Khu di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh Cửa Đạt (gọi tắt là Khu DT LSVH Cửa Đạt) là một quần thể di tích tọa lạc trên một vị trí đất cao nằm bên dòng sông Chu thuộc xã Xuân Mỹ (nay là xã Vạn Xuân) huyện Thường Xuân. Cách Thành phố Thanh Hóa về hướng Tây khoảng 60 km nhưng khu di tích Cửa Đạt thu hút khá đông du khách khắp nơi về thăm. Huyện Thường Xuân có công trình Hồ thủy điện Cửa Đạt là niềm tự hào của Thanh Hóa. Không những mang tính chất là đập thủy lợi quan trọng mà còn mang ý nghĩa là khu du lịch với phong cảnh thiên nhiên tuyệt vời. Để gìn giữ và phát huy các giá trị lịch sử văn hóa tại Khu di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh Cửa Đạt nhằm góp phần phát triển du lịch 3 và phát triển kinh tế xã hội của địa phương. Tôi chọn đề tài: “Quản lý Khu di tích lịch sử văn hóa Cửa Đạt huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa gắn với phát triển du lịch” làm luận văn tốt nghiệp cao học, chuyên ngành Quản lý văn hóa.
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA - BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA, THẾ THAO VÀ DU LỊCH
LƯƠNG VĂN SAO
QUẢN LÝ KHU DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA CỬA ĐẠT
HUYỆN THƯỜNG XUÂN, TỈNH THANH HÓA
GẮN VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA
THANH HÓA, 2022
Trang 2ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA - BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA, THẾ THAO VÀ DU LỊCH
LƯƠNG VĂN SAO
QUẢN LÝ KHU DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA CỬA ĐẠT
HUYỆN THƯỜNG XUÂN, TỈNH THANH HÓA
GẮN VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH
Chuyên ngành: Quản lý văn hóa
Mã số: 8229042
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA
Người hướng dẫn khoa học: TS Vũ Văn Tuyến
THANH HÓA, 2022
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Vũ Văn Tuyến Tất cả hệ thống lý luận, các số liệu và những kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực Luận văn không sao chép, trùng lặp với bất kỳ công trình nào Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những lời cam đoan của mình
Thanh Hóa, ngày 25 tháng 7 năm 2022
Tác giả luận văn
Lương Văn Sao
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, phòng Đào tạo Sau Đại học, trường Đại Học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa đã tạo mọi điều kiện cho em trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Xin gửi lời tri ân tới quý thầy, quý cô đã tận tình giảng dạy lớp cao học K5, chuyên ngành Quản lý Văn hóa, trường Đại Học Văn hóa, Thể thao và
Du lịch Thanh Hóa, niên khóa 2020 - 2022
Sau một thời gian tiến hành triển khai nghiên cứu, em cũng đã hoàn
thành nội dung luận văn “Quản lý khu di tích lịch sử - văn hóa Cửa Đạt huyện
Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa gắn với phát triển du lịch” Luận văn được
hoàn thành không chỉ là công sức của bản thân tác giả mà còn có sự giúp đỡ của Phòng VH-TT, các cơ quan, đơn vị, ban, ngành của huyện Thường Xuân
Trước hết, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến thầy TS
Vũ Văn Tuyến, người trực tiếp hướng dẫn cho luận văn cho em Thầy đã dành cho em nhiều thời gian, tâm sức, cho em nhiều ý kiến, nhận xét quý báu, chỉnh sửa cho em những chi tiết nhỏ trong luận văn, giúp luận văn của em được hoàn thiện hơn về mặt nội dung và hình thức Thầy cũng đã luôn quan tâm, động viên, nhắc nhở để em có thể hoàn thành luận văn đúng tiến độ
Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến các cơ quan, đơn vị của tỉnh và huyện
đã tạo điều kiện thuận lợi, nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra thực trạng luận văn
Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè, các anh/chị cùng lớp cao học K5, vì đã luôn động viên, quan tâm giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn
Cuối cùng xin kính chúc quý thầy, cô dồi dào sức khỏe, hạnh phúc và thành công trong cuộc sống
Thanh Hóa, ngày 25 tháng 7 năm 2022
Tác giả luận văn
Lương Văn Sao
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Kết quả đạt được 8
7 Cấu trúc của luận văn 9
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA VÀ TỔNG QUAN VỀ KHU DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA CỬA ĐẠT, HUYỆN THƯỜNG XUÂN, TỈNH THANH HÓA 10
1.1 Cơ sở lý luận quản lý di tích lịch sử - văn hóa 10
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 10
1.1.2 Nội dung quản lý di tích lịch sử - văn hóa 16
1.1.3 Quan điểm về quản lý di tích lịch sử - văn hóa gắn với phát triển du lịch 24
1.2 Tổng quan về khu di tích lịch sử - văn hóa Cửa Đạt, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa 26
1.2.1 Vài nét về huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa 26
1.2.2 Khu di tích lịch sử - văn hóa Cửa Đạt, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa 33
Tiểu kết chương 1 39
Trang 6Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ KHU DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA CỬA ĐẠT, HUYỆN THƯỜNG XUÂN, TỈNH THANH HÓA GẮN
VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH 40
2.1 Thực trạng công tác quản lý khu di tích lịch sử - văn hóa Cửa Đặt gắn với phát triển du lịch 40
2.1.1 Tổ chức bộ máy 40
2.1.2 Thực hiện các văn bản quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa 47
2.1.3 Công tác tuyên truyền phổ biến trong nhân dân về pháp luật bảo vệ di tích lịch sử - văn hóa 48
2.1.4 Công tác quản lý bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa gắn với phát triển du lịch 50
2.1.5 Công tác xã hội hóa trong việc tham gia quản lý di tích lịch sử - văn hóa gắn với phát triển du lịch 56
2.1.6 Quản lý hoạt động dịch vụ tại Khu di tích 57
2.1.7 Công tác quản lý tài chính 59
2.1.8 Công tác thanh tra, kiểm tra 60
2.2 Đánh giá công tác quản lý khu di tích lịch sử - văn hóa gắn với phát triển du lịch 61
2.2.1 Ưu điểm 61
2.2.2 Hạn chế 62
2.2.3 Nguyên nhân 64
Tiểu kết chương 2 65
Chương 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ KHU DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA CỬA ĐẠT, HUYỆN THƯỜNG XUÂN, TỈNH THANH HÓA GẮN VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH 66
3.1 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về quản lý di sản văn hóa và di tích lịch sử - văn hóa 66
Trang 73.2 Dự báo những tác động ảnh hưởng tới công tác quản lý khu di tích lịch sử
- văn hóa Cửa Đặt, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa 69
3.2.1 Những tác động tích cực 69
3.2.2 Những tác động tiêu cực 73
3.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý khu di tích lịch sử - văn hóa Cửa Đạt gắn với phát triển du lịch 74
3.3.1 Nâng cao công tác chỉ đạo, lãnh đạo quản lý 74
3.3.2 Đào tạo nguồn nhân lực có chuyên môn trong quản lý di tích lịch sử - văn hóa gắn với phát triển du lịch 76
3.3.3 Đẩy mạnh và đa dạng hóa công tác thông tin tuyên truyền, quảng bá di tích lịch sử - văn hóa gắn với phát triển du lịch 77
3.3.4 Nâng cao hiệu quả quản lý về bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa 78
3.3.5 Phát huy giá trị của di tích lịch sử - văn hóa gắn với phát triển du lịch 79 3.3.6 Huy động sự tham gia của cộng đồng trong việc bảo tồn, tôn tạo và khai thác di tích lịch sử văn - hóa phục vụ phát triển du lịch 81
3.3.7 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý các vi phạm 83
3.4 Một số khuyến nghị 84
3.4.1 Khuyến nghị với sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa 84
3.4.2 Khuyến nghị với Ủy ban nhân dân huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa 85
Tiểu kết chương 3 86
KẾT LUẬN 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
MỤC LỤC PHỤ LỤC 93
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
VH - TT Văn hóa -Thông tin
Trang 9DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Mô hình quản lý khu di tích lịch sử - văn hóa Cửa Đạt 40
Sơ đồ 2.2 Cơ cấu tổ chức Ban quản lý Khu di tích lịch sử - văn hóa Cửa Đạt 45 Bảng 2.1 Danh sách Ban QL khu DT LS-VH Cửa Đạt 46
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam là nước nằm ở Khu vực Đông Nam Á có nhiều di sản văn hóa (DSVH) đặc biệt là hệ thống di tích lịch sử - văn hóa có giá trị Giá trị của hệ thống di tích lịch sử - văn hóa là nguồn tài nguyên văn hóa quan trọng trong công cuộc phát triển đất nước Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay Di tích lịch sử - văn hóa là nơi bảo lưu những giá trị truyền thống của lịch sử và thể hiện nền văn hóa lâu đời của dân tộc Thường Xuân là một vùng đất có nhiều di tích lịch sử văn hóa; có lẽ những cái tên quen thuộc như: Đền Cửa Đạt, Đền Bà Chúa Thượng Ngàn
đã làm nên một dấu ấn Thường Xuân trong lòng du khách gần xa Thường Xuân là đơn vị hành chính thuộc tỉnh Thanh Hóa với ưu thế, lợi thế về các
di tích lịch sử văn hóa gắn với phát triển du lịch Trong những năm qua, các cấp ủy Đảng, chính quyền, các cơ quan, ban, ngành, Mặt trận, đoàn thể trên địa bàn huyện Thường Xuân cùng với 17 xã, thị trấn đã chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện cùng với sự đồng tình, ủng hộ của Nhân dân nên công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích lịch sử, văn hóa, thắng cảnh bước đầu đạt được những kết quả nhất định Di tích lịch sử
- văn hóa được coi là nguồn căn cứ, minh chứng trong nghiên cứu lịch sử dân tộc, trong đó di tích lịch sử là bằng chứng xác thực cụ thể cho đặc điểm lịch
sử - văn hóa của một dân tộc, là nơi bảo lưu những giá trị truyền thống của quá khứ, là tấm gương phản chiếu lịch sử của dân tộc
Thường Xuân là huyện thuộc khu vực miền núi phía Tây tỉnh Thanh Hóa, có vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên ưu đãi, đất đai màu mỡ thuận lợi cho việc giao thương với các địa phương trên địa bàn tỉnh Là một địa phương có
bề dày truyền thống lịch sử - văn hóa Tiếp tục thực hiện Chương trình hành động số 21-CTr/HU ngày 11/9/2014 của Huyện ủy Thường Xuân về “Thực
Trang 11hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 của Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” Ngày 25 tháng 10 năm 2016 Huyện ủy Thường Xuân ban hành Nghị quyết số 04 - NQ/HU về phát triển du lịch, bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích lịch
sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh trên địa bàn huyện giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến năm 2025
Trong đó, di tích lịch sử - văn hóa mang nhiều giá trị và niềm tin là niềm
tự hào của mỗi địa phương Những yếu tố về tự nhiên, lịch sử xã hội như trên
đã góp phần tạo cho huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa gìn giữ được những di tích lịch sử - văn hóa giá trị được lưu truyền đến ngày nay Hiện nay, toàn huyện có 03 di tích cấp Tỉnh, 02 Lễ hội làng: lễ hội đua thuyền và lễ hội cơm mới, 01 di tích được Sở VHTT&DL tỉnh Thanh Hóa lập hồ sơ và đã gửi Bộ VHTT&DL công nhận di tích cấp Quốc gia Tam vị tiền hiền Cầm Bá Hiển, xã Vạn Xuân; trong đó tiêu biểu nhất trong hệ thống di tích lịch sử - văn hóa của huyện Thường Xuân là khu di tích Cửa Đạt, nơi đây có nhiều tiềm năng để khai thác phát triển du lịch
Khu di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh Cửa Đạt (gọi tắt là Khu DT LS-VH Cửa Đạt) là một quần thể di tích tọa lạc trên một vị trí đất cao nằm bên dòng sông Chu thuộc xã Xuân Mỹ (nay là xã Vạn Xuân) huyện Thường Xuân Cách Thành phố Thanh Hóa về hướng Tây khoảng 60 km nhưng khu di tích Cửa Đạt thu hút khá đông du khách khắp nơi về thăm Huyện Thường Xuân có công trình Hồ thủy điện Cửa Đạt là niềm tự hào của Thanh Hóa Không những mang tính chất là đập thủy lợi quan trọng mà còn mang ý nghĩa là khu du lịch với phong cảnh thiên nhiên tuyệt vời
Để gìn giữ và phát huy các giá trị lịch sử - văn hóa tại Khu di tích lịch sử
- văn hóa và danh lam thắng cảnh Cửa Đạt nhằm góp phần phát triển du lịch
Trang 12và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Tôi chọn đề tài: “Quản lý Khu
di tích lịch sử - văn hóa Cửa Đạt huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa gắn với phát triển du lịch” làm luận văn tốt nghiệp cao học, chuyên ngành Quản
lý văn hóa
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Công tác bảo tồn, quản lý và khai thác phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa và danh thắng gắn với phát triển các loại hình du lịch đã được đề cập
ở nhiều công trình nghiên cứu như sau:
- Năm 2007, tác giả Lê Văn Tuấn bảo vệ luận văn thạc sĩ chuyên ngành địa lý với đề tài: “Nghiên cứu tiềm năng và định hướng khai thác các di tích lịch sử - văn hóa tỉnh Quảng Trị phục vụ và phát triển hoạt động du lịch” Luận văn đã phân tích tiềm năng của hệ thống di tích lịch sử - văn hóa và đưa
ra định hướng khai thác hệ thống di tích lịch sử - văn hóa phục vụ vào hoạt động du lịch
- Năm 2008, tác giả Hoàng Trọng Tuân bảo vệ luận văn Thạc sĩ với chủ đề: “Định hướng khai thác các di tích lịch sử phục vụ phát triển du lịch ở Thừa Thiên Huế” Luận văn đã xác định các phương pháp thích hợp trong nghiên cứu, đánh giá về hệ thống di tích lịch sử - văn hóa phục vụ phát triển
du lịch trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, xác định những tồn tại và nguyên nhân trong thực trạng khai thác hệ thống di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn tỉnh, là cơ sở cho việc xây dựng định hướng khai thác du lịch tại các di tích lịch sử, tuy nhiên tác giả chưa đề cập đến vai trò quản lý nhà nước đối với hệ thống di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế
- Năm 2015, NCS Trần Đức Nguyên bảo vệ thành công luận án tiến sĩ với đề tài: “Quản lý di tích lịch sử văn hóa ở Bắc Ninh trong quá trình công nghiệp hóa - Hiện đại hóa” Tác giả đã đưa ra ý kiến đánh giá công tác quản
lý di tích tại địa phương Tác giả thông qua cơ sở lý luận về quản lý di tích đã
Trang 13tiến hành khảo sát 2 đối tượng là: cán bộ quản lý di tích và người dân về công tác quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa tại địa phương Từ thực tế của hệ thống di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn tác giả đã đặt ra câu hỏi về thực trạng quản lý di tích, những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân và những giải pháp cần thiết để giải quyết vấn đề Đây là công trình có ý nghĩa thực tiễn đối với tỉnh Bắc Ninh và là tài liệu tham khảo khi nghiên cứu lĩnh vực di tích lịch sử - văn hóa
- Năm 2004, Tác giả Nguyễn Quốc Hùng có bài viết đăng trên Tạp chí DSVH, số 9 năm 2004 với đề tài: “Tầm nhìn tương lai đối với di sản văn hóa
và hệ thống bảo vệ di tích ở nước ta” Bài viết cũng đề cập tới những tác động của công nghiệp hóa, đô thị hóa làm tổn hại tới hệ thống di sản văn hóa nói chung và di tích lịch sử - văn hóa nói riêng Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này việc chưa đồng bộ, thiếu ý thức và thiếu quan tâm đến việc bảo tồn di sản văn hóa của một số địa phương trong quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng các cơ sở vật chất…Đồng thời, Tác giả bài viết đã phân tích khá kỹ ba nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa trong điều kiện công nghiệp hóa, đô thị hóa hiện trong giai đoạn hiện nay
Trên phạm vi địa phương tỉnh Thanh Hóa, đã có một số công trình tiêu biểu bàn về vấn đề này như:
- Trong cuốn sách “Thanh Hóa di tích và thắng cảnh” của Bảo tàng tổng hợp tỉnh Thanh Hóa do Nhà xuất bản Thanh Hóa xuất bản năm 2001 Sách giới thiệu về danh thắng và di tích của Thanh Hóa suốt chiều dài lịch sử (trong đó có danh thắng và di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Nga Sơn được đề cập khá chi tiết với các tích như động Từ Thức, các đền chùa )
- Trong cuốn sách “Lễ tục, lệ hội truyền thống xứ Thanh” xuất bản năm
2001 của nhóm tác giả Hoàng Anh Nhân - Lê Huy Trâm đã đề cập ở khía
Trang 14cạnh Lễ tục, lệ hội truyền thống ở Thanh Hóa, còn các di tích lịch sử văn hóa chỉ mang tính chất giới thiệu một cách sơ lược
- Năm 1995, trên tạp chí VHNT số 4, Tác giả Đặng Văn Bài có bài viết với chủ đề: “Vấn đề quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo tồn di tích” Bài viết tập trung vào một số nội dung chủ yếu của công tác quản lý nhà nước đối với
di sản văn hóa bao gồm: Quản lý nhà nước bằng văn bản pháp quy (gồm có các văn bản pháp quy về bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa; quyết định về
cơ chế, tổ chức quy hoạch và kế hoạch phát triển; quyết định phân cấp quản lý ); Việc phân cấp quản lý di tích; Hệ thống tổ chức ngành bảo tồn - bảo tàng và đầu tư ngân sách cho các cơ quan quản lý di tích Đây là yếu tố có tính chất quyết định nhằm tăng cường hiệu quả công tác quản lý di tích
- Năm 2017, Tác giả Vũ Thế Hùng bảo vệ thành công luận văn thạc sĩ quản lý công của với đề tài: “Quản lý nhà nước đối với các di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa” Đề tài đã tập trung bàn về thực trạng và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với các di tích LS-VH trên địa bàn huyện Tĩnh Gia Chú trọng đánh giá về vận dụng pháp lý trong công tác quản lý đối với hệ thống di tích trên địa bàn
- Năm 2014, tác giả Trương Quốc Huy đã bảo vệ luận văn thạc sĩ văn hóa học với đề tài: “Bảo tồn và phát huy DSVH ở huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa” Luận văn đã trình bày vai trò của hoạt động bảo tồn và phát huy DSVH trong xã hội hiện đại; đánh giá những vấn đề đặt ra trong công tác bảo tồn và phát huy DSVH trên địa bàn huyện Hậu Lộc và đưa ra quan điểm, phương hướng, nhiệm vụ để tăng cường hiệu quả hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị DSVH của địa phương
- Năm 2013, Ban quản lý di tích và danh thắng Thanh Hóa (nay là Trung tâm bảo tồn di sản văn hóa Thanh Hóa) đã lập lý lịch di tích Đền thờ Cầm Bá
Trang 15Thước và Bà Chúa Thượng Ngàn (di tích Cửa Đạt) Trong hồ sơ này đã khảo
tả di tích (vị trí, đường đi đến, giá trị lịch sử - văn hóa - khoa học, khoang vùng bảo vệ di tích,…)
Tóm lại, đã có không ít công trình nghiên cứu liên quan đến công tác quản lý DSVH nói chung, di tích LS -VH nói riêng và các công trình về khai thác, phát huy giá trị văn hóa, di tích trên địa bàn huyện Thường Xuân nhưng chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu nào bàn về quản lý, khai thác hệ thống di tích LS - VH trên địa bàn huyện Thường Xuân gắn với phát triển du lịch Đây là một khoảng trống nghiên cứu cần được giải quyết để có thể bổ sung luận cứ khoa học giúp cho địa phương nâng cao hơn nữa việc khai thác các tiềm năng, thế mạnh của địa phương phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế
Từ đó, đề xuất được các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý khu di tích lịch sử - văn hóa Cửa Đạt, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa gắn với phát triển du lịch trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đáp ứng mục đích nghiên cứu, đề tài có những nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận chung về quản lý di tích và phát triển du lịch
- Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý khu di tích lịch sử - văn hóa Cửa Đạt, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa gắn với phát triển du lịch
Trang 16- Trên cơ sở thực trạng, đề xuất các giải pháp để nâng cao chất lượng
và hiệu quả của công tác quản lý khu di tích lịch sử - văn hóa Cửa Đạt, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa gắn với phát triển du lịch một cách toàn diện
và bền vững
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Công tác quản lý khu di tích lịch sử - văn hóa Cửa Đạt, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa gắn với phát triển du lịch
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi luận văn nghiên cứu tại khu di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh Cửa Đạt
4.3 Thời gian nghiên cứu
Trọng tâm là những số liệu để chứng minh công tác quản lý di tích được cập nhật từ năm 2016 đến 2021
5 Phương pháp nghiên cứu
- Kế thừa các tài liệu thứ cấp: để hoàn thiện luận văn, tác giả đã đọc
và kế thừa các công trình nghiên cứu như: sách, kết quả các chương trình, dự
án, các tài liệu thống kê và báo cáo tổng kết do Ban Quản lý Khu Di tích lịch
sử - văn hóa Cửa Đạt, huyện Thường Xuân thực hiện
+ Phương pháp điền dã: Tác giả luận văn thực hiện quan sát công tác
tổ chức quản lý và phát huy giá trị của khu di tích lịch sử - văn hóa Cửa Đạt
để đánh giá thực trạng về công tác tổ chức và hoạt động quản lý di tích Phỏng vấn một số CBQL di tích của huyện và một số người dân sống tại vùng
di tích, thống kê các ý kiến và thực hiện đánh giá vấn đề cần nghiên cứu Ngoài ra, tác giả còn tiến hành chụp ảnh để thu thập thêm nguồn tài liệu ở di tích này
Trang 17- Phương pháp phân tích: Dựa trên những thông tin và kết quả đã thu
thập được từ đó tác giả phân tích những ưu điểm, nhược điểm, cũng như hạn chế, bài học kinh nghiệm, thách thức, nguyên nhân trong công tác quản lý đối với di tích Từ đó, đưa ra những hướng khắc phục, phát huy tối đa hiệu quả trong công tác quản lý
- Phương pháp so sánh: Trong quá trình nghiên cứu di tích và công
tác quản lý di tích, sử dụng phương pháp so sánh với mô hình quản lý di sản,
di tích ở một số địa phương trong nước, để thấy được giá trị của di sản cũng như hiệu quả quản lý di tích - lịch sử văn hóa gắn với khai thác phát triển du lịch tại khu di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh Cửa Đạt
- Phương pháp tổng hợp: Từ những kết quả của các phương pháp
trên, tác giả tiến hành tổng hợp và đánh giá về thực trạng quản lý khu di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh Cửa Đạt, đưa ra những giải pháp trong công tác quản lý khu di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh Cửa Đạt gắn với khai thác phát triển du lịch
Đưa ra quan điểm định hướng và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý di tích đồng thời khai thác và phát triển
du lịch bền vững nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội huyện Thường Xuân Đồng thời, luận văn có giá trị tham khảo cho các đơn vị quản lý di sản địa phương
Trang 187 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục Luận văn được cấu trúc gồm có 3 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý di tích lịch sử - văn hóa và tổng quan về khu di tích lịch sử - văn hóa Cửa Đạt, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa
Chương 2: Thực trạng quản lý khu di tích lịch sử - văn hóa Cửa Đạt, huyện Thường Xuân gắn với phát triển du lịch
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý khu di tích lịch sử - văn hóa Cửa Đạt huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa gắn với phát triển du lịch
Trang 19Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA VÀ TỔNG QUAN VỀ KHU DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA CỬA ĐẠT,
HUYỆN THƯỜNG XUÂN, TỈNH THANH HÓA
1.1 Cơ sở lý luận quản lý di tích lịch sử - văn hóa
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
+ Khái niệm Di tích
Theo Công ước về Bảo vệ Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới thì khái niệm Di tích là những dấu tích, vết tích vật chất có giá trị trong quá khứ trải qua sự biến thiên của lịch sử, sự dầm mưa dãi nắng, qua thời gian còn tồn tại cho đến ngày nay [43]
Theo Công ước về Bảo vệ Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, những loại hình được coi như di tích là:
- Di tích kiến trúc: các công trình kiến trúc, các công trình điêu khắc và hội họa kiến trúc, các bộ phận hoặc kết cấu có tính chất khảo cổ học, các bi
ký, các hang động cư trú và những bộ phận kết hợp, mà xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật hoặc khoa học là có giá trị nổi tiếng toàn cầu
- Nhóm công trình xây dựng: các nhóm công trình riêng lẻ hoặc liên kết
mà do tính chất kiến trúc, tính chất đồng nhất hoặc vị thế của chúng trong cảnh quan xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật hoặc khoa học là có giá trị nổi tiếng toàn cầu
Theo Công ước về Bảo vệ Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới thì khái niệm di chỉ là các công trình của con người hoặc công trình kết hợp giữa con người và thiên nhiên, cũng như các khu vực có các di chỉ khảo cổ học mà xét theo quan điểm lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhân học là có giá trị nổi tiếng toàn cầu [43]
Trang 20Theo Công ước về Bảo vệ Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới thì khái
niệm di vật được hiểu là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn
hóa, khoa học; Cổ vật được hiểu là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học, có từ 100 năm tuổi trở lên; Bảo vật quốc gia được hiểu là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quí hiếm tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hóa, khoa học
Từ những cơ sở lý luận trên, tác giả luận văn nhận thấy khái niệm về di
tích như sau: Di tích là một không gian vật chất, cảnh quan thiên nhiên cụ
thể, khách quan; nó không những là sự kết tinh giữa cảnh quan thiên nhiên và những giá trị lao động do con người trong lịch sử sáng tạo ra mà còn chứa đựng những giá trị điển hình về lịch sử, văn hóa, khoa học
+ Khái niệm Di tích lịch sử - văn hóa (DT LS-VH)
Trên thế giới có rất nhiều văn bản khác nhau đưa ra khái niệm về DT LS-VH, mỗi khái niệm đều có hàm nghĩa phong phú, đa dạng Hiểu rõ về khái niệm DT LS-VH là hiểu rõ về thành tố quan trọng cấu thành nên di sản văn hóa Di tích lịch sử không chỉ là một công trình kiến trúc mà còn cả các khu đô thị hoặc nông thôn trong đó được tìm thấy bằng chứng của một nền văn minh cụ thể, phát triển quan trọng hay một sự kiện lịch sử Trong các cuốn Đại từ điển tiếng Việt, di tích lịch sử văn hóa được hiểu là “Tổng thể những công trình, địa điểm, đồ vật hoặc tác phẩm, tài liệu có giá trị lịch sử hay giá trị văn hóa được lưu lại” [45, tr.414]
Theo Điều 1, Hiến chương Quốc tế về Bảo tồn và Trùng tu Di tích và Di chỉ (thường được gọi là Hiến chương Venice) thì khái niệm di tích LSVH: Không chỉ là một công trình kiến trúc đơn chiếc mà cả khung cảnh đô thị hoặc nông thôn có chứng tích của một nền văn minh riêng, một phát triển có ý nghĩa hoặc một sự kiện lịch sử [27, tr.1]
Trang 21Theo Luật Di sản Văn hóa do Quốc Hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ban hành: “Di tích lịch sử văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó
có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học” [40]
Ở đây, có thể hiểu rộng ra các công trình xây dựng, địa điểm đó là các tòa nhà, đài tưởng niệm, quảng trường, khu phố… gắn với các sự kiện lịch sử, các di chỉ khảo cổ, các địa điểm gắn với hoạt động tôn giáo tín ngưỡng… Theo điều 28 Luật Di sản văn hóa quy định Di tích LSVH phải có một trong các tiêu chí sau: [40]
a) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước;
b) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân của đất nước;
c) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, kháng chiến;
d) Địa điểm có giá trị tiêu biểu về khảo cổ;
đ) Quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử [40, tr.17-18]
Căn cứ điều 11 Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 của Chính phủ về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa thì di tích được phân ra thành 04 loại hình [25]:
Một là, di tích khảo cổ học gồm những địa điểm khảo cổ có giá trị nổi
bật, đánh dấu các giai đoạn phát triển của văn hóa khảo cổ;
Hai là, loại hình di tích lịch sử bao gồm những công trình xây dựng, địa
điểm ghi dấu sự kiện, mốc lịch sử quan trọng của dân tộc, của địa phương hoặc gắn với anh hùng dân tộc, danh nhân, nhà hoạt động chính trị, văn hóa,
Trang 22nghệ thuật, khoa học nổi tiếng có ảnh hưởng quan trọng đối với tiến trình lịch
sử của dân tộc;
Ba là, loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật bao gồm: công trình kiến trúc,
nghệ thuật quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu trong các giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật Việt Nam;
n là, loại hình di tích danh lam, thắng cảnh Cảnh quan thiên nhiên
đ p hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc, nghệ thuật hoặc khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù [25]
+ Khái niệm Quản lý
Có nhiều học giả, nhà nghiên cứu đưa ra khái niệm về quản lý Trong Đại từ điển tiếng Việt, “quản lý” được hiểu là việc tổ chức, điều khiển hoạt động của một số đơn vị, cơ quan; việc trông coi, gìn giữ và theo dõi việc gì [45, tr.1288] Các nhà nghiên cứu về khoa học quản lý đưa ra khái niệm cụ thể hơn: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản
lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra” [46, tr.11-12] Để thực hiện công tác quản lý cần phải dựa vào các công cụ quản lý là các chính sách
về luật pháp, chiến lược phát triển, quy hoạch, đề án bảo vệ và phát huy di sản, nguồn lực, tài chính, các công trình nghiên cứu khoa học… nhằm đạt được các mục đích đã đề ra
- Chủ thể quản lý: là tác nhân tạo ra các tác động quản lý Chủ thể luôn
là con người hoặc tổ chức Chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý bằng các công cụ với những phương pháp thích hợp theo những nguyên tắc nhất định [46]
- Đối tượng quản lý tiếp nhận trực tiếp sự tác động của chủ thể quản lý Tuỳ theo từng loại đối tượng khác nhau mà người ta chia thành các dạng quản
lý khác nhau [46]
Trang 23- Khách thể quản lý chịu sự tác động hay sự điều chỉnh của chủ thể quản
lý, đó là hành vi của con người và các quá trình xã hội [46]
- Mục tiêu của quản lý: là cái đích phải đạt tới tại một thời điểm nhất định do chủ thể quản lý định trước Đây là căn cứ để chủ thể quản lý thực hiện các động tác quản lý cũng như lựa chọn các phương pháp quản lý thích hợp Quản lý ra đời chính là nhằm đến mục tiêu hiệu quả nhiều hơn, năng suất cao hơn trong tất cả các lĩnh vực của xã hội [46]
Với những phân tích ở trên, tác giả luận văn nhận thấy khái niệm quản lý
như sau: Quản lý là quá trình tác động có mục đích của chủ thể quản lý lên
đ i tượng quản lý để đạt được mục tiêu nhất định thông qua hệ th ng luật pháp và các quy định có tính pháp lý
+ Khái niệm quản lý văn hóa
Quản lý văn hóa là một lĩnh vực cụ thể của quản lý, thường được hiểu là: Công việc của Nhà nước được thực hiện thống qua việc ban hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hóa, đồng thời nhằm góp phần phát triển kinh tế, xã hội của từng địa phương nói riêng, cả nước nói chung Ngoài ra, quản lý văn hóa còn được hiểu là sự tác động chủ quan bằng nhiều hình thức, phương pháp của chủ thể quản lý (các cơ quan đảng, nhà nước, đoàn thể, các cơ cấu dân sự, các cá nhân được trao quyền và trách nhiệm quản lý) đối với khách thể (là mọi thành tố tham gia và làm nên đời sống văn hóa) nhằm đạt được mục tiêu mong muốn [34, tr.26]
+ Quản lý di tích lịch sử - văn hóa
Quản lý DT LSVH còn là sự định hướng, tạo điều kiện tổ chức, điều hành việc bảo vệ, gìn giữ các DTLS-VH, làm cho các giá trị của di tích được phát huy theo chiều hướng tích cực Các DT LSVH cần được tôn trọng và bảo
vệ vì đây là tài sản vô giá, được trao truyền qua nhiều thế hệ Việc bảo vệ, khai thác, sử dụng có hiệu quả những DT LSVH có ý nghĩa quan trọng trong
Trang 24việc giáo dục truyền thống, phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học, tham quan du lịch, đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ và văn hóa của nhân dân Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước như đặc thù của nước
ta hiện nay thì văn hóa cần được quản lý và định hướng để phục vụ cho mục tiêu phát triển KT-XH của đất nước, đồng thời bảo tồn được các giá trị của của bản sắc văn hóa dân tộc [34]
Qua những cơ sở lý luận như trên, Tác giả luận văn nhận thấy sử dụng
đưa ra khái niệm quản lý di tích lịch sử văn hóa như sau: Quản lý DT LS-VH
là quá trình tác động liên tục của chủ thể (cơ quan quản lý Nhà nước) lên đ i tượng quản lý (các di tích, các tổ chức, cá nhân đang trực tiếp quản lý, khai thác di tích) bằng hoạch định cơ chế, chính sách, bằng pháp luật, bằng tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra để nhằm đạt được mục đích bảo tồn và phát huy giá trị của di tích
+ Khái niệm về Du lịch:
Theo Đại từ điển Tiếng Việt thì khái niệm Du lịch là việc đi lại nhằm mục đích niềm vui hoặc kinh doanh; cũng là lý thuyết và thực hành về tổ chức các chương trình du lịch, ngành kinh doanh nhằm thu hút, cung cấp và giải trí cho khách khu dịch, và việc kinh doanh của các tổ chức điều hành các tour du lịch [46]
Tại Điểm 1 Điều 3 Chương I, Luật Du lịch số 09/2017/QH14, ngày 19/6/2017 quy định rõ: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với các mục đích hợp pháp khác
*Du lịch lịch sử:
Bên cạnh nhu cầu du lịch tham quan, nghỉ dưỡng và giải trí thì thời gian gần đây, khách du lịch đặt nhiều sự quan tâm đến du lịch lịch sử, đặc biệt là các di tích lịch sử cách mạng Phát triển du lịch từ việc phát huy giá trị của
Trang 25các di tích lịch sử cách mạng không chỉ làm phong phú thêm các loại hình du lịch, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của du khách mà còn góp phần phát huy giá trị của di tích, giúp tăng cường giáo dục và nâng cao truyền thống văn hóa - lịch sử của dân tộc
*Du lịch tâm linh:
Du lịch tâm linh là loại hình du lịch văn hóa, lấy yếu tố văn hóa tâm linh vừa làm cơ sở, vừa làm mục tiêu nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm linh của con người trong đời sống tinh thần… Theo đó, du lịch tâm linh mang lại những cảm xúc trải nghiệm thiêng liêng về tinh thần của con người trong khi đi du lịch
1.1.2 Nội dung quản lý di tích lịch sử - văn hóa
Quản lý nhà nước về DSVH được quy định tại Chương 5 mục 1 điều 54 Luật DSVH năm 2001, sửa đổi bổ sung năm 2009 và trên cơ sở thực tiễn triển
khai các hoạt động quản lý, nội dung cụ thể như sau:
1.1.2.1 Xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch bảo tồn di tích lịch
sử - văn hóa
Xây dựng quy hoạch cho DT LS - VH là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của cơ quan quản lý di sản, nó góp phần thực hiện tốt các mục tiêu lớn của quốc gia về quản lý di sản văn hóa Hiện nay, việc xây dựng quy hoạch được căn cứ vào Nghị định 70/2012/NĐ-CP quy định “Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích thì quy hoạch, kế hoạch bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa phải được lập, phê duyệt với định hướng lâu dài từ 10 năm đến 20 năm để làm cơ sở cho các hoạt động đầu tư bảo quản, tu bổ, phục hồi, khai thác, phát huy giá trị di tích Đồng thời, phải phân thành định kỳ 5 năm
kể từ năm 2010 để đánh giá lại, xem xét điều chỉnh nhằm phù hợp với thực tiễn bảo vệ di tích, với quy hoạch xây dựng và các quy hoạch chuyên ngành khác đã được phê duyệt còn hiệu lực hoặc đã thực hiện” [26]
Trang 26Theo Các DTLS-VH được đưa vào quy hoạch tổng thể bao gồm các loại hình như: di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia đặc biệt, cụm di tích lịch
sử - văn hóa cấp quốc gia, di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh cấp tỉnh theo từng quần thể phân bố trên địa bàn các huyện, thị xã, thành phố Trên cơ sở đó, các địa phương sẽ áp dụng triển khai thực hiện một cách có hiệu quả từ việc quy hoạch khoanh vùng bảo vệ di tích, xây dựng kế hoạch tổng thể về các khu DT LS - VH đang bị xuống cấp để có phương án tu bổ Đồng thời, xây dựng chiến lược về nguồn nhân lực lâu dài để đáp ứng cho nhu cầu từng giai đoạn và của từng địa phương Từ đó, góp phần quan trọng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị DT LS - VH, hạn chế việc làm biến dạng, sai lệch, lấn chiếm, hay hủy hoại không gian của di tích [26]
Mục tiêu cần hướng tới của việc tổ chức, quản lý, quy hoạch di tích lịch
sử - văn hóa là đảm bảo giữ gìn tối đa các yếu tố nguyên gốc của di tích, đồng thời khai thác phát huy giá trị di tích phục vụ sự phát triển kinh tế - văn hóa -
xã hội, đáp ứng được nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần của người dân
1.1.2.2 Xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện các văn bản pháp quy
Luật DSVH số 28/2001/QH10 được Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 14/6/2001 được xem là văn bản hoàn chỉnh nhất từ trước đến nay về vấn đề giữ gìn và phát huy DSVH nước ta Nội dung của Luật gồm 7 chương, 74 điều quy định những nội dung chủ yếu như khái niệm, nội dung của DSVH; phạm vi, đối tượng điều chỉnh của luật; chính sách biện pháp chủ yếu của Nhà nước nhằm bảo vệ DSVH; trách nhiệm của cơ quan Nhà nước,
tổ chức, cá nhân và của toàn bộ xã hội trong việc bảo vệ DSVH; giải thích các
từ ngữ về DSVH và bảo vệ, phát huy các DSVH; xác định quyền sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý và các hình thức sở hữu khác đối với DSVH; những mục đích của việc sử dụng và phát huy DSVH; các điều cấm nhằm bảo vệ DSVH Đối với việc giữ gìn và phát huy các di tích, văn bản
Trang 27Luật này quy định các nội dung chủ yếu: Phân hạng các di tích; Thẩm quyền, thủ tục xếp hạng các di tích; các khu vực bảo vệ di tích; tổ chức quản lý bảo
vệ, sử dụng và phát huy giá trị di tích; bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích; thẩm quyền phê duyệt các dự án bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích; trách nhiệm của các chủ đầu tư dự án với việc bảo vệ di tích trong quá trình xây
dựng; việc thăm dò, khai quật khảo cổ [40]
Để nâng cao hiệu quả của Luật DSVH trong cuộc sống, ngày 18/6/2009, tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật DSVH số 32/2009/QH12 sửa đổi bổ sung một số điều của Luật DSVH số 28/2001/QH10 Đối với các di tích, Luật này sửa đổi bổ sung một số nội dung về: khái niệm công trình DTLS-VH, phân hạng công trình di tích, thủ tục và thẩm quyền xếp hạng di tích, khoanh vùng bảo vệ di tích, các yêu cầu về trùng tu tu bổ di tích, bổ sung trách nhiệm của cơ quan nhà nước và chủ đầu
tư trong việc quản lý, thực hiện dự án trùng tu di tích [41]
Ngoài ra, Nhà nước còn ban hành các văn bản pháp lý làm phong phú và chặt chẽ hơn các quy định về quản lý di tích như: Quy hoạch tổng thể Bảo tồn
và Phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh đến năm
2020 đã được Bộ Trưởng Bộ VHTT ký Quyết định phê duyệt số BVHTT, ngày 24/7/2001 [20]; Nghị định số 15/2013/NĐ-CP ngày 06/02/2013 của Chính phủ về quản lý chất lượng công trình xây dựng thì công trình di tích được phân loại, phân cấp một cách rõ ràng để quản lý chất lượng trùng tu phù hợp với đặc thù công trình di tích; Nghị định 70/2012/NĐ-CP ngày 18/9/2012 của Chính phủ về thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, phê duyệt quy hoạch, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; Quyết định số 13/2004/QĐ-BVHTT ngày 01/4/2004 của Bộ trưởng Bộ VHTT về việc ban hành Định mức dự toán bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; Thông tư 09/2011/TT-BVHTTDL ngày 14/7/2011
Trang 281706/QĐ-của Bộ VHTTDL quy định về nội dung hồ sơ khoa học để xếp hạng di tích lịch
sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh
Tổ chức thực hiện theo các quy định nhà nước nêu trên sẽ góp phần quản lý chặt chẽ quá trình trùng tu di tích, đặc biệt là đảm bảo trùng tu theo đúng nguyên gốc của di tích Với hệ thống những văn bản trên đã chứng tỏ các thể chế, chính sách về quản lý DT LS - VH ngày càng hoàn thiện để công tác quản lý di tích tốt hơn Từ đó để các địa phương nói chung và huyện Thường Xuân nói riêng sẽ tự định hướng và ban hành hệ thống văn bản đúng quy trình theo quy định, đảm bảo được tính dân chủ, hợp lý và hiệu quả hơn khi triển khai thực hiện
1.1.2.3 Tổ chức quản lý hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa
Hệ thống di tích lịch sử - văn hóa là những di sản vô giá của nhân loại, tuy nhiên do các biến cố lịch sử và sự tàn phá của thời gian nên nhiều DTLS-
VH quý giá bị xuống cấp trầm trọng Bảo tồn và phát huy giá trị DTLS-VH là trách nhiệm của mỗi người và của cả cộng đồng trong việc gìn giữ những giá trị mà cha ông để lại [41]
Đảng và Nhà nước ta rất coi trọng vấn đề bảo tồn hệ thống di sản văn hóa nói chung và di tích lịch sử - văn hóa nói riêng trước những tác động xấu nhằm phòng ngừa, hạn chế những nguy cơ làm hư hỏng, thực hiện giữ gìn, bảo tồn yếu tố gốc vốn có của di tích lịch sử - văn hóa ở địa phương Đồng thời, phát huy giá trị lịch sử của hệ thống di tích lịch sử - văn hóa nhằm giáo dục, tuyên truyền đến mọi người dân hiểu được giá trị truyền thống lịch sử, văn hóa, lòng tự hào dân tộc; đáp ứng nhu cầu tham quan, nghiên cứu, học tập, sáng tạo và hưởng thụ văn hóa, nâng cao đời sống tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân; khai thác, phát triển du lịch qua việc giữ gìn và phát huy giá trị
di tích lịch sử - văn hóa, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
Trang 29Trong quá trình phát huy các giá trị của di sản văn hóa, nhà nước và các
tổ chức cá nhân căn cứ vào các văn bản pháp lý đã có, căn cứ vào Luật di sản văn hóa và công ước quốc tế về di sản văn hóa mà Việt Nam đã tham gia tiêu biểu như: Chỉ thị số 73/CT-BVHTTDL ngày 19 tháng 05 năm 2009 về việc tăng cường các biện pháp quản lý di tích và các hoạt động bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích, hay công văn số 2379/BVHTTDL-DSVH ngày 17 tháng 07 năm 2012 đề nghị Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố chỉ đạo tổ chức lập quy hoạch và công bố quy hoạch khảo cổ ở địa phương; tổ chức kiểm kê và công bố danh mục kiểm kê di tích để tiến hành bảo tồn, trùng tu di tích và phải tuân thủ quy định giữ gìn tối đa các yếu tố gốc cấu thành di tích
Các cán bộ cơ quan chuyên môn tại các địa phương phải có kế hoạch lập danh sách các di tích đã xuống cấp thông báo cho cơ quan có trách nhiệm
và bằng nguồn vốn của Nhà nước, của địa phương, của nguồn xã hội hóa thực hiện quy trình thủ tục hồ sơ tu bổ di tích Bên cạnh đó cần chú trọng đào tạo bồi dưỡng cán bộ văn hóa có kinh nghiệm hơn trong công tác tuyên truyền xuống cơ sở các giá trị của di tích và đẩy mạnh tuyên truyền bảo vệ DTLS-
VH thông qua hệ thống đài phát thanh cơ sở và các hình thức khác
Mô hình tổ chức quản lý bảo tồn và phát huy giá trị di tích do đơn vị quản lý di tích tại địa phương thực hiện theo sự chỉ đạo thống nhất từ trung ương đến địa phương, đứng đầu là Bộ VH,TT&DL, tiếp đến là các Sở, ban, ngành địa phương, xã, thị trấn
1.1.2.4 Hoạt động nghiên cứu khoa học bảo vệ, phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa
Muốn thực hiện tốt công tác quản lý di tích lịch sử - văn hóa trước hết phải hiểu rõ về di tích đó, có nghĩa là ta phải hiểu đối tượng mà mình cần quản lý, muốn làm được như vậy thì việc nghiên cứu, tìm hiểu đối tượng phải được thực hiện một cách thật thấu đáo, kỹ càng trên tất cả các mặt và khía cạnh khác nhau
Trang 30Việc nghiên cứu để nhận biết, phân loại giá trị các di tích, nhận thức những mặt tiêu biểu và những nét tiềm ẩn, đề ra hướng bảo vệ, phát huy giá trị di tích một cách tích cực và bền vững nhất
Đồng thời, thông qua các cuộc hội thảo, các buổi nghiên cứu khoa học giúp tìm ra giải pháp để giải quyết những vấn đề quản lý di tích lịch sử - văn hóa mà xã hội rất quan tâm
Yếu tố quan trọng nhất trong vai trò quản lý là việc phát huy hiệu quả nguồn nhân lực Vì thế, Bộ VHTT&DL và nhiều địa phương đã rất chú trọng đến việc phối hợp với các cơ quan chuyên môn, chuyên gia nước ngoài tiến hành đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý và tham gia trùng tu di tích Tại thông tư 18/2012/TT-BVHTT&DL ngày 28/12/2012 quy định, tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài tham gia lập quy hoạch, dự án trùng tu, báo cáo kinh tế - kỹ thuật trùng tu di tích, thiết kế trùng tu di tích và thi công trùng tu di tích phải có đủ điều kiện năng lực theo quy định của pháp luật về xây dựng và có giấy chứng nhận đủ điều kiện hành nghề trùng tu di tích đối với tổ chức và chứng chỉ hành nghề trùng tu di tích đối với cá nhân
Luật DSVH cũng đã quy định “Nhà nước đầu tư cho công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ trong việc bảo vệ và phát huy giá trị DSVH” [39] Việc tổ chức đào tạo và đào tạo lại đội ngũ chuyên gia, cán bộ về quản lý DTLS-VH cần được thực hiện một cách nghiêm túc với hệ thống kiến thức đầy đủ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đề
ra và các yêu cầu của khoa học đảm bảo thực hiện tốt tinh thần của việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích mà Luật DSVH đã quy định
Mỗi di tích lịch sử - văn hóa có đặc thù, giá trị riêng biệt, nên cần có một đội ngũ cán bộ làm công tác trùng tu, tôn tạo có chuyên môn cao về nghiệp vụ và kiến thức văn hóa - lịch sử - khoa học đáp ứng yêu cầu quản lý
và thực thi nghiệp vụ bảo quản, tu bổ, tôn tạo đối với di tích lịch sử - văn hóa,
Trang 31đủ năng lực để nghiên cứu lập hồ sơ lưu trữ và hoạt động bảo tồn phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa
1.1.2.5 Quản lý các nguồn lực nhằm bảo vệ, phát huy giá trị di tích lịch sử- văn hóa
Để thực hiện tốt công tác bảo vệ, phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa cần rất nhiều nguồn lực khác nhau Một trong những nguồn lực quan trọng là nguồn tài chính
Nguồn tài chính được thể hiện ở các mặt như sau:
- Thứ nhất, thông qua sự hỗ trợ của nhà nước, kinh phí theo chương trình mục tiêu quốc gia, chống xuống cấp di tích;
- Thứ hai, huy động các nguồn lực từ cộng đồng (khoản tài trợ, công đức
và các khoản thu khác) Đây là hình thức xã hội hóa trong hoạt động bảo tồn
và phát huy giá trị di tích
Nhưng các tổ chức cá nhân trong xã hội là một trong những nguồn lực lớn Xác định việc trùng tu di tích cần sự đóng góp của toàn xã hội nên tại Điều 57 Luật DSVH đã xác định “Nhà nước khuyến khích việc xã hội hóa hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị DSVH”, trong đó nguồn tài chính để bảo
vệ và phát huy giá trị DSVH bao gồm: “Ngân sách nhà nước; các khoản thu
từ hoạt động sử dụng và phát huy giá trị DSVH; tài trợ và đóng góp của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài” [40]
Khuyến khích tổ chức, cá nhân đóng góp, tài trợ cho việc bảo tồn và phát huy giá trị DTLS-VH Đồng thời, tổ chức cho cộng đồng quản lý, sử dụng nguồn kinh phí đó đúng mục đích và có hiệu quả Thông quan việc đóng góp, tài trợ của nhân dân, các địa phương đã ghi nhận bằng các hình thức thích hợp thể hiện sự ghi công của cộng đồng đối với các cá nhân và khuyến khích được
cá nhân đóng góp cho sự phát triển vì cộng đồng
Trang 32Tuy nhiên, trên thực tế, nguồn kinh phí xã hội hóa đóng góp chủ yếu tập trung vào việc xây dựng và tôn tạo lại các di tích gắn với tôn giáo, tín ngưỡng như đình, chùa, đền, miếu… còn đối các di tích thuộc loại hình khảo
cổ, lịch sử, lưu niệm danh nhân… thì ít thu hút được sự quan tâm đầu tư của cộng đồng mà chủ yếu dựa vào nguồn tài chính của nhà nước
1.1.2.6 Tổ chức thanh tra, kiểm tra, giải quyết đơn thư về di tích lịch sử- văn hóa
Công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm là một trong những chức năng của cơ quan quản lý nhà nước trong xã hội Đối với lĩnh vực quản lý di tích lịch sử - văn hóa cơ quan nhà nước thực hiện kiểm tra về lĩnh vực văn hóa và lĩnh vực xây dựng cơ bản
Theo đó thanh tra nhà nước về văn hóa có nhiệm vụ:
- Thanh tra việc chấp hành pháp luật về DSVH; thanh tra việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch về bảo vệ và phát huy giá trị DSVH; phát hiện, ngăn chặn và xử lý theo thẩm quyền đối với các hành vi vi phạm pháp luật về DSVH; tiếp nhận và kiến nghị việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về DSVH; kiến nghị các biện pháp để bảo đảm thi hành pháp luật về DSVH [40]
- Cơ quan QLNN về xây dựng cơ bản và cơ quan thanh tra khác thực hiện thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về đầu tư xây dựng và quản lý DSVH; thanh tra việc thực hiện quy hoạch, thiết kế, dự toán, thi công, giám sát, quản lý; phát hiện, ngăn chặn và xử lý theo thẩm quyền đối với các hành vi vi phạm pháp luật về xây dựng cơ bản; tiếp nhận và kiến nghị việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản trùng tu di tích
Cơ quan quản lý về di tích thực hiện xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra các vấn đề có liên quan đến chấp hành pháp luật về bảo vệ, phát huy giá trị
di tích lịch sử - văn hóa như:
- Tu bổ, tôn tạo di tích, bảo vệ di vật, cổ vật trong di tích, lấn chiếm đất đai, các hiện tượng, tệ nạn trong tổ chức lễ hội…;
Trang 33- Theo dõi, tiếp nhận thông tin phản ánh từ nhân dân về những vi phạm
có liên quan đến việc quản lý di tích để có biện pháp kịp thời hoặc kiến nghị các cấp có thẩm quyền giải quyết, xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật;
- Phối hợp với các đơn vị có liên quan để tổ chức kiểm tra theo định kỳ
và xử lý vi phạm trong quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di tích;
Thông qua công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo để theo dõi, đôn đốc các đơn vị quản lý di tích lịch sử - văn hóa để khắc phục các thiếu sót, hạn chế, ngăn ngừa phát sinh trong quá trình quản lý di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn
Đối tượng thanh tra có các quyền và nghĩa vụ sau đây: thực hiện yêu cầu của thanh tra tạo điều kiện để thanh tra thực hiện nhiệm vụ; chấp hành các quyết
định xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật về quản lý di sản văn hóa
1.1.3 Quan điểm về quản lý di tích lịch sử - văn hóa gắn với phát triển du lịch
Vấn đề bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới Có nhiều nhà nghiên cứu đưa ra các quan
điểm khác nhau nhưng tựu lại có 03 quan điểm chính đó là:
- Quan điểm bảo tồn nguyên gốc;
- Quan điểm bảo tồn trên cơ sở sự kế thừa;
- Quan điểm bảo tồn - phát triển
Theo quan điểm bảo tồn nguyên gốc, việc giữ gìn các di tích là đảm bảo giữ nguyên trạng vốn có của di sản văn hóa, tránh tình trạng làm biến dạng di tích Quan điểm này được các nhà nghiên cứu văn hóa, các nhà quản lý văn hóa cho đó là phù hợp với việc bảo tồn và phát huy giá trị di trích
Các nhà nghiên cứu nhìn nhận di sản văn hóa theo những cách tiếp cận mới, đặc biệt là về vai trò, giá trị của di tích trong quá trình phát triển đất nước Theo đó, di tích không còn được coi là của quá khứ mà di sản văn hóa được nhìn nhận là một quá trình sáng tạo văn hóa trong những môi trường vận động và sáng tạo
Trang 34Cần gìn giữ, bảo tồn các di tích tránh những nguy cơ bị hủy hoại, bị tàn phá bởi thiên nhiên, con người nhưng mặt khác cần đưa những giá trị của di tích để phục vụ cho sự phát triển của con người
Phát huy giá trị của di tích chính là sử dụng có hiệu quả các giá trị vốn
có của di tích (những giá trị mang tính tích cực, có ích cho thời đại) vào việc tạo nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội và trên cơ sở đó tuyên truyền sâu rộng cho cộng đồng, nâng cao trách nhiệm của cộng đồng về quản lý, bảo tồn
và phát huy giá trị di tích
Đối tượng của hoạt động quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di tích của luận văn là khu di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh Cửa Đạt huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa Việc bảo tồn di tích phải vì mục tiêu và gắn với phát triển kinh tế - xã hội của huyện Thường Xuân, đồng thời cần gắn với cộng đồng, tôn trọng và đề cao vai trò của cộng đồng với tư cách là chủ thể sáng tạo văn hóa, chủ sở hữu và hưởng thụ của di tích, đóng vai trò chủ động trong việc bảo vệ và phát huy giá trị khu di tích
Khu di tích cần được khai thác, phát huy giá trị để tuyên truyền, giáo dục về truyền thống, bản sắc văn hóa, quảng bá hình ảnh, góp phần thiết thực phục vụ sự phát triển kinh tế - xã hội ngày càng phát triển, đặc biệt là phải mang lại lợi ích thiết thực cả về tinh thần và vật chất cho cộng đồng cư dân nơi có di tích, di sản
Đây chính là quan điểm để tác giả luận văn vận dụng trong quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài Luận văn sẽ tiếp cận hoạt động quản lý trên các phương diện như việc ban hành các chính sách, văn bản pháp quy, các chiến lược phát triển cũng như việc quản lý hoạt động cụ thể nhằm bảo tồn, phát huy giá trị khu di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh Cửa Đạt gắn với khai thác phát triển du lịch
Trang 35Thực tế minh chứng di tích lịch sử - văn hóa tạo sức hấp dẫn vô cùng cho điểm đến du lịch Di tích lịch sử - văn hóa là động cơ, là môi trường tương tác và là những trải nghiệm đáng giá cho du khách, qua đó trở thành tài nguyên, nguồn lực chiến lược cho phát triển du lịch Di tích lịch sử - văn hóa
là tài nguyên du lịch có sức hấp dẫn mạnh mẽ, là động lực thu hút ngày càng nhiều khách tham quan Hiện nay, ngành du lịch được xác định mục tiêu phát triển thành ngành kinh tế mũi nhọn, một trong những nguồn lực chính phát triển đất nước Đối với loại hình du lịch tâm linh, du lịch về nguồn, du lịch nghiên cứu văn hóa, thì di tích lịch sử - văn hóa cũng là tiền đề, cơ sở quan trọng tạo nên tài nguyên du lịch, tạo nên thương hiệu cho ngành du lịch
Có thể khẳng định rằng, du lịch đã thúc đẩy việc quảng bá hệ giá trị của tài nguyên văn hóa, nền văn hóa của quốc gia Chính nhu cầu tham quan, tìm hiểu, trải nghiệm của du khách làm cho chính quyền và cộng đồng dân cư địa phương càng quý trọng, tự hào, quan tâm thực hiện tốt công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích Hoạt động du lịch dựa vào di tích trở thành cơ sở, động lực sinh kế chính cho người dân cũng như ngành kinh tế chủ lực của địa phương Tuy nhiên, trong xu hướng du lịch tăng trưởng mạnh như hiện nay, đặc biệt là du lịch đại trà đã và đang có những tác động tiêu cực tới di tích lịch sử - văn hóa
Khai thác các giá trị của di tích lịch sử - văn hóa gắn với phát triển du lịch, là góp phần thực hiện mục tiêu nhằm thúc đẩy phát triển du lịch, đưa du lịch cơ bản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn vào năm 2025 và đưa Việt Nam trở thành một nước có ngành du lịch phát triển vào năm 2030
1.2 Tổng quan về khu di tích lịch sử - văn hóa Cửa Đạt, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa
1.2.1 Vài nét về huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa
+ Điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý
Thường Xuân là một huyện miền núi nằm ở phía tây tỉnh Thanh Hóa Theo địa chí huyện Thường Xuân [35]: Huyện có 17 km đường biên giới với huyện Sầm Tớ, tỉnh Hủa Phăn, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào Huyện Thường Xuân nằm ở phía tây của tỉnh Thanh Hóa, có vị trí địa lý: [35]
Trang 36- Phía bắc giáp huyện Lang Chánh và huyện Ngọc Lặc;
- Phía đông giáp huyện Thọ Xuân, huyện Triệu Sơn và huyện Như Thanh;
- Phía nam giáp huyện Như Xuân và huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An;
- Phía tây giáp huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An và tỉnh Hủa Phăn nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
Theo địa chí huyện [35]: Huyện Thường Xuân có diện tích tự nhiên 1.107,17 km², là huyện rộng nhất tỉnh Thanh Hóa Địa hình huyện chủ yếu là đồi núi thấp, bị chia cắt nhiều, độ dốc lớn, có các đỉnh núi: Bù Chò (1.563 m),
Bù Rinh (1.291m) Có Sông Chu, Sông Dát chảy qua Có đường biên giới với nước Lào ở phía tây huyện Đất rừng chiếm khoảng 80% diện tích [35]
Huyện Thường Xuân có 16 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm thị trấn Thường Xuân (huyện lỵ) và 15 xã: Bát Mọt, Luận Khê, Luận Thành, Lương Sơn, Ngọc Phụng, Tân Thành, Thọ Thanh, Vạn Xuân, Xuân Cao, Xuân Chinh, Xuân Dương, Xuân L , Xuân Lộc, Xuân Thắng, Yên Nhân [35]
+ Lịch sử, hình thành và phát triển
Thường Xuân là một vùng đất cổ, đã qua quá trình hình thành và phát triển hàng ngàn năm lịch sử Thời thuộc Hán là vùng đất huyện Vô Biên, một phần ít thuộc huyện Cư Phong của quận Cửu Chân, một quận lớn thời kỳ đó Thời Tam Quốc đến nhà Tuỳ thuộc huyện Di Phong Thời Đường thuộc đất của huyện Trường Lâm, Thời Đinh, Lê, Lý vẫn giữ như thời Đường, thời Trần, Hồ và thời thuộc Minh gồm 2 phần thuộc các huyện Phần lớn thuộc huyện Nga Lạc (châu Thanh Hóa) Một phần ít thuộc huyện Nông Cống (châu Cửu Chân) Thời Lê vẫn thuộc đất của huyện Nga Lạc và huyện Nông Cống Thời Nguyễn và Minh Mệnh thứ 16 (1835) nhập huyện Thọ Xuân cũ (gồm 2 tổng Mậu Lộc và Quân Nhân) vốn là đất của huyện Thường Xuân lệ vào châu Lang Chánh Huyện Thọ Xuân cũ (miền núi) mất tên (huyện Thọ Xuân cũ
Trang 37không phải là huyện Thọ Xuân bây giờ, lúc đó gọi là huyện Lôi Dương) Năm Minh Mệnh thứ 18 (1837), châu Thường Xuân (còn gọi là Châu Thường) ra đời Năm Tự Đức thứ 3 (1850), bỏ Tri châu do Phủ Thọ Xuân kiêm lý [35]
Theo địa chí huyện Thường Xuân: Thường Xuân lúc này gồm 23 xã, chia làm 4 tổng:
- Tổng Nhân Sơn gồm 4 xã: Bát Mọt, Yên Nhân, Sơn Cao (sau đổi là Xuân Khao), Nhân Trầm (gồm nữa xã Xuân Mỹ và nữa xã Xuân Khao) nằm ở phía Tây của huyện [35];
- Tổng Trịnh Vạn có 4 xã: Trịnh Vạn (nay là Vạn Xuân), Lệ Khê (nay
là Xuân Chinh và Xuân L ), Mậu Lộc, Thắng Lộc (gồm xã Xuân Lộc, Thắng Lộc) [35];
- Tổng Luận Khê có 7 xã: Chu Hoành, Kỳ Pha, Trung Lập (nay là xã Tân Thành), Ngọc Trà, Yên Mỹ, Khê Hạ, La Lũ (nay là xã Luận Khê) [35];
- Tổng Quân Nhân gồm 4 xã: Ban Vân, Quân Nhân, Ban Công, Lâm
Lư (4 xã này đã cắt về huyện Như Xuân năm 1949) [35];
- Đến thời Đồng Khánh (1886 - 1888), châu Thường Xuân vẫn do phủ Thọ Xuân kiêm lý, nhưng về địa danh hành chính có một vài thay đổi nhỏ:
Cả châu Thường Xuân có 4 tổng 26 xã [35];
- Tổng Quân Nhân gồm 7 xã: Quân Nhân, Hương Cà, Bàn Cống, Phong Huân, Lâm Lư, Tri Giới và Ban Văn [35];
Trang 38Theo địa chí huyện Thường Xuân: Sau cách mạng tháng Tám 1945, châu Thường Xuân đổi thành huyện Thường Xuân và giữ nguyên cho đến hôm nay [35];
Sau năm 1954, huyện Thường Xuân có 13 xã: Bát Mọt, Luận Khê, Tân Thành, Thắng Lộc, Thọ Thanh, Vạn Xuân, Xuân Cẩm, Xuân Dương, Xuân Khao, Xuân L , Xuân Liên, Xuân Mỹ và Yên Nhân [35];
Ngày 25 tháng 6 năm 1963 có sự thay đổi như sau:
- Chuyển xã Lương Ngọc thuộc huyện Ngọc Lặc về huyện Thường Xuân quản lý và chia thành 2 xã: Lương Sơn và Ngọc Phụng
- Chia xã Xuân Khê thành 2 xã: Luận Khê và Xuân Cao
- Chia xã Xuân L thành 2 xã: Xuân L và Xuân Chinh
Ngày 29 tháng 9 năm 1983 có sự thay đổi như sau:
- Chia xã Thắng Lộc thành hai xã: Xuân Lộc và Xuân Thắng
- Thành lập xã Luận Thành trên cơ sở tách xóm Thành Thắng (xã Tân Thành), xóm Khe Hạ (xã Luận Khê) và xóm Cao Thắng (xã Xuân Cao)
Ngày 3 tháng 6 năm 1988, tách 184,95 ha diện tích tự nhiên với 2.566 nhân khẩu của xã Xuân Dương và 68,19 ha diện tích tự nhiên với 363 nhân khẩu của xã Ngọc Phụng để thành lập thị trấn Thường Xuân (thị trấn huyện lỵ huyện Thường Xuân) [35]
Năm 2006, giải thể 3 xã Xuân Khao, Xuân Liên và Xuân Mỹ để xây dựng Thủy điện Cửa Đạt Ngày 1 tháng 12 năm 2019, sáp nhập xã Xuân Cẩm vào thị trấn Thường Xuân Hiện nay, huyện Thường Xuân có 1 thị trấn và 15
xã bao gồm: thị trấn Thường Xuân (huyện lỵ) và 15 xã: Bát Mọt, Luận Khê, Luận Thành, Lương Sơn, Ngọc Phụng, Tân Thành, Thọ Thanh, Vạn Xuân, Xuân Cao, Xuân Chinh, Xuân Dương, Xuân L , Xuân Lộc, Xuân Thắng, Yên Nhân [35]
Trang 39+ Điều kiện kinh tế - xã hội
Theo thống kê của UBND huyện Thường Xuân, năm 2018, Huyện có số dân là 104.920 người, mật độ dân số đạt 95 người/km², gồm các dân tộc: Thái, Mường, Kinh, Tốc độ tăng trưởng GDP: 6,4%/năm Cơ cấu kinh tế: lâm nghiệp: 40%; nông nghiệp: 30%; dịch vụ - tiểu thủ công nghiệp: 30% Bình quân lương thực đầu người: 234 kg/năm GDP đầu người: 662 USD/người Tỉ lệ hộ nghèo: 17,2% (là 1 trong 7 huyện nghèo của Thanh Hóa)
Theo báo cáo về tình hình phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn
2016 - 2020 và kế hoạch giai đoạn 2021 - 2026 của huyện thì tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân hàng năm giai đoạn 2016 - 2020 đạt 14,5% Quy mô giá trị sản xuất năm 2020 (theo giá so sánh năm 2010) đạt 3.716 tỷ đồng, gấp 1,96 lần 2015 Thu nhập bình quân đầu người năm 2020 đạt 33,5 triệu đồng, gấp 1,83 lần so với năm 2015 Cơ cấu các ngành trong giá trị sản xuất chuyển dịch đúng hướng Tỷ trọng ngành nông - lâm - thủy sản năm
2020 chiếm 27,4%, giảm 7,87% so với năm 2015; ngành công nghiệp xây dựng chiếm 40,7%, tăng 3,91% so với năm 2015; ngành dịch vụ chiếm 31,9%, tăng 3,96% so với năm 2015
Kinh tế phát triển theo hướng khai thác tốt tiềm năng, thế mạnh của địa phương, để phát triển nhanh và bền vững Các sản phẩm có hiệu quả kinh tế cao được quy hoạch, tập trung nguồn lực đầu tư, bước đầu đã đạt kết quả tích cực đóng góp vào tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
+ Thành tựu trong lĩnh vực Văn hóa - Xã hội
Theo báo cáo về tình hình phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn
2016 - 2020 và kế hoạch giai đoạn 2021 - 2026 của huyện thì những tành tựu trong lĩnh vực Văn hóa - Xã hội được thể hiện như sau:
- Giáo dục - đào tạo: Thực hiện Đề án sắp xếp quy mô, mạng lưới trường lớp học phù hợp góp phần nâng cao chất lượng giáo dục Đổi mới, sáng tạo
Trang 40trong công tác lãnh đạo, quản lý; trật tự, kỷ cương trong nhà trường được giữ vững Chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được nâng lên, đến nay 100% giáo viên đạt trình độ chuẩn trở lên, cơ bản giải quyết việc thừa, thiếu giáo viên cục bộ Chất lượng giáo dục đại trà tăng, giáo dục mũi nhọn có chuyển biến rõ nét, hàng năm, số học sinh giỏi cấp tỉnh đều tăng, đứng ở vị trí thứ 3 của 11 huyện miền núi, thứ 16 trong tỉnh Phổ cập giáo dục các cấp, bậc học được củng cố Tỷ lệ huy động trẻ em trong độ tuổi ra nhà trẻ đạt 30% Phổ cập giáo dục mầm non đạt tỷ lệ 99,73%, Tiểu học đạt tỷ lệ 97,85%, Trung học cơ sở đạt tỷ lệ 93,92% Trong 5 năm, đã huy động 209,4
tỷ đồng để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và mua sắm trang thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập, trong đó xây dựng mới 103 phòng học, tỷ lệ phòng học kiên cố đạt 77,64% (phòng học kiên cố cao tầng đạt 65,41 %) Số trường chuẩn Quốc gia là 46/61 trường, đạt tỷ lệ 75,4% Công tác xã hội hóa giáo dục được đẩy mạnh, phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập được chú trọng, góp phần thúc đẩy sự nghiệp giáo dục phát triển Nhiều
mô hình và chuyển giao tiến bộ khoa học - kỹ thuật được ứng dụng, từng bước thay đổi tập quán lạc hậu, nâng cao hiệu quả sản xuất cho nhân dân, tăng thu nhập, góp phần giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới
- Y tế: Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ khám chữa bệnh tại các cơ
sở y tế được đầu tư theo hướng ngày càng hiện đại, nhiều kỹ thuật cao đưa vào áp dụng; đội ngũ cán bộ y tế từ huyện đến cơ sở được nâng cao trình độ chuyên môn và y đức Công tác y tế dự phòng, vệ sinh an toàn thực phẩm được tăng cường; số xã, thị trấn được công nhận đạt bộ tiêu chí quốc gia về y
tế đến năm 2020 có 14 xã, tăng 06 xã so với năm 2015 Tỷ lệ Trạm Y tế có bác sỹ năm 2020 đạt 100%, tăng 40% so với năm 2015 Có trên 90% trẻ em trong diện được tiêm chủng đầy đủ hàng năm, tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi năm 2020 ước còn 14% Tốc độ tăng dân số bình quân hằng năm 0,75%, đạt kế hoạch đề ra