1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lịch sử văn hóa vùng đất hồi xuân (quan hóa, thanh hóa)

106 17 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lịch sử văn hóa vùng đất hồi xuân (Quan Hóa, Thanh Hóa)
Tác giả Hà Thị Điệp
Người hướng dẫn TS. Lê Sỹ Hưng, PGS. TS Mai Văn Tùng
Trường học Trường đại học Hồng Đức
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2019
Thành phố Thanh Hóa
Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 851,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thấy được tầm quan trọng của những giá trị lịch sử văn hóa đối với sự phát triển của đất nước, Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, 1998 đã ban hành Nghị quyết về

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC

- -

HÀ THỊ ĐIỆP

LỊCH SỬ VĂN HÓA VÙNG ĐẤT HỒI XUÂN

(QUAN HÓA, THANH HÓA)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

THANH HÓA, NĂM 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - -

HÀ THỊ ĐIỆP

LỊCH SỬ VĂN HÓA VÙNG ĐẤT HỒI XUÂN

(QUAN HÓA, THANH HÓA)

Trang 3

Theo Quyết định Số 2001/QĐ-ĐHHĐ ngày 5 tháng 12 năm 2019

của Hiệu trưởng Trường Đại học Hồng Đức:

Học hàm, học vị,

Chức danh trong Hội đồng

PGS.TS Nguyễn Thị Thúy Trường Đại học Hồng Đức Chủ tịch Hội đồng

TS Lê Văn Phong Trường Chính trị tỉnh Thanh Hóa Phản biện 1 Nguyễn Thị Định Trường Đại học Hồng Đức Phản biện 2 PGS.TS Hoàng Thanh Hải Hội KH Lịch sử Thanh Hóa Uỷ viên

TS Lê Thanh Thủy Trường Đại học Hồng Đức Thư ký

Học viên đã chỉnh sửa theo ý kiến của Hội đồng

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này không trùng với các khóa luận, luận văn, luận án và các công trình nghiên cứu đã công bố

Người cam đoan

Hà Thị Điệp

Trang 5

Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến người hướng dẫn Luận văn: TS Lê Sỹ Hưng người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến các cơ quan như: Đảng ủy, Ủy ban Nhân dân và các đoàn thể xã Hồi Xuân; Phòng văn hóa huyện; Ông Cao Bằng Nghĩa và các cá nhân đã cung cấp cho tôi tư liệu quý giá phục vụ công tác nghiên cứu

Cảm ơn các bạn đồng nghiệp, bạn bè, gia đình đã động viên, khích lệ

và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu khoa học

Thanh Hóa, tháng 12 năm 2019

Tác giả

Hà Thị Điệp

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT vi

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Mục đích, nhiệm vụ 5

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 6

5 Phương Pháp nghiên cứu 6

6 Đóng góp của luận văn 7

7 Cấu trúc của luận văn 7

Chương 1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA VÙNG ĐẤT HỒI XUÂN 8

1.1 Tổng quan về huyện Quan Hóa 8

1.2 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và dân cư Xã Hồi Xuân 8

1.2.1 Vị trí địa lý, dân cư 8

1.2.2 Điều kiện tự nhiên 9

2.2 Lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất Hồi Xuân 10

2.2.1 Vùng đất Hồi Xuân trước năm 1945 10

2.2.2 Vùng đất Hồi Xuân từ 1945 đến nay 18

Tiểu kết chương 1 28

Chương 2 DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ VÙNG ĐẤT HỒI XUÂN 30

2.1 Di tích lịch sử 30

2.1.1 Đền thờ Thượng tướng Thống lĩnh quân Lò Khằm Ban 30

2.1.2 Hang Lũng Mu 33

2.2 Nhà truyền thống 36

Trang 7

2.3 Thực trạng và giải pháp bảo tồn giá trị văn hóa vật thể 40

2.3.1 Thực Trạng 40

2.3.2 Giải Pháp bảo tồn 41

Tiểu kết chương 2 44

Chương 3 DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ 45

3.1 Chữ Viết 45

3.2 Phong tục tập quán 46

3.2.1 Hôn nhân 46

3.2.2 Tang ma 49

3.2.3 Tục làm vía 55

3.3 Tín ngưỡng 58

3.4 Lễ hội truyền thống 61

3.4.1 Lễ hội xin Mường 61

3.4.2 Lễ hội Chá Chiêng 62

3.5 Trò chơi dân gian 64

3.5.1 Tung còn 64

3.5.2 Tó má lẹ 64

3.5.3 Chơi cù 66

3.6 Nghệ thuật dân gian 67

3.6.1 Nhạc cụ 67

3.6.2 Dân ca 69

3.6.3 Múa 71

3.7 Ẩm Thực 73

3.7.1 Đồ ăn chế biến từ lương thực 73

3.7.2 Đồ uống 77

3.8 Trang phục 80

3.9 Các nghề thủ công truyền thống 82

3.9.1 Nghề dệt 82

3.9.2 Nghề đan lát 83

Trang 8

3.10 Thực trạng và giải pháp bảo tồn giá trị văn hóa phi vật thể 84

3.10.1 Thực trạng 84

3.10.2 Một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị văn hoá phi vật thể ở vùng đất Hồi xuân 86

Tiểu kết chương 3 89

KẾT LUẬN 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

Trang 9

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Lịch sử văn hóa có giá trị to lớn trong giáo dục thế hệ con người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ Hiện nay, đất nước ta đang trong qúa trình thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa những giá trị lịch sử, văn hóa truyền thống đóng vai trò quan trọng tạo nên sức mạnh góp phần vào việc thực hiện thắng lợi sự nghiệp phát triển đất nước

Hơn nữa, trong xu thế hội nhập và toàn cầu hoá hiện nay các quốc gia ngày càng gắn bó và xích lại gần nphau hơn Tuy nhiên, xu thế hội nhập và toàn cầu hoá tạo ra nhiều cơ hội cho đất nước nhưng cũng đặt ra những thách thức không nhỏ đó là trong quá trình hội nhập nguy cơ chúng ta có thể đánh mất những giá trị lịch sử truyền thống, giá trị bản sắc văn hoá dân tộc

Nhận thấy được tầm quan trọng của những giá trị lịch sử văn hóa đối

với sự phát triển của đất nước, Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương

(khóa VIII, 1998) đã ban hành Nghị quyết về xây dựng và phát triển nền văn

hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc [14] Nghị quyết đã bổ sung,

phát triển, làm sâu sắc, phong phú hơn kho tàng lý luận văn hóa, đường lối văn hóa của Đảng và mở đường cho thực tiễn xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam Cho đến nay đã trải qua hơn 20 năm thực hiện Nghị quyết nền văn hóa Việt Nam có được nhiều giá trị, diện mạo và sắc thái văn hóa mới, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ, khoa học, đại chúng, nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được bảo tồn, tôn tạo nhiều phong tục, tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số được nghiên cứu, sưu tầm và phục dựng hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo và sinh hoạt văn hóa tâm linh của nhân dân được quan tâm Công tác quản lý nhà nước về văn hóa được tăng cường, thể chế văn hóa từng bước được hoàn thiện

Tiếp đó, Nghị quyết trung ương 9, khóa XI (Nghị quyết số 33-NQ/TW)

Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát

Trang 11

triển bền vững đất nước [24] văn hóa được coi là nền tảng tinh thần của xã

hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước Đại hội XII của Đảng

đã nhấn mạnh quan điểm văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh hun đúc nên phẩm chất, cốt cách con người Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước Nhấn mạnh xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong bối cảnh kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế

Vùng đất Hồi Xuân (Quan Hóa) với tên gọi đầu tiên là mường Ca Da đây là vùng đất sớm có con người đến cư trú Hiện nay gồm các bản: Bản Ban, bản Khằm, bản Khó, bản Nghèo, bản Cốc, bản Mướp và phố Hồi Xuân

So với các vùng đất khác trong huyện vùng đất Hồi Xuân có bề dầy lịch sử, mang đậm nét bản sắc văn hoá của người Thái đan xen với người Mường và các tộc người khác Chính vì thế lịch sử văn hoá của vùng đất này như một bức tranh đa sắc màu, đa dạng và phong phú Vừa mang nét chung hoà quyện vào lịch sử văn hoá của các vùng đất khác trong huyện lại vừa mang nét riêng độc đáo

Tuy nhiên qua thực tiễn tìm hiểu tôi nhận thấy hiện nay nhiều giá trị lịch sử văn hóa của vùng đất Hồi Xuân dần bị mai một Di tích lịch sử Bia ký- Nơi thờ Thượng tướng Lò Khằm Ban đang đang trong quá trình tôn tạo nhưng còn gặp nhiều khó khăn về kinh phí, di tích hang Lũng Mu chưa được quan tâm đúng mức và thậm chí đang bị xâm hại, lãng quên; nhiều giá trị văn hóa phi vật thể đang dần thất truyền

Bản thân tôi vốn sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Quan Hóa giàu truyền thống lịch sử văn hóa Mặt khác, xuất phát là giáo viên môn lịch sử tôi hiểu sự cấp thiết của vấn đề này Chính vì vậy, tôi mong muốn sẽ trang bị thêm cho mình những kiến thức lịch sử địa phương vững chắc phục vụ công tác giảng dạy và đặc biệt quan trọng hơn nữa đó là góp phần bảo vệ, giữ gìn

và phát huy những giá trị lịch sử và văn hoá của quê hương

Trang 12

Cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào viết về đề tài Lịch sử văn hóa vùng đất Hồi Xuân huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa Do vậy, việc đi sâu nghiên cứu đề tài này là hoàn toàn mới mẻ và cần thiết

Xuất phát từ những lí do trên tôi đã lựa chọn vấn đề: Lịch sử văn hoá

vùng đất Hồi Xuân (Quan Hoá, Thanh Hoá) để làm đề tài cho luận văn thạc

sĩ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nghiên cứu tìm hiểu những giá trị lịch sử, văn hóa vùng đất không phải là vấn đề mới đối với các nhà nghiên cứu, đặc biệt là các nhà nghiên cứu lịch sử

Tuy nhiên trong xu thế phát triển của đất nước trong tiến trình hội nhập việc giữ gìn và phát huy những giá trị lịch sử văn hóa dân tộc là vấn đề luôn được quan tâm hàng đầu và xuyên suốt điều này thể hiện rõ ở Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã xác định 10 nhiệm vụ về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Liên quan đến đề tài luận văn có một số công trình như: Bài viết Đặc

điểm phân bố các tộc người ở miền núi Thanh Hoá của Lê Sỹ Giáo đăng trên

tạp chí dân tộc học, số 2, năm 1991[17] có đề cập đến sự phân bố các tộc người ở miền núi Thanh Hóa

Cuốn Tiếp cận văn hoá bản Thái xứ Thanh của Vương Anh (2001), Sở

văn hoá thông tin – Thanh Hoá xuất bản [1] đã đề cập đến những nét văn hóa đặc sắc của người Thái Thanh Hóa

Cuốn sách Một Số phong tục và lễ hội của người Thái ở Thanh Hoá,

Nghệ An của Vi Văn Biên (2009), NXB Văn Hoá Thông tin, Hà Nội [3] trình

bày khá rõ nét về những phong tục và lễ hội đặc trưng của người Thái sinh sống trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An

Trang 13

Cuốn Văn hoá truyền thống Mường Ca da của Ban sưu tầm và nghiên

cứu văn hoá truyền thống Mường Ca da (1985)[5] đã nghiên cứu khá kĩ về vùng đất Mường Ca Da và văn hóa truyền thống của vùng đất này

Cuốn Văn hóa vật chất của người Thái ở Thanh Hóa và Nghệ An của

Vi Văn Biên (2006), NXB Văn hóa các dân tộc, Hà Nội [4] đã khái quát tộc người Thái ở Thanh Hóa và Nghệ An, văn hóa ẩm thực làng bản, nhà cửa, trang phục, công cụ lao động và phương tiện vận chuyển của người Thái

Cuốn sách Văn hóa người Thái ở Việt Nam của Cầm Trọng – Phan

Hữu Dật (1995), NXB Khoa học và xã hội, Hà Nội [61] là một công trình nghiên cứu khá công phu đề cập đến văn hóa người Thái ở Việt Nam, văn hóa người Thái trong cội nguồn Việt Nam và Đông Nam Á…văn hóa người Thái một loại hình văn hóa thung lũng

Cuốn Bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống của người Thái ở

vùng núi Tây Bắc của Cao Văn Thanh (2005), NXB Chính trị quốc gia, Hà

Nội [54] đã giới thiệu về người thái và văn hóa người Thái, thực trạng văn hóa của người Thái, bảo tồn và phát huy truyền thống của người Thái

Ban Chấp Hành Đảng bộ xã Hồi Xuân (2019), Lịch sử Đảng bộ xã Hồi

Xuân (1957 – 2017), NXB Thanh Hóa [7] đã đi sâu tìm hiểu lịch sử vùng đất

Hồi Xuân từ khi hình thành cho đến nay khá kĩ lưỡng và chi tiết

Một số bài viết trên các trang mạng điện tử ví dụ: bài viết của ông

Phạm Hồng Nêu, Một số chuyện kể về dòng họ Phạm Bá và các di tích liên

quan đến lịch sử ông tổ Khằm Ban theo vua Lê Thánh Tông đánh giặc Minh thế kỉ XV, repository.vnu.edu.vn[37] đã trình bày khá chi tiết về dòng họ

Phạm Bá và lịch sử ông Khằm Ban; Hoàng sơn, Phạm Hải (2012), kì bí hang

ma: hé mở những bí ẩn về những cổ quan tài “ bay”( kì 2), Giáo dục.net.vn

[45] trình bày về di tích lịch sử Hang Lũng Mu…

Từ tổng quan các công trình nghiên cứu về lịch sử văn hóa của Thanh

Hóa nói chung, lịch sử văn hóa vùng đất Hồi Xuân, Quan Hoá nói riêng Tôi

Trang 14

nhận thấy các công trình trên ở mức độ nhất định mới nghiên cứu về những khía cạnh cụ thể của vùng đất như lịch sử hình thành, điều kiện địa lí tự nhiên, dân cư hay văn hóa của người Thái Đó là cơ sở quan trọng, là nguồn tài liệu tham khảo quý báu để tôi làm rõ những nhiệm vụ mà đề tài đặt ra nghiên cứu Tuy nhiên, việc nghiên cứu tìm hiểu những giá trị lịch sử, văn hóa vùng đất Hồi xuân về cơ bản cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách

hệ thống và khoa học và toàn diện Nghiên cứu sâu sắc và toàn diện lịch sử

văn hóa, từ đó, khẳng định những giá trị di sản văn hóa của vùng đất chiến

lược này có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống trong việc giáo dục thế hệ trẻ và phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng đất nước hiện nay Đó cũng chính là những vấn đề luận văn cần phải tiếp tục giải quyết thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ của đề tài

3 Mục đích, nhiệm vụ

3.1 Mục đích nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu toàn diện quá trình phát sinh, phát triển các giá trị di sản văn hoá vật thể và phi vật thể vùng đất Hồi Xuân Trên cơ sở đánh giá thực trạng di sản văn hoá trên vùng đất này từ đó đề xuất những kiến nghị, giải pháp tích cực nhằm bảo tồn và phát huy giá trị của lịch sử, văn hoá làng –

xã nói chung và của vùng đất Hồi Xuân nói riêng

Làm rõ mối liên hệ lịch sử, văn hoá giữa vùng đất Hồi Xuân với các vùng đất khác trong khu vực thượng lưu Sông Mã

Đề tài xây dựng nguồn tư liệu lịch sử địa phương phong phú, đó là cơ

sở để triển khai tích hợp việc dạy lịch sử địa phương với lịch sử dân tộc nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Lịch sử ở trường phổ thông hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Từ những hiểu biết tổng quan về vùng đất Hồi Xuân có thể nhận thức và xác định vị trí và vị thế của vùng đất này trong dòng chảy của lịch sử dân tộc

Trang 15

Nghiên cứu hệ thống di sản văn hóa vật thể và phi vật thể còn hiện hữu trên vùng đất Hồi Xuân để tái hiện lại vùng đất này trong lịch sử, từ đó có cái nhìn sâu sắc hơn về những giá trị văn hoá của vùng đất này

Nghiên cứu về lịch sử văn hoá vùng đất Hồi Xuân để tìm ra những đặc điểm riêng trong quá trình hình thành và phát triển của vùng đất này so với các vùng đất khác trong huyện nói riêng và trong tỉnh nói chung

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Lịch sử văn hoá vùng đất Hồi

Xuân (Quan Hoá, Thanh Hoá), bao gồm lịch sử hình thành và phát triển của

vùng đất, các giá trị lịch sử văn hóa vật thể và phi vật thể; Khi nghiên cứu, tôi đặt lịch sử văn hóa vùng đất Hồi Xuân trong mối quan hệ với huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa và trong quá trình xây dựng, bảo tồn và phát triển những

giá trị văn hóa chung của dân tộc

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về mặt không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu trong phạm vi

vùng đất Hồi Xuân (Quan Hoá, Thanh Hoá)

Về mặt thời gian: Từ khi thành lập xã Hồi xuân cho đến nay

Nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu những vấn đề cơ bản về lịch sử văn

hóa vùng đất Hồi Xuân (Quan Hoá, Thanh Hoá)

5 Phương Pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện luận văn tôi đã sử dụng chủ yếu một số phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp lịch sử: Nghiên cứu về lịch sử văn hóa vùng đất Hồi

Xuân (Quan Hoá, Thanh Hoá) để từ đó rút ra những đặc trưng riêng của lịch

sử văn hoá vùng đất này

- Phương pháp liên ngành: Tôi sử dụng các kiến thức của nhiều ngành khác

Trang 16

nhau bao gồm như: Địa lí học, Dân tộc học, Lịch sử, Ngôn ngữ, Tôn giáo, Văn học… nhằm có cái nhìn toàn diện về lịch sử văn hoá vùng đất Hồi Xuân

- Phương pháp phân tích và tổng hợp tư liệu: Nhằm chọn lọc các tư liệu

có giá trị, đồng thời đánh giá các tư liệu đã có Qua đó, định lượng được giá trị và hàm lượng kiến thức mà tư liệu cung cấp, tính cập nhật của tư liệu nhằm tổng hợp lại những kiến thức chắc chắn, có căn cứ nhất định để đưa vào luận văn của mình

- Sử dụng phương pháp so sánh để thấy được những nét đặt trưng của Văn hoá vùng đất Hồi Xuân so với các vùng đất khác

- Ngoài ra, tôi còn sử dụng phương pháp điền dã thực tế trong đó bao

gồm các hoạt động phỏng vấn trực tiếp, gián tiếp, chụp ảnh, quan sát…

6 Đóng góp của luận văn

- Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên và khá toàn diện về lịch sử văn hóa vùng đất Hồi Xuân (Quan Hóa, Thanh Hóa)

- Đề tài đã làm rõ được lịch sử vùng đất Hồi Xuân qua các thời kì lịch sử

và những nét văn hóa truyền thống đặc sắc của vùng đất này Trên cơ sở đó đánh giá một cách khách quan giá trị lịch sử văn hóa vùng đất này đối với địa phương

- Kết quả nghiên cứu của luận văn còn có thể dùng làm tài liệu phục vụ công tác nghiên cứu, tham khảo chuyên ngành và giảng dạy lịch sử địa phương; làm tài liệu tuyên truyền giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được cấu trúc gồm 3 chương:

Chương 1: Quá trình hình thành và phát triển của vùng đất Hồi Xuân

Chương 2: Di sản văn hoá vật thể vùng đất Hồi Xuân

Chương 3: Di sản văn hoá phi vật thể vùng đất Hồi Xuân

Trang 17

Chương 1

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA VÙNG ĐẤT

HỒI XUÂN

1.1 Tổng quan về huyện Quan Hóa

Quan Hóa là một huyện vùng núi cao, nằm ở phía Tây tỉnh Thanh Hóa Phía Bắc giáp huyện Mộc Châu (Sơn La), Mai Châu (Hòa Bình), phía Tây giáp tỉnh Hủa Phăn (Lào), phía Nam giáp huyện Mường Pao (Lào) và xã Lê Lai, yên Khương (Lang Chánh); Phía Đông giáp xã Quốc Thành, Ban Công, Văn Nho (Bá Thước) Huyện có diện tích rộng 227.678 ha [8; tr 11]

Là một huyện vùng cao với đặc trưng nổi bật về điều kiện tự nhiên từ xưa mảnh đất này đã là nơi thu hút và hội tụ sinh sống của nhiều dân tộc như Thái, Mường, Kinh, H Mông, Hoa

Tổ chức hành chính của huyện Quan Hóa gồm 17 xã: Hiền Chung, Hiền Kiệt, Hồi Xuân, Nam Động, Nam Tiến, Nam Xuân, Phú Lệ, Phú Nghiêm, Phú Sơn, Phú Thanh, Phú Xuân, Thành Sơn, Thanh Xuân, Thiên Phủ, Trung Sơn, Trung Thành, Xuân Phú và thị trấn Quan Hóa với 123 chòm bản

Theo Nghị quyết 30a của Chính phủ Quan Hóa là 01 trong 62 huyện nghèo [57] Trong những năm qua được sự quan tâm của Trung ương, tỉnh nhiều chủ trương, chính sách được đầu tư vào huyện đã làm thay đổi căn bản

hệ thống cơ sở hạ tầng, đời sống của nhân dân, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, an ninh biên giới, lãnh thổ tương đối ổn định Phấn đấu đến năm

2020, đưa Quan Hóa trở thành huyện khá của tỉnh

1.2 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và dân cư Xã Hồi Xuân

1.2.1 Vị trí địa lý, dân cư

Xã Hồi Xuân nằm ngay trung tâm huyện Quan Hóa; Phía Đông giáp xã Phú Nghiêm (Quan Hóa), xã Thành Lâm (Bá Thước); Phía Tây giáp xã Nam Xuân (Quan Hóa), xã Trung Xuân (Quan Sơn); Phía Nam giáp thị trấn Quan

Trang 18

Hóa; Phía Bắc giáp xã Thanh Xuân Tổng diện tích tự nhiên: 6.893,24 ha Trong đó diện tích đất lâm nghiệp là 6.180,90 ha (chiếm 89,67 %) Đất sản xuất nông nghiệp là 83,62ha, đất phi nông nghiệp là 332,56ha Xã Hồi Xuân

có 860 hộ, với 3.748 khẩu, trong đó Nam: 1.886 người, Nữ 1.882 người, dân

số trong độ tuổi lao động 1.458 người bằng 39 %, mật độ dân số 54 người/km2

( 2017) [7; tr 5] Người dân xã Hồi Xuân sống chủ yếu dọc theo hai tuyến đường: Tuyến đường quốc lộ 15A và tuyến đường từ thị Trấn Quan Hóa vào Bản Khó, Bản Nghèo, Riêng Bản Cốc dân sống dọc theo bên hữu ngạn sông Mã

1.2.2 Điều kiện tự nhiên

- Về địa hình: Hồi Xuân là xã miền núi cao có địa hình bị chia cắt

mạnh, không đồng nhất, cao thấp xen kẽ nhau và có sự chênh lệch về độ cao rất lớn, điều đó ảnh hưởng nhiều đến việc điều tiết nước tưới và hình thành

các vùng thâm canh, giao thông, thủy lợi

- Khí hậu: Có lượng mưa trung bình hàng năm lớn, độ ẩm cao, lượng

chiếu sáng lớn, chia thành 2 mùa rõ rệt và thay đổi thất thường Nhiệt độ trung bình hàng năm xấp xỉ 23Co Do ảnh hưởng của địa hình nên thời gian chiếu sáng trong các thung lũng ngắn

- Về đất đai: Có các loại đất như đất mùn vàng đỏ trên núi thích hợp

với cây lâm nghiệp và rừng tự nhiên; đất vàng nhạt trên đá macma axit thích hợp với cây ăn quả, cây công nghiệp; đất nâu đỏ phát triển trên đá macma bazo và trung tính thích hợp với cây công nghiệp; đất lầy, than bùn

thích hợp cho việc phát triển đồng cỏ

- Hệ thống sông, suối lớn chảy qua trên địa bàn xã: Có các con sông

lớn như: Sông Mã, Sông Luồng, Sông Lò; hệ thống suối dày đặc như: suối Luồng( Bản Nghèo), suối Tằn( Bản Khó), suối Cuốn và suối Hu Mạ ( bản

Ban), Suối Mướp ( Bản Mướp), Suối Tọi ( Bản Cốc)

Trang 19

- Hệ thống đồi, núi đá, núi đất, độ cao của núi trong địa bàn xã: Hệ

thống đồi, núi, núi đá, núi đất trên địa bàn xã tương đối nhiều tập trung rải rác ở các bản trừ khu phố Hồi Xuân cụ thể: Núi Pù Luông, núi Pha Tằn (ATK của bệnh viện Quan Hóa từ 1964-1968); núi Pha Khó; núi Hang Nghiêm (nơi cung cấp diêm sinh tự nhiên và là nơi ATK của cơ quan huyện

ủy Quan Hóa từ năm 1964-1968); núi Múng Mường, núi Pha Có Cá; núi Pha Cáng; Núi Pha Tốm, Núi Pha Há, Núi Pha Bó Mạ, Núi Pha Sáo gọi theo tiếng dân tộc Thái

Đồi: Có 2 đồi + núi là: Pu Cặp và Pu Cọ

- Hệ thống thung lũng trong phạm vi địa bàn xã: Hệ thống thung

lũng trong phạm vi địa bàn xã tương đối phong phú phân bố chủ yếu tại các bản Nghèo, Ban, Cốc như: Thung lũng Bo Dứn, Bo Hang Cặm, Thung lũng suối Tọi

2.2 Lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất Hồi Xuân

2.2.1 Vùng đất Hồi Xuân trước năm 1945

Vùng đất Hồi Xuân được hình thành từ thế kỷ XII, khi tổ tiên người Thái ngày nay ở các vùng phía bắc Việt Nam trước những biến thiên của lịch

sử đã phải di cư sang vùng Tây Bắc tỉnh Thanh Hóa để sinh cơ lập nghiệp Xã Hồi Xuân xưa có tên gọi là Mường ca Da Mường Ca Da cùng với Mường Khoòng, Mường Đèng, Mường Chiềng Ván là một trong bốn Mường tiêu biểu cho không gian văn hóa của người Thái ở miền núi phía Tây xứ Thanh “Ca da” trong tiếng Thái có nghĩa là “quạ chữa thuốc” [45;tr1]

Mường Ca Da là trung tâm kinh tế - xã hội của các Mường, các bản ở

khu trung tâm được gọi là “Chiềng”, Bản Khằm xưa có tên gọi là Chiềng Nưa (Chiềng trên), bản Ban và phố Hồi Xuân (thị trấn Quan Hóa ngày nay) gọi là Chiềng Tớ (Chiềng dưới) Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chính phủ

Việt Nam dân chủ cộng hòa quy định bỏ cấp phủ, châu gọi là huyện, xã Riêng bản Chiềng Nưa đổi tên là Bản Khằm, bản Chiềng Tớ đổi tên là bản

Trang 20

Ban (hai bản lấy tên của Thượng tướng Thống lĩnh quân Khằm Ban để ghi

nhớ công ơn của ông) Riêng phố Hồi Xuân trước tháng 2 năm 1946 có tên là

phố Nam Lai, sau đó được đổi tên là phố Phan Thanh

Ngày 03 tháng 2 năm 1946, xã Hồi Xuân được thành lập theo QĐ số 56 của Chính phủ gồm có các bản hiện nay hợp nhất làm một như: Bản Khằm, bản Ban, bản Khó, bản Nghèo, bản Cốc, bản Mướp, phố Phan Thanh, bản Phụn, bản Muỗng, bản Đum, bản Bút, bản Đun Nặm, bản Tân Lập, bản Đun

Pù, bản Khuông, bản Éo, bản Giá, bản Vui, bản Thu Đông, bản Tân Sơn, bản

Sa lắng, bản Cổi, bản Na Sài, bản Khiêu [7; tr 8]

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn cách mạng, từ đặc điểm địa lý, ngày 27 tháng 6 năm 1966, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 98 về việc chia

xã Hồi Xuân làm 4 xã gồm: Xã Hồi Xuân, xã Nam Xuân, xã Thanh Xuân và

xã Trung Xuân Thực hiện Quyết định số 04/QĐHĐBT của Hội đồng Bộ trưởng, ngày 05 tháng 01 năm 1987, xã Hồi Xuân chia tách thành hai đơn vị hành chính là Thị trấn Quan Hóa và xã Hồi Xuân Xã Hồi Xuân sau khi tách

có 6 bản và 1 khu phố là: Bản Nghèo, bản Khó, bản Khằm, bản Mướp, bản Ban, bản Cốc và phố Hồi Xuân

- Bản Khó: Xưa thuộc Mường Ca Da, nằm cách trung tâm xã 3 km, có

tổng diện tích tự nhiên 885,6ha Phía đông giáp xã Phú Nghiêm; phía tây giáp bản Khằm; phía bắc giáp bản Nghèo và Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông; phía nam giáp bản Ban [7; tr 8]

Trên địa bàn xã có di tích Hang Nhiêm là ATK của cơ quan huyện ủy Quan Hóa Năm 1967, Bí thư tỉnh ủy Thanh Hóa là Ngô Thuyền đến thăm và

dự hội nghị Đảng bộ huyện Quan Hóa lần thứ 3 tại bản Khó, là bản có truyền thống cách mạng được hun đúc qua cuộc đấu tranh chống Pháp, chống Mỹ và xây dựng chủ nghĩa xã hội đã sinh ra nhiều người con ưu tú tham gia cách mạng và giữ các chức vụ quan trọng, chủ chốt của huyện như đồng chí Lương

Trang 21

Chí Ên, đồng chí Lữ Văn Xơi, đồng chí Hà Văn Chim, đồng chí Hà Công Tấc

và nhiều đồng chí khác

- Khu phố Hồi Xuân: Trước tháng 2 năm 1946, có tên là phố Nam Lai,

sau đó được đổi tên là phố Phan Thanh Phố lấy tên của thầy giáo Phan

Thanh quê ở tỉnh Quảng Nam, là nhà yêu nước tiến bộ, thông qua việc dạy học ở Phố Cống huyện Ngọc Lặc đã truyền bá tư tưởng yêu nước tiến bộ cho con em các dân tộc thiểu số trong đó có huyện Quan Hóa giai đoạn 1936 –

1945, hiện nay gọi là khu Phố Hồi Xuân [7; tr 9]

- Bản Khằm: Theo truyền thuyết vùng đất này gọi là Mường Húng –

Mường Hường, lúc đầu bản có tên là bản Chiềng Nưa, tên gọi theo tiếng dân

tộc Thái.(Chiềng là khu trung tâm kinh tế - xã hội thời phong kiến) Khi thống

nhất thành HTX gọi là bản Khằm, lấy tên lót và tên chính của Thượng tướng Thống lĩnh quân Lò Khằm Ban, tên gọi theo tiếng dân tộc Thái Hiện nay, trên địa bản Bản có 2 di tích lịch sử đó là Hang Lũng Mu và Bia kí nơi thờ tướng Khằm Ban [7; tr 9]

- Bản Mướp: Phía đông giáp bản Nghèo; phía tây giáp sông Mã; phía bắc

giáp xã Thanh Xuân; phía nam giáp bản Khằm Lúc mới khai khẩn đất đai có tên

là bản Muốp, khi thống nhất hình thành Hợp tác xã gọi là HTX bản Muốp

- Bản Nghèo: Xưa kia do điều kiện về đường giao thông đi lại từ trung

tâm xã vào bản rất khó khăn, vất vả, người xưa gọi là bản Nghéo theo tiếng thái nghĩa là đường đi khúc khuỷu, quanh co, leo dốc

Bản cách trung tâm xã 7km, nằm dưới chân núi Pù Luông hùng vĩ; phía Đông giáp Bá Thước; phía Tây giáp bản Khằm, bản Mướp; phía Nam giáp bản khó; phía Bắc giáp bản Tân Sơn xã Thanh Xuân Dòng họ tiêu biểu của bản là họ Phạm, họ Cao có nhiều đóng góp cho chòm bản, có nhiều con cháu làm cán bộ công chức ở các cơ quan trong huyện và địa phương khác trong nước như: Đồng chí Cao Văn Thinh - Nguyên là Trưởng ban tổ chức, Phó Bí thư huyện ủy Quan Hóa; đồng chí Cao Văn Thêu - Nguyên Giám đốc

Trang 22

Ngân hàng tín dụng huyện; Cao Xuân Thủy - Nguyên Chính trị viên, Phó Bí thư Đảng ủy Ban CHQS huyện; đồng chí Phạm Thị Hoa - Thường vụ Huyện

ủy, Phó chủ tịch huyện

- Bản Cốc: Tên gọi lúc mới khai khẩn đất đai là làng Cốc, tên gọi theo

tiếng dân tộc Mường, ý nghĩa của tên gọi này là ngày xưa ở bản có một cây

Cóc to nên tổ tiên gọi là làng Cốc (vì tiếng Mường gọi cây Cóc là cây cốc)

Bản nằm ở phía tây cách trung tâm xã 9 km, nằm dọc theo bờ hữu Sông

Mã Phía Đông giáp bản Khằm, phía Tây giáp xã Nam Tiến và Thanh Xuân, phía Nam giáp bản Bút (Nam Xuân), phía Bắc giáp bản Mướp Ngôn ngữ giao tiếp chủ yếu là tiếng Mường [7; Tr 12]

- Bản Ban: Theo truyền thuyết vùng đất này gọi là Mường Húng –

Mường Hường, lúc đầu bản có tên là bản Chiềng tớ tên gọi theo tiếng dân tộc

Thái (Chiềng là khu trung tâm kinh tế - xã hội thời phong kiến) Khi thống

nhất thành HTX gọi là bản Ban, lấy tên chính của Thượng tướng Thống lĩnh quân Lò Khằm Ban Bản nằm ở phía Bắc, bên cạnh trung tâm xã Phía đông giáp xã Phú Nghiêm; phía tây giáp bản Khằm; phía nam giáp thị trấn Quan Hóa; phía bắc giáp bản Khó [7; Tr 13] Bản Ban là một trong những Bản đạt danh hiệu văn hóa cấp tỉnh của huyện vào năm 1996

Cuối thế kỷ XIX phong trào Cần Vương yêu nước chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta đã bị kẻ thù dìm trong bể máu và cũng bắt đầu từ đây thực dân Pháp mới chính thức đặt chân lên đất Quan Hóa và họ phân định Châu Quan Gia nằm về phía tả ngạn sông Mã, Châu Tàm nằm về phía hữu ngạn sông Mã, lấy đất Hồi Xuân làm thủ phủ trung tâm Vào khoảng năm 1915 – 1916, Pháp cho mở đường 15A qua xã Hồi Xuân và thiết lập hệ thống Chính quyền gồm có: Chánh tổng, Lý trưởng, Hương kiểm, Hương bộ Chính quyền phong kiến đã gây nên cho nhân dân Hồi Xuân những hậu quả hết sức nặng nề, nhiều người phải chịu cảnh đánh đập, đầu rơi máu chảy, gia đình tan nát

Trang 23

Từ năm 1876, chúng đưa bọn cha cố lên đất Quan Hóa dựng nhà thờ tại Mường Xia Tiếp sau đó, Pháp xây dựng hệ thống nhà thờ ở Quan Hóa như ở Hồi Xuân, Chiềng Din xã Trung Hạ và Hua Tau xã Hiền Kiệt, chúng cho lập Tòa Đại lý nhằm để trực tiếp quản lý bộ máy phong kiến và dễ bề đàn áp các phong trào nổi dậy chống Pháp của nhân dân Hơn nữa, để hòng ru ngủ nhân dân, chúng khuyên họ từ bỏ mọi sự phản kháng, cam lòng với thực tại đau khổ Pháp cho xây dựng nhà thờ trong huyện như ở xã Hiền Kiệt và ở Hồi Xuân do Kanilăc là Đại úy tình báo Pháp đóng vai tổng giám mục làm chỉ huy Chúng lôi kéo một bộ phận giai cấp thống trị để xây dựng quyền lực, tuyên truyền, lừa bịp quần chúng, quảng cáo rùm beng cái gọi là “văn minh”, khai hóa, thổi phồng sức mạnh của “nước mẹ đại Pháp” Những thủ đoạn đó, lúc đầu tỏ ra hiệu nghiệm, nhiều người ngộ nhận đã cam tâm làm tay sai cho địch Nhà thờ dần đã biến thành những trung tâm hoạt động gián điệp

Riêng ở Hồi Xuân, Pháp cho xây dựng trên núi Pu Luông làm khu nghỉ mát cho quan Tây, nhưng thực tế đó là đồn, khu đồn này có cả sân bay trực thăng (cách bản Nghèo khoảng 2 km), phạm vi quan sát rất rộng về phía một

số xã của huyện Bá Thước và khu vực Hồi Xuân, Phú Nghiêm, Thanh Xuân ngày nay

Về tổ chức xã hội Mường Ca Da - Hồi Xuân lúc này vẫn duy trì hệ

thống quản lý Mường, Pọng, có Tạo Mường điều hành chung, dưới Mường có Pọng Ngoài những bản bình thường do Pọng trực tiếp quản lý còn có các

bản “Thín”, loại bản này chuyên phục dịch riêng cho Tạo Bản như bản Khó

Tạo Mường là chức vụ cao nhất rồi đến Tạo Cai, sau đó đến Mụ Mương, Mụ Cai, Hó Luông, Hó Cang, Chá Hươn, Chá Ngan Tạo Cai tuy chức sắc cao hơn Mụ Mường, nhưng chỉ vô danh không được thực quyền mà chỉ là người giúp việc cho Tạo Mường Mụ Mường là người trực tiếp chăm lo quán xuyến, điều khiển mọi công việc trong Mường, đôi khi còn thay thế Tạo

Trang 24

Mường điều khiển công việc chung Riêng bộ máy quyền lực có Tri Châu, Chánh tổng, Lý trưởng, Hương bạ, Hương kiểm, Hương dịch

Tạo Mường Ca Da có thế lực hơn các Mường khác nên được làm Tri châu (Quan Châu) Các Mường khác chỉ được làm Chánh tổng hoặc Phó tổng Năm Minh Mạng thứ 15 (1834), vua nhà Nguyễn xuống Dụ đặt các thổ ty dưới quyền kiểm soát của các Chánh tổng, thực chất là sự hợp pháp hóa để tập trung quyền lực vào chính quyền trung ương Có thể nói, việc duy trì trạng thái xã hội và bộ máy thống trị cũ là thủ đoạn thống trị cổ truyền của thực dân Pháp ở các nước thuộc địa nói chung và ở Quan Hóa - Hồi Xuân nói riêng

Có thể nói rằng, bằng những thủ đoạn thống trị của thực dân Pháp và các thế lực phản động đã làm cho tình hình xã hội ở Hồi Xuân diễn ra có sự phân hóa giai cấp ngày càng sâu sắc Mặc dù quá trình đó diễn ra hết sức chậm chạp, không triệt để và phức tạp cũng đã có phần làm ảnh hưởng đến quá trình cải biến cách mạng ở huyện nói chung và xã Hồi Xuân nói riêng Chính điều đó làm cho mâu thuẫn giữa nhân dân các dân tộc Hồi Xuân với bọn thực dân xâm lược và tay sai càng thêm gay gắt không thể dung hòa Đó cũng là xuất phát điểm để nhân dân Hồi Xuân tin tưởng và đi theo con đường cách mạng

do Bác Hồ và Đảng đã lựa chọn

Ngày 03 tháng 2 năm 1930, Đảng cộng sản Việt Nam ra đời, đã đánh dấu bước ngoặt trọng đại trong tiến trình lịch sử dân tộc, đem đến cho dân tộc Việt Nam một ánh sáng mới, một ngọn cờ mới, ánh sáng của chủ nghĩa Mác –

Lê nin Sự ra đời của Đảng như một luồng gió mạnh thổi bùng lên một phong trào đấu tranh sôi nổi, rộng khắp trong cả nước nói chung và nhân dân huyện Quan Hóa – Hồi Xuân nói riêng vào những năm 1930 – 1931 mà đỉnh cao là

Xô viết Nghệ tĩnh

Tại Thanh Hóa, ngày 29 tháng 7 năm 1930, Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam tỉnh Thanh Hóa được thành lập, trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng toàn tỉnh

Trang 25

Hồi Xuân nằm trên con đường thực dân Pháp áp giải tù chính trị từ Thanh Hóa lên nhà tù Sơn La Trên trục đường 15A có các điểm dừng chân của họ, mặc dù bị giám sát chặt chẽ, các chiến sĩ cách mạng vẫn tìm mọi cách, mọi cơ hội để tiếp xúc với nhân dân, tuyên truyền đường lối cách mạng của Đảng Khí phách đấu tranh, tấm gương yêu nước của các chiến sĩ cộng sản đã

để lại những ấn tượng sâu sắc trong lòng đồng bào các dân tộc Hồi Xuân Mỗi khi có tù chính trị dừng chân ở phố Phan Thanh, một số anh chị em trong giới thương nhân có cảm tình với cách mạng và bà con nhân dân mang biếu quần

áo, lương thực cho anh em Chính những chiến sĩ tù cộng sản là người gieo mầm cách mạng cho nhân dân các dân tộc Quan Hóa nói chung và Hồi Xuân nói riêng

Đối với thực dân Pháp, Hồi Xuân nói riêng và huyện Quan Hóa nói chung có một vị trí chiến lược xung yếu về mặt quân sự, vì thế chúng tìm mọi cách ngăn chặn làn sóng cách mạng từ bên ngoài vào Tình hình đó đã gây không ít khó khăn cho Đảng ta khi xây dựng cơ sở cách mạng ở đây

Sau Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng (tháng 5 năm 1941), Mặt trận Việt Minh ra đời, phong trào cách mạng trong cả nước như được truyền thêm sức mạnh mới Tình hình đó đã tác động mạnh mẽ đến các huyện trong tỉnh Thanh Hóa Trước nhiệm vụ khẩn trương xây dựng lực lượng cách mạng chuẩn bị cho khởi nghĩa Xứ ủy Bắc Kỳ chủ trương tăng cường phong trào cách mạng cho Thanh Hóa và các huyện miền núi nhưng vẫn trong thời kỳ hoạt động bí mật

Cuối năm 1941, phong trào cách mạnh 6 châu miền núi Thanh Hóa phát triển Hoảng sợ trước tình hình đó, ngày 07 tháng 10 năm 1941, thực dân Pháp phải ra thiết quân luật vùng Tây Bắc Thanh Hóa, song chúng không thể nào ngăn nổi làn sóng cách mạng đang phát triển ở nơi đây, nhưng thực sự đến trước cách mạng tháng Tám, tư tưởng cách mạng của Đảng vẫn chưa gây được ảnh hưởng mạnh đến các miền cực Tây rộng lớn của tỉnh Nhân

Trang 26

dân các dân tộc Quan Hóa và Hồi Xuân vẫn nằm trong tình thế phức tạp, cơ

sở cách mạng chưa được xây dựng, quần chúng nhân dân chưa được giác ngộ, lực lượng phản cách mạng đang giữ ưu thế Do đó, phong trào cách mạng chưa đủ mạnh để lật đổ chính quyền thực dân và tay sai Lợi dụng chính quyền cũ hoang mang, lộn xộn và quần chúng chưa được giác ngộ chính trị, Hà Công Thắng – Tri châu Bá Thước cũng là thành viên trong tổ chức Đại Việt duy tân ở Mường Khô (Bá Thước) kéo một đạo quân lên Quan Hóa – Hồi Xuân, với danh nghĩa là lực lượng cách mạng, tước ấn tín của chính quyền cũ, tuyên bố thành lập chính quyền mới, y tự phong là Quận trưởng Quần chúng Quan Hóa – Hồi Xuân đặt nhiều niềm tin vào chính quyền mới, nhưng thực tế do bản chất giai cấp của mình Hà Công Thắng không từ bỏ một thủ đoạn bỉ ổi nào để hà hiếp, cướp của dân lành Do không được lòng tin của nhân dân, uy tín của chính quyền Hà Công Thắng lập ra sau một thời gian ngắn bị tan vỡ nhanh chóng, Y phải tìm đường tháo chạy và cuối cùng đã bị lịch sử kết án [7; tr 26]

Cuối tháng 9 năm 1945, đoàn cán bộ của tỉnh do đồng chí Tuấn Dũng phụ trách lên Quan Hóa, trong thời gian này Tỉnh ủy cử một đơn vị Vệ quốc đoàn lên Quan Hóa làm nhiệm vụ phối hợp với nhân dân trấn áp những hoạt động phá hoại của các thế lực phản động, bảo vệ chính quyền, duy trì an ninh trật tự

Trung tuần tháng 10, đồng chí Tuấn Dũng, Lê Đình Sự tổ chức hội nghị hiệp thương gồm đại biểu các xã và các Mường trong huyện tại Tòa Đại lý cũ

ở Hồi Xuân Tại Hội nghị bộ máy chính quyền của Hà Công Thắng bị xóa bỏ

và Ủy ban nhân dân Cách mạng lâm thời huyện Quan Hóa được thành lập gồm các ông: Phạm Bá Ngọt (quê ở Phú Nghiêm) làm Chủ tịch, Lê Đình Sự làm Phó Chủ tịch và một số người khác làm ủy viên Đồng chí Tuần Dũng được Hội nghị cử làm cố vấn [7; tr 27]

Trang 27

2.2.2 Vùng đất Hồi Xuân từ 1945 đến nay

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình – Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố trước toàn thể quốc dân đồng bào và thế giới sự

ra đời của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Ngày 3 tháng 10 năm 1945,

Ủy ban Cách mạng lâm thời huyện Quan Hóa đã ra mắt nhân dân, ngay sau khi ra mắt đồng bào các dân tộc trong huyện, Ủy ban nhân dân Cách mạng lâm thời đã cử cán bộ về các xã, mường để thành lập chính quyền nhân dân

Nằm trong bối cảnh chung của cả nước và của tỉnh Thanh Hóa, Hồi Xuân sau ngày cách mạng tháng Tám năm 1945 gặp muôn vàn khó khăn Đến tháng 11 năm 1945, công việc xây dựng chính quyền cách mạng, xây dựng lực lượng vũ trang và các đoàn thể quần chúng về cơ bản đã hoàn thành, khí thế cách mạng trong huyện nói chung và xã Hồi Xuân nói riêng đang dâng lên mạnh mẽ

Đầu năm 1946, theo sắc lệnh của Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa, cuộc bầu cử Quốc hội được tổ chức vào ngày 6 tháng 1 năm

1946, ngày này đã trở thành ngày hội của đồng bào các dân tộc Hồi Xuân Lần đầu tiên người dân Hồi Xuân được làm nghĩa vụ của một công dân, bầu

cử người đại biểu chân chính cho mình Thông qua cuộc bầu cử, nhận thức về cách mạng trong nhân dân lao động huyện Quan Hóa nói chung và nhân dân

xã Hồi Xuân được nâng lên rõ rệt

Cùng với việc tuyên truyền cho bầu cử Quốc hội, các đồng chí cán bộ

Việt Minh còn vận động yêu cầu các “quan chức” bỏ các loại thuế, giảm phu

phen nhằm tạo điều kiện cải thiện đời sống nhân dân; đồng thời vận động nhân dân tham gia vào phong trào bình dân học vụ Kết quả đã có hơn 80%

cử tri trong xã đi bỏ phiếu, tuy trong thời điểm này các thế lực phản động chuẩn bị các hoạt động lật đổ chính quyền Âm mưu đó đã được bọn phản động đội lốt thầy tu trong tỉnh ủng hộ Tòa thánh Phát Diệm (Ninh Bình) cử KANILĂC trở lại nhà thờ Hồi Xuân để chỉ đạo phần tử phản cách mạng

Trang 28

Trong hoàn cảnh hết sức nghiêm trọng ấy, cán bộ và những quần chúng giác ngộ cách mạng đã không hề nao núng và chùn bước Ngay sau cuộc vận

động “Tuần lễ vàng” và “Tuần lễ bạc” đã có người dân và các vị quan lại

trước đây mang đến trao tận tay cán bộ, chiến sĩ ta nào nồi, xanh, vàng bạc với thái độ trân trọng và tự nguyện cao

Cũng như toàn huyện, phong trào diệt giặc dốt ở Hồi Xuân nhanh chóng phát triển và mang tính sâu rộng khắp các bản làng Xã Hồi Xuân đã thành lập Ban bình dân học và tuyên truyền động viên bà con nhân dân đi học, tiêu biểu như ông Cao Ngọc Bích, ông Phạm Bá làm giáo viên bình dân học vụ dạy xóa mù chữ ở làng Khó, làng Nghèo từ tháng 11 năm 1945 đến tháng 3 năm 1946 đã dạy cho trên 100 người biết chữ Nếu trước đây 99% dân số Hồi Xuân mù chữ thì đến tháng 10 năm 1946 cứ 10 người dân thì 6 người biết chữ Năm 1946, Hồi Xuân chưa đủ điều kiện thành lập Chi bộ, sinh hoạt chung với Phú Nghiêm (gọi là chi bộ Phú - Hồi) trực thuộc Huyện ủy (1947 - 1952) [7; tr 28]

Xã Hồi Xuân đã thành lập chính quyền vào ngày 15 tháng 02 năm

1946, do ông Phạm Bá Tê (quê ở bản Khằm) làm Chủ tịch ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời xã nhiệm kỳ đầu tiên, (giai đoạn 1945 – 1947)

Đầu năm 1947, ông Phạm Bá Quý (quê ở bản Khó) - Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính giai đoạn 1947 – 1951; ông Hà Văn Xương - Phó Chủ tịch Lúc này hệ thống tổ chức xã chưa có các đoàn thể Toàn xã có 26 bản, chính quyền lâm thời đã thành lập các Ban như: Việt Minh, Bình dân học

vụ, Công an, Quân sự Việc tổ chức các đoàn thể chính trị như: Phụ nữ cứu quốc, nông dân cứu quốc, thanh niên cứu quốc, nông hội cứu quốc được xúc tiến khẩn trương

Ngày 19 tháng 12 năm 1946, Bác Hồ ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến Ngày 20 tháng 02 năm 1947, lần đầu tiên Bác Hồ về thăm Thanh Hoá Chủ tịch Hồ Chí Minh chưa lên thăm đồng bào các dân tộc miền núi tỉnh ta

Trang 29

được Nhưng, Người đã gửi thư cho đồng bào Thượng du, trong đó nhắn gửi đồng bào và nhắc nhở các vị lang đạo cùng đồng bào các dân tộc phải đoàn kết để chống giặc cứu nước Đây là niềm cổ vũ động viên to lớn đối với đồng bào các huyện miền núi nói chung và xã Hồi Xuân - Quan Hóa nói riêng Nhân dân xã nhà cùng toàn huyện tích cực phấn đấu làm theo lời dạy của

Người “Xây dựng tỉnh Thanh Hóa thành tỉnh kiểu mẫu, hậu phương vững

mạnh toàn diện”

Tiếp đó vào ngày 09 tháng 4 năm 1947, Ủy ban kháng chiến tỉnh ra quyết định thành lập Ban lãnh đạo dân quân Thượng du để tổ chức, xây dựng cơ sở kháng chiến tại mặt trận miền Tây của tỉnh Được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, Tỉnh ủy Thanh Hóa, ngay từ đầu cuộc kháng chiến, nhân dân Quan Hóa chỉ đạo nhân dân các dân tộc Hồi Xuân đã biểu thị lòng quyết tâm chiến đấu đánh bại quân thù Tháng 4 năm 1947, Pháp từ Lào chia thành 3 đường (sông Mã, sông Luồng, sông Lò) kéo xuống chiếm đóng Hồi Xuân

Sau khi chiếm đóng Hồi Xuân, địch khôi phục lại bộ máy thống trị, tên Phạm Bá Thơ được thực dân Pháp dựng lên làm tri châu Quan Hóa Nhà thờ tiếp tục hoạt động trở lại, bọn tay sai gián điệp khoác áo cha cố lần lượt trở về

Đầu tháng 7-1947, đồng chí Đặng Việt Châu, Chủ tịch UBKC-HC tỉnh Thanh Hóa đã lên Quan Hóa kiểm tra tình hình và chỉ đạo chiến đấu

Ngày 11-8-1947, địch phải rút khỏi Hồi Xuân Bọn tay sai không còn chỗ dựa phải cuốn gói chạy theo Tên Phạm Bá Thơ đưa cả gia đình trốn chạy lên Mường Lát Nhân dân xã Hồi Xuân và các xã lân cận được giải phóng Để bảo vệ thành quả cách mạng, Uỷ ban kháng chiến tỉnh quyết định thành lập Ban dân quân Thượng du do Uỷ ban hành chính kháng chiến tỉnh trực tiếp lãnh đạo Lúc này ở Quan Hóa, sau khi buộc phải cuốn gói tháo chạy khỏi Hồi Xuân, địch co cụm về phía Tây và nuôi dưỡng ý đồ tấn công vào vùng tự

do Thanh Hóa và tiếp tục thực hiện chia cắt mối quan hệ kháng chiến giữa ta

Trang 30

và Lào.Thực hiện âm mưu đen tối đó, chúng cho xây các đồn bốt ở vùng Mường Lát, Hiền Kiệt, Mường Xia và thực hiện chính sách bình định tàn khốc bọn Phạm Bá Thơ và Lò Khăm Thi lập ra tổ chức “Liên bang Thái tự trị” nhằm kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, chia rẽ lực lượng kháng chiến của ta

Trước tình hình đó, Tỉnh ủy đã có sự lãnh đạo chặt chẽ, sát sao với một tinh thần khẩn trương và kiên quyết Thực hiện Nghị quyết của Tỉnh ủy về việc tăng cường xây dựng Đảng ở các huyện miền núi, dưới sự lãnh đạo của

Đảng ủy miền Tây, 8 đồng chí được tăng cường về huyện Quan Hóa đã tổ

chức Hội nghị thành lập chi bộ đầu tiên ở Quan Hóa lấy tên chi bộ 53 (kỷ niệm ngày 5 tháng 3 đoàn lên đường đi Quan Hóa) do đồng chí Nguyễn Hoàn làm bí thư; đồng chí Trần Đảng làm Phó Bí thư Sự ra đời của chi bộ 53 tạo ra bước ngoặt mới trong sự nghiệp kháng chiến kiến quốc ở miền đất Quan Hóa nói chung và xã Hồi Xuân nói riêng [7; tr 32]

Trong năm 1949, một sự kiện quan trọng của xã Hồi Xuân là bản Chiềng Nưa và Chiềng Tớ được đặt theo tên thượng tướng thống lĩnh quân Lò Khăm Ban Bản Chiềng Nưa được đổi tên là bản Khằm, bản chiềng Tớ được đổi tên là bản Ban Từ sau chiến thắng Biên giới Thu Đông 1950, phong trào cách mạng của nhân dân các dân tộc ngày càng phát triển sôi nổi, mạnh mẽ

Ngày 28 tháng 3 năm 1950, Đảng bộ Quan Hóa chính thức được thành lập trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng, thi đua yêu nước toàn huyện

Đầu năm 1951, những cuộc đấu tranh chính trị, tố giác và phát giác bọn Việt gian phản động đã diễn ra quyết liệt

Ngày 13 tháng 3 năm 1954, chiến dịch Điện Biên Phủ mở màn Cùng với toàn tỉnh, đồng bào các dân tộc huyện Quan Hóa đã tích cực ra quân, nam

nữ thanh niên nô nức xung phong đi phục vụ chiến dịch Trong toàn bộ đợt phục vụ riêng Quan Hóa đã có hơn 4.700 người tham gia, trong đó có 600 người làm nhiệm vụ vận chuyển đến mặt trận Địa bàn xã Hồi Xuân là địa điểm chính dừng chân nghỉ ngơi của dân công [7; tr 35]

Trang 31

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Hồi Xuân đã huy động trên 500 lượt người và trên 4000 công phục vụ tiền tuyến, tiêu biểu là ông Hà Văn Nhăng đã được tặng danh hiệu “Chiến sĩ thi đua toàn quốc” với thành tích thồ lúa bằng xe đạp lên Điện Biên Phủ [7; tr 36]

Trong số những con đường đi qua Quan Hóa ra Hòa Bình – Điện Biên

và Lào thì các xã Hồi Xuân, Phú Nghiêm, Phú Lệ là 3 điểm giữ vị trí quan trọng Với bản chất xâm lược và ngoan cố, hiếu chiến, địch quyết tâm chặn đánh các đoàn quân tiếp viện cho chiến trường Chiều ngày 15-4-1954, đã có

51 tên biệt kích nhảy dù xuống Hồi Xuân và Phú Lệ nhằm phá hoại kho tàng,

vũ khí của ta Dân quân Hồi Xuân và Phú Lệ kịp thời phát hiện và bao vây bắt gọn 2 toán biệt kích này

Nhân dân các dân tộc Hồi Xuân hầu hết là lao động thuần nông, nhưng luôn phải chịu cuộc sống áp bức của các tầng lớp phong kiến thực dân Nay được sống dưới chế độ mới, chế độ dân chủ nhân dân, càng thấu hiểu sâu sắc hơn ai hết đó là quyền độc lập tự do của đất nước, của cộng đồng, nên càng hăng hái, sẵn sàng góp sức người, sức của cho chiến trường để giành thắng lợi

cuối cùng

Kết thúc cuộc kháng chiến 9 năm “Kháng chiến ba ngàn ngày không

nghỉ” chống thực dân Pháp xâm lược Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng,

nhân dân Hồi Xuân cũng như nhân dân miền Bắc tiến bước trên con đường xã hội chủ nghĩa, làm hậu phương cho tiền tuyến miền Nam sau này

Thời kỳ này, miền Bắc nước ta chuyển từ thời chiến sang thời bình, hoạt động của các cấp bộ Đảng và chính quyền, nhất là ở cơ sở đang gặp lúng túng Đầu năm 1956, tỉnh ủy Thanh Hóa và Huyện ủy Quan Hóa cử các đội công tác về các xã để làm nhiệm vụ vận động quần chúng nhân dân tăng gia sản xuất Ở xã Hồi Xuân do đồng chí Tống Viết Hoằng làm đội trưởng, đội đã chọn bản Bút là địa phương không có các tầng lớp địa chủ làm nơi làm việc

Ủy ban kháng chiến hành chính xã Hồi Xuân cũng theo đội vận động đoàn kết

Trang 32

sản xuất chuyển về Bản Bút Cuối năm 1956, Ủy ban hành chính xã nhiệm kỳ thứ V được bầu lại, bao gồm 07 ủy viên

Lúc này Hồi Xuân còn 24 bản (do 2 bản người Dao chuyển xuống xã Cẩm Tú - Cẩm Thủy và huyện Ngọc Lặc) Các đoàn thể quần chúng như Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đàn thanh niên lao động, Mặt trân liên Việt cũng được củng cố tổ chức hoàn chỉnh Tháng 6 năm 1957, Chi bộ xã Hồi Xuân được thành lập sau khi thành lập chi bộ xã lãnh đạo nhân dân khôi phục kinh

tế, tiến hành hợp tác hóa nông nghiệp và thực hiện kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ Nhất

Từ năm 1959 – 1960 trở đi, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai ở miền Nam Việt Nam trắng trợn phá hoại Hiệp định Giơnevơ là việc lập lại hòa bình ở Việt Nam Ngày 20 tháng 12 năm 1960, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam do Luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch ra đời Tiếp đó, Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam ra đời, hưởng ứng theo tiếng gọi thiêng liêng của Đảng, Bác Hồ kính yêu, của đồng bào miền Nam ruột thịt, lớp lớp thanh niên xã Hồi Xuân hăng hái lên đường nhập ngũ, xẻ dọc Trường sơn vào Nam chiến đấu Mở đầu phong trào này có các anh Hà Công Tấc (bản Khó), Hà Văn Tượng và Hà Ngọc Chắn (bản Bút)

Thời kỳ 1961 – 1965, thực hiện kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ Nhất, nhân dân xã Hồi Xuân cùng các xã bạn trong huyện nô nức bước vào thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng, Nghị quyết đại hội đại biểu tỉnh Thanh Hóa lần thứ V và Nghị quyết đại hội lần thứ III của Đảng bộ huyện Quan Hóa

Trong lúc các phong trào của nhân dân cả nước đang lên cao, đế quốc

Mỹ đã không từ bỏ dã tâm xâm lược nước ta Từ năm 1961, Mỹ đã cho máy bay xâm nhập vùng trời Quan Hóa nhiều lần

Với sự trưởng thành của Chi bộ Hồi Xuân, tháng 5 năm 1964, thực hiện Quyết định của Huyện uỷ Quan Hóa, Đảng bộ Hồi Xuân được thành lập đã

Trang 33

lãnh đạo nhân dân các dân tộc trong xã vừa sản xuất vừa chiến đấu chống đế quốc Mĩ xâm lược Từ năm 1966 trở đi, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của quân và dân cả nước ngày càng trở nên ác liệt trên cả hai miền Nam, Bắc Quán triệt Nghị quyết Đại hội, Đảng bộ xã chuyển mọi hoạt động trong toàn xã từ thời bình sang thời chiến

Trong cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ, huyện Quan Hóa nói chung và Hồi Xuân nói riêng tuy không nằm trong vùng trọng điểm đánh phá của địch, nhưng là vùng trọng yếu nằm trên tuyến đường trọng điểm nên máy bay địch đã nhiều lần bắn phá, gây thiệt hại về cơ sở vật chất….Đảng bộ và quân dân Hồi Xuân chuyển hướng mọi mặt hoạt động, gia tăng công tác phòng không nhân dân, tu sửa hầm hào trú ẩn, công sự chiến đấu tập trung lực lượng dân quân tự vệ 24/24 tại địa phương để sẵn sàng đối phó với hành động đánh phá của đế quốc Mỹ xâm lược

Đầu năm 1973, do thất bại nặng nề trên chiến trường Nam - Bắc, đế quốc Mỹ buộc phải ký Hiệp định Pa ri, chấm dứt hoàn toàn cuộc chiến tranh phá hoại Từ đây cùng với miền Bắc, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, nhân dân các dân tộc xã Hồi Xuân kịp thời hàn gắn vết thương chiến tranh, nỗ lực sản xuất và chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến góp phần “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”

Trong suốt thời gian chống Mỹ cứu nước, Hồi Xuân là một trong những xã cung cấp gỗ, luồng, nứa cho cuộc kháng chiến để làm đường, cầu phao Dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy, cán bộ, đảng viên và nhân dân toàn xã hưởng ứng sôi nổi khí thế “Đánh Mỹ ta đã thắng, trồng luồng ta nhất định cũng thắng” với quyết tâm cao nhất “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” Các tổ chức đoàn thể như Phụ nữ “Ba đảm đang”, Thanh niên “Ba sẵn sàng”, Tự vệ “Quyết thắng” đã hăng hái bám bản, bám dân, bám đường 15A động viên toàn dân thực hiện nhiệm vụ

Thành quả đóng góp trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước nhân dân xã Hồi Xuân một lần nữa khẳng định bản lĩnh trung thành với cách mạng,

Trang 34

kiên cường chiến đấu quyết tâm hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ cách mạng giao phó Nhân dân xã Hồi Xuân nêu cao tinh thần vượt khó, bám trụ cơ sở

“tay cày, tay súng” vừa sản xuất, vừa chiến đấu, đã hoàn thành nhiệm vụ hậu

phương lập nhiều chiến công trong phong trào thi đua “3 giỏi” Đảng bộ và

nhân dân các dân tộc xã nhà đã cùng cả nước góp phần thắng lợi trong sự

nghiệp “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”, giải phóng miền Nam thống

nhất đất nước và cùng cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước năm 1975 đã đưa cách mạng Việt Nam sang giai đoạn mới - giai đoạn cả nước quá độ đi lên

chủ nghĩa xã hội Thời gian này Hồi Xuân đã vượt qua không ít khó khăn để

vươn lên, bộ mặt bản làng có những thay đổi về kinh tế, văn hóa- xã hội Đó

là thành quả 10 năm xây dựng và trưởng thành, là sự đóng góp mồ hôi, công sức của nhân dân các dân tộc Hồi Xuân

Thực hiện Nghị quyết của Hội nghị lần thứ 24 (khóa III) của TW, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ VIII, Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Quan Hóa lần thứ XI Đặc biệt là chỉ thị 208 CT/TW về tổ chức lại một bước về quản lý công, nông lâm nghiệp Với khí thế và tinh thần tiến công trong giai đoạn mới, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc xã Hồi Xuân nêu cao ý thức cách mạng, tích cực tổ chức và mở rộng sản xuất nông, lâm nghiệp Thực hiện chủ trương xây dựng hợp tác xã toàn xã Đảng bộ đã chủ trương vận động nhân dân, các hợp tác xã xây dựng thành hợp tác xã quy mô toàn xã

Do đó, kinh tế có phần khởi sắc, tuy nhân dân vẫn còn nhiều tháng giáp hạt

Từ năm 1976- 1986, nhân dân xã Hồi xuân cùng với nhân dân trong tỉnh

và cả nước thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ 2 (1975- 1980) và kế hoạch 5 năm lần thứ 3( 1981-1985) Sau các kế hoạch 5 năm nền kinh tế địa phương

đã có nhiều khởi sắc, chính trị - xã hội ổn định

Trong 10 năm (1975- 1986), thực hiện Nghị quyết các Đại hội, Ban Chấp hành Đảng bộ Hồi Xuân tập trung chỉ đạo nhiệm vụ phát triển kinh tế một cách toàn diện Trọng tâm là trồng rừng, sản xuất lương thực, thực phẩm,

Trang 35

chăn nuôi, HTX mua bán, HTX tín dụng đã phát huy tốt chức năng thu mua phục vụ nhu cầu thiết yếu cho nhân dân, góp phần cải thiện đời sống của đồng bào các dân tộc nơi đây

Tuy nhiên, ở giai đoạn này đời sống nhân dân các dân tộc trong xã còn gặp nhiều khó khăn Đây là bài học kinh nghiệm quý báu để Đảng bộ khắc phục nhằm chuẩn bị cho những chặng đường tiếp theo trong công cuộc đổi mới đất nước

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Quan Hóa lần thứ XV, ngày 20 tháng 11 năm 1986 cũng đã nêu:

Tập trung khai thác hết tiềm năng, thế mạnh của huyện, xây dựng

huyện có cơ cấu nông – lâm – công nghiệp hợp lý, có nhiều sản phẩm hàng hóa, nhất là xuất khẩu Phải từ lương thực, nghề rừng, xuất khẩu, nhanh chóng phát triển hàng hóa phong phú, đa dạng mà đi lên Xây dựng huyện Quan Hóa trở thành huyện ổn định về chính trị, giàu về kinh tế, mạnh về quốc phòng – an ninh, đẹp về đời sống văn hóa [7; tr 67]

Từ Nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XV Đảng bộ xã Hồi Xuân đã vận dụng vào thực tiễn các Nghị quyết để thực hiện các nhiệm vụ chính trị ở địa phương

Từ năm 1986-2020, Đảng bộ xã Hồi Xuân đã trải qua nhiều kì Đại hội thể hiện quyết tâm thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới đất nước, đổi mới ở địa phương Đặc biệt, tại Đại hội đại biểu Đảng bộ xã Hồi Xuân lần thứ XXII

đã quyết định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp của nhiệm

kỳ 2015 - 2020 như sau:

Nâng cao năng lực lãnh đạo sức chiến đấu của Đảng Xây dựng Đảng

bộ thật sự trong sạch vững mạnh, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân; nâng cao hiệu quả trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo Tập trung phát triển kinh

tế nhanh và bền vững, tranh thủ thu hút đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội; đẩy mạnh việc áp dụng tiến bộ khoa học kỷ thuật vào sản xuất Nâng cao chất lượng các hoạt động văn hoá - xã hội; không ngừng cải thiện

Trang 36

đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân; đảm bảo các chính sách an sinh xã hội Tăng cường, củng cố quốc phòng - an ninh, giữ vững ổn định An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hộị [7; tr 99]

Trên cơ sở phương hướng, mục tiêu của Đại hội Đảng bộ xã lần thứ XXII, Nhân dân các dân tộc xã Hồi Xuân Phát huy truyền thống đoàn kết, nhất trí khắc phục khó khăn, nêu cao tinh thần chủ động, sáng tạo, đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, quyết tâm phấn đấu hoàn thành thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội lần thứ XXII của Đảng bộ xã đã đề ra

Mặc dù thời gian thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ khóa XXII xã Hồi Xuân mới đi được hơn nửa chặng đường, song dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, tình hình kinh tế, xã hội trên địa bàn xã có những bước phát triển vượt bậc Trong thời gian từ năm 2015 - 2017, xã đã tiến hành khởi công và hoàn thành một số công trình như: Thực hiện chương trình 135 và 30a của Chính phủ trong tháng xã được cấp 160 triệu từ nguồn vốn 135 và 267 triệu từ nguồn vốn 30a Đảng ủy, UBND xã đã thống nhất chủ trương mua 43 con bò cấp cho 42 hộ nghèo, 1 hộ cận nghèo; Khởi công xây dựng Trạm y tế với số vốn 2,5 tỷ, tu sửa tuyến mương tại bản Mướp 200m, với số vốn 72 triệu đồng

[7; tr101]; chương trình xây dựng nông thôn mới hiện nay xã đã đạt được 14

tiêu chí, ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới huyện, cùng với ban chỉ đạo xã tiến hành kiểm tra, đánh giá tiến độ thực hiện ở bản Khằm, bản Nghèo Qua

đó tiếp tục chỉ đạo quyết liệt các bản phấn đấu thực hiện các tiêu chí còn lại Các chỉ tiêu về kinh tế - xã hội đạt được tiếp tục là cơ sở quan trọng để xã Hồi Xuân tiến nhanh, tiến mạnh hơn trong thời gian tới Điều quan trọng là Đảng

bộ xã đã biết kế thừa và vận dụng một cách sáng tạo kinh nghiệm của các đồng chí lãnh đạo tiền nhiệm, tranh thủ điều kiện, ủng hộ của cấp trên, biến những khó khăn thách thức thành những thời cơ thuận lợi, thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa

Trang 37

Tiểu kết chương 1

Với điều kiện tự nhiên khá thuận lợi, vùng đất Hồi Xuân từ xa xưa đã

là nơi cư trú của các tộc người như Thái, Mường, Hoa Đặc biệt tộc người Thái chiếm đa số đã xây dựng nên một nên văn hóa đặc sắc của người Thái trên mảnh đất này Hình thành từ thế kỉ XII với tên gọi là Mường Ca Da lại được coi là trung tâm kinh tế - xã hội của Mường chính vì vậy vùng đất Hồi xuân được coi là nơi hội tụ và lan tỏa của nền văn hóa

Trải qua những thăng trầm của lịch sử với những lần thay đổi tên gọi đơn vị hành chính vào ngày 03 tháng 02 năm 1946, xã Hồi xuân đã được thành lập theo quyết định số 56 của chính phủ gồm 23 bản và phố Phan Thanh

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn cách mạng, từ đặc điểm địa lý, ngày 27 tháng 6 năm 1966, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 98 về việc chia

xã Hồi Xuân làm 4 xã Thực hiện Quyết định số 04/QĐHĐBT của Hội đồng

Bộ trưởng, ngày 05 tháng 01 năm 1987, xã Hồi Xuân chia tách thành hai đơn

vị hành chính là Thị trấn Quan Hóa và xã Hồi Xuân

Dưới sự lãnh đạo của Đảng đồng bào xã Hồi Xuân cùng với đồng bào cả nước đã đứng lên theo Đảng đấu tranh chống áp bức, bóc lột giành chính quyền góp phần vào những thắng lợi lớn của dân tộc, đánh bại thực dân Pháp và đế quốc Mĩ để bước vào thời kì hòa bình xây dựng và phát triển quê hương

Trong những năm gần đây, trên cơ sở phát triển kinh tế - xã hội, Đảng bộ

đã lãnh đạo nhân dân xã Hồi Xuân xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Xây dựng hệ thống chính trị, phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng, xây dựng Đảng ngày càng vững mạnh, đáp ứng nhiệm vụ trong tiến trình công nghiệp hóa hiện đại hóa

Trang 38

Vùng đất Hồi Xuân là vùng đất có bề dày lịch sử, truyền thống yêu nước và cách mạng, đồng bào xã Hồi Xuân đã không ngừng lao động sáng tạo, đấu tranh khắc phục thiên tai, xây dựng quê hương, góp phần cùng dân tộc Việt Nam viết nên những trang sử hào hùng trong quá trình gìn giữ độc lập chủ quyền dân tộc

Trang 39

Chương 2

DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ VÙNG ĐẤT HỒI XUÂN

2.1 Di tích lịch sử

2.1.1 Đền thờ Thượng tướng Thống lĩnh quân Lò Khằm Ban

Dòng họ Phạm (họ Khằm) ở Quan Hóa là dòng họ lớn của năm châu nhất là ở vùng Châu Thượng Ông tổ của dòng họ Phạm bá ở Quan Hóa là Tôn tướng Công Khằm Ban Thượng tướng quân Khằm Ban có tên gọi theo tiếng Thái là Chu Kha Lai, tiếng Kinh là Phạm Hiếu, ông là con rể của vua nước Ai Lao (tức Lào) nên có tên gọi là Khằm Ban Khằm Ban là tiếng Lào:

“khằm” có nghĩa là vàng, “ban” có nghĩa là bạc [41; tr 2]

Dấu tích về tướng quân Khằm Ban hiện nay vẫn còn lưu giữ ở vùng đất Hồi Xuân – Quan Hóa với tên gọi của hai bản là Bản Khằm và Bản Ban và một tấm bia đá lớn ghi dấu công ơn của ông Lúc còn trẻ ông ở Mường Bua (Na sài) Ông rất chăm chỉ học hành luyện tập võ nghệ binh đao, dáng người ông to cao, tai to ngực rộng, bước đi mạnh mẽ, xăm mình, võ nghệ cao siêu Khi lớn lên ông tổ chức tập luyện binh mã, hưởng ứng lời kêu gọi của vua Lê Thái Tổ ông theo nhà Lê đánh giặc Minh cứu cứu nước Ông được phân đánh giặc ở vùng Lũng Cú, Đồng Văn, Đồng Đăng, Kì Lừa, Vùng biên giới phía Tây Bắc với nước Ngô Cánh quân của ông đánh giặc mưu trí, anh dũng liên tiếp thắng trận đuổi giặc Minh ra khỏi đất nước và lập đồng Trụ ở Phân mao Lĩnh ở biên giới hai nước Ngô và Việt Nam Do công lớn Ông được Vua Lê phong hàm thượng tướng thống lĩnh quân Sau khi đất nước bình yên Ông được vua Lê cho chọn đất ở vùng có sàn bản, có cột để đóng quân và lập thái

ấp Vua Lê giao cho ông vùng biên giới phía trong từ Nghệ An ra đến vùng Mường Thanh, Mường Lò miền Tây Bắc của tổ quốc Vua lê giao cho tiến sĩ Trương Nghè và quan Tư Mã giúp tướng chỉ huy tổ chức lực lượng bảo vệ vùng biên giới và lập thái ấp Ông cùng tiến sĩ và quan Tư Mã đi tìm xác định

Trang 40

vùng đất, ông tìm từ Ngã ba đầu nơi sông Chu và sông Mã hợp nhau Ông định đóng quân ở Quán lào và vùng Vĩnh Lộc nhưng vùng đất này chưa tựa quê cha đất tổ Ông lại tìm đến cửa Hà, Quán É, rồi đến Mường Khô, Mường Khung, Mường Ai, Mường Ống, Mường Kỷ, cũng chẳng được nơi nào vừa ý

và được quẻ tốt tựa quê nhà

Đến cửa sông Lò đường đi khó khăn núi sông hiểm trở ông cho quân hạ trại nghỉ ngơi Đêm đầu tiên nghỉ tại bãi gần cửa sông ông đã có một giấc mơ

kì lạ: “ Ông đang đến một máng nước để tắm, máng nước to, nước trắng xóa ở một chân sườn gò sau làng ông mải tắm bỗng một con rắn to quấn chặt lấy ông, ông la hét vùng vẫy mãi” Khi thức dậy ông đã kể lại giấc mơ cho tiến sĩ

và các quan cùng nghe mọi người cho rằng đây là giấc mơ tốt

Sáng hôm sau ông cùng tiến sĩ và các quan leo lên đỉnh núi Mung Mường để quan sát thì thấy đất Mường Ca Da Hồi Xuân, sau mường Pu có

cá, trước mường có suối Khó – Bó mạ cánh đồng phì nhiêu, cạnh mường phía tây có Sông Mã chạy qua sông Luồng và sông Lò Đây là nơi hội tụ 3 con sông Nhìn xa Mường phía đông có dãy Pù Luông và đỉnh Pha Tam Phía nam

có Pha Cuốn, Pha Chùa, Pha Tooc và các gò Pom Kéo, Pom Đôn, Pom Bót ót tựa như những kho báu và các mâm cơm lộ thiên Phía Tây có dãy núi Pha Phụ, Pha Múng Mường, Pha Buốc Mu liên tiếp nối nhau tạo thành hàng rào che trở cho vùng đất bình yên

Vì vậy Ông đã lấy vùng đất này làm nơi đóng quân và lập thái ấp Ông cho khảo sát Mường Ca Da và vùng đất phía Tây để xây dựng kế hoạch phòng thủ quy hoạch xây dựng kinh tế, xã hội Ông còn đào con póng, khai phá ruộng, làm đường xá xây dựng bản làng xây dựng doanh trại quân lính, ở khu vực mường Ca Da [50; tr 7]

Tướng quân Khằm Ban mất tại mường Ca Da nhân dân vùng Thượng

vô cùng thương tiếc mến mộ tài ba đức độ của ông Nhà nước đã cho lập đền thờ 5 gian bằng gỗ tại Pom kéo bản chiềng Khăm (Bản Khằm) để hương khói thờ phụng ông

Ngày đăng: 17/07/2023, 23:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vương Anh (2001), Tiếp cận văn hoá bản Thái xứ Thanh, Sở văn hoá thông tin – Thanh Hoá xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận văn hoá bản Thái xứ Thanh
Tác giả: Vương Anh
Nhà XB: Sở văn hoá thông tin – Thanh Hoá xuất bản
Năm: 2001
2. Đào Duy Anh (2005), Việt Nam văn hóa sử cương, NXB Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: NXB Thông tin
Năm: 2005
3. Vi Văn Biên (2009) Một Số phong tục và lễ hội của người Thái ở Thanh Hoá, Nghệ An, NXB Văn Hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một Số phong tục và lễ hội của người Thái ở Thanh Hoá, Nghệ An
Tác giả: Vi Văn Biên
Nhà XB: NXB Văn Hoá Thông tin
Năm: 2009
4. Vi Văn Biên ( 2006), Văn hóa vật chất của người Thái ở Thanh Hóa và Nghệ An, NXB Văn hóa các dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa vật chất của người Thái ở Thanh Hóa và Nghệ An
Tác giả: Vi Văn Biên
Nhà XB: NXB Văn hóa các dân tộc
Năm: 2006
5. Ban sưu tầm và nghiên cứu văn hoá truyền thống Mường Ca da (1985), Văn hoá truyền thống Mường Ca da, NXB Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá truyền thống Mường Ca da
Tác giả: Ban sưu tầm và nghiên cứu văn hoá truyền thống Mường Ca da
Nhà XB: NXB Thanh Hoá
Năm: 1985
6. Ban Nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá ( 2005), Văn hoá phi vật thể Thanh Hoá, NXB Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá phi vật thể Thanh Hoá
Tác giả: Ban Nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá
Nhà XB: NXB Thanh Hoá
Năm: 2005
7. Ban Chấp Hành Đảng bộ xã Hồi Xuân (2019), Lịch sử Đảng bộ xã Hồi Xuân (1957 – 2017), NXB Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ xã Hồi Xuân (1957 – 2017)
Tác giả: Ban Chấp Hành Đảng bộ xã Hồi Xuân
Nhà XB: NXB Thanh Hóa
Năm: 2019
8. Ban Chấp Hành Đảng bộ huyện Quan Hóa (20050, Lịch sử Đảng bộ huyện Quan Hóa (1945-1996), NXB Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ huyện Quan Hóa (1945-1996)
Tác giả: Ban Chấp Hành Đảng bộ huyện Quan Hóa
Nhà XB: NXB Thanh Hóa
Năm: 2005
9. Charlesrobequain ( 2012), Tỉnh Thanh Hoá, NXB Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỉnh Thanh Hoá
Tác giả: Charlesrobequain
Nhà XB: NXB Thanh Hoá
Năm: 2012
10. Phan Hữu Dật (1998), Một số vấn đề dân tộc học Việt Nam, NXB Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề dân tộc học Việt Nam
Tác giả: Phan Hữu Dật
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia
Năm: 1998
11. Khổng Diễn (1995), Dân số và dân số tộc người ở Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân số và dân số tộc người ở Việt Nam
Tác giả: Khổng Diễn
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1995
12. Phạm Văn Đấu (2006), Những nền văn hoá cổ đôi bờ Sông Mã, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nền văn hoá cổ đôi bờ Sông Mã
Tác giả: Phạm Văn Đấu
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2006
13. Phạm Hổ Đấu (2011), Đời sống văn hoá dân tộc Thái, NXB Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời sống văn hoá dân tộc Thái
Tác giả: Phạm Hổ Đấu
Nhà XB: NXB Thanh Hoá
Năm: 2011
14. Đảng cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
15. Vũ Trường Giang (2004), Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa Thái ở miền núi Thanh Hoá trong giai đoạn hiện nay, Tạp chí giáo dục lí luận, số 12, tr 41- 44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa Thái ở miền núi Thanh Hoá trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Vũ Trường Giang
Nhà XB: Tạp chí giáo dục lí luận
Năm: 2004
16. Vũ Trường Giang (2015), Tri thức dân gian của người Thái ở Thanh Hoá, NXB Văn Hoá Dân Tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tri thức dân gian của người Thái ở Thanh Hoá
Tác giả: Vũ Trường Giang
Nhà XB: NXB Văn Hoá Dân Tộc
Năm: 2015
17. Lê Sỹ Giáo (1991), Đặc điểm phân bố các tộc người ở miền núi Thanh Hoá, Tạp chí dân tộc học, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm phân bố các tộc người ở miền núi Thanh Hoá
Tác giả: Lê Sỹ Giáo
Nhà XB: Tạp chí dân tộc học
Năm: 1991
18. Phạm Hoàng Mạnh Hà, Trần Thị Liên (2012), Đời sống văn hoá các dân tộc ở Thanh Hoá, NXB Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời sống văn hoá các dân tộc ở Thanh Hoá
Tác giả: Phạm Hoàng Mạnh Hà, Trần Thị Liên
Nhà XB: NXB Thanh Hoá
Năm: 2012
19. Đỗ Thị Hoà (2012), Trang phục các dân tộc thiểu số nhóm ngôn ngữ Việt - Mường, Tày – Thái, Kađai, NXB Văn Hoá Dân Tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trang phục các dân tộc thiểu số nhóm ngôn ngữ Việt - Mường, Tày – Thái, Kađai
Tác giả: Đỗ Thị Hoà
Nhà XB: NXB Văn Hoá Dân Tộc
Năm: 2012
20. Tống Văn Hân (2016), Tục Thờ cúng tổ tiên của người Thái đen, NXB Hội Nhà Văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục Thờ cúng tổ tiên của người Thái đen
Tác giả: Tống Văn Hân
Nhà XB: NXB Hội Nhà Văn
Năm: 2016

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w