nhanh chóng tạo thế ổn định cho người đến định cư, lập nghiệp
Đồng ruộng chia thành từng đạt (mỗi đạt 60 m) và đỗi (mỗi đỗi lại giới hạn bởi những đường ngang) trông như bàn cờ Hệ thống tưới tiêu tự chảy, người dân
có thời gian để làm các nghề phụ như đan lát, dệt chiếu cói… [33; tr.342]
Để khuyến khích việc khẩn hoang, tùy vào số lượng người chiêu mộ, Nhà nước “cấp cho tiền công để làm nhà cửa, mua trâu, bò, nông cụ, lại cấp cho tiền gạo, lương tháng, hạn trong 6 tháng Ngoài hạn ấy thì làm lấy mà ăn,
3 năm thành ruộng đều chiếu lệ tư điền mà đánh thuế” [67]
Như một kỳ tích, chỉ sau hơn 5 tháng, với kinh nghiệm và tài tổ chức, Nguyễn Công Trứ đã cùng các vị chiêu nguyên, thứ mộ và 1.260 dân đinh đo đạc, khẩn hoang được hơn 14.600 mẫu và cơ bản định hình ra các làng, ấp
Trên cơ sở đó, ngày Bính Thân, tiết Thanh minh, tháng Ba năm Kỷ Sửu, năm Minh Mệnh thứ 10 (1829), tức ngày 5/4/1829, huyện Kim Sơn đã được Triều đình nhà Nguyễn cho thành lập với 3 lý, 22 ấp, 24 trại và 4 giáp, chia làm
5 tổng, huyện lỵ đặt ở làng Quy Hậu, xã Hùng Tiến ngày nay [48] Tri huyện huyện Thụy Anh Nguyễn Hữu Thái được điều bổ làm Tri huyện, chế ấn triện cấp cho, mộ lập lại và lệ đủ số (đề lại 2 người, thông lại 8 người, thuộc lệ 50), hằng năm cấp tiền công nhu 50 quan [59] Lý trưởng, ấp trưởng, trại trưởng chịu trách nhiệm những công việc chung của lý, ấp, trại [33; tr.343]
Đến cuối năm 1829, huyện Kim Sơn có 7 tổng gồm 60 lý, ấp, trại, giáp Trong đó, tổng Hướng Đạo gồm 9 lý, ấp, trại: trại Phúc Điền, ấp Ứng Luật, trại Trung Quy, ấp Lạc Thiện, trại Lưu Quang, lý hướng Đạo, ấp Đồng Đắc,
ấp Thủ Trung, Ấp Kiến Thái [10; tr.140-141] Theo quy định, một lý (làng)
Trang 22đủ 50 đinh có 600 mẫu ruộng; một ấp đủ 30 đinh, 400 mẫu ruộng; một trại đủ
15 đinh có 200 mẫu; một giáp đủ 10 đinh có 120 mẫu [10; tr.142]
Sau Cách mạng tháng Tám, xã Quang Trung (sau đổi thành xã Quang Thiện) được thành lập trên cơ sở các ấp Ứng Luật, Lạc Thiện, các trại Lưu
Quang, Phúc Điền, Trung Quy (các trại ấp này được gọi là các thôn)
Như vậy, từ vùng đất sình lầy hoang vu, nhờ chỉ đạo của Nguyễn Công Trứ và sự chung sức, đồng lòng của nhân dân, làng xóm hình thành, điền địa quy củ
Cùng với quá trình hình thành láng xã là sự hình thành cộng đồng dân
cư Xét về thành phần, những người đến Quang Thiện - Kim Sơn mở cõi đa
số là dân nghèo, dân lưu vong nghe theo tiếng gọi khai hoang của dinh điền Nguyễn Công Trứ Nhiều người trong số đó từng tham gia khởi nghĩa Phan
Bá Vành Về nguồn gốc, đa số là người của huyện Yên Mô, Yên Khánh Còn lại những người đến từ Nam Định, Thái Bình, Hải Dương…Thành phần, nguồn gốc đa dạng nên dòng họ cũng khác nhau Ở Quang Thiện hiện nay có tới 14 dòng họ: Trần, Vũ, Bùi, Bình,Trịnh, Phạm, Đỗ, Đinh, Lại, Nguyễn, Hoàng, Phan, Đoàn, Ngô, Mai; đa phần là những dòng họ có mặt ở đây từ thời mở đất Công cuộc khai phá vùng đất Quang Thiện - Kim Sơn đã gắn kết người dân từ những miền quê khác nhau, dòng họ khác nhau thành cộng đồng vững chắc
Nguyễn Công Trức thực hiện chính sách ưu tiên các làng cựu khai khẩn miền đất liền kề để phục vụ cho cuộc khẩn hoang Bài học này được áp dụng từ kinh nghiệm khai hoang Tiền Hải Dân sở tại được xem như thành phần nòng cốt và trên cơ sở đó thu hút thêm dân nghèo các làng, vừa có tác dụng đẩy mạnh khai hoang, vừa có tác dụng giải quyết nạn lưu vong Các gia đình, dòng họ đều thực hiện phân cư, dựa trên nguyên tắc hoàn toàn tự nguyện, đoàn kết “anh cựu em tân” Sự thành lập các làng, ấp mới dựa trên sự san dân từ các làng cựu, vốn có một quan hệ gia tộc làng xóm và phong tục tập quán lâu đời, giúp cho sự hình thành khối cộng đồng dân cư bền vững [65]
Trang 23Dân cư tùy theo vai trò, nguồn gốc, thời điểm đến khai hoang được chia thành các đối tượng nhiều đối tượng (chiêu mộ, nguyên mộ, tân mộ, tòng mộ…), được hưởng quyền lợi khác nhau Trong đó, chiêu mộ là người có công tập hợp dân đến khai hoang, được hưởng nhiều ưu đãi Mộ được 50 người thì lập làm một lý, cho làm lý trưởng, mộ được 30 người thì lập làm một ấp, cho làm ấp trưởng; mộ được 10 người cho lập một trai, cho làm trại trưởng Không ít chiêu mộ đã đóng góp tiền của vào việc khai khẩn, lập làng Nhiều chiêu mộ được lưu tên trong địa bạ địa phương như Phạm Nhượng -
“cánh tay phải” của Nguyễn Công Trứ, Vũ Quốc Khuê… [44; tr.61] Dòng
họ của những chiêu mộ này cũng là dòng họ lớn ở Quang Thiện
Sau khi huyện Kim Sơn được thành lập, nhân dân vẫn tiếp tục sự nghiệp quai đê lấn biển Năm 1829 đắp đê Hồng Ân (thực chất là đắp tôn cao
đề Hồng Lĩnh) Năm 1899, đắp đê sông Ân Năm 1927 đắp đê Hoành Trực (tức đê Văn Hải) Năm 1933 - 1934 đắp đê Tùng Thiện Năm 1945 đắp đê Cồn Thoi Đắp thêm đê đến đâu ruộng đất ở huyện Kim Sơn rộng thêm ra đến đó; vì hằng năm, trung bình phù sa lấn ra biển ở Ninh Bình từ 80 đến 100m ở diện rộng Ruộng đất, xóm làng ngày càng mở mang, cộng đồng dân cư gắn
bó bền chặt là cơ sở để ổn định đời sống xã hội, thực hiện nhiệm vụ cách mạng trong từng thời kỳ lịch sử
1.2.2 Vùng đất Quang Thiện từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc ta, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do gắn liền với chủ nghĩa xã hội Ngày 15/1/1946 theo chủ trương của huyện, 5 thôn trước đây được hợp lại thành một xã lấy tên là Quang Trung Ngày 14/4/1948, xã Quang Trung đổi tên thành xã Quang Thiện do ông Trần Độ làm Chủ tịch Ủy ban hành chính Quang Thiện nói riêng và Kim Sơn nói chung ra đời được xưng danh trên bản đồ tổ quốc Lịch sử hình thành, phát triển của vùng đất Quang Thiện bước sang một trang mới, đạt nhiều thành tựu trong công cuộc xây dựng, bảo vệ quê hương đất nước
Trang 24Hiện nay, Quang Thiện giữ vị trí quan trọng trong việc phát triển kinh tế văn hóa xã hội, an ninh - quốc phòng của huyện Kim Sơn Người dân ở đây chủ yếu sản xuất nông nghiệp kết hợp với tiểu thủ công nghiệp và các dịch vụ khác
Hiện nay trên địa bàn xã có 25 doanh nghiệp vừa và nhỏ tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân làm hàng thủ công đan cói, bèo bồng trong lúc nông nhàn, tạo công ăn việc làm cho nhiều lao động Quang Thiện trở thành một địa phương tiêu biểu trên địa trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
Về sản xuất nông nghiệp, năng suất cả năm đạt 115,50 tạ/ha, sản lượng lương thực đạt 5.464 tấn/ha
Về công tác xây dựng nông thôn mới, xã quang Thiện được Ủy ban nhân dân tỉnh lựa chọn là tốp đầu xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 -
2015 Sau thời gian gần 5 năm triển khai thực hiện, chương trình xây dựng nông thôn mới xã Quang Thiện đã thực sự có sự thay đổi toàn diện Diện mạo của nông thôn được thay đổi rõ rệt Cơ sở hạ tầng cơ bản đã được xây dựng đồng bộ khang trang, là nền tảng để phát triển kinh tế xã hội, đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống Các mô hình sản xuất được hình thành, hoạt động có hiệu quả, góp phần tích cực phát triển kinh tế xã hội Đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng lên, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát huy; an ninh trật tự an toàn xã hội được ổn định, giữ vững; 19/19 tiêu chí
đã hoàn thành Quang Thiện được Ủy ban nhân dân tỉnh công nhận “Xã đạt chuẩn nông thôn mới”
Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp được duy trì Sản xuất hàng tiểu thủ công nghiệp được đẩy mạnh; nhất là nghề đan lát mỹ nghệ, đảm bảo việc làm ổn định cho người lao động Ngành nghề dịch vụ được phát triển đa dạng với nhiều nghề như nghề mộc, xây dựng, vận tải…
Về xây dựng cơ bản, trụ sở làm việc của Đảng ủy, HĐND, UBND đã được xây mới, các trường học, đường giao thông, trạm y tế, nhà văn hóa xã,
hệ thống nước sạch, cầu ngói Quang Thiện các cầu dân sinh và nhiều công trình phúc lợi công cộng khác với tổng số tiền là 260 tỷ đồng
Trang 25Về tài chính - ngân sách, tín dụng, thu chi ngân sách thực hiện 8.578.807.000 đồng, đạt 197% Giao dịch ngân hàng trên địa bàn xã đã tập trung huy động vốn, cho vay phát triển sản xuất, kinh doanh và xoá đói giảm nghèo đạt: 13,3 tỷ đồng
Về công tác giáo dục, y tế, chăm sóc sức khỏe, xã Quang Thiện đã tập trung đầu tư nguồn kinh phí xây dựng cơ sở vật chất cho các nhà trường với
số vốn 55 chục tỷ đồng Trạm y tế làm tốt khâu chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân, thực hiện tốt các đợt tiêm chủng mở rộng, phòng chống dịch bệnh, vệ sinh môi trường Hiện nay, đã có 90% nhân dân có thẻ bảo hiểm y tế,
sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 10%, sử dụng nước sạch đạt 70%
Về công tác văn hóa, văn nghệ và thể dục thể thao, đến nay đã có 16/16 khu dân cư đạt khu dân cư đạt khu dân cư văn hóa cấp huyện, có 85% gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa, 16/16 xóm có nhà văn hóa xóm Nhà văn hóa xã Quang Thiện có 300 chỗ ngồi, 01 sân thể thao với diện tích 20.000m2 phục vụ cho việc vui chơi của thanh thiếu niên và nhân dân sinh hoạt văn hóa văn nghệ
Về quốc phòng an ninh và trật tự an toàn xã hội: Thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của cấp trên về công tác quân sự, quốc phòng địa phương, hằng năm Ủy ban nhân dân xã chủ động xây dựng kế hoạch, tổ chức rà soát biên chế lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên, thôn đội trưởng có đủ số lượng đảm bảo chất lượng, sẵn sàng huấn luyện, diễn tập đạt kết quả tốt Quang Thiện đã hoàn thành xuất sắc chỉ tiêu giao quân; đã biên chế đủ lực lượng 16 Công an viên Hoạt động tuần tra được tiến hành thường xuyên, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, giữ gìn an ninh nông thôn, an ninh tôn giáo, chủ động phòng chống các loại tội phạm; giải quyết kịp thời những đơn thư khiếu nại tố cáo của nhân dân [62]
Nhìn chung, từ khi thành lập đến nay, nhất là sau 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, nhân dân Quang Thiện đã phát huy truyền thống lịch
sử, vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, nỗ lực phấn đấu, giành được những thành tựu to lớn, tương đối toàn diện trên các lĩnh vực Với những đóng góp và
Trang 26những thành tích đạt được trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng
bộ và nhân dân xã Quang Thiện và huyện Kim Sơn vinh dự được Đảng, Nhà nước phong tặng, truy tặng nhiều danh hiệu cao quý; trong đó có danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ tranh nhân dân, danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới [56]
1.3 Truyền thống lịch sử - văn hóa tiêu biểu
1.3.1.Truyền thống lịch sử
Xã Quang Thiện là mảnh đất địa linh kiệt, giàu truyền thống yêu nước, cách mạng.Truyền thống quý báu ấy được bồi đắp trong quá trình khẩn hoang, lập ấp, quá trình chống áp bức cường quyền, chống kẻ thù xâm lược
và bè lũ tay sai
Cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, dưới ách đô hộ của thực dân, phong kiến, nhân dân Việt Nam chịu kiếp sống lầm than Người Quang Thiện - Kim Sơn yêu tha thiết mảnh đất mà cha ông đã đổ mồ hôi xương máu tạo dựng lên nhưng việc thành lập các tổ chức cách mạng trước năm 1945 rất khó khăn Không cam chịu cảnh áp bức, bóc lột, nhiều cuộc đấu tranh đã nổ ra ở Kim Sơn, điển hình như cuộc đấu tranh đòi tăng lương của công nhân Xương Lợi, phá kho thóc Lẫm ở xã Thượng Kiệm, Tuy Lộc, Trì Chính… Nhân dân Quang Thiện (khi đó là các thôn Ứng Luật, Lạc Thiện, Lưu Quang, Phúc Điền, Trung Quy) cùng nhân dân trong huyện đứng lên lật đổ chính quyền tay sai phản động, lập chính quyền công nông đầu tiên ở Kim Sơn vào ngày 21/8/1945
Sau những ngày giành chính quyền, Kim Sơn là địa bàn điểm nóng nhất về chính trị ở Ninh Bình, nơi diễn ra cuộc đối đầu quyết liệt giữa lực lượng cách mạng còn non trẻ và bọn phản động đội lốt tôn giáo, việc xây dựng các tổ chức cách mạng, các nhân tố là vô cùng khó khăn Trước tình hình đó, dưới sự quan tâm lãnh đạo trực tiếp của Trung ương Đảng, Tỉnh ủy Ninh Bình và đặc biệt là Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhiều đảng viên có kinh nghiệm, tâm huyết đã được đưa về Kim Sơn để xây dựng lực lượng
Trang 27Ngày 6/6/1947, tại đình Thượng - Tuy Lộc (xã Yên Lộc), Tỉnh ủy Ninh Bình đã tổ chức hội nghị công bố thành lập Đảng bộ huyện Kim Sơn với 21 đảng viên, đồng chí Mai Văn Tiệm được chỉ định làm Bí thư Huyện ủy Đây
là sự kiện trọng đại, đánh dấu sự trưởng thành, là bước ngoặt lớn trong lịch sử phát triển phong trào cách mạng của huyện nói chung, xã Quang Thiện (khi
đó là xã Quang Trung) nói riêng Từ đây, hàng loạt tổ chức đảng ở các xã, thị trấn được thành lập, các tổ chức chính trị, vũ trang cũng được hình thành
Giai đoạn 1949 - 1954 là giai đoạn hết sức cam go, mở đầu bằng sự kiện thực dân Pháp lại nhảy dù quay lại chiếm đóng Kim Sơn vào ngày 16/10/1949 Chúng đã cấu kết với bọn phản động điên cuồng chống phá cách mạng, với ý đồ biến Kim Sơn thành một cứ điểm mạnh để làm bàn đạp đánh chiếm Ninh Bình, hình thành các vành đai trắng, ngăn cách cán bộ, đảng viên
và nhân dân
Đảng bộ và nhân dân Quang Thiện - Kim Sơn vừa chống thực dân Pháp, vừa chống bọn phản động lợi dụng tôn giáo; phong trào đánh giặc, phá
tề, diệt ác được đẩy mạnh Miếu Lạc Thiện (Quang Thiện) là cơ sở của quân
và dân giữa vùng tự do và vùng địch hậu Các đồng chí đảng viên, cán bộ cách mạng, lấy miếu làm cơ sở đi về hoạt động, bám đất, bám dân, vận động nhân dân tin theo cách mạng Năm 1952, bộ đội ta mở chiến dịch đánh vào Kim Sơn, di tích là nơi cất giữ lương thực, vũ khí, một phân đội được bố trí hoạt động tại miếu có nhiệm vụ nấu cơm tiếp tế cho bộ đội Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, quân và dân Quang Thiện - Kim Sơn dưới sự lãnh đạo của Đảng tiếp tục giành thắng lợi Ngày 30/6/1954, Kim Sơn được hoàn toàn giải phóng, đánh dấu mốc quan trọng trong lịch sử huyện Kim Sơn Rất nhiều địa phương, đơn vị được Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý - "Anh hùng Lực lượng vũ trang"
Ngay sau ngày giải phóng, nhân dân Quang Thiện – Kim Sơn lại chung sức, chung lòng cùng nhân dân miền Bắc hăng hái thi đua lao động, sản xuất, xây dựng hậu phương vững chắc; đóng góp sức người, sức của cho tiền tuyến Trong gần 10 năm đế quốc Mỹ leo thang bắn phá Miền Bắc, Kim Sơn là vùng
Trang 28cửa ngõ chiến lược và chịu những đợt không kích dữ dội của không quân Mỹ
mở đầu là ngày 23/6/1965 Dù phải phải hứng chịu bom đạn của kẻ thù, nhưng Đảng bộ và nhân dân vẫn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị Chùa Lạc Thiện (Quang Thiện) là cơ sở phục vụ các hoạt động công cộng của làng
xã như trụ sở của ủy ban hành chính xã Năm 1964, đế quốc Mỹ bắn phá miền Bắc, cửa hàng bách hóa huyện Kim Sơn đã mượn miếu Lạc Thiện làm nơi cất giấu hàng hóa phục vụ đời sống của nhân dân Các khu nhà khách (giải vũ) được mượn làm hội trường và nhà trẻ của hợp tác xã nông nghiệp Rạng Đông Sau này, địa điểm miếu tiếp tục được nhân dân tu sửa, vừa là nơi hội họp tuyên truyền chủ trương đường lối của Đảng chính sách pháp luật của nhà nước, vừa đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân
Đi qua cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, quân và dân Quang Thiện đã góp sức vào thành tích bắn rơi 8 máy bay Mỹ ngay trên mảnh đất quê hương, chi viện cho tiền tuyến gần 40 vạn tấn lương thực Nhiều con em Quang Thiện đã anh dũng ngã xuống trên các chiến trường 49 chiến sỹ anh dũng hi sinh, 5 bà mẹ Việt Nam anh hùng Đảng bộ, quân và dân huyện Kim Sơn, dân quân du kích Thượng Kiệm, trung đội dân quân Kim Đài đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND Những chiến công đó góp phần cùng cả nước làm nên đại thắng mùa xuân năm 1975, thống nhất đất nước, tô thắm thêm truyền thống yêu nước sáng ngời của đất và người Quang Thiện - Kim Sơn - Ninh Bình
Đóng góp chung vào thành tựu của công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, nhất là sau 30 năm tỉnh Ninh Bình được tái lập (1992- 2022), Đảng bộ và Nhân dân Quang thiện đã nối tiếp truyền thống cách mạng, vượt qua khó khăn, phát huy tinh thần đoàn kết, đổi mới, sáng tạo để xây dựng quê hương ngày một lớn mạnh, đất nước ngày một phồn vinh [61]; [62]
1.3.2.Truyền thống văn hóa
Kim Sơn trước khi thành lập là vùng đất bồi cửa sông hoang vu, đầy lau sậy và sú vẹt Với tầm nhìn xa, trông rộng, ngài Uy viễn Nguyễn Công Trứ đã cùng với các vị chiêu, nguyên, thứ mộ và nhân dân vật lộn với đất, với
Trang 29nước, đói rét và bệnh tật, mồ hôi, nước mắt và xương máu tiến hành khai hoang lấn biển, mở mang bờ cõi lập nên vùng đất mà vua Minh Mệnh đặt riêng một huyện gọi là Kim Sơn vào ngày 5/4/1829 [62] Hành trình gian nan khai phá vùng đất sa bồi cửa biển đã hun đúc phẩm chất kiên cường, ý chí vươn lên của con người nơi đây; vun đắp truyền thống lao động cần cù, đoàn kết và sáng tạo
Kế tục sự nghiệp, khát vọng và ý chí của những người đi mở đất, với tinh thần "Đẩy lùi biển cả ra xa, kéo trời xanh gần lại", "Lúa lấn cói, cói lấn sú vẹt,
sú vẹt lấn biển", nhân dân Quang Thiện góp phần thực hiện thành công 9 lần quai đê lấn biển, đưa diện tích tự nhiên của huyện đến nay là 21.571,4 ha, gấp 4 lần so với diện tích ngày đầu mới thành lập, dân số trên 175.000 người với 25
xã, 2 thị trấn [57]
Trong 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, nhân dân Quang Thiện ra sức thi đua vừa chiến đấu, vừa sản xuất để bảo
vệ hậu phương và chi viện cho tiền tuyến
Tinh thần đó tiếp tục được phát huy trong công cuộc xây dựng, bảo vệ tổ quốc sau ngày miền Nam giải phóng và sự nghiệp đổi mới đất nước do Đảng khởi xướng và lãnh đạo Trong điều kiện nhiều thuận lợi và thách thức đan xen, Đảng bộ và nhân dân xã Quang Thiện không ngừng nỗ lực, vượt mọi khó khăn
để phát triển đi lên
Có thể nói, truyền thống cần cù, đoàn kết, sáng tạo trong lao động sản xuất; năng động, đổi mới trong phát triển kinh tế là nét đặc sắc văn hóa của vùng đất Quang Thiện Kinh nghiệm về đoàn kết lương giáo và phát huy truyền thống của người mở đất là một trong những bài học lớn, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình ra đời, phấn đấu, xây dựng và trưởng thành [58]
Bên cạnh đó, vùng đất này còn bảo lưu nhiều di sản văn hóa vật thể, phi vật thể đặc sắc Đó là các di tích kiến trúc – tôn giáo, tín ngưỡng như đền thờ Nguyễn Công Trứ, miếu Lạc Thiện, miếu Ứng Luật, chùa phủ Lạc Thiện Nghề thủ công truyền thống gồm đan - đóng thuyền, dệt lụa, hoa nan, sơn son
Trang 30thếp vàng, dệt chiếu cói… Nhiều loại hình văn học - nghệ thuật dân gian như
ca dao, tục ngữ, ca trù Đặc biệt là các hình thức tín ngưỡng, tôn giáo như tín ngưỡng thờ tổ tiên, thờ thành hoàng, thờ thần sông nước; Phật giáo, Thiên chúa giáo…
Tín ngưỡng thờ Thành hoàng đặc biệt phổ biến ở Kim Sơn Dù là làng xã
có lịch sử lâu đời hay được thành lập qua các lần quai đê lấn biển, thì các làng đều
có đình thờ Thành hoàng Thành hoàng có thể là nhân thần (anh hùng dân tộc, nhà văn hóa tiêu biểu, người có công khai cơ mở đất, các vị tổ nghề) hoặc nhiên
người dân Kim Sơn nói chung, Nguyễn Công Trứ – người có công khai sinh huyện Kim Sơn – chính là Thành hoàng Hầu hết các làng đều tôn ông làm Thành hoàng, hương khói thờ cúng quanh năm [19; tr.32]
Theo Nguyễn Đại Đồng, Phật giáo có mặt ở mảnh đất Ninh Bình rất sớm Với tinh thần nhập thế, Phật giáo từng bước gắn bó với đất nước, với dân tộc; luôn đồng hành cùng dân tộc trong các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, giành độc lập, chủ quyền Thời kì chống Pháp, chùa Lạc Thiện là cơ sở nuôi giấu cán bộ cách mạng về hoạt động xây dựng phong trào Năm 1981, Phật giáo Ninh Bình gia nhập ngôi nhà chung của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, thực hành phương châm “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa Xã hội” Về văn hóa, Phật giáo luôn duy trì vai trò của mình đối với văn hóa mà điểm nổi bật là văn hóa làng Về lĩnh vực xã hội, trong điều kiện kinh tế thị trường, lối sống từ bi hỉ xả, tích đức hành thiện của Phật giáo đã và đang lan tỏa đến các thành phần trong
xã hội Phật giáo ngày càng tham gia đóng góp nhiều hơn trên lĩnh vực từ thiện xã hội, phong trào xây dựng nếp sống văn hóa, phong trào an toàn trong giao thông, góp phần giữ gìn trật tự, an toàn xã hội [9; tr.33, 34]
Phật giáo có ảnh hưởng lớn đến đời sống văn hóa - xã hội của địa phương Chùa Lạc Thiện không chỉ là nơi tu hành của tăng ni, Phật tử mà còn
là nơi bà con nhân dân thường lui tới cầu sức khỏe, bình an, phúc lộc Phật giáo “cắm rễ” vào làng, tạo nên một hằng số “đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt” [19; tr 34]
Trang 31Thiên Chúa giáo là tôn giáo lớn thứ hai ở Ninh Bình, sau Phật giáo Thời điểm giáo sĩ Alexandre De Rhodes (A lịch sơn Đắc Lộ) và giáo sĩ Pierre
Marquez - giáo sĩ ngoại quốc đầu tiên đặt chân tới Ninh Bình – vào khoảng tháng 3 năm 1627 [19; tr.35] Tính đến thời điểm 2016, toàn tỉnh có 151.038
giáo dân, chiếm 14,48% dân số toàn tỉnh Riêng huyện Kim Sơn có 71.855
giáo dân, chiếm 41,67% dân số toàn huyện [19; tr.36] Đồng bào công giáo ở
xã Quang Thiện chiếm khoảng 5% dân số
Thiên Chúa giáo có ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống văn hóa tinh
thần của giáo dân và nhân dân Quang Thiện Thiên Chúa giáo chứa đựng
những nội dung phong phú về lịch sử, tư tưởng, đạo đức, văn hóa, trong đó
đạo đức công giáo là đặc trưng nhất Những điều răn của Chúa là những giá
trị cốt lõi mà con người mọi thời đại, quốc gia, sắc tộc đều hướng tới Tình
yêu thương mà Chúa dạy tín đồ là đạo lý cao thượng, phù hợp truyền thống
của người Việt Đó là lý do cơ bản để tôn giáo này vẫn chung sống hòa bình,
dung hợp cùng đạo Phật và các hình thức tín ngưỡng dân gian của người Việt
trên vùng đất Quang Thiện
Trang 32Tiểu kết chương 1
Quang Thiện là một trong 25 xã, thị trấn của huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình, được hình thành vào những thập kỷ đầu thời Nguyễn Xưa kia, đây là vùng bãi bồi cửa sông sình lầy, hoang vu Lịch sử hình thành xã Quang Thiện gắn liền quá trình khai khẩn đất hoang, quai đê lấn biển, thau chua rửa mặn, cải tạo ruộng đồng, dựng nên xóm làng, ấp trại Quá trình đó có vai trò vô cùng to lớn của người đứng đầu là Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ, các vị chiêu mộ, nguyên mộ, tòng mộ… cùng các thế hệ lưu dân
Cư dân Quang Thiện vốn là những người dân nghèo (đông nhất là nông dân tham gia khởi nghĩa Phan Bá Vành) từ những miền quê khác nhau, dòng
họ khác nhau về đây theo tiếng gọi doanh điền, cần cù lao động, trọng tình làng nghĩa xóm, cùng đoàn kết gắn bó vượt qua mọi khó khăn để chinh phục thiên nhiên, xây dựng nên một vùng quê mới yên bình, trù phú.Yếu tố đa dân
cư, đa dòng họ trong những hoàn cảnh lịch sử đặc biệt đã tạo dựng xây đắp cho cư dân vùng đất Quang Thiện tính cố kết cộng đồng và sự giao lưu hòa nhập rộng rãi
Hành trình hàng trăm năm hình thành, phát triển của Quang Thiện đã hun đúc nhiều truyền thống tốt đẹp: truyền thống cần cù lao động sản xuất; truyền thống yêu nước, đấu tranh bất khuất ngoại xâm; và đặc diệt là truyền thống thống lao động cần cù, đoàn kết và sáng tạo… Truyền thống đó được người Quang Thiện không ngừng phát huy trong tiến trình lịch sử
Nhìn lại chặng đường đã qua với bao thăng trầm của lịch sử dân tộc, ở giai đoạn nào, nhân dân Quang Thiện cũng phấn đấu vươn lên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong lao động sản xuất cũng như trong chiến đấu bảo vệ tổ quốc Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, toàn dân tiếp tục phát huy truyền thống xã anh hùng, khắc phục mọi khó khăn xây dựng quê hương Quang Thiện ngày càng giàu đẹp văn minh
Trang 33Chương 2
DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ 2.1 Đền thờ Nguyễn Công Trứ
2.1.1.Vị trí, quá trình hình thành - tôn tạo
Đền thờ Nguyễn Công Trứ, tên chữ là “Truy Tư Từ”, thuộc ấp Lạc Thiện, tổng Hướng Đạo, huyện Kim Sơn (nay là thôn Lạc Thiện, xã Quang Thiện, huyện Kim Sơn) Đền cách huyện lỵ Kim Sơn 2,5km về phía Đông Bắc, cách tỉnh lỵ Ninh Bình 26,5km về phía Đông Nam Đền nằm bên quốc lộ
10, đoạn gần ngã tư sông Lạc Thiện mà người dân địa phương thường gọi là
“Ngòi Vua” Đây là vị trí trung tâm của huyện Kim Sơn trước kia, rất thuận lợi cho việc giao thông đi lại bằng đường thủy, đường bộ Tại đây, ngày đầu mới đặt chân lên đất này, Nguyễn Công Trứ đã cho dựng một ngôi nhà nhỏ để
ở và làm việc Đây chính là “đại bản doanh” chỉ huy công cuộc khẩn hoang ở Ninh Bình năm Kỷ Sửu (1829)
Đền thờ Nguyễn Công Trứ gắn liền tên tuổi ông và và sự nghiệp mở đất lập huyện Kim Sơn Nguyễn Công Trứ tên tục là Củng, tự là Tồn Chất,
Tuất, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 39, tức ngày 19 tháng 12 năm 1778; người làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh Năm 1819, ông thi đỗ Giải nguyên và được bổ làm quan Năm 1820 Nguyễn Công Trứ giữ chức Hành tẩu
ở Quốc sử quán Năm 1828, ông được thăng Hữu tham tri Bộ hình, sung chức Dinh điền sứ, chuyên coi việc khai khẩn đất hoang vùng Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình Công cuộc khẩn hoang ở Thái Bình thành công với việc thành lập huyện Tiền Hải, ông tiếp tục tổ chức khẩn hoang vùng ven biển Ninh Bình và thành lập nên huyện Kim Sơn vào năm 1829
Đền thờ Nguyễn Công Trứ không đặc biệt về mặt kiến trúc mà độc đáo
ở chỗ được xây dựng từ khi ông Nguyễn Công Trứ vẫn đang còn sống Tiền thân ngôi đền là căn nhà 3 gian của Nguyễn Công Trứ, ngự tại ấp Lạc Thiện,
là nơi để ông đi về và làm việc trong suốt quãng thời gian sống tại Kim Sơn
Trang 34Năm 1852 (có tài liệu cho là năm 1856), ngay khi Nguyễn Công Trứ còn sống, nhân dân Kim Sơn đã dựng Sinh từ (đền thờ sống) trên cơ sở cải tạo căn nhà Hàng năm vào dịp sinh nhật của Nguyễn Công Trứ nhân dân nơi đây lại mở hội mừng thọ ông Sau khi ông mất (1859), người dân Kim Sơn xây dựng thêm một tòa nữa bên cạnh gọi là Tiền đường làm nơi thờ Nguyễn Công Trứ; còn gian nhà cũ được dùng làm Chính cung Từ đây ngôi đền được đổi tên thành Truy Tư Từ Năm 1992 đền thờ Nguyễn Công Trứ được nhà nước công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia
Từ đó đến nay đền thờ Nguyễn Công Trứ được tôn tạo tu bổ nhiều lần bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước và vốn xã hội hóa Cơ sở vật chất được hoàn thiện đã góp phần quan trọng để lễ hội Đền Nguyễn Công Trứ được tổ chức hàng năm
2.1.2 Cấu trúc đền thờ
(khoảng trên 1 mẫu Bắc Bộ) trên
khu đất cũ Kiến trúc vẫn theo kiểu chữ “Nhi”(Hán tự)
Các hạng mục kiến trúc chính bao gồm: nghi môn, bái đường, hậu cung, nhà tả vu, hữu vu, nhà bia, nhà tạo soạn
Bên đường 10 về phía Bắc, Nghi môn được dựng năm 1993, tạo tác
hoàn toàn bằng chất liệu đá xanh Đây là loại cổng tam quan tứ trụ Hai trụ giữa tạo thành cửa chính, hai trụ bên tạo thành hai cửa phụ Nghi môn có thêm hai trụ ngoài nối với hai trụ bên bởi bức lam chạm trổ đẹp mắt Giữa các trụ không có trán cổng như một số công trình khác, phần thân trụ được kết nối bằng hệ thống cửa sắt để bảo vệ công trình Mặt trước hai trụ chính đắp nổi đôi câu đối:
“ Tố cửu thập nhị niên tiền, đặc lập hữu như thử giả”
“Lịch bách thiên vạn thế hậu, vi đức kỳ thịnh hỹ hề”
Nghĩa là:
“Dõi chín mươi hai năm trước, dựng nên đã có thế rồi”
“Tiếp trăm ngàn muôn đời sau, vì đức vốn là tốt vậy”
Trang 35Trước đây, khi đền chưa có nghi môn, ở vị trí ấy là hai cột đèn lớn Bên
cạnh nghi môn là tấm biển lớn trang trọng để: Di tích lịch sử văn hóa quốc
gia đền thờ Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ
Bắc Bộ) Phía Đông và phía Tây sân gạch là hai dãy nhà Tả vu và Hữu vu,
mỗi dãy 5 gian, mái phẳng Cột, vì kèo, rui mè, cánh cửa đều làm bằng gỗ lim Phía trước giữa Bái đường trên sân gạch đặt một bát hương đá hình chữ nhật, chiều dài 0,8 m, chiều rộng 0,5 m, cao 0,8 m
Đi hết sân gạch, bước lên cao 4 bậc đá, cao hơn sâu khoảng 1m đến Bái Đường Hai bên Bái đường là 2 cột đồng trụ bề thế; giữa có bình phong trên
đề 4 chữ “ Minh đường khởi kính” (Ngôi đền sáng gợi lòng tôn kính)
Bái đường 5 gian, gồm 3 gian chính và 2 gian chái, kiến trúc theo lối chồng diêm, bốn mái, lợp ngói nam Tầng chồng diêm phía trên, mặt trước đắp nổi hình tượng“ Lưỡng trúc hóa long” và ba bức đại tự có nội dung:
“ Công tắc tự” ( Có công thì thờ)
“ Đỏ hà tư công” ( Trông sông nhớ đến công lao)
“ Thế bất vong” ( Đời không quên)
Bên trong Tiền đường, hệ thống cột, vì kèo, xà bẩy, làm toàn bằng gỗ lim Hai hàng cột cái, mỗi hàng 4 cột cao 6,5m Cột quân gồm 16 cột, mỗi cột cao 3,5m 3 gian giữ ở phía trước lắp cánh cửa bằng gỗ lim theo kiểu thượng chạm ngũ khúc kim ngân, hạ bản Phía trên 3 gian lắp cửa là 3 bức bản con song để lấy ánh sáng và không khí Hai gian chái hai bên là 2 bản con song bằng gỗ
Hiên của Bái đường rộng 2,5m, 2 bức cón ở gian giữa chạm khắc đầu rồng Các ngưỡng cửa đều dựng bằng đá thước, được chạm khắc hoa sen và rồng mây Bái đường có 2 tầng mái cong, lợp bằng ngói ta, gồm 8 mái, có 1 hàng cổ lâu để lấy ánh sáng và thông khí
Trong Bái đường, gian giữa đặt hương án, hai bên hương án cắm bát bửu Hai gian chái để giá chiêng, giá chống Phía trên của gian Bái đường treo
Trang 36bức đại tự “Truy Tư Từ” Gian bên hữu treo bức đại tự “Phục Điền Thực Đức”, có nghĩa là từ mảnh đất bờ lau, bãi sậy đã trở thành ruộng đồng tốt để nuôi sống con người Gian bên tả treo bức đại tự “Thứ Tích Hàn Hy”, có nghĩa là công lao của Nguyễn Công Trứ đều sáng đẹp
Trong Bái đường có nhiều câu đối Câu đối treo ở 2 cột giữa là:
“Cảm Sơn tự hồng diệp bạch vân, kỵ độc phong cao thùy tục giả,
Truy Tư từ xuân lan thu cúc, phi hồng tuyết ấn bán bán mang nhiên” (Chùa Cảm Sơn mây trắng lá hồng, phong cách cưỡi bò ai nối tiếp, Đền Truy Tư xuân lan thu cúc, ngâm hồng vịnh tuyết chuyện mơ màng)
Câu đối này thực dí dỏm như một nét cười thoáng nhẹ nói lên được tính kiêu ngông của Nguyễn Công Trứ
Câu đối ở hai bên tiếp theo hai cột giữa là:
“Hoan Quận Hương chi khôi, cái thế văn tài kiêm võ lược,
Kim Sơn địa dĩ tịch, thiên thu miếu hưởng phục triều phong”
(Đỗ đầu khoa hương Nghệ Tĩnh, văn tài võ lược hơn người,
Mở rộng vùng đất Kim Sơn, miếu hưởng triều phong muôn thuở)
Và một câu đối khác:
Hồng Lĩnh anh chung, nho tướng huân danh tài dĩnh xuất,
Kim Thành địa tịch, sùng từ hương hỏa thế hưng tư
(Khí thiêng Hồng Lĩnh, chung đúc nên bậc Nho tướng tài danh,
Đất Kim Thành ghi nhớ mãi, lập đền thờ hương khói lâu dài)
Gian giữa của Bái đường (Chính cung) là nơi đặt ban thờ Nguyễn Công Trứ Trên ban thờ gồm có một bát hương bằng men sứ trắng hoa lam cao 40
cm, miệng rộng 40 cm với họa tiết lưỡng long chầu nguyệt Đây là bát hương
cổ có từ đời nhà Trần Xung quanh nhang án chạm trổ tứ linh Long, Ly, Quy, Phượng Trên nhang án bày đồ thờ; trong đó có đỉnh đồng và đôi đèn đồng; bảy bát sơn son thiếp vàng Hai gian bên của Chính cung là hai ban thờ để bài
vị lớn thờ 62 vị chiêu mộ, nguyên mộ có công khẩn hoang cùng Doanh điền
sứ Nguyễn Công Trứ
Trang 37Qua Bái đường đến sân gạch hẹp có diện tích khoảng 45m2
(chiều ngang 10 m, chiều dọc 4,5 m) Phía Đông và phía Tây của sân gạch xây tường cao nối hai hồi của Bái đường với 2 hồi của Hậu cung để khép kín đền
Đi qua sân gạch đến Hậu cung 3 gian Hậu cung kiến trúc tương tự ngôi nhà của Nguyễn Công Trứ thời kỳ đầu ông đến Kim Sơn; một số trụ cũ được dùng lại Cột, vì kèo, dui mè đều làm bằng gỗ lim Bốn mái cong Ba gian phía trước lắp cửa lim theo kiểu thượng song hạ bản, mỗi gian có 4 cánh
Trong Hậu cung, ở gian giữa có cửa võng, đặt hương án, trên hương án
để khám thờ, trong khám thờ đặt tượng đồng Nguyễn Công Trứ
Phía trước khám có câu đối:
“Bách thế hàn công Nam hải miếu Thiên thu chư cát cẩm cung từ”
(Trăm đời gìn giữ miếu phía Nam Nghìn năm đền tốt đẹp và thiêng liêng)
Ở hai cột quân hai bên khám cũng có câu đối:
“ Địa nhân cố trạch long từ vũ, Công tại tư dân hợp kính tôn”
(Nơi ở cũ xin long trọng lập đền thờ cúng bái
Có công với dân nên cùng thờ với tổ tiên)
Hai bên có cửa võng, đặt hai bàn thờ để hai bài vị lớn và giá thờ 51 cụ chiêu mộ và bán phụ chiêu mộ có công khẩn hoang cùng Nguyễn Công Trứ Đây là những người có công trong cuộc khẩn hoang lập nên các làng, ấp, trại, giáp; họ đến Kim Sơn từ những ngày đầu tiên Bảng giá thờ này mới được làm năm 1974, nhân dịp kỷ niệm 145 năm thành lập huyện Kim Sơn
Ở Hậu cung còn có câu đối nói lên lòng biết ơn sâu đậm của nhân dân Kim Sơn đối với Nguyễn Công Trứ:
“Lượng khái huệ trù quang nhật nguyệt
Tư công tắc tự đối càn khôn”
(Mọi mưu trước, kế hoạch, việc làm đều trong sáng như nhật nguyệt
Nhớ công ơn thờ ngang với trời đất)
Trang 38Phía Đông và phía Tây hai hồi Hậu cung còn có 2 giá thờ ghi tên các vị nguyên mộ ở tổng Hướng Đạo Điều độc đáo là đền thờ mới được xây dựng có nền móng cao đến 0,85 m Phía ngoài của tường móng được xây bọc bằng đá thước Phía sau là đền về phía Đông còn xây dựng 5 gian nhà Tạo soạn
Trong khuôn viên chếch về phía Đông, trước nhà Tả vu là nhà bia Nhà bía kiến trúc theo kiểu chồng diêm, 8 mái cong; cột xà đều bằng gỗ lim Phần nền bình đồ vuông, mỗi cạnh 4 m Bia quay về hướng Nam, được tạo tác hoàn toàn từ khối đá xanh với chiều cao 2m, chiều rộng 1,1m, bề dày 0,2m Diềm bia chạm trổ văn hoa; trán bia chạm nổi hình tượng “Lưỡng long chầu nguyệt” và tên bia: “Nguyễn Công bia ký” Mặt trước bia chạm chìm Bài minh bi (bằng chữ quốc ngữ) ghi lại tiểu sử Nguyễn Công Trứ và khẳng định công lao to lớn của ông:
“ Nguyễn Công Trứ có công chiêu dân, khẩn hoang lấn biển lập ra 2 huyện Kim Sơn, Tiền Hải và 2 tổng: Hoành Thư, Ninh Nhất, đem lại hạnh phúc ấm no cho dân, để lại cho con cháu muôn đời những miền đất trù phú cùng với những công trình thủy lợi bất hủ
Qua hơn 100 năm lịch sử, Kim Sơn, Tiền Hải đã trở thành những miền quê giàu đẹp, có truyền thống anh hùng
Bia đá được dựng lên để ghi lại đôi điều về công lao của Nguyễn Công Trứ và tấm lòng tri ân của con cháu hôm nay với Người
Ninh Bình, ngày 2 tháng 8 năm 2007
Sở VH – TT tỉnh Ninh Bình
Đảng bộ và nhân dân huyện Kim Sơn dựng bia”
Đền Nguyễn Công Trứ còn lưu giữ được các sắc phong của các triều như sau:
Năm Duy Tân thứ 7(1913) truy phong tước thọ Tường Tử cho Nguyễn
Công Trứ
Năm Khải Định thứ 2 (1917) phong Nguyễn Công Trứ là “Dực Bảo Trung Hưng Linh Phù Tôn Thần”
Trang 39Năm Khải Định thứ 9(1924) gia tặng linh thần chữ “Đoạn Túc Tôn Thần”
Trong đền còn lưu bài văn tế Nguyễn Công Trứ (bằng chữ Hán) do
Phạm Văn Nghị (1805- 1880) soạn, phiên âm và dịch nôm như sau:
“Tài hoa lỗi lạc, thước ngọc khuôn vàng, văn hay võ giỏi, chí mạnh gan bền, áo bút trận chốn trường văn, tên chói lọi đứng đầu bảng hổ Tên chủ tướng lừng danh nơi trường võ Đến năm Kỷ Sửu triều vua Minh Mạng thứ
10, nhận chức Doanh điền sứ, lập nên huyện Kim Sơn 7 tổng, phá hoang bờ cõi, lập làng dân, chẳng quản chân bùn tay lấm, tát sạch đồng chua làm ruộng tốt, khác nào trời đất chuyển vần, triều đình ban thưởng, sắc phong
“Dực Đức tôn thần Tổng huyện nhớ ơn, nhà cũ “Truy Tư” xây dựng, đủ tài
đủ đức gồm hai công đức sáng ngời bốn cõi Danh tướng danh thần là một, tiếng thơm sực nức ngàn thu Nhân ngày kỷ niệm, lễ mọn lòng thành, một vàng hoa đỏ, đời đời ghi nhớ công ơn”
Tên tuổi và sự nghiệp Nguyễn Công Trứ vẫn sống mãi trong lòng nhân dân huyện Kim Sơn cũng như trong lịch sử xây dựng đất nước của nhân dân ta
Từ khi Nguyễn Công Trứ mất, hàng năm cứ đến ngày 14 tháng 11 âm
lịch, nhân dân huyện Kim Sơn đều tổ chức tế lễ Nguyễn Công Trứ ở “Truy
Tư Từ” trong 3 ngày Ngày 13 tế yết cáo Ngày 14 tế chính kỵ Ngày 15 tế tạ
Những năm gần đây Huyện ủy và UBND huyện Kim Sơn còn tổ chức lễ dâng hương ở đền vào ngày chính kỵ để kỷ niệm công đức của ông
Tên tuổi và sự nghiệp Nguyễn Công Trứ vẫn sống mãi trong lòng nhân dân huyện Kim Sơn cũng như trong lịch sử xây dựng đất nước của nhân dân ta
Đền Nguyễn Công Trứ là sự kết hợp hài hòa giữa cũ và mới, giữa xưa
và nay, giữa cổ điển và hiện đại; là niềm tự hào của nhân dân Quang Thiện - Kim Sơn nói riêng và Ninh Bình nói chung [10; 240 – 249]
2.2 Quần thể di tích chùa Lạc Thiện
2.2.1.Vị trí, cảnh quan
Quần thể di tích Chùa Lạc Thiện thuộc địa phận thôn Lạc Thiện xưa (nay là xóm 16, xã Quang Thiện, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình) Nhân dân
Trang 40lấy tên làng đặt tên di tích; tên gọi này không thay đổi qua các thời kỳ lịch sử Quần thể di tích nằm trong không gian văn hóa làng quê thanh bình giữa những cánh đồng lúa xanh rờn thẳng cánh cò bay, cây cối tươi tốt quanh năm bởi phù sa bồi đắp Di tích gần đền thờ Nguyễn Công Trứ, phía trước là đường quốc lộ 10, xa hơn là Sông Ân, sông Đáy được coi như tiền án của di tích Phía bắc và phía tây giáp đường xóm Phía tây di tích, cách khoảng 3 km
là nhà thờ đá Phát Diệm
môn, vườn tháp, phủ, chùa, miếu, nhà thờ tổ Các kiến trúc được xây dựng hài hòa, tạo cảnh quan đẹp và thâm nghiêm Sân vườn rộng, thuận tiện cho việc
tổ chức các hoạt động văn hóa, các ngày tế lễ, ngày hội hàng năm Trong sân trang trí vườn hoa, cây cảnh được xây quây bằng gạch, tạo cảm giác thoải mái, gần gũi cho nhân dân đến vãn cảnh,lễ bái Khuôn viên chùa có nhiều cây
cổ thụ xanh tốt như: sanh, lộc vừng, đa, nhãn… vừa tạo bóng mát, vừa có ý nghĩa tâm linh nhất định [31; tr.15]
2.2.2.Nghi môn, vườn tháp
Quần thể di tích có 2 nghi môn chung
Nghi môn chính quay hướng Nam, xây dựng phía trước bên phải miếu
và chùa theo kiểu chồng diêm, 4 mái, gồm ba tầng Tầng thứ nhất với 3 cửa
ra vào hình vòm cuốn, có hệ thống cánh cổng Tầng thứ hai đặt tượng Quan
Âm Bồ Tát, tầng thứ ba treo quả chuông đồng Trên các cột cổng phía trong
và ngoài, đều nhấn các câu đối chữ Hán, nội dung ca ngợi sự uy nghiêm của
di tích và tâm thế cần có của con người khi đến với chùa, miếu
Câu đối phía trước cổng:
“ Đại từ đại bi cứu nhất thiết khổ hải chúng sinh
Tu phúc tu tuệ tạo vô lượng cực lạc thế giới”
Câu đối phía sau cổng:
“ Càn khôn bất lão vĩnh vĩnh tồn thế thượng tinh linh
Phật cảnh phong quang sắc sắc ánh trung thiên nhật nguyệt”