1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoạt động du lịch tại các di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia thành phố vinh thực trạng và giải pháp

62 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoạt Động Du Lịch Tại Các Di Tích Lịch Sử Văn Hóa Cấp Quốc Gia Thành Phố Vinh: Thực Trạng Và Giải Pháp
Người hướng dẫn ThS. Dương Thị Vân Anh
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Việt Nam Học
Thể loại thesis
Năm xuất bản 2014
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với ý nghĩa đó, lại là người con của xứ nghệ tôi chọn đề tài: “Hoạt động du lịch tại các di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia Thành phố Vinh: Thực trạng và giải pháp”.. Ngoài ra Luận á

Trang 1

`Trờng đại học vinh KHOA LịCH Sử -**** -

HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TẠI CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HểA CẤP QUỐC GIA THÀNH PHỐ VINH:

Trang 2

HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TẠI CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA CẤP QUỐC GIA THÀNH PHỐ VINH:

-THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Chuyªn ngµnh viÖt nam häc

Gi¸o viªn híng dÉn: Ths D¬ng ThÞ V©n Anh

Vinh, 2014

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 4

4.1 Nguồn tài liệu 4

4.2 Phương pháp nghiên cứu 5

5 Đóng góp của đề tài 6

6 Bố cục của đề tài gồm 3 chương 6

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA TỈNH NGHỆ AN 7

1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, dân cư và lịch sử hình thành 7

1.1.1 Điều kiện tự nhiên và dân cư 7

Trang 4

2.2.1.2 Đặc điểm mẫu khảo sát 29

2.3 Thực trạng cơ sở vật chất- kỹ thuật, cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch 33 2.4 Nguồn nhân lực phục vụ du lịch 35

2.5 Công tác tuyên truyền, quảng bá 36

2.6 Công tác bảo tồn và tôn tạo di tích 37

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH 40

3.1 Phương hướng, mục tiêu phát triển du lịch Nghệ An đến năm 2020

40

Theo sở văn hóa thể thao và du lịch 40

3.2 Một số giải pháp phát triển du lịch 41

3.2.1 Giải pháp đầu tư và quy hoạch 41

3.2.2 Đào tạo phát triển nguồn nhân lực phục vụ du lịch 42

3.2.3 Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, quảng bá xúc tiến du lịch 43

3.2.4 Đa dạng hóa sản phẩm và nâng cao chất lượng dịch vụ 45

3.2.5 Tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước về du lịch 47

C Kết Luận 49

D TÀI LIỆU THAM KHẢO 50

PHỤ LỤC

Trang 5

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài.

Nghệ An thuộc khu vực miền trung là điểm nối giữa hai trục Bắc Nam của hình chữ S Nó được ví như chiếc đòn gánh nặng ở hai đầu màphần ở giữa là nơi chịu nhiều khó khăn nhất Những khó khăn khắc nghiệt đãhình thành nên tính cách của con người nơi đây anh dũng, kiên cường bấtkhuất đã được ghi danh qua các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ

-Nghệ An được mệnh danh là mảnh đất “Địa linh - nhân kiệt”.

Nghệ An là một trong những địa chỉ văn hoá đặc biệt của cả nước với

hệ thống di tích - danh thắng đa dạng, phong phú, nhiều chủng loại, có niênđại trải dài từ thời khởi thuỷ con người có mặt trên trái đất đến ngày nay

Trong con mắt của các nhà chiến lược, Nghệ An là “phên dậu” của

nước nhà với địa bàn trọng yếu về quốc phòng, từng là căn cứ địa vững vàngcủa nhiều cuộc kháng chiến giữ nước và đấu tranh giải phóng dân tộc

Nghệ An là quê hương của nhiều anh hùng hào kiệt mà tên tuổi và sựnghiệp còn vang mãi với non sông đất nước như là Mai Thúc Loan, Nguyễn

Xí, Nguyễn Xuân Ôn, Phan Bội Châu, Lê Hồng Phong, Hồ Tùng Mậu Nơiđây cũng là quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ thiên tài củacách mạng Việt Nam, danh nhân văn hoá thế giới Nghệ An là quê hươngcủa cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh anh hùng đã viết nên trang sử vàng rạng rỡ

mở đầu cho lịch sử cách mạng Việt Nam

Hệ thống di tích - danh thắng Nghệ An được sinh ra và nuôi dưỡngbằng tín ngưỡng, đạo lý và phong tục truyền thống của dân tộc nên có sứcsống, sức lan tỏa lâu bền, mãnh liệt Từ những di tích khảo cổ, di tích lịch sử,kiến trúc nghệ thuật, cách mạng, danh nhân hay di tích - danh thắng đều phảichống đỡ với sự tàn phá của thời gian, của thiên nhiên khắc nghiệt và củacon người (cả kẻ thù và cả những người dân thiếu ý thức trách nhiệm) Mặc

dù có những biến cố trong lịch sử, song nhìn chung, từ các triều đại phongkiến Việt Nam đến chế độ ta hiện nay, nhân dân vẫn nhận thức được rằng: di

Trang 6

tích - danh thắng là một trong những chứng cứ thể hiện cội nguồn, truyềnthống và bản sắc văn hoá xứ Nghệ Vì thế, nhiều di tích được xây dựng sớm,bảo vệ và tôn tạo chu đáo (tiêu biểu: đền Cuông, đền Cờn, đền thờ và miếu

mộ Mai Hắc Đế, đền Quả Sơn, đền Bạch Mã, khu di tích Kim Liên )

Trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử, hệ thống di tích lịch sử vănhóa Nghệ An không còn nguyên vẹn như ban đầu, một số di tích bị phá vỡhoàn toàn do chiến tranh chỉ còn là phế tích, một số di tích hiện nay khôngcòn nữa Vì vậy, việc phục dựng, trùng tu, tôn tạo các di tích có giá trị là việclàm hết sức cần thiết nhằm trả lại diện mạo cũng như giá trị lịch sử văn hóacủa di tích Đồng thời cùng với việc trùng tu tôn tạo kết hợp với việc khaithác phát triển thành sản phẩm du lịch, thu hút khách du lịch trong và ngoàinước

Với ý nghĩa đó, lại là người con của xứ nghệ tôi chọn đề tài: “Hoạt động du lịch tại các di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia Thành phố Vinh: Thực trạng và giải pháp” Với mong muốn trên cơ sở đánh giá thực trạng

hoạt động du lịch của các di tích lịch sử - văn hóa từ đó đề xuất những kiếnnghị giải pháp góp phần vào sự phát triển của hoạt động du lịch trong tươnglai của quê hương

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Cho đến nay nghiên cứu về di tích lịch sử - văn hóa ở nước ta chủ yếu đềcập đến vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa thông

qua hoạt động du lịch Có thể kể đến như TS Đặng Văn Bài trong Vấn đề bảo

vệ và phát huy giá trị của các di tích lưu niệm danh nhân (2008) đã nói đến

việc phát huy giá trị của các di tích thông qua hoạt động du lịch như là một

giải pháp thiết yếu TS Dương Văn Sáu trong cuốn Di tích lịch sử - văn hóa

và danh thắng Việt Nam (2008) đã đề cập đến việc phân loại di tích và vai trò

của hệ thống di tích lịch sử văn hóa đối với du lịch Nhấn mạnh tầm quantrọng của di tích lịch sử- văn hóa như là những tài nguyên du lịch nhân văn vôcùng quan trọng trong tổng thể các loại tài nguyên du lịch khác Luận án phó

Trang 7

tiến sĩ Khoa học Địa lý – địa chất của tác giả Trần Văn Thắng từ năm 1995 về

Đánh giá khả năng khai thác các di tích Lịch sử - văn hóa của tỉnh Thừa Thiên Huế phục vụ mục đích du lịch đã đánh giá số lượng, địa điểm, chất

lượng của các di tích lịch sử văn hóa Thừa thiên Huế phương hướng và việc

khai thác vào hoạt động du lịch Ngoài ra Luận án Tiến sĩ kinh tế của Tiến sĩ Nguyễn Văn Đức năm 2013 nhan đề Tổ chức các hoạt động du lịch tại một số

di tích lịch sử văn hóa quốc gia của Hà Nội theo hướng phát triển bền vững

đã đưa ra nghiên cứu cơ sở khoa học, thực trạng, giải pháp về tổ chức cáchoạt động du lịch tại các di tích lịch sử văn hóa quốc gia tại Hà Nội

Tuy nhiên các công trình nghiên cứu có liên quan trực tiếp đến hoạt động

du lịch ở các khu di tích lịch sử- văn hóa ở Nghệ An thì hiện nay có rất ít tàiliệu đề cập đến vấn đề này và cũng chỉ ở một số khía cạnh nhất định Ví dụ

như Sở VHTT Nghệ An đã cho ra đời cuốn Nghệ An di tích và danh thắng (2001) đã khái quát toàn bộ hệ thống di tích lịch sử văn hóa và danh lam

thắng cảnh của Nghệ An và một số vấn đề có liên quan Tác giả Trần Kim

Đôn với cuốn Địa lí tỉnh Nghệ An (2009) đã nói đến các di tích danh thắng

Nghệ An

Ngoài ra cũng đã có các đề tài nghiên cứu nhưng chỉ mới ở cấp độ Khóa

luận đại học của sinh viên như Nguyễn Thị Hương, (2012) Đền Bạch Mã với phát triển du lịch Nghệ An; Trần Thị Hiền, (2012) Khu di tích lịch sử văn hóa đền Ông Hoàng Mười với phát triển du lịch Nghệ An; Phạm Văn Phước, (2012) Đền Hồng Sơn với việc phát triển du lịch ở Thành phố Vinh, Nghệ An.

Các tài liệu này đã giới thiệu và cung cấp thông tin, kiến thức về tình hìnhhoạt động của một số khu di tích lịch sử văn hóa riêng lẻ trên địa bàn tỉnhNghệ An

Trên cơ sở kế thừa thành quả nghiên cứu của các tác giả và các côngtrình nghiên cứu đã có, kết hợp với tư liệu điền dã và phỏng vấn những người

có hiểu biết về các di tích lịch sử - văn hóa, đề tài đã tiến hành phân loại, sắpxếp, lựa chọn, hệ thống hóa kiến thức một cách đầy đủ và hoàn thiện hơn về

Trang 8

một số di tich lịch sử - văn hóa cấp quốc gia trong hệ thống di tích lịch- vănhóa tỉnh Nghệ An.

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động du lịch tạicác di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia thành phố Vinh, tìm hiểu và đánhgiá những ưu điểm và tồn tại, đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và pháthuy các giá trị lịch sử, văn hóa.Khai thác các di tích lịch sử trở thành sảnphẩm du lịch thu hút khách du lịch

Phạm vi nghiên cứu: Do phạm vi rộng và phức tạp của vấn đề, nên đềtài áp dụng phương pháp nghiên cứu điểm, tức là lựa chọn một số khu di tíchlịch sử - văn hóa nhất định đại diện cho từng loại hình, trong phạm vi khônggian phù hợp để nghiên cứu

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tài liệu

Tài liệu thành văn: Để tiến hành nghiên cứu đề tài này, Đề tài sử dụngcác nguồn tài liệu thành văn gồm các công trình nghiên cứu về di tích lịch sửvăn hóa ở Nghệ An và các tài liệu có liên quan đến đói tượng và phạm vinghiên cứu của đề tài, trong đó chủ yếu là:

+ Các sách giáo trình về văn hóa, du lịch được dùng giảng dạy, học tậptrong các trường đại học, cao đẳng ở việt nam

+ Các bài viết có liên quan trên các website

+ Các công trình nghiên cứu về lịch sử văn hóa

+Các bài nghiên cứu về các lễ hội nói chung và lễ hội ở Nghệ An nóiriêng được công bố trên các tạp chí văn hóa - thể thao - du lịch

+ Một số luận văn cao học, thạc sĩ, khóa luận tốt nghiệp đại học có liênquan

Tài liệu điền dã: Đề tài đã tiến hành khảo sát thực địa và điều tra vàphỏng vấn một số đối tượng có liên quan để tìm hiểu vấn đề nghiên cứu, qua

đó nhằm đánh giá thực trạng hoạt động du lịch của hệ thống di tích lịch sử

Trang 9

-văn hóa ở Nghệ An Từ đó, đưa ra những đánh giá khách quan và cái nhìnchân thực về vấn đề nghiên cứu.

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong triển khai nghiên cứu đề tài, tác giả dùng phương pháp duy vậtbiện chứng và duy vật lịch sử để nhìn nhận, phân tích đánh giá các vấn đề mộtcách khoa học và khách quan Đây cũng là cơ sở phương pháp luận để vậndụng các phương pháp cụ thể trong quá trình nghiên cứu đề tài Để hoàn thành

được đề tài này chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:

- Chọn mẫu nghiên cứu: Trong nghiên cứu hoạt động du lịch nói chung

việc lựa chọn điểm và đối tượng nghiên cứu có ý nghĩa vô cùng quan trọng Ở

đề tài này, việc lựa chọn điểm nghiên cứu giúp cho kết quả nghiên cứu đượcsâu sắc và cụ thể hơn, các số liệu đưa ra chính xác và khách quan hơn

- Phương pháp khảo sát thực địa: Chúng tôi tiến hành khảo sát ở một sốkhu di tích lịch sử- văn hóa tiêu biểu của Nghệ An, là những tuyến điểm phục

vụ du lịch từ trước đến nay

Trong quá trình khảo sát tại các khu di tích lịch sử- văn hóa, chúng tôitiến hành thu thập thông tin bằng hình thức phỏng vấn và sử dụng bảng hỏi

- Phương pháp phân tích và xử lý thông tin: các thông tin thu thập trong

quá trình khảo sát trên thực địa được sẽ tiến hành phân loại, xử lý bằng cácphương pháp thống kê, hệ thống hoá, sơ đồ hoá bảng biểu

Trong các phương pháp trên, chúng tôi đặc biệt chú ý đến phương phápđiền dã khảo sát thực địa, phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để xử lý

tư liệu, nhằm thực hiện tốt mục đích nghiên cứu mà đề tài đặt ra Qua đó, gópphần làm đánh giá được hoạt động du lịch ở các khu di tích lịch sử - văn hóacủa tỉnh Nghệ An

5 Đóng góp của đề tài

Đánh giá các di tích lịch sử - văn hóa để có cái nhìn khái quát, toàn diện

về các di tích lịch sử - văn hoá trên địa bàn tỉnh Nghệ An góp phần đánh giámột cách khách quan về hệ thống di tích trong hoạt động du lịch để đưa ra

Trang 10

một số giải pháp nhằm thúc đẩy nghành du lịch phát triển đồng thời giữ gìn

và phát huy giá trị lịch sử văn hóa của các di tích lịch sử - văn hóa

6 Bố cục của đề tài gồm 3 chương

Chương 1: Tổng quan về các di tích lịch sử - văn hóa tỉnh Nghệ An

Chương 2: Thực trạng hoạt động du lịch tại các di tích lịch sử - văn hóa cấpquốc gia Thành Phố Vinh

Chương 3: Một số giải pháp phát triển du lịch

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA

TỈNH NGHỆ AN

1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, dân cư và lịch sử hình thành 1.1.1 Điều kiện tự nhiên và dân cư

Trang 11

Nghệ an có Diện tích: 16.493,686 km2, Dân số: 3.113.055 (theo điều tra dân số năm 2013) người Nghệ An bao gồm các Dân tộc: Việt (Kinh), Khơ

Mú, Sán Dìu, Thái, H'Mông, Ơ Đu, tộc người Đan Lai

Tỉnh Nghệ An có 1 thành phố loại 2, 02 thị xã và 17 huyện: Thànhphố Vinh; Thị xã Cửa Lò; Thị xã Thái Hòa; 10 huyện miền núi: ThanhChương, Kỳ Sơn, Tương Dương, Con Cuông, Anh Sơn, Tân Kỳ, Quế Phong,Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn; 7 huyện đồng bằng: Đô Lương, Nam Đàn,Hưng Nguyên, Nghi Lộc, Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Yên Thành

Tỉnh Nghệ An nằm ở Đông Bắc dãy Trường Sơn, địa hình đa dạng, phức tạp

và bị chia cắt bởi các hệ thống đồi núi, sông suối hướng nghiêng từ Tây - Bắcxuống Đông - Nam Đỉnh núi cao nhất là đỉnh Pulaileng (2.711m) ở huyện Kỳ Sơn,thấp nhất là vùng đồng bằng huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Yên Thành có nơi chỉcao đến 0,2 m so với mặt nước biển (đó là xã Quỳnh Thanh huyện Quỳnh Lưu).Đồi núi chiếm 83% diện tích đất tự nhiên của toàn tỉnh

Khí hậu - Thời tiết

Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu sự tác động trực tiếpcủa gió mùa Tây - Nam khô và nóng (từ tháng 4 đến tháng 8) và gió mùaĐông Bắc lạnh, ẩm ướt (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau)

Nhiệt độ trung bình là 24,2oC, cao hơn so với trung bình hàng năm là0,2o C

Trang 12

Tổng lượng mưa trong năm là 1.610,9mm, Độ ẩm trung bình hàng nămlà: 84%, độ ẩm thấp nhất là 42% vào tháng 7

Tổng số giờ nắng trung bình 1696giờ Ngoài ra, còn xuất hiện sươngmuối, mùa bão vào các tháng 7, 8, 9 gây nhiều khó khăn cho sản xuất và sinhhoạt của người dân

Sông ngòi

Tổng chiều dài sông suối trên địa bàn tỉnh là 9.828 km, mật độ trungbình là 0,7km/km2 Sông lớn nhất là sông Cả (sông Lam) bắt nguồn từ huyệnMường Pẹc tỉnh Xieng Khoảng (Lào), có chiều dài là 532 km (riêng trên đấtNghệ An có chiều dài là 361 km), diện tích lưu vực 27.200 km2 (riêng ở Nghệ

An là 17.730 km2) Tổng lượng nước hàng năm khoảng 28.109 m3 trong đó144.109 là nước mặt

Nhìn chung nguồn nước khá dồi dào, đủ để đáp ứng cho sản xuất vàphục vụ cho đời sống sinh hoạt của nhân dân

Biển, bờ biển

Hải phận rộng 4.230 hải lý vuông, từ độ sâu 40m trở vào nói chung đáybiển tương đối bằng phẳng, từ độ sâu 40m trở ra có nhiều đá ngầm, cồn cát.Vùng biển Nghệ An là nơi tập trung nhiều loài hải sản có giá trị kinh tế cao

Bãi biển Cửa Lò là một trong những bãi tắm đẹp và hấp dẫn, đó là lợithế cho việc phát triển nhành du lịch ở Nghệ An

Bờ biển Nghệ An có chiều dài 82 km, có 6 cửa lạch thuận lợi cho việcvận tải biển, phát triển cảng biển và nghề làm muối (1000 ha)

2.1.2 Lịch sử hình thành.

Xứ Nghệ là tên chung của vùng Hoan Châu cũ (bao gồm cả Nghệ An

và Hà Tĩnh) từ thời nhà Hậu Lê Hai tỉnh này cùng chung một vùng văn hóagọi là văn hóa Lam Hồng, có chung biểu tượng là núi Hồng và sông Lam,mặc dù núi Hồng Lĩnh nằm trọn trong đất Hà Tĩnh và sông Lam nằm ở ranhgiới giữa Nghệ An và Hà Tĩnh Trung tâm của Xứ Nghệ nằm ở hai bên dòngsông Lam là phủ Đức Quang và phủ Anh Đô khi xưa, tức là các huyện Hương

Trang 13

Sơn, Đức Thọ, Can Lộc, Nghi Xuân, thị xã Hồng Lĩnh của Hà Tĩnh và cáchuyện Thanh Chương, Nghi Lộc, thành phố Vinh, Hưng Nguyên, Nam Đàn,

Đô Lương, Anh Sơn của Nghệ An ngày nay

Danh xưng Nghệ An có từ năm 1030 thời nhà Lý, niên hiệu ThiênThành thứ hai Lúc đó gọi là trại Nghệ An, sau đó thì đổi thành châu Nghệ Anrồi Nghệ An thừa tuyên Năm 1490, vua Lê Thánh Tông (niên hiệu Hồng Đứcthứ 21) đổi tên từ Nghệ An thừa tuyên thành xứ Nghệ An (gọi tắt là xứ Nghệ)đồng thời với các đơn vị hành chính khác lúc bấy giờ như: xứ Kinh Bắc, xứSơn Nam, xứ Đông, xứ Đoài, xứ Thanh Hóa, xứ Lạng Sơn Năm 1831, thờivua Minh Mệnh, Xứ Nghệ bị tách thành hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh Năm

1976, hai tỉnh lại hợp thành tỉnh lớn Nghệ Tĩnh

Nghệ An là một mảnh đất đã sản sinh nhiều danh nhân lịch sử, nhàkhoa bảng, nhà khoa học, nhà văn nổi tiếng như Hồ Chí Minh, Phan BộiChâu, Mai Hắc Ðế, thi sĩ Hồ Xuân Hương Cũng như các tỉnh khác của ViệtNam, truyền thống văn hóa của tỉnh rất phong phú Là một tỉnh có nhiều dântộc cùng sinh sống, mỗi dân tộc đều mang một bản sắc văn hóa, ngôn ngữriêng giàu truyền thống

Nghệ An là xứ sở của nền văn hóa dân gian đặc sắc với những điệu hò,hát phường vải, hát đò đưa Du khách đến với bất kỳ lễ hội nào của tỉnh Nghệ

An đều có thể thưởng thức loại hình sinh hoạt văn hóa đặc sắc này

Các dân tộc ít người của tỉnh Nghệ An có những loại hình âm nhạcriêng Dân tộc Khơ- Mú có âm nhạc nữ đuổi chim thú, nhạc khí gắn trên gậychọc lỗ, tra hạt Thăm đao là loại nhạc cụ bằng tre nứa; đàn môi được chế tạobằng những mảnh cật tre vót mỏng Ngoài ra họ còn có nhiều loại sáo, khèn Còn người H'Mông lại có nhiều loại khèn và đàn môi để bày tỏ tình cảm, cangợi vẻ đẹp của cuộc sống, của quê hương đất nước

Nghệ An là xứ sở của những lễ hội cổ truyền diễn ra trên sông nước như lễhội Cầu Ngư, Rước Hến, Ðua thuyền Lễ hội làm sống lại những kỳ tích lịch sửđược nâng lên thành huyền thoại, giàu chất sử thi, đậm đà tính nhân văn như lễ hội

Trang 14

đền Cuông, lễ hội làng Vạn Lộc, làng Sen Miền núi có các lễ hội như Hang Bua, lễhội Xàng Khan, lễ mừng nhà mới, lễ uống rượu cần.

1.2 Tổng quan về di tích lịch sử - văn hóa tỉnh Nghệ An

được hiểu như sau:

Di: đi lại, rớt lại, để lại

Tích: tàn tích, dấu vết

Di tích: tàn tích, dấu vết còn để lại của quá khứ

Theo từ điển của Đại từ điển tiếng việt do trung tâm ngôn ngữ và văn

hóa Việt Nam – Bộ Giáo Dục và Đào tạo, do Nguyễn Như Ý chủ biên, Nxb

Văn hóa - Thông tin xuất bản năm 1998 thì Di tích LSVH:“ Tổng thể những công trình, địa điểm,đồ vật hoặc tác phẩm, tài liệu có giá trị lịch sử hay giá trị văn hóa được lưu lại”.

Theo luật Di sản văn hóa được Quốc hội nước cộng hòa XHCN Việt Nam khóa X kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/06/2001, thì : “Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học”.

Theo luật Di sản văn hóa, để được coi là một di tích lịch sử - văn hóachúng phải thỏa mãn năm tiêu chí sau:

Tiêu chí thứ nhất: Di tích lịch sử - văn hóa là các công trình xây dựng,

địa điểm gắn với các sự kiện tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nướccủa dân tộc Tiêu biểu như: đền thờ vua Quang Trung, đền thờ Mai Hắc Đế…

Tiêu chí thứ hai: Di tích lịch sử - văn hóa là các công trình xây dựng, địa

điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân của đấtnước trong suốt tiến trình phát triển của lịch sử của dân tộc: ví dụ như khu di

Trang 15

tích Kim Liên (Nam Đàn – Nghệ An) gắn với anh hùng dân tộc, danh nhânvăn hóa thế giới Hồ Chí Minh Di tích lưu niệm Phan Bội Châu, khu lưu niêm

Lê Hồng Phong…

Tiêu chí thứ ba: Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa

điểm gắn với các sự kiện lịch sử tiêu biểu của thời kỳ cách mạng, kháng chiếntiêu biểu Ngã Ba Bến Thủy, Cồn Mô, Truông Bồn, cụm di tích Làng ĐỏHưng Dũng…

Tiêu chí thứ tư: Di tich lịch sử - văn hóa là địa điểm có giá trị tiêu biểu

về khảo cổ phản ánh tiến trình phát triển của lịch sử tộc người, của quốc gia,dân tộc Tiêu biểu như văn hoá Sơn Vi, như Đồi Dùng, Đồi Rạng (ThanhChương) Trong nhiều hang động ở các huyện Quế Phong, Quỳ Châu, QuỳHợp, Tân Kỳ, Con Cuông, Tương Đương đã phát hiện được các di chỉ khảo

cổ học thuộc văn hoá Hòa Bình Cồn Sò Điệp (Quỳnh Văn, Quỳnh Lưu) là dichỉ khảo cổ học tiêu biểu của thời kỳ đá mới có niên đại cách ngày nay 2000đến 2500 năm…

Tiêu chí thứ năm: Di tích lịch sử - văn hóa là quần thể kiến trúc hoặc công

trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiềugiai đoạn trong lịch sử tiêu biểu như: đền Hồng Sơn, Thành Cổ Vinh…

Trang 16

Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TẠI CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA CẤP QUỐC GIA THÀNH PHỐ VINH

2.1 Hệ thống các di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia thành phố vinh.

Theo quy định của bộ văn hóa thể thao và du lịch quyết định, thành phốvinh hiện nay có 11 di tích cấp quốc gia bao gồm các di gồm các di tích sau:đền Quang Trung, Ngã Ba Bến Thủy, đền Hồng Sơn, Chùa Diệc, Chùa CầnLinh, Cồn Mô, Cụm Di tích Làng Đỏ- Hưng Dũng, Đền Trìa, Nhà thờ HỌUông, Nhà thờ Họ Hoàng, Thành cổ Vinh

2.1.1 Đền Quang Trung

Đền Quang Trung tọa lạc trên núi Dũng quyết là một trong những côngtrình tiêu biểu của Lâm viên Núi Dũng Quyết và khu vực Phượng HoàngTrung Đô Theo thần thoại, khi xưa có 100 con phượng hoàng bay qua sôngLam thì có 99 con để lại ngọn Hồng Lĩnh, con thứ 100 chính là núi Quyết

Quang Trung - vị vua nổi tiếng với chiến công đại thắng quân Thanh,một trong những huyền thoại chống giặc ngoại xâm hiển hách nhất của lịch sửdân tộc ta, với tư cách là Bắc Bình Vương đã phát hiện và nhận thấy đây làđịa điểm chiến lược để xây dựng kinh đô, làm gốc rễ sâu bền cho sự phồnvinh của đất nước

Để tỏ lòng biết ơn vị Anh hùng áo vải dân tộc, UBND tỉnh Nghệ An đã

ra quyết định ngày 23/7/2004 xây dựng đền thờ Vua Quang Trung tọa lạc trênđỉnh thứ 2 núi Dũng Quyết có độ cao 97m so với mặt nước biển, thuộc vùngđất linh thiêng được Vua Quang Trung chọn đóng đô cách đây hơn 220 năm

Đền được khởi công xây dựng vào tháng 7/2005 và hoàn thành vàotháng 5/ 2008 Dự án xây dựng đền thờ Quang Trung mang nặng tính đặc thùvăn hóa - lịch sử vì thế, phải có giải pháp kiến trúc phù hợp với mục đích vàyêu cầu của một ngôi đền thờ truyền thống

Trang 17

Để tưởng nhớ sự nghiệp và công lao vĩ đại của hoàng đế QuangTrung, nhân dân Nghệ An cùng với lãnh đạo đã thông nhất xây dựng đền thờvua Quang Trung trên núi quyết, nơi Nguyễn Huệ đóng đô.

Kết cấu của công trình gồm có: sân lễ hội, đường lên xuống đền, sânđền chính, sân đền trước, nhà tiền đường, nhà trung đường, nhà hậu cung, nhà

tả vu, hữu vu, nhà nghi môn, hai nhà bia, bình phong, tứ trụ, bia dẫn tích vàcác hạ tầng kỹ thuật khác

Ngoài ra còn có Bãi đậu xe cũng đồng thời là sân lễ hội, nơi diễn raphần hội, trò chơi dân gian, múa hát, thể thao…sân có diện tích là 1.800m2,kết cấu bằng bê tông mác 200, dày 10cm Lối vào đền là dãy cầu thang 99 bậc

đi thẳng vào sân trước đền biểu trưng cho sự trường tồn vĩnh cửu, tương ứngvới 99 con phượng hoàng Đường lên xuống đền được lát bằng đá Thanh Hóa.Hai bên đường là 2 dãy cây sanh

Sân trước đền có diện tích: 1.400m2, được lát bằng gạch bát cổ phụcchế loại 30 x 30 cm Trước cửa đền là 2 con voi bằng gỗ chầu 2 bên

Đền thờ vua Quang Trung hàng năm đều đón tiếp hàng vạn lượt kháchkhắp mọi miền tham quan Đặc biệt trong mấy năm trở lại đây số lượng khách

đã tăng lên nhiều hơn so với các năm trở về trước Lượng khách đông nhấtthường là vào dịp tết và kéo dài cho đến hết tháng 2 âm lịch Mọi người đếnđây chủ yếu là thắp hương, tham quan, tỏ lòng ngưỡng mộ và tri ân đối vớihoàng đế Quang Trung

Hàng năm, đền thờ tổ chức vào 3 ngày lễ lớn:

- Ngày 5/1 âm lịch: kỉ niệm chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa

- Ngày 29/7 âm lịch: ngày mất của vua Quang Trung

- 1/ 10 dương lịch: ngày hoàng đế quang trung ra chiếu dời phú xuân raPhượng Hoàng Trung Đô

Trong đó, ngày giỗ Quang Trung được coi là ngày quan trọng nhất Cácngày lễ hội được tổ chức nhằm tôn vinh thân thế và sự nghiệp của hoàng đế

Trang 18

Quang Trung và vương triều tây sơn đồng thời giáo dục truyền thống yêunước, truyền thống cách mạng của dân ta.

2.1.2 Di tích Ngã Ba Bến Thủy

Di tích Ngã ba Bến Thuỷ nằm bên tả ngạn sông Lam, dưới chân núiQuyết; cách trung tâm thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An 5km về phía Đông Ngã ba Bến Thuỷ trước đây thuộc làng Yên Dũng Hạ, tổng Yên Trường,huyện Hưng Nguyên; nay thuộc phường Bến Thuỷ, thành phố Vinh Di tích

có diện tích 5.000 m2 sát dưới chân núi Quyết, một vùng đất có vị trí quantrọng; nơi mà Vua Quang Trung Nguyễn Huệ chọn để xây dựng thànhPhượng Hoàng Trung Đô (năm 1788)

Để tưởng nhớ tới cha ông một thời oanh liệt 1930-1931 Nơi đây đãxây dựng một tượng đài Công Nông Binh hùng vĩ, một trong những điểm dulịch của quần thể Lâm Viên núi Quyết Hàng năm trong các ngày lễ kỷ niệmcủa đất nước, các thế hệ trẻ đều đến đây để ôn lại truyền thống lịch sử trênmảnh đất này

Ngã ba Bến Thủy trở thành địa danh lịch sử đặc biệt đánh dấu sự mởđầu cho Phong trào cách mạng Xô Viết Nghệ Tĩnh Với ý nghĩa đó, ngày16/11/1988, Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn Hóa Thể Thao và DuLịch) đã có quyết định công nhận xếp hạng Di tích Ngã ba Bến Thủy là Ditích Lịch sử -Văn hóa cấp quốc gia

Năm 2010, UBND tỉnh Nghệ An đã quyết định bảo tồn, tôn tạo và xâydựng Khu Di tích này với tổng kinh phí 45 tỷ đồng, do UBND Thành phốVinh làm chủ đầu tư Sau hơn 2 năm công trình đã hoàn thành, đưa vào sửdụng với thiết kế làm bằng đá khối xanh Thanh Hóa, cao 13,57m, gồm 2 nhânvật nam và nữ, trong tư thế giương cao ngọn cờ Đảng búa liềm, biểu hiện cholực lượng công nông trên đà lớn mạnh Đây là một công trình độc đáo và ấntượng, có tính khái quát cao

2.1.3 Đền Hồng Sơn

Trang 19

Tọa lạc trên một vùng đất đẹp giữa trung tâm thành phố Vinh, TỉnhNghệ An, đền Hồng Sơn là một trong nhưng di tích quý hiếm, có quy mô vàcảnh quan lý tưởng, là công trình kiến trúc đẹp của thời Nguyễn

Trong năm 1982, phường Hồng Sơn được thành lập và di tích VõMiếu, Đền nhà Ông bấy giờ lấy tên địa danh của phường, nên tên Hồng Sơn

ra đời từ đó.Năm 1987, đền Hồng Sơn được nhà nước xếp hạng di tích cấpquốc gia.…

Đền được thiết kế ngoảnh ra sông Cửa Tiền theo hướng đông nam.Nhân dân địa phương cho biết, trước năm 1954, vùng đất của đền được kéodài đến trước cổng đền, tiếp giáp đến bờ sông Cửa Tiền, trên khoảng đất nàytrồng hai dãy dương liễu thẳng tắp, ở giữa có một am thờ và bờ sông đượcghép đá thành bậc thang xuống sông tạo nên cảnh quan thoáng đãng, mát mẻtrước mặt đền

Đền Hồng Sơn đã được bảo vệ tôn tạo giữ gìn cảnh quan di tích cổxưa Những cây đại, cây sanh, cây sung có độ tuổi gần 200 năm và các loạicây xanh vẫn được chăm sóc, toả hương thơm, tuy đền sát đường, gần chợ,nhưng vẫn giữ được không khí tĩnh mịch trong lành, vừa sâu lắng thâmnghiêm lại vừa linh thiêng của chốn đền đài

Hiện nay, di tích văn hóa đền Hồng Sơn có 19 công trình kiến trúc vớiquy mô khá đồ sộ, hoàn hảo bao gồm cổng chính, cổng phụ, tường bao quanh,

hồ bán nguyệt, tam quan, tắc môn, hai nhà bia, hai cột nanh, sân ngựuyển Đặc biệt các công trình thượng điện trung điện, gác chuông, gác trốnghai cột nanh, tháp miếu, các bia đá, hồ bán nguyêt … được tôn tạo từ thờiNguyễn, còn một số công trình khác tôn tạo mới sau này, như toà Hạ điện mớiđược hoàn thành năm 1988 với nguồn kinh phí nhà nước và nhân dân côngđức cho đền

Về mặt văn hoá phi vật thể, hằng năm đền Hồng Sơn đã thành nếp sinh hoạtthường kỳ trong nhân dân, có 3 kỳ lễ hội tưng bừng náo nhiệt:

Trang 20

- Mồng 3 tháng 3 âm lịch: Kỷ niệm ngày giỗ đức Thánh mẫu

- Mồng 10 tháng 3 âm lịch: Kỷ niệm ngày giỗ tổ Hùng Vương

- Ngày 20 tháng 8 âm lịch: Kỷ Niệm ngày giỗ Đức Thánh Trần

Lễ hội thường được tính theo ngày âm lịch đã thu hút hàng ngàn lượtngười khắp nơi trong thành phố và vùng phụ cận về tham dự

Ngoài các lễ hội nói trên, đền Hồng Sơn là nơi khách thập phươngtrong nước và quốc tế vãn cảnh, du lịch Những ngày đầu xuân, đền đã thànhsân chơi cho nhưng người yêu thơ, yêu nhạc, họp mặt bình thơ, nhạc đầy ấntượng Và thường ngày, đặc biệt là ngày sắc vọng, đền thực sự trở thành nơisinh hoạt văn hoá tâm linh lành mạnh, không thể thiếu của nhân dân từ trướcđến nay Bà Nguyễn Thị Thiện – P Cửa Nam thành phố Vinh

Với quy mô và giá trị đó, lãnh đạo tỉnh, thành phố Vinh đã có chủtrương quy hoạch, tôn tạo di tích đền Hồng Sơn trở thành điểm tham quan dulịch hấp dẫn và tạo ấn tượng tốt đẹp cho du khách tới vãn cảnh, tĩnh tâm

2.1.4 Chùa Cần Linh

Chùa Cần Linh (hay còn gọi là chùa Sư nữ) là ngôi chùa có quy mô lớn

và đẹp nhất tỉnh Nghệ An Đã được Bộ Văn hóa - Thể thao & Du lịch ViệtNam chứng nhận là Di tích lịch sử cấp Quốc gia Chùa được xây dựng từ thờinhà Lê, trên một vùng đất trước đây thuộc Làng Vang, tổng Yên tường, huyệnHưng Nguyên Nay thuộc phường Cửa Nam thành phố Vinh

Chùa thờ thích ca mầu ni - vị tổ của đạo phật và các vị sư tăng đã từngtrụ trì trong chùa, trong vùng Tổng diện tích: 5.208 m², gồm có các kiến trúcsau: Tam quan, bái đường, chính điện, tăng đường, nhà tả vu, hữu vu

Theo sử sách còn lưu lại thì ngôi chùa này đã có sự ghé thăm của hai vịvua là Tự Đức và Bảo Đại Trong đó Tự Đức được coi là người đã có ý tưởngđổi tên chùa như ngày nay Với mong muốn đưa ngôi chùa linh thiêng nàygần gũi hơn với người dân địa phương trong nhu cầu sinh hoạt văn hoá tâmlinh, vua Tự Đức đã trao tặng nhà chùa bức trướng “Cần Linh” Từ đó, LinhVân tự được đổi tên thành chùa Cần Linh

Trang 21

Cùng với quả chuông cổ có tuổi thọ trên 300 năm, trước cổng tam quanngôi chùa có một bức tượng Phật bà Quan Âm nghìn tay, nghìn mắt Bứctượng được sư bà Diệu Nhẫn ấp ủ từ năm 2000 xuất phát từ một giấc mơ diệu

kỳ nhưng rồi mãi đến 5 năm sau, giấc mơ ấy mới được hiện thực hoá Năm

2006, pho tượng Phật bà nghìn tay, nghìn mắt đã hoàn thành kịp mừng ngàyĐại lễ Phật đản 2550 năm Phật Lịch Pho tượng được đặt trang trọng trên toàsen, cao 3m, rộng 2,5m được đúc bằng 8 tấn đồng đỏ nguyên chất

Năm 1992, chùa Cần Linh được công nhận là Di tích lịch sử văn hoácấp Quốc gia Tuy nhiên, cũng trong thời điểm này, cơ sở vật chất của nhàchùa đã xuống cấp và đòi hỏi sự bảo tồn Sư Diệu Nhẫn kể, trở về chùa, vấn

đề mà nhà sư nghĩ đầu tiên là phải trùng tu và mở rộng các kiến trúc như tamquan, chính điện, tả vu, hữu vu

Quá trình trùng tu, ngôi chùa vẫn giữ lại được nét cổ kính vốn có, dùrằng nói như nhà sư Diệu Nhẫn, vừa trùng tu vừa xây mới nên có một vài cáiquá cũ buộc phải thay đổi Ví như trước đây, con đường vào chùa là một lốimòn rất nhỏ, cỏ mọc um tùm thì nay, con đường ấy đã được mở rộng, câyxanh tươi tốt, vùng cỏ lác ngày xưa nay đã là một hồ sen bát ngát Chùa CầnLinh không chỉ là nơi thờ Phật, sinh hoạt văn hoá tâm linh của nhân dânquanh vùng, mà còn là điểm du lịch hấp dẫn du khách

Năm 1992 Chùa Cần Linh đã được xếp hạng là Di tích lịch sử văn hoácấp quốc gia

2.1.5 Chùa Diệc

Chùa Diệc là ngôi chùa lớn nhất ở Vinh và là một trong những ngôichùa lớn nhất ở Nghệ Tĩnh Người sáng lập ra ngôi chùa mượn ý trong kinhPhật để đặt tên: diệc bộ diệc xu có nghĩa là cùng bước theo cùng chạy theo(các bậc tu hành đắc đạo để lên cõi Niết Bàn)

Lẫn vào bóng cây bóng tháp, lẫn vào trong tiếng chim và hương hoa lànhững đường nét dựng xây cổ kính Thượng điện dài 13,60 m rộng 8,61 m

Hạ điện dài 10,6 m rộng 8 m Tam quan với lầu gác chuông đường bệ Trước

Trang 22

tam quan là một cái hồ rộng càng tăng thêm vẻ trang nghiêm và u tịch của nhàPhật Trong chùa có mười bảy pho tượng mà gương mặt dồn lên nỗi suy tưnhân thế Phía trong uy nghi và trầm mặc những bức đại tự lưỡng long triềunguyệt, câu đối sơn son thiếp vàng, tòa sen và hương án lung linh ánh nến.Đặc biệt có hai bia đá lớn, cao 2 m rộng 1 m với những hình chạm khắc tinhvi Cửa Thiền rạng sáng sự tế độ và dòng nước sông Vĩnh đón nguồn từ xachảy về vĩnh viễn chiếu vào đôi câu đối: Thiền môn quang phổ độ - Vĩnh thủyviễn trường lưu Lòng người cầu mong sự hòa mục và phép Phật ưa chuộngđiều tín điều trung chiếu vào đôi câu đối: Nhân tâm cầu hòa lạc - Phật phápthượng tín trung.

Ngôi chùa hầu như gắn liền với bao biến thiên lịch sử, với bao nhiêu sựkiện trọng đại của thành phố Nơi đây đã in dấu chân của nhiều tao nhân mặckhách, của nhiều nhà chí sĩ yêu nước và nhiều chiến sĩ cộng sản

2.1.6 Thành cổ Vinh

Thành cổ vinh nằm trên địa phận 2 xã Yên Trường và Vĩnh Yên, Tổngyên trường, huyện Chân lộc nay thuộc địa bàn các phường Cửa Nam, ĐộiCung, Quang Trung của thành phố vinh Nghệ An Là một công trình kiến trúctiêu biểu dưới thời nhà nguyễn, được xây dựng kiên cố vào năm 1831 thờivua Minh Mạng

Mãi đến năm 1931 vua Minh Mạng mới cho xây lại thành bằng đá ongtheo kiểu Vô-băng (Vô băng là tên một tướng Pháp có sáng kiến thiết kếkiểu thành này) Thành có 6 cạnh, chu vi dài 603 trượng (2.412m), cao 1trượng, 1 tấc, 5 thước (4,42 m), diện tích: 420.000m2, bao xung quanh cóhào rộng 7 trượng (28 m), sâu 8 thước ta (3,20 m) Lúc khởi công, Triềuđình nhà Nguyễn đã huy động 1000 lính Thanh Hoá, 4000 lính Nghệ An.Đến thời Tự Đức, khi nâng cấp phải lấy 8599 phiến đá sò từ Diễn Châu và

đá ong từ Nam Đàn, 4.848 cân vôi, 155 cân mật mía, với tổng kinh phí là3.688 quan tiền

Trang 23

Thành cổ có 3 cửa ra vào Cửa tiền: Là cửa chính hướng về phía Nam, cửa

để Vua ngự giá, các quan trong lục bộ triều đình và Tổng đốc ra vào Cửa Tảhướng về phía đông, Cửa hữu hướng về phía Tây Muốn đi qua các cửa đều phảiqua một cái cầu Bên trong, công trình lớn nhất là hành cung, phía đông Hànhcung có dinh Thống Đốc, phía nam có dinh Bố Chánh và án Sát, dinh lãnh binh,dinh đốc học, phía bắc có trại lính và nhà ngục Sau này phía tây có nhà giám binhngười Pháp Toàn bộ được trang bị 65 khẩu thần công, 47 khẩu đặt ở các vọnggác, số còn lại tập trung ở hành cung và dinh thống đốc

Trải qua nhiều biến cố của lịch sử và sự phá hoại của chiến tranh, ditích Thành cổ hầu như không còn lại gì, chỉ còn lại 3 cổng thành và khu hồbao quanh Tỉnh và Thành phố đã khôi phục, trùng tu lại 2/3 cổng thành đồngthời quy hoạch khôi phục lại di tích và cải tạo thành một công viên văn hoálớn của Thành phố gọi tên là Công viên Thành cổ Vinh vói quần thể các loạihình dịch vụ, vui chơi giải trí, du lịch văn hoá đa dạng, phong phú

2.1.7 Cồn Mô

Cồn Mô thuộc phường Bến Thuỷ - TP.Vinh - tỉnh Nghệ An Di tíchnằm về phía Đông Nam - thành phố Vinh, ở điểm giao nhau giữa đường thiên

lý Bắc Nam, đường ven sông Lam

Thời Pháp thuộc, Bến Thuỷ gọi là Yên Dũng Hạ, Đệ Thập, sau Cáchmạng tháng 8 năm 1945 gọi là xã Hưng Thuỷ, từ năm 1982 đến nay gọi làphường Bến Thuỷ Trải qua các thời kỳ lịch sử, Bến Thuỷ chẳng những làvùng danh thắng non nước hữu tình mà còn là nơi trọng trấn, có vị trí chiếnlược hàng đầu trên mảnh đất xứ Nghệ

Trong những năm tiền khởi nghĩa các đội tự vệ, cảm tử các làng YênDũng Hạ, Đệ Thập đã chọn địa điểm Cồn Mô làm nơi luyện tập, học sinh kéođến Cồn Mô may cờ đỏ sao vàng, mít tinh…Cồn Mô đã trở thành địa chỉ đỏcách mạng của nhân dân Bến Thuỷ và các vùng lân cận trong suốt hai cuộckháng chiến chống Pháp và chống Mỹ

Trang 24

Cồn Mô trước năm 1930 là một mô đất cao 4m với diện tích rộng4,104 m2, cây cối rậm rạp, xanh tốt

Để ghi nhớ những chiến tích tại Cồn Mô, Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dântỉnh Nghệ An, Uỷ ban nhân dân thành phố Vinh đã ra quyết định số1492/QĐUB ngày 3-1-1989 xây dựng tượng đài tại vị trí Cồn Mô, vật liệuxây dựng chủ yếu là gạch, xi măng và cát Tượng đài cao 10 m, rộng 4m, trêncùng có biểu tượng hình cánh buồm mang ý nghĩa: “cánh buồm đưa conthuyền cách mạng tiến lên thắng lợi” trên có hình búa liềm, mặt trước củabiểu tượng có hình trống Xô viết tượng trưng cho vũ khí đấu tranh của công -nông Vinh - Bến Thuỷ Toàn bộ bệ tượng đài mỗi bên có 5 bậc tam cấp lênxuống Xung quanh được xây hàng rào bảo vệ, có một cổng chính ra vào

Hàng năm đến các ngày lễ lớn, UBND TP Vinh và UBND phươngBến Thuỷ cùng nhân dân thành phố Vinh mang vòng hoa đến viếng, kính cẩnnghiêng mình trước đài tưởng niệm nhớ đến các chiến sỹ đã hy sinh và những

sự kiện tiêu biểu trong phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh Với ý nghĩa đó, tháng

2 năm 1997, Bộ Văn hoá Thông tin đã có quyết định công nhận Cồn Mô làmột di tích lịch sử Văn hoá cấp quốc gia

2.1.8 Cụm Làng Đỏ Hưng Dũng

Cụm di tích Làng đỏ Hưng Dũng, bao gồm:

- Dăm Mụ Nuôi: là nơi các đồng chí Nguyễn Phong Sắc, Nguyễn ĐứcCảnh cùng các đồng chí trong Xứ ủy Trung Kỳ hội họp bí mật, đồng thời làđịa điểm thành lập Chi bộ Đảng Yên Dũng, nơi họp bàn chuẩn bị cho cáccuộc đấu tranh, nơi diễn ra nhiều sinh hoạt văn hóa, văn nghệ khi chính quyền

Xô Viết ra đời…- Cây Sanh chùa Nia: Địa điểm treo cờ Đảng, là nơi tập trung

tự vệ để tập luyện trong phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh…

- Nhà ông Nguyễn Hữu Diên: Cơ quan ấn loát của Xứ ủy Trung Kỳ…

- Nhà ông Nguyễn Sỹ Huyến, nhà ông Lê Mai: Cơ sở ấn loát, hội họp của Xứ

ủy Trung Kỳ và Tỉnh ủy Vinh – Bến Thủy…

Trang 25

Hiện nay cụm di tích làng đỏ Hưng Dũng thuộc phường Hưng Dũng,thành phố Vinh Từ trung tâm thành phố Vinh, du khách có thể dễ dàng đếnthăm cụm di tích này bằng nhiều phương tiện khác nhau…theo các tuyếnđường như: Nguyễn Phong Sắc, Đại lộ 3/2, Phong Định Cảng, Nguyễn ViếtXuân…

Hưng Dũng ban đầu là một phần của xã Dũng Quyết Vào khoảng giữathế kỷ XIX, Dũng Quyết đổi thành Yên Dũng bao gồm Yên Dũng Hạ và YênDũng Thượng, là một trong 17 đơn vị hành chính thuộc tổng Yên Trường,huyện Chân Lộc, tỉnh Nghệ An Yên Dũng Hạ là phường Bến Thủy và Trung

Đô bây giờ, còn Yên Dũng Thượng bao gồm các phường Trường Thi, HưngDũng, một phần phường Hưng Bình, Hà Huy Tập, Hưng Lộc

Yên Dũng là mảnh đất cằn cỗi, khí hậu khắc nghiệt nên cuộc sống củanhân dân gặp nhiều khó khăn, vất vả Cuộc sống gian khổ đó đã hun đúc chongười dân nơi đây đức tính cần cù lao động, nếp sống tiết kiệm, tình đoàn kếtthương yêu nhau và tinh thần thượng võ chống lại những bất công xã hội…góp phần tạo nên truyền thống cách mạng kiên cường của nhân dân xứ Nghệ

Ngày 5/11/1930, trong thư gửi Quốc tế Nông dân, lãnh tụ Nguyễn ÁiQuốc đã viết: “Hiện nay ở một số làng Đỏ, Xô – viết nông dân đã được thànhlập” Làng đỏ là một tên gọi chung để chỉ những làng xã có phong trào cáchmạng mạnh mẽ, đập tan chính quyền cũ lập nên chính quyền Xô viết YênDũng Thượng là một địa phương có đầy đủ những yếu tố đó và xứng đáng vớitên gọi “Làng Đỏ”

Nhằm ghi nhận những đóng góp của nhân dân Hưng Dũng, đồng thời

để bảo tồn và phát huy truyền thống cách mạng của địa phương, ngày27/4/1990, Bộ Văn hóa Thông tin đã ra Quyết định công nhận quần thể di tíchlịch sử tại Làng Đỏ Hưng Dũng

Quần thể di tích tại Làng Đỏ Hưng Dũng đã vinh dự được đón nhiềuđồng chí lãnh đạo của Đảng và Nhà nước về thăm như cố Tổng Bí thưNguyễn Văn Linh, Đại tướng Võ Nguyễn Giáp… Đây chính là niềm tự hào

Trang 26

riêng có của nhân dân Hưng Dũng nói riêng và nhân dân Nghệ An nói chungtrong trang sử vàng của mảnh đất địa linh nhân kiệt này.

2.1.9 Nhà Thờ Họ Uông

Nhà thờ họ Uông trước đây thuộc làng Ninh Thọ, xã Đức Thịnh, tổngYên Trường, phủ Hưng Nguyên (nay là làng Đức Thịnh, xã Hưng Lộc, thànhphố Vinh, tỉnh Nghệ An) Di tích cách trung tâm thành phố Vinh khoảng 4km

về phía Đông Bắc Du khách thập phương có thể dễ dàng tham quan di tíchbằng đường bộ với nhiều loại phương tiện theo tuyến đường quốc lộ Vinh –Cửa Hội – Cửa Lò

Dòng họ Uông là một trong những dòng họ có mặt sớm nhất trên mảnhđất Hưng Lộc, nổi tiếng bởi truyền thống hiếu học và yêu nước Trải qua cáctriều đại, nhiều người làm quan to, đậu đạt, thành danh như: Uông TrọngCông (Đại tướng Đô đốc thời Lê), Uông Mạnh Chướng (Thượng thư Bộ Lạithời Nguyễn), Uông Văn Hoan, Uông Văn Đường, Uông Nhật Hân, Uông Sỹ

Tư (đậu Tú tài, Thám hoa thời Nguyễn); Uông Sỹ Túy, Uông Huy Danh(tham gia phong trào Văn Thân – Cần Vương do vua Hàm Nghi khởi xướng)

Nhà thờ họ Uông được xây dựng năm Mậu Dần – thời Nguyễn (1878)

để thờ phụng tổ tiên dòng họ Uông.Không chỉ có nhiều giá trị về văn hóa,Nhà thờ họ có những giá trị lịch sử to lớn Đây là nơi đã ghi dấu những nămtháng đấu tranh kiên cường của nhân dân Hồng Lam trong phong trào XôViết Nghệ Tĩnh 1930-1931

Ban đầu, Nhà thờ họ Uông gồm 3 gian nhà tranh, tọa lạc trên một khuđất rộng, xung quanh cây cối xanh tốt Trước mặt di tích là cánh đồng rộngmênh mông của nhân dân Hưng Lộc Năm 1944, nhà thờ được xây cất lạivững chãi với diện tích 30m2 bằng nhiều loại gỗ quý như lim, săng lẻ…, máiđược lợp ngói đỏ Hưng Kỳ Bài trí nội thất gồm 3 gian thờ: gian giữa thờ Đạitướng Đô đốc Uông Trọng Công; gian phải thờ Thượng thư Bộ lại UôngMạnh Chướng; còn gian trái thờ con cháu dòng họ Uông các đời sau Kết cấu

Trang 27

kiến trúc của nhà thờ được xây dựng theo kiểu: “Tiền hạ - Hậu trụ” để tiệncho việc thờ cúng Trên các đầu đao của nhà thờ có 8 con rồng chầu lại Ởgiữa nóc có biểu tượng hổ phù và mặt nguyệt Đến năm 1982 nhà thờ tiếp tụcđược tu sửa lại trước sự tàn phá của thiên tai Trải qua bao thăng trầm của lịch

sử, hiện nay Nhà thờ họ Uông vẫn còn giữ được nhiều hiện vật quý báu như:

5 ngai thờ, một số mâm chè, đài sáp, lư hương, gươm, mũ thờ…

Hàng năm, dòng họ Uông thường tổ chức tế lễ tổ tiên, tưởng nhớ cácliệt sỹ đã hy sinh trong phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh vào các ngày rằm,mồng một âm lịch Di tích này trở thành một trong những địa chỉ để con cháugần xa và du khách thập phương tham quan, khảo cứu về những năm thángđấu tranh oanh liệt của ông cha trong những năm 1930-1931

Với những giá trị to lớn đó, Nhà thờ họ Uông đã được Bộ Văn hóa Thông tin(nay là Bộ Văn hóa Thể thao và Du Lịch) công nhận là di tích lịch sử, văn hóacấp quốc gia vào năm 1992

2.1.10 Nhà Thờ Họ Hoàng

Nhà thờ họ Hoàng nằm trong làng đỏ Lộc Đa, nay thuộc xã Hưng Lộc,thành phố Vinh Di tích cách trung tâm thành phố 2km về phía Đông Bắc Dukhách thập phương có thể dễ dàng ghé thăm này bằng nhiều loại phương tiệnnhư ô tô, xe máy, xe đạp theo tuyến quốc lộ Vinh – Cửa Hội – Cửa Lò.Nhà thờ họ Hoàng được con cháu trong họ tộc khởi dựng vào năm 1913 đểthờ các vị tổ của dòng họ như phó bảng Hoàng Văn Nha, tú tài Hoàng VănDương… Đặc biệt, di tích này đã gắn bó với tên tuổi của đồng chí HoàngTrọng Trì

Đồng chí Hoàng Trọng Trì sinh ra trong một gia đình có cha làm nghề dạyhọc, mẹ là một phụ nữ đảm đang, trung hậu… Lớn lên trong cảnh nhân dânlầm than, khổ cực do chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, được

sự giáo dục của gia đình, Hoàng Trọng Trì đã sớm tiếp thu những truyềnthống tốt đẹp của quê hương để hòa mình vào phong trào đấu tranh của quầnchúng Anh đã sớm mở lớp dạy học để tuyên truyền cho học sinh tư tưởng

Trang 28

yêu nước, tinh thần dân tộc và vận động học sinh tham gia vào các cuộc đấutranh với bọn hào lý trong làng….nhà thờ họ Hoàng là địa điểm quan trọnggắn liền với quá trình hoạt động của Xứ ủy Trung Kỳ Di tích này đã gópphần làm nên nhiều cuộc đấu tranh tiêu biểu trong phong trào Xô Viết NghệTĩnh năm 1930-1931.

Sau Cách mạng tháng Tám, Nhà nước đã tặng bằng có công với nước cho 21gia đình đã có công bảo vệ Xứ ủy Trung Kỳ tại làng Lộc Đa – Đức Thịnh.Trong đó có 6 gia đình đã có công bảo vệ Xứ ủy Trung Kỳ, Tỉnh ủy Vinh –Bến Thủy đóng tại nhà thờ họ Hoàng như: gia đình đồng chí Nguyễn Thiệu,

bà Nguyễn Thị Lan (vợ đồng chí Hoàng Trọng Trì), Trần Cảnh Hồng, TrầnCảnh Bình, Nguyễn Thị Tú, ông Cửu Thuyết…

Không chỉ mang trong mình nhiều giá trị lịch sử của mảnh đất Lộc Đa, ĐứcThịnh, nhà thờ họ Hoàng còn có nhiều giá trị văn hóa

Nhà thờ gồm 3 gian 2 hồi, lợp ngói nam, kiến trúc theo kiểu tứ trụ, trên nócđắp nổi hình “lưỡng long triều nguyệt” Nhà thờ có 12 cột, cột cái cao 2,8m;cột quân cao 2,1m, có hành lang xung quanh Gian thờ ở giữa vẽ cuốn thư vớihai chữ “Chính trung” (nghĩa là chân chính và trung thực) Hai gian hai bên

mở cửa ra vào, phía ngoài có 4 cột quyết bằng gạch khắc hai câu đối:

“Thể lệ gia phong truyền tự cổ

Á u vũ lỗ khách phùng kim”

Nghĩa là: Nề nếp gia phong được truyền từ lâu

Nay gặp được thế hệ kế tiếp

“ Công đức tổ tiên truyền vạn kiếp Hiếu trung con cháu nối muôn đời”

Nhà thờ họ Hoàng trải qua sự khắc nghiệt của thời gian và chiến tranhnhưng hiện vẫn còn lưu giữ được một số đồ thờ tự như: lư hương, cọc nếnhương, hiệu bụt, mâm cỗ bồng…

Trang 29

Từ năm 1990 đến nay, nhà thờ họ Hoàng đã được con cháu tu sửanhiều lần để giữ gìn và phát huy giá trị quý báu của di tích.

Nằm trên mảnh đất Lộc Đa, Đức Thịnh, chứng kiến bao cuộc đấu tranhanh dũng của nhân dân ta trong phong trào Xô Viết, và là nơi làm việc của Xứ

ủy Trung kỳ năm 1930… thờ họ Hoàng được công nhận là di tích lịch sử, vănhóa cấp Quốc gia năm 1995

2.1.11 Đền Trìa

Đền Trìa là ngôi đền được nhiều thế hệ nhân dân Đức Thịnh, Lộc Đathuộc Tổng Yên Trường trước kia và xã Hưng lộc hôm nay gìn giữ trongnhiều thế kỷ Theo sử tích Nghệ an, Đền Trìa được lập từ thế kỷ XV, khoảngnăm 1410, cuối triều Nhà Trần cách đây 600 năm, thời kỳ Trần Quý Khoángvào Nghệ An lên ngôi Vua, hiệu triệu quân dân Hoan - Diễn chống giặcMinh Đền Trìa tương truyền thờ linh vị các bậc thánh nhân có công lao đánhgiặc, hộ quốc, bảo hộ dân

Đền Trìa toạ lạc trên vùng đất đẹp, có tổng diện tích khuôn viên hơn1.742m2, cây cối rậm rạp, bốn mùa xanh tươi khí sắc Đền được xây dựngtheo thế "nội công, ngoại quốc" Hàng năm vào trung tuần tháng giêng, tháng

7, Tết nguyên đán nhân dân Đức Thịnh, Lộc đa và các vùng phụ cận tổ chứcđại lễ trọng thể, nhằm tưởng nhớ, tôn vinh các bậc tiền nhân, các vị thánhnhân đã có công bảo vệ, giữ yên bờ cõi trong kháng chiến chống giặc Minhxâm lược

Trải qua nhiều thế kỷ, trong sự tàn phá của bom đạn và thời tiết khắcnghiệt đã khiến cho quần thể Đền Trìa xuống cấp nghiêm trọng Trong quầnthể này chỉ còn lại nhà Trung điện, đồ tế khí hầu như không còn

Để đáp ứng nguyện vọng của nhân dân, qua nhiều bước thẩm định dự

án của xã Hưng Lộc, ngày 12/8/2009, UBND Tỉnh đã có quyết định số 3923phê duyệt cho địa phương đầu tư, tôn tạo, tu sửa phát huy giá trị lịch sử ĐềnTrìa ngang tầm vị thế vùng miền và cả nước

Trang 30

Công trình XD có tổng diện tích sử dụng và khai thác là 567m2, baogồm các hạng mục: Phục hồi nhà thượng điện, hạ điện, tả vu, hữu vu, tu sửnhà trung điện, xây mới cổng đền, bia dẫn tích, tắc môn (bình phong), nhàhoá hương, tường bao, sân đền và công trình phụ Tổng giá trị đầu tư côngtrình là 6,4 tỷ đồng Đến nay, xã Hưng Lộc đã hoàn thành 2 nhà thượng điện

và tả vu, hiện đang khẩn trương thi công nhà hạ điện, nhà hữu vụ và 1 số côngtrình còn lại Trong quá trình xây dựng, Hưng Lộc chú trọng kiến trúc côngtrình đảm bảo các yếu tố mỹ thuật, chất lượng kết cấu nguyên liệu bền vữngphù hợp với đời sống tâm linh văn hoá dân tộc gắn với nét hiện đại trong xuthế hội nhập và phát triển Công trình hoàn thành sẽ thêm một chứng tích, mộtđịa chỉ lịch sử, văn hoá trong không gian du lịch phong phú sâu sắc hình tháigiáo dục đạo lý "uống nước nhớ nguồn" cho hôm nay và mai sau

2.2 Thực trạng hoạt động du lịch tại các di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia thành phố Vinh

2.2.1 Cơ cấu khách du lịch

2.2.1.1 Tình hình khách du lịch đến Nghệ An trong những năm gần đây

Trong quá trình hội nhập và phát triển, Nghệ An là một trong những tỉnhđang có những bước tiến xa về hoạt động du lịch, cơ cấu khách du lịch đếnvới Nghệ An ngày càng tăng lên, ngoài khách du lịch nội địa thì số lượngkhách du lịch quốc tế đã dần có những biến đổi nhanh về số lượng

Bảng2.1 Lượng khách du lịch đến Nghệ An từ 2010 - 2013.

Năm Tổng khách du lịch

(triệu lượt)

Khách quốc tế (ngàn lượt)

Khách nội địa (triệu lượt)

Trang 31

Biểu đồ 2.1.Cơ cấu khách du lịch từ năm 2010-2013

Theo mục tiêu của tỉnh đề ra chỉ tiêu đat được qua các năm tăng dần và nămsau cao hơn năm trước

Năm 2010 tổng lượt khách 2,74 triệu lượt khách, đạt 103,4 % kế hoạch.Khách quốc tế 97.000 lượt bằng 12% so với năm 2009

Riêng năm 2011, mặc dù gặp nhiều khó khăn do lạm phát kinh tế toàncầu, du lịch Nghệ An vẫn đạt mức tăng trưởng khá, tổng lượng khách du lịchđạt 2,95 triệu lượt, trong đó có trên 98.000 lượt khách quốc tế

Năm 2012 khách du lịch ước đạt 3.086.220 lượt khách bằng 104 % sovới năm 2011, đạt 96 % so với kế hoạch, trong đó khách quốc tế đạt 98.780lượt bằng 102 % so với năm 2011, đạt 79% so với kế hoạch

Năm 2013 gắn với việc thúc đẩy phát triển các ngành dịch vụ là hànhđộng cụ thể để thu hút khách du lịch, giúp ngành Du lịch Nghệ An vượt quakhó khăn, tăng trưởng và phát triển, tạo đà cho du lịch Nghệ An phát triển bềnvững trong các năm tiếp theo Chương trình kích cầu cũng nhằm mục đích thuhút sự tham gia chủ động và tích cực của các doanh nghiệp lữ hành, kháchsạn, nhà hàng và các dịch vụ khác để góp phần hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch

Năm

Ngày đăng: 06/09/2021, 16:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thị Phượng , “ Nghệ An, di tích – danh thắng”,sở văn hóa thông tin Nghệ An, xuất bản 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ An, di tích – danh thắng”
2. Sở văn hóa thông tin Nghệ An, “Nghệ An, di tích – danh thắng”, NXB Nghệ An, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ An, di tích – danh thắng
Tác giả: Sở văn hóa thông tin Nghệ An
Nhà XB: NXB Nghệ An
Năm: 2005
3. Ninh Viết Giao,“ Tục thờ thần và thần tích Nghệ An”, sở văn hóa thông tin nghệ An, Vinh, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục thờ thần và thần tích Nghệ An
Tác giả: Ninh Viết Giao
Nhà XB: sở văn hóa thông tin nghệ An
Năm: 2000
4. Ninh Viết Giao,“ Từ điển nhân vật xứ nghệ ”, hội văn nghệ dân gian Nghệ An, NXB tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển nhân vật xứ nghệ
Tác giả: Ninh Viết Giao
Nhà XB: hội văn nghệ dân gian Nghệ An
Năm: 2008
5. Đào Tam Đỉnh, “Tìm trong di sản văn hóa xứ nghệ”, xuất bản 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm trong di sản văn hóa xứ nghệ”
6. Nguyễn Đổng Chi (chủ biên), “Địa chí văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh”, NXB Nghệ An, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Địa chí văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh
Nhà XB: NXB Nghệ An
7. Trần Viết Thụ (chủ biên), “Địa danh lịch sử văn hóa Nghệ An”, NXB Nghệ An, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Địa danh lịch sử văn hóa Nghệ An
Nhà XB: NXB NghệAn
7. Hippolyte Le Breton, “An Tĩnh cổ lục”, NXB Nghệ An, Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, Vinh 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: An Tĩnh cổ lục”
Nhà XB: NXB Nghệ An
8. Sở văn hóa thông tin Nghệ An, Bảo tàng tổng hợp Nghệ An , “ Lý lịch Thành cổ Vinh”, Nghệ An, Vinh 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý lịch Thành cổ Vinh
Tác giả: Sở văn hóa thông tin Nghệ An, Bảo tàng tổng hợp Nghệ An
Nhà XB: Nghệ An
Năm: 1996
9. Sở văn hóa thông tin Nghệ An, Ban quản lý di tích danh thắng,“Danh mục kiểm kê di tích – danh thắng trên địa bàn Nghệ An”, Nghệ An, Vinh 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Danh mụckiểm kê di tích – danh thắng trên địa bàn Nghệ An”
10. Sở văn hóa thể thao và du lịch Nghệ An, chương trình phát triển du lịch Nghệ An giai đoạn 2011- 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: chương trình phát triển du lịch Nghệ An giai đoạn 2011- 2015
Tác giả: Sở văn hóa thể thao và du lịch Nghệ An

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2. Tổng doanh thu du lịch từ năm 2010 – 2013 - Hoạt động du lịch tại các di tích lịch sử   văn hóa cấp quốc gia thành phố vinh thực trạng và giải pháp
Bảng 2.2. Tổng doanh thu du lịch từ năm 2010 – 2013 (Trang 32)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w