Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, vùng đất này đã tạo nên một hệ thống di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của xứ Thanh với nhiều mảng màu đặc sắc và đa dạng.. Do vậy, việc tìm hiểu nghi
Trang 1[
BỘ GIÁO DỤCVÀ ĐÀO TẠO UBND TỈNH THANH HÓA
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC
NGUYỄN HỮU TOẢN
LỊCH SỬ VĂN HÓA VÙNG ĐẤT NGA PHƯỢNG
(NGA SƠN, THANH HÓA)
LUẬN VĂN THẠC SỸ LỊCH SỬ
THANH HÓA, NĂM 2020
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND TỈNH THANH HÓA
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC
NGUYỄN HỮU TOẢN
LỊCH SỬ VĂN HÓA VÙNG ĐẤT NGA PHƯỢNG
(NGA SƠN, THANH HÓA)
2 PGS.TS Hoàng Thanh Hải
THANH HÓA, NĂM 2020
Trang 3Danh sách Hội đồng chấm luận văn Thạc sĩ khoa học
(Theo Quyết định số1636 ngày 13 tháng 10 năm 2020 của Hiệu trưởng
PGS.TS Mai Văn Tùng Trường Đại học Hồng Đức Chủ tịch Hội đồng
TS Lê Ngọc Tạo Ban NC&BS Lịch sử
Thanh Hóa
Ủy viên, Phản biện 1
TS Nguyễn Thị Thu Hà Trường Đại học Hồng Đức Ủy viên,
Phản biện 2
TS Vũ Quý Thu Hội KH Lịch sử Thanh Hóa Ủy viên
TS Nguyễn Sỹ Hưng Trường Đại học Hồng Đức Ủy viên, Thư ký
Xác nhận của người hướng dẫn
Học viên đã chỉnh sửa theo ý kiến của Hội đồng
Ngày 24 tháng 11 năm 2020
Người hướng dẫn 1
PGS.TS Nguyễn Thị Thúy
Người hướng dẫn 2
PGS.TS Hoàng Thanh Hải
Có thể tham khảo luận văn tại Thư viện trường Đại học Hồng Đức và Bộ môn
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Thị Thúy và PGS.TS Hoàng Thanh Hải Trong quá trình nghiên cứu, tôi có tham khảo một số tài liệu có liên quan (như danh mục Tài liệu tham khảo), các số liệu, trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực
Tôi xin cam đoan luận văn này không trùng lặp với các khóa luận, luận văn, luận án và các công trình nghiên cứu đã công bố
Người cam đoan
Nguyễn Hữu Toản
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn Thạc sĩ với đề tài “Lịch sử văn hóa vùng đất
Nga Phượng (Nga Sơn, Thanh Hóa)”, tác giả xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc
của mình tới những người hướng dẫn khoa học là PGS.TS Nguyễn Thị Thúy, PGS.TS Hoàng Thanh Hải – những người đã gợi mở về hướng nghiên cứu cũng như góp ý cho tôi những vấn đề quan trọng về phương pháp, cách tiếp cận và nội dung nghiên cứu
Tác giả cũng xin bày tỏ sự biết ơn đến tập thể Ban giám hiệu Trường Đại học Hồng Đức, các thầy, cô giáo thuộc Trường Đại học Hồng Đức, đặc biệt là các thầy, cô giáo thuộc Khoa khoa học xã hội đã truyền đạt và trang bị cho tôi những kiến thức bổ ích trong suốt quá trình học tập tại Trường Đại học Hồng Đức
Trân trọng cảm ơn UBND huyện Nga Sơn, Đảng ủy, UBND xã Nga Phượng và bạn bè, đồng nghiệp - nơi tôi công tác đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa học và bản luận văn này
Mặc dù bản thân đã có nhiều cố gắng để tìm hiểu, nghiên cứu về lịch sử văn hóa vùng đất Nga Phượng (Nga Sơn, Thanh Hóa) nhưng chắc chắn sẽ còn nhiều thiếu sót, hạn chế Vì vậy, tác giả rất mong nhận được sự quan tâm đóng góp ý kiến chân thành từ phía các thầy cô, các nhà khoa học, đồng nghiệp và các bạn học viên để luận văn được hoàn thiện tốt hơn
Tác giả xin chân thành cảm ơn!
Thanh Hóa, ngày 24 tháng 11 năm 2020
Tác giả
Nguyễn Hữu Toản
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 7
6 Đóng góp của luận văn 8
7 Bố cục luận văn 9
Chương 1 VÀI NÉT VỀ VÙNG ĐẤT NGA PHƯỢNG 10
1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên 10
1.1.1 Vị trí địa lý 10
1.1.2 Điều kiện tự nhiên 11
1.2 Quá trình hình thành vùng đất Nga Phượng 14
1.2.1 Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 16
1.2.2 Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 17
1.3 Truyền thống lịch sử - văn hóa 24
1.3.1 Truyền thống lịch sử 24
1.3.2 Truyền thống văn hóa 27
Tiểu kết chương 1 29
Chương 2 DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ 31
2.1 Đình, Nghè, Phủ 32
2.1.1 Đình Vân Hoàn 32
2.1.2 Nghè Mái 34
2.1.3 Phủ Đồng Đội 38
Trang 72.2 Chùa và Nhà thờ 39
2.2.1 Chùa Sùng Nghiêm 39
2.2.2 Chùa Thông 40
2.2.3 Chùa Giải Uấn 42
2.2.4 Nhà thờ Lợi Nhân 44
2.3 Nhà thờ họ 45
2.3.1 Nhà thờ dòng họ Ngô 45
2.3.2 Nhà thờ dòng họ Nguyễn Hữu 47
2.3.3 Nhà thờ họ Mai Thế 48
2.3.4 Nhà thờ dòng họ Phạm Đức 51
2.3.5 Nhà thờ họ Mỵ 53
2.4 Nhà cổ và giếng cổ 54
2.4.1 Nhà cổ 54
2.4.2 Giếng cổ 55
2.5 Thực trạng và giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị 58
2.5.1 Thực trạng 58
2.5.2 Giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị 61
Tiểu kết chương 2 62
Chương 3 DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ 64
3.1 Tôn giáo - tín ngưỡng 64
3.1.1 Tôn giáo 64
3.1.2 Tín ngưỡng 67
3.2 Lễ hội truyền thống 72
3.2.1 Lễ hội Kỳ Phúc làng Vân Hoàn 72
3.2.2 Lễ hội Rước Bóng 75
3.2.3 Lễ hội kỳ phúc làng Hội Kê 78
3.2.4 Lễ hội Kỳ phúc làng Đông Thành 80
3.3 Trò chơi, trò diễn dân gian 81
3.3.1 Đánh đu 81
Trang 83.3.2 Trò chơi kéo co 82
3.3.3 Trò chọi gà 83
3.3.4 Trò Trình nghề 84
3.4 Thực trạng và giải pháp bảo tồn, phát huy các giá trị 86
3.4.1 Thực trạng 86
3.4.2 Giải pháp bảo tồn, phát huy các giá trị 87
Tiểu kết chương 3 89
KẾT LUẬN 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93 PHỤ LỤC P1
Trang 9UBHC: Ủy ban hành chính
UBND: Ủy ban nhân dân
UBTVQH: Ủy ban Thường vụ Quốc hội
UBTWMTTQ: Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Thanh Hóa là một vùng đất địa linh nhân kiệt, nơi sản sinh ra nhiều anh hùng dân tộc, danh nhân tiêu biểu làm rạng rỡ mảnh đất giàu truyền thống lịch sử, văn hoá này Đây cũng là đất phát tích của “tam vương, nhị chúa” trong thời kỳ phong kiến Việt Nam Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, vùng đất này đã tạo nên một hệ thống di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của xứ Thanh với nhiều mảng màu đặc sắc và đa dạng
Nga Sơn là một trong số địa phương của Thanh Hóa hội tụ đầy đủ các loại hình di sản văn hóa vật thể Tiêu biểu như động Từ Thức, chùa Thạch Tuyền, chùa Vân Lỗi, đền Trung, đền Thượng (Đồng Xoài), Phủ Trèo, v.v Cùng với
hệ thống di sản văn hóa vật thể thì Nga Sơn còn có các loại hình di sản văn hóa phi vật thể khá đặc sắc như lễ hội Mai An Tiêm, lễ hội chùa Tiên, lễ hội Kỳ phúc làng Yên Ninh… Song song với lễ hội là hoạt động trò chơi dân gian như đánh
cờ người, gói bánh lá, kéo co, chọi gà, đấu vật… thể hiện tinh thần thượng võ, lao động cần cù, yêu nước yêu quê hương của người dân Nga Sơn
1.2 Nga Phượng là vùng đất nằm về phía nam của huyện Nga Sơn, cách trung tâm huyện lỵ 5km về phía bắc Đây là một trong 24 xã, thị trấn của huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa Nga Phượng được thành lập trên cơ sở sáp nhập toàn
bộ diện tích và dân số của hai xã Nga Lĩnh và Nga Nhân theo Nghị quyết số 786/NQ-UBTVQH14 ngày 16 tháng 10 năm 2019 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã thuộc tỉnh Thanh Hóa
Cùng với nhiều vùng đất khác ở Nga Sơn nói riêng và Thanh Hóa nói chung, Nga Phượng là vùng đất đã được hình thành từ rất sớm Với lịch sử phát triển lâu đời, vùng đất Nga Phượng là một trong những nơi chứa đựng đậm nét những giá trị văn hóa dân tộc và tiêu biểu trên mọi phương diện, là nơi hội tụ nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể Trong đó, các di sản văn hóa vật thể như chùa Sùng Nghiêm (Vân Lỗi), chùa Thông, nghè Mái, phủ Đồng Đội, đình Vân Hoàn, nhà thờ của các dòng họ… Cùng với đó là các di sản văn hóa phi
Trang 11vật thể như phong tục – tập quán, tôn giáo - tín ngưỡng, các lễ hội truyền thống, trò chơi, trò diễn… Đặc biệt là lễ hội kỳ phúc làng Vân Hoàn, lễ hội rước bóng làng Đồng Đội, trò diễn Trình nghề (hay còn gọi là trò Thập Thò)… 1.3 Quá trình hình thành và phát triển của vùng đất Nga Phượng gắn liền với lịch sử vùng đất xứ Thanh và dân tộc Việt Nam Nghiên cứu lịch sử văn hóa của vùng đất Nga Phượng, nhất là đánh giá quá trình phát sinh, phát triển của các loại hình di sản văn hóa nơi đây sẽ góp phần khôi phục và phát huy bản sắc văn hóa làng xã, khơi dậy lòng tự hào của mỗi cộng đồng dân cư Trong xu thế hội nhập toàn cầu hiện nay, làng quê ở Việt Nam nói chung
và vùng đất Nga Phượng nói riêng đang đứng trước những thử thách quyết liệt giữa truyền thống và đổi mới, dân tộc và hiện đại Đổi mới song vẫn phải bảo lưu và gìn giữ được bản sắc văn hoá dân tộc Đó là một yêu cầu hết sức quan trọng đòi hỏi sự quan tâm đúng mức không chỉ của các cấp chính quyền
ở Trung ương và địa phương, mà còn đối với ý thức của từng người dân sống trong cộng đồng làng, xã Do vậy, việc tìm hiểu nghiên cứu lịch sử văn hóa vùng đất Nga Phượng là một việc làm cần thiết, không những có tác động tích cực đối với việc bảo tồn và phát huy những giá trị di sản vật thể, phi vật thể của vùng đất mà còn giúp cho các thế hệ người dân xã Nga Phượng hiểu biết
và gắn bó với quê hương Từ đó, có những việc làm thiết thực để xây dựng quê hương, đất nước ngày một giàu đẹp hơn
Xuất phát từ những lý do trên, cùng với bản thân là một cán bộ hoạt động trong lĩnh vực bảo tồn di sản văn hóa và lại được sinh sống trên vùng
đất Nga Sơn nên tôi quyết định lựa chọn vấn đề Lịch sử văn hoá vùng đất
Nga Phượng (Nga Sơn, Thanh Hóa) để làm đề tài luận văn Thạc sỹ chuyên
ngành Lịch sử Việt Nam
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ trước đến nay, văn hóa Việt Nam nói chung và lịch sử văn hóa địa phương nói riêng là một chủ đề đã được các nhà nghiên cứu quan tâm, tiếp cận dưới nhiều phương diện khác nhau Trong đó, có thể điểm qua một số
Trang 12công trình tiêu biểu liên quan đến đề tài luận văn như sau:
- Sách Thanh Hóa chư thần lục [67] được biên tập niên hiệu Thành Thái
thứ 15 (1904), trong đó có phần viết về một số vị thần được thờ ở các làng như làng Vân Hoàn thờ thần là Đại Quốc sơn thần tôn thần, Thượng Tế công chính tôn thần; Thôn Nhân Lý Đông (nay là Đông Thành) thờ Thiên trấn ứng quốc tôn thần, thôn Nhân Lý Đoài (nay là Vy Mỹ) thờ Càn Bổng đông vị tôn thần; Càn Bổng lộc vị tôn thần; thôn Cối Kê (nay là Hội Kê) thờ Tuyên Lãng Đôn nghĩa tôn thần; thôn Báo Biến (nay là Báo Văn) thờ Phương Dung phu nhân chi thần…
- Trong công trình Thanh Hoá tỉnh chí do Trần Hữu Lễ dịch năm 1964
viết về vị trí, giới hạn, khí hậu, nhân vật, phong tục, thổ sản, thành trì, cổ tích, đền miếu, các đơn vị hành chính… của tỉnh Thanh Hóa, phần nói về núi sông
có đoạn viết: “Núi Vân Lỗi còn một tên nữa là Vân Nham, ở xã Thạch Giản
thuộc Nga Sơn Trong động có kí văn khắc vào đá như sau: Núi Vân Lỗi quanh co đột nhiên mọc lên trên mảnh đất cao ven sông, nhiều đá lởm chởm
và sâu thẳm như tán như tụ Giữa những khe đá có hoa cỏ chen nhau, trông
vẻ ngũ sắc tô điểm ở giữa có một ngọn núi cao chót vót đứng thành hàng trăm núi đá nhọn như giáo, lưng chừng vách núi có động, động có chùa, chùa
cổ mà bia đá thành hoang tàn… ” [69; tr 22]
- Sách Đại Nam nhất thống chí [54] là công trình do Quốc sử quán triều
Nguyễn biên soạn dưới thời vua Tự Đức (1847 – 1883), do dịch giả Phạm Trọng Điềm dịch, Đào Duy Anh hiệu đính; và được Nxb khoa học xã hội ấn hành năm 1970 - 1971 Đây là công trình ghi chép về địa chí các tỉnh và các đơn vị hành chính tương đương của nước Đại Nam nửa cuối thế kỉ XIX Tài liệu này đã tổng hợp những ghi chép tường tận về các mặt cương vực, lãnh thổ, hình thế, phong tục, cổ tích,… cho đến ruộng đất, hộ khẩu, nhân vật của các địa phương của đất nước Trong đó có vùng đất Nga Phượng, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa Trong công trình này, phần ghi chép về núi sông có nhắc đến núi Vân Nham ở phía Nam huyện Nga Sơn, nay thuộc xã Nga
Trang 13Phượng Phần ghi chép về chợ và quán có nhắc đến chợ Nhân Lý, xã Nhân
Lý, huyện Nga Sơn
- Các cuốn sách Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX từ Nghệ Tĩnh trở ra
[78], Dương Thị The, Phạm Thị Thoa dịch, Nxb Khoa học Xã hội xuất bản
năm 1981, và sách Đồng Khánh địa dư chí [79], Nxb Thế giới xuất bản năm
2003 - bộ sách địa chí viết bằng chữ Hán được vua Đồng Khánh ra sắc chỉ sai
làm từ khoảng tháng 5 năm 1887 và được hoàn thành trong khoảng năm đầu đời Thành Thái Hai cuốn sách này ghi lại địa lý các tỉnh trong cả nước (chỉ gồm Bắc Kỳ và Trung Kỳ) Mỗi tỉnh ghi chép về vị trí, giới hạn, số huyện, tổng, xã, thôn, phường, số đinh, binh lính, ruộng đất, thuế khóa, phong tục, thổ sản, khí hậu, núi sông, đường sá, đồn lũy, đền miếu, cổ tích, kỹ nghệ… Trong
đó có các thôn Nhân Lý Đông, Nhân Lý Đoài, Vân Hoàn xã Thạch Giản, thôn Báo Biến xã Sơn Đầu, thuộc tổng Thạch Giản (Nga Phượng ngày nay)
- Sách Thơ văn Lý - Trần Nxb Khoa học xã hội xuất bản năm 1996 đã ghi chép về địa thế núi Vân Lỗi “Đông có xóm làng, nhà cửa đông đúc có thể
làm nơi chung đỉnh của hào gia Nam gần sông lớn, chảy tới biền khơi, có thể làm chốn mênh mông cho thế giới Tây có sông Kinh len lỏi tới hương Đại Lỵ, núi Ma Ni có thể làm cảnh tráng quan cho các vùng Quận huyện Bắc kề đường lớn, ăn thông với Thần đầu hải khẩu, có thể làm nơi nghỉ tốt cho kẻ lại người qua Đúng là dùng bốn phía làm giới phong đứng trấn ở non Vân Lỗi
vì non này là chủ các non”[76; tr 133]
- Các công trình Những bút tích Hán Nôm hiện còn ở các hang động
vách núi xứ Thanh của tác giả Võ Hồng Phi – Hương Nao, Nxb Giáo dục xuất
bản năm 2007 và chỉnh sửa bổ sung lại được Nxb Thanh Hóa xuất bản năm
2018 [52], Tuyển tập văn bia Phật giáo Thanh Hóa (tập 1) (Thời Hậu Lê –
Nguyễn), xuất bản năm 2016 [34], Chùa xứ Thanh (tập 2) xuất bản năm 2017
[35], Lịch sử Phật giáo Thanh Hóa của Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh
Thanh Hóa xuất bản năm 2019 [37] đã nghiên cứu về chùa Vân Lỗi và nội dung một số tấm bia trên vách núi Vân Lỗi (Vân Nham)…
Trang 14Cũng nhắc khái quát đến bức tranh về lịch sử văn hóa của vùng đất Nga
Lĩnh và Nga Nhân còn có các công trình như Lịch sử Đảng bộ huyện Nga
Sơn, tập 1 (1996) [9], Tên làng xã Thanh Hóa, tập 2, (2000) [17], Địa chí Thanh Hóa, tập 1, (2000) [69] và Địa chí Thanh Hóa, tập 2, (2004) [70], Lịch
sử Đảng bộ xã Nga Lĩnh, (2008) [13], Lịch sử Đảng bộ xã Nga Nhân, (2009)
[14], Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa 1930 – 1954, (2010) [11], Lịch sử
Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa 1954 – 1975, (2010) [12], Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa 1975 – 2005, (2010) [10] đều có nhắc đến một số địa danh,
thắng tích, nhân vật và các di sản văn hóa của vùng đất Nga Phượng Trong
đó, sách Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa [11], Lịch sử Đảng bộ huyện Nga
Sơn [9], Lịch sử Đảng bộ xã Nga Lĩnh [13] và Lịch sử Đảng bộ xã Nga Nhân
[14] là các công trình có điểm qua về truyền thống lịch sử, văn hóa và nhân
vật, sự kiện vùng đất Nga Phượng xưa và nay Tuy nhiên, do đây là các công trình viết về lịch sử Đảng bộ nên nội dung cơ bản của sách chủ yếu tập trung vào giai đoạn từ khi có Đảng đến nay
Các công trình Địa chí Thanh Hóa cũng là những công trình đề cập đến
địa danh, lịch sử và truyền thống văn hóa của vùng đất Nga Phượng nhưng cũng chỉ dừng lại ở mức điểm qua
Sách Tên làng xã Thanh Hóa (tập 2) [17] là công trình tổng quát về địa
danh làng xã ở Thanh Hóa Do vậy, mặc dù có nhắc đến di tích lịch sử, danh lam - thắng cảnh và nhân vật ở vùng đất Nga Phượng nhưng cũng chỉ dừng lại
ở mức điểm qua
Có thể nói, đây là những công trình khái quát về lịch sử văn hóa và địa danh của vùng đất Nga Sơn, trong đó có Nga Phượng hiện nay Kết quả nghiên cứu này đã góp phần hiểu biết thêm về một vùng đất có bề dày về lịch
sử và truyền thống văn hóa như Nga Phượng
Như vậy, mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu khác nhau đã đề cập đến vùng đất Nga Phượng, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, trong đó có cả công trình chuyên khảo nhưng vẫn còn mang tính nhỏ lẻ, chưa có công trình
Trang 15nào nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện về lịch sử văn hóa của vùng đất này
Do vậy, luận văn là công trình nghiên cứu và đánh giá toàn diện về các loại hình di sản văn hóa của Nga Phượng Từ đó có thể bổ sung thêm tài liệu làm sáng tỏ thêm một số vấn đề về lịch sử văn hóa của một địa phương nhằm đóng góp vào công tác bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hóa ở huyện Nga Sơn nói chung và Nga Phượng nói riêng
3 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu toàn diện quá trình hình thành, phát triển và giá trị của các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể vùng đất Nga Phượng Từ đó, đánh giá thực trạng của các di sản văn hóa ở vùng đất này để đề xuất các giải pháp bảo tồn, gìn giữ và phát huy các giá trị
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nguồn gốc, quá trình phát sinh, phát triển và giá trị của các loại hình di sản văn hóa (vật thể và phi vật thể) trên vùng đất Nga Phượng
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung nghiên cứu của đề tài là quá trình hình thành, phát triển và các giá trị lịch sử - văn hóa của vùng đất Nga Phượng (huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa)
- Không gian nghiên cứu của đề tài được giới hạn trong địa giới hành chính xã Nga Phượng ngày nay (sáp nhập từ 2 xã Nga Nhân và Nga Lĩnh cũ) Bao gồm các làng: Báo Văn, Đồng Đội, Hội Kê, Vân Hoàn, Giải Uấn, Vy
Mỹ, Đông Thành và Lợi Nhân
- Thời gian nghiên cứu tập trung vào sự hình thành các làng xã cùng nguồn gốc, quá trình tôn tạo, phục dựng di sản văn hóa trên vùng đất Nga Phượng trong dòng chảy lịch sử văn hóa dân tộc
Trang 165 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tài liệu
Trong quá trình thực hiện đề tài luận văn, học viên dựa vào các nguồn tài liệu sau:
- Tài liệu thành văn: bao gồm các bộ sử gốc như Đại Việt sử ký toàn thư [77], Lịch triều hiến chương loại chí [82], Khâm định Việt sử thông giám
cương mục [55]… Ngoài ra, các nguồn tài liệu về gia phả các dòng họ trên
vùng đất Nga Phượng, các lý lịch khoa học di tích đang được lưu giữ tại
Trung tâm Bảo tồn Di sản Văn hóa Thanh Hóa như Lý lịch di tích lịch sử
cách mạng chùa Thông, (1999) [20], Lý lịch di tích Địa điểm bia núi Vân Lỗi
và chùa Sùng Nghiêm, (2007) [19] …là các công trình liên quan đến một số di
tích lịch sử - danh thắng cụ thể tại vùng đất Nga Phượng, phục vụ cho công tác quản lý, bảo vệ di tích danh thắng tại địa phương Tuy nhiên hồ sơ lý lịch
di tích chỉ là những tài liệu khảo tả đơn lẻ từng di tích, chưa đưa ra các phương án bảo tồn và phát huy một cách tổng thể các giá trị về di sản văn hóa
vật thể và phi vật thể của vùng đất Nga Phượng
- Tài liệu vật chất: là các di vật lịch sử hiện đang tồn tại ở các di tích
đình, chùa, nghè, phủ, nhà thờ họ như bia đá, chân tảng, bát hương, các đồ thờ khác trong di tích …
- Tài liệu văn hóa dân gian: bao gồm các truyện kể, truyền thuyết, ca dao tục ngữ có liên quan đến đất và người Nga Phượng Các phong tục, tín ngưỡng, lễ hội, lễ tục dân gian ở vùng đất Nga Phượng cũng là nguồn tài liệu giúp cho học viên tìm hiểu thêm về lịch sử và văn hóa vùng đất này theo khía cạch của tâm thức văn hóa dân gian Tuy nhiên, đây là nguồn tài liệu chỉ mang tính chất tham khảo và không được coi là tài liệu chính sử nên học viên cũng phải thận trọng và xem xét khi sử dụng
- Tài liệu điền dã: Để bổ sung thêm nguồn tư liệu, ngoài sử dụng các nguồn tài liệu nêu trên, học viên còn trực tiếp tìm hiểu, khảo cứu tại các làng, các di tích, các nhà thờ dòng họ lớn của xã Nga Phượng để bổ sung thêm
Trang 17nguồn tư liệu
Trên đây là các nguồn tài liệu chính được học viên tiếp cận, sử dụng khi thực hiện nghiên cứu luận văn và đã được học viên ghi chú rõ ràng nguồn gốc, xuất xứ
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lịch sử: Cùng với nghiên cứu quá trình phát sinh và phát triển các loại hình di sản văn hóa trên vùng đất Nga Phượng theo diễn trình lịch sử (nghiên cứu lịch đại) để tái hiện lịch sử, thì luận văn còn áp dụng phương pháp nghiên cứu đồng đại để nhận diện sự tương đồng và khác biệt về giá trị văn hóa vùng đất này với các vùng đất khác Đồng thời, luận văn còn sử dụng một số phương pháp chuyên ngành như khảo cổ học, dân tộc học, văn hóa học…
- Luận vưn mạnh dạn vận dụng phương pháp nhiên cứu khu vực học – một hệ phương pháp mang tính liên ngành Vùng đất Nga Phượng được xem xét trong mối quan hệ tương tác giữa điều kiện tự nhiên, môi trường xã hội và hoàn cảnh lịch sử để từ đó rút ra những đặc trưng văn hóa
- Phương pháp điền dã, khảo sát thực địa: Điều tra điền dã thu thập tư liệu, kiểm chứng và bổ sung thiếu hụt kết quả điều tra Kết hợp so sánh với kết quả điều tra, điền dã thực trạng các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể ở Nga Phượng Điều tra thực tế về thực trạng và một số phương pháp bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống tại Nga Phượng; Sử dụng phương pháp phỏng vấn các bậc cao niên, các nhà quản lý văn hóa địa phương, kết hợp thu thập tài liệu; Đối chiếu so sánh, kết hợp lý luận và thực tiễn; Đề xuất các giải pháp bảo tồn
và phát huy giá trị của các di sản
6 Đóng góp của luận văn
- Luận văn là công trình nghiên cứu có tính hệ thống về vùng đất Nga Phượng, huyện Nga Sơn Thông qua nghiên cứu, luận văn cung cấp nguồn tư liệu tổng quan về nguồn gốc, lịch sử hình thành và phát triển của làng, các dòng họ lớn ở vùng đất này Trên cơ sở những tài liệu khảo sát, tổng hợp có
Trang 18thể giúp địa phương sử dụng viết lịch sử về làng, xã
- Thông qua nghiên cứu các di tích, lễ hội, luận văn đưa ra những đề xuất, kiến nghị trong việc bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa của địa phương, góp phần giúp địa phương có thêm cơ sở, định hướng trong việc giáo dục truyền thống, khai thác những tiềm năng của hệ thống di sản này
- Ngoài ra, luận văn không chỉ là nguồn tài liệu phục vụ cho giáo viên, học sinh, sinh viên trong việc nghiên cứu, giảng dạy về lịch sử địa phương trong nhà trường mà còn có thể phục vụ cho các nhà nghiên cứu khi muốn tìm hiểu về vùng đất Nga Phượng, cũng như góp phần quảng bá các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể với nhân dân cả nước về những giá trị văn hóa tốt đẹp của quê hương
7 Bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương
Chương 1 Vài nét về vùng đất Nga Phượng
Chương 2 Di sản văn hóa vật thể
Chương 3 Di sản văn hóa phi vật thể
Trang 19Chương 1 VÀI NÉT VỀ VÙNG ĐẤT NGA PHƯỢNG 1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
1.1.1 Vị trí địa lý
Nga Phượng là một trong 24 xã, thị trấn của huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa Đây là xã nằm ở phía Tây - Nam của huyện Nga Sơn, được thành lập trên cơ sở sáp nhập toàn bộ diện tích và dân số của hai xã Nga Lĩnh và Nga Nhân theo Nghị quyết số 786/NQ-UBTVQH14 ngày 16 tháng 10 năm 2019
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp
xã thuộc tỉnh Thanh Hóa
Vị trí địa lý xã Nga Phượng ở 19o57’58” kinh độ Đông, 105o56’2” vĩ độ Bắc, cách huyện lỵ Nga Sơn 5km về phía Nam, cách trung tâm Thành phố Thanh Hóa khoảng 35km về phía Bắc Đây là xã tiếp giáp với 2 huyện Hà Trung và Hậu Lộc
Phía đông xã Nga Phượng là xã Nga Bạch và xã Nga Trung; phía tây giáp xã Hà Hải, huyện Hà Trung; phía nam giáp xã Nga Thạch cùng huyện và
xã Quang Lộc, huyện Hậu Lộc; phía bắc giáp các xã Nga Thắng, Nga Văn cùng huyện
Căn cứ Nghị quyết số 786/NQ-UBTVQH14 năm 2019 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã thuộc tỉnh Thanh Hóa”, xã Nga Phượng có diện tích 8,54 km², dân số năm 2018 là 7.670 người, mật độ dân số đạt 898 người/km²
Trước khi sáp nhập, xã Nga Lĩnh có diện tích 3,49 km², dân số là 3.885 người, mật độ dân số đạt 1.113 người/km², gồm 5 thôn: Báo Văn, Đồng Đội, Giải Huấn, Hội Kê, Vân Hoàn Xã Nga Nhân có diện tích 5,05 km², dân số là 3.785 người, mật độ dân số đạt 750 người/km², gồm 9 thôn: Lợi Thành, Lợi Nhân, Đông Thành, Đông Sơn, Đông Phú, Đông Quang, Mỹ Thiện, Mỹ thuật,
Mỹ Tho Ngày 16 tháng 10 năm 2019, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông
Trang 20qua Nghị quyết số 786/NQ-UBTVQH14 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã thuộc tỉnh Thanh Hóa
Giao thông đường bộ vùng đất Nga Phượng từ các đường liên thôn, liên
xã nối với huyện lộ, tỉnh lộ 508 (đường 13 cũ); Quốc lộ 10 qua xã 1,5 km đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại trong và ngoài tỉnh tới mọi miền đất nước Bên cạnh đó, hệ thống đường liên thôn, liên xã ở Nga Phượng đang được mở rộng và bê tông hóa đã góp phần đẩy mạnh giao lưu phát triển kinh
tế, văn hóa - xã hội
Về giao thông đường thủy, Nga Phượng tiếp giáp với chi nhánh sông Lèn (có 300 m chảy qua) từ xưa đã tạo điều kiện thuận lợi trong giao thông đường thủy Từ đây theo sông Lèn có thể ngược xuôi lên rừng, xuống biển và
ra cả tỉnh ngoài
1.1.2 Điều kiện tự nhiên
Nga Phượng nằm trong vùng ven biển do phù sa bồi tụ, thuộc vùng đồng màu thuận lợi về phát triển nông nghiệp trồng lúa, cây công nghiệp và trồng màu Vì thế đất ở đây cơ bản có 3 loại: đất cát bãi bồi, đất ruộng và đất chân đồi, núi tạo thành các dạng: đồng màu, đồng bãi và đồng chiêm
Vùng đất đồng chiêm nằm dọc ven sông kéo dài về phía tây bắc của xã, phù hợp phát triển nông nghiệp trồng lúa hai vụ và nuôi trồng hải sản cá, tôm Vùng đất đồng màu chiếm tỷ lệ lớn phù hợp trồng lúa, lạc, đậu, rau và cây công nghiệp như đay, dâu tằm
Vùng đất cát bãi bồi có diện tích ít, vùng đất này quy hoạch xây dựng công trình phúc lợi và phù hợp trồng các loại cây lưu niên
So với các vùng khác ở trong huyện Nga Sơn địa hình, đất đai Nga Phượng phức tạp nhưng lại tạo điều kiện cho sự phát triển ngành nghề và đa dạng các loại hình canh tác, mùa vụ
Mặc dù là vùng đồng bằng nhưng nơi đây vẫn có đồi núi nằm trong hệ thống núi phía Đông của tỉnh Thanh Hóa, thuộc phía tây của xã, diện tích 64ha Đây là những núi sót nằm trong hệ thống núi chạy từ Tây sang Đông, mạch núi
Trang 21từ huyện Hà Trung xuống huyện Nga Sơn theo xu hướng thấp và thưa dần tạo nên những ngọn núi sót giữa đồng bằng Núi ở đây có hai loại: núi đá vôi (núi Vân Lỗi) và dạng đồi trọc (đồi Thông) Núi, đồi, sông đã tạo nên địa hình phức tạp Núi Vân Lỗi là một trong những ngọn núi cao trong vùng, cảnh trí rất hữu tình, có nguồn đá vôi với trữ lượng lớn Nguồn đá vôi này trước đây đã được khai thác trong nhiều năm phục vụ nhu cầu của nhân dân địa phương, hiện nay núi này đã được quy hoạch để bảo tồn cảnh quan của khu di tích chùa Vân Lỗi nên không còn khai thác Ngoài núi đá vôi Vân Lỗi ở Nga Phượng còn có một
số đồi trọc Các đồi này được tạo thành từ các loại đá phong hóa thích hợp với các loại cây lá kim chịu hạn như cây thông, bạch đàn
Thời kỳ vùng đất ven hạ lưu sông Lèn mới được khai phá, hệ thống đê sông chưa hình thành, các ngọn núi sót nằm giữa đồng bằng, ven sông này có vai trò rất quan trọng trong việc tránh lũ trong mùa mưa bão
Nga Phượng được bao bọc bởi hai con sông: sông Lèn và sông Báo Văn Sông Lèn là một nhánh của sông Mã, đoạn từ Ngã Ba Bông chảy qua các huyện: Hà Trung, Hậu Lộc, Nga Sơn đổ nước ra biển ở cửa Lạch Sung gọi là sông Lèn (đời Lý gọi là sông Nam Thạc) Từ vụng Chiếu Bạch, qua vùng đất phía Nam của Nga Phượng đến biển con sông đã hết vụng chảy, đá ngầm trở nên hiền lành, thuận lợi cho việc giao lưu xuôi ngược Xa xưa, khi biển chưa lùi xa, đoạn sông Lèn chảy qua địa phận xã Nga Phượng bị ảnh hưởng lớn của vùng nước lợ cửa sông và thủy triều Đây là đoạn cuối của một con sông trước khi về với biển, nên chế độ thủy triều, lượng phù sa, lưu lượng dòng chảy ảnh hưởng nhiều đến đời sống của các làng quê sản xuất nông nghiệp trên đôi bờ dòng chảy của nó Sông Lèn không chỉ đem lại nguồn phù sa màu
mỡ cho đồng bãi ở Nga Phượng và cả vùng hạ lưu mà còn có vai trò quan trọng trong hệ thống giao thông đường thủy
Từ Nga Phượng, theo hướng Tây - Nam, ngược sông Lèn tới Ngã Ba Bông (nơi tiếp giáp của 5 huyện: Hậu Lộc, Hoằng Hóa, Vĩnh Lộc, Yên Định
và Thiệu Hóa), có thể xuôi dòng sông Mã qua thành phố Thanh Hóa và ra tới
Trang 22biển hoặc ngược dòng sông Mã lên các huyện miền núi xứ Thanh Từ Nga Phượng, theo hướng Đông, xuôi sống Lèn ra tới Ninh Bình, theo sông Đáy tới châu thổ sông Hồng và Thăng Long Đây là con đường thủy quan trọng nối châu thổ sông Mã với châu thổ sông Hồng đã sớm hình thành từ xa xưa và đã phát huy tác dụng dưới thời phong kiến có vai trò quan trọng với xứ Thanh Đoạn sông Lèn chảy qua các huyện Hà Trung, Nga Sơn nằm trên hành trình của hệ thống đò tam tỉnh tạo điều kiện cho việc giao lưu giữa các tỉnh Thanh Hóa - Ninh Bình - Nam Định Đến nay, hệ thống đường thủy này vẫn còn vai trò không nhỏ trong đời sống cư dân ven biển phía Bắc
Sông Báo Văn là một nhánh của sông Hoạt bắt đầu từ Ngã Tư Tuần (Hà Thanh) chảy về phía Nam để hợp với sông Lèn ở xã Hà Toại (huyện Hà Trung) Sông này tuy là sông nhỏ, lưu lượng không lớn, dòng chảy không dài nhưng có vai trò quan trọng trong đời sống người dân vùng Bắc sông Lèn, nhất là các xã trên đôi bờ thuộc Hà Trung và Nga Sơn
Sông Lèn, sông Báo Văn đã để lại dấu ấn trong sinh hoạt văn hóa trong khu vực Đoạn sông Lèn hiền lành, thơ mộng phía Nam vụng Chiếu Bạch đã tạo nguồn thi hứng cho nhiều khách thơ
Khí hậu của vùng đất Nga Phượng thuộc tiểu vùng khí hậu ven biển Nền nhiệt độ cao, mùa Đông không lạnh lắm (cũng có năm như cuối năm
2007, đầu năm 2008 xảy ra rét đậm, rét hại kéo dài, nhiệt độ xuống thấp), ít sương muối Mùa hè nóng vừa phải, ít chịu ảnh hưởng của gió Tây (gió Lào) Mưa ở mức trung bình, tập trung vào tháng 7, tháng 8, mưa phùn vào cuối mùa lạnh Lượng mưa lớn nhất vào tháng 8, tháng 9 và ít nhất vào các tháng
2, tháng 3 [13; tr16-17]
Mưa phùn vào các tháng cuối mùa lạnh (tháng 1, 2 và 3), đôi khi kéo dài hàng tuần lễ Đây là vùng đồng bằng ven biển nên thường phải chịu những cơn bão có cường độ mạnh Tuy gần sông, cận kề cửa biển nhưng không chịu tác động của triều cường Thiên tai thường xảy ra là bão, nước dâng trong bão, gây úng lụt v.v
Trang 23Điều kiện khí hậu có thuận lợi cho Nga Phượng phát triển trồng lúa, màu, nhưng cũng không ít khó khăn trong mùa mưa bão gây úng lụt phá hoại mùa màng và ảnh hưởng tới đời sống nhân dân
Nhìn chung điều kiện môi trường, khí hậu, đất đai, thổ nhưỡng ở Nga Phượng có nhiều thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp triển trồng lúa, màu, nhưng sự thay đổi thất thường của khí hậu cũng gây ra không ít khó khăn trong mùa mưa bão gây úng lụt phá hoại mùa màng và ảnh hưởng tới đời sống nhân dân, buộc con người phải thích ứng và sáng tạo để tồn tại, phát triển
Với vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên ưu đãi đã tạo thuận lợi trong phát triển kinh tế vùng đất Nga Phượng Đó là cùng với phát triển nông nghiệp thâm canh cây lúa, màu, phát triển chăn nuôi, địa phương còn đẩy mạnh phát triển tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, phát huy thuận lợi của điều kiện tự nhiên, Đảng bộ và nhân dân Nga Phượng đã và đang thực hiện cơ cấu kinh tế nông nghiệp 42%, tiểu thủ công nghiệp 28% và dịch vụ thương mại 30% Đó
là cơ sở để Nga Phượng xoá đói, giảm nghèo, vươn lên xây dựng quê hương văn minh và giàu đẹp Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có không ít những khó khăn trong công cuộc xây dựng đời sống kinh tế, văn hóa - xã hội
1.2 Quá trình hình thành vùng đất Nga Phượng
Nga Phượng là một trong những vùng đất cổ của huyện Nga Sơn nói riêng
và tỉnh Thanh Hóa nói chung Nơi đây cách di chỉ Hoa Lộc khoảng 10km Kết quả khai quật khảo cổ, nghiên cứu khoa học ở đây đã khẳng định: vùng đất thuộc các huyện Hậu Lộc, Nga Sơn là địa bàn hoạt động của chủ nhân văn hóa Hoa Lộc Chủ nhân văn hóa này đã chinh phục, khai phá vùng đồng bằng ven biển, biến vùng đất này thành các làng nông nghiệp, định cư lâu dài
và mở rộng giao lưu với các vùng thuộc châu thổ sông Hồng, sông Lam
Nghiên cứu các loại công cụ được chế tác từ các loại đá như cuốc đá, rìu
đá, đục đá đến các loại bàn mài, đồ trang sức Các nhà khảo cổ cho rằng vùng đất Nga Phượng ngày nay là địa bàn hoạt động của chủ nhân văn hóa Hoa Lộc thuộc thời đại đồng thau (cách ngày nay khoảng 4000 năm), có liên
Trang 24quan đến nguồn đá mà chủ nhân văn hóa Hoa Lộc đã khai thác và sử dụng Nguồn đá ở trên núi Vân Hoàn là nơi chủ nhân văn hóa Hoa Lộc đã khai thác
và sử dụng nguồn đá ở đây
Dấu tích di vật thuộc văn hóa Hoa Lộc được phát hiện ở các xã cận kề với vùng đất Nga Phượng đã cho thấy vùng đất này nằm trong địa bàn nước Văn Lang thời các vua Hùng dựng nước
Các nguồn sử liệu, gia phả các dòng họ đến vỡ đất dựng làng đầu tiên ở Nga Phượng không cho biết cụ thể thời gian lập làng, tuy nhiên từ thời Lý - Trần ở đây dân cư đã đông đúc Vào thế kỷ XIV, Phạm Sư Mạnh có nhận lệnh đi kén duyệt quân ở năm lộ để chấn chỉnh biên phòng, ngày 16 tháng 2 năm Nhâm Tý niên hiệu Thiệu Khánh thứ 3 (Trần Nghệ Tông - 1372) ông đã
viết giúp văn bia “Chùa Sùng Nghiêm núi Vân Lỗi thờ tượng đại bi” Nội dung văn bia cho biết núi Vân Lỗi, bốn bề sầm uất: “Đông có xóm làng, cửa
nhà đông đúc, có thể làm nơi chung đỉnh của hào gia, Nam gần sông lớn, chảy tới biển khơi, có thể làm chốn mênh mông cho thế giới Tây có sông Kinh, len lỏi tới hương Đại Lý, núi Ma Ni, có thể làm cảnh tráng quan cho các vùng quận huyện, Bắc kề đường lớn, ăn thông tại Thần Đầu hải khẩu, có thể làm nơi nghỉ tốt cho kẻ lại người qua Đúng là dùng bốn phía làm giới phong đứng trấn ở non Vân Lỗi vì non này là chủ các non” [76; tr 133]
Thời Lý - Trần, vùng đất Nga Phượng nằm trong khu vực trung tâm Phật giáo của vùng châu thổ sông Mã với những ngôi chùa lớn như chùa Thạch Tuyền (Nga Thạch), chùa Sùng Nghiêm trên núi Vân Lỗi (Nga Lĩnh cũ), chùa Linh Xứng, Trang Các (Hà Ngọc, Hà Trung), chứng tỏ khu vực này dân cư đã đông đúc Thời kỳ này, vùng đất Nga Phượng thuộc huyện Chi Nga, tiếp đó đổi là huyện Nga Lạc
Thời Lê Sơ, năm 1466, dưới triều Lê Quang Thuận đổi tên huyện Nga Lạc thành Nga Giang; Nga Phượng thuộc Nga Giang, phủ Hà Trung, trấn Thanh Hoa Thời Lê vùng đất Nga Phượng ngày nay thuộc phủ Hà Trung - một trong 4 phủ của xứ Thanh Hóa Phủ Hà Trung bao gồm 4 huyện: Tống
Trang 25Giang, Hoằng Hóa, Thuần Hựu và Nga Giang
Các làng thuộc xã Nga Phượng ít nhiều có sự thay đổi về tên gọi và địa giới qua các thời kỳ, nhất là từ thời Lê đến thời Nguyễn
1.2.1 Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945
Căn cứ vào sách Hồng Đức bản đồ do Bộ Quốc gia Giáo dục xuất bản
năm 1962 có ghi chép về địa đồ của toàn thể lãnh thổ Việt Nam vào ngày 6 tháng 4 năm Hồng Đức thứ 21 (1490), trong đó phần ghi chép về thừa tuyên Thanh Hoa gồm có 6 phủ, 22 huyện, 4 châu
Hà Trung là một trong 6 phủ của thừa tuyên Thanh Hóa, trong phủ có 4 huyện bao gồm: huyện Hoằng Hóa, huyện Thuần Lộc, huyện Tống Sơn và huyện Nga Sơn
Trong sách Các tổng trấn xã danh bị lãm (Tên làng xã Việt Nam đầu thế
kỷ XIX, thuộc các tỉnh từ Nghệ An trở ra) cho biết: Phủ Hà Trung có 4 huyện: Tống Sơn, Hoằng Hóa, Phong Lộc và Nga Sơn Nga Phượng thuộc tổng Thạch Tuyền, huyện Nga Sơn Vùng đất Nga Phượng đầu thế kỷ XIX gồm các thôn Vân Suối, thôn Đông thuộc xã Nhân lý, thôn Đoài, thôn Đồng Đội thuộc xã Sơn Đầu, thôn Báo Biến, thôn An Lạc, thôn Hội Kế Năm 1841 (đời vua Thiệu Trị) do kiêng tên huý của nhà vua nên đổi tên tổng Thạch Tuyền thành Thạch Giản
Cuối thế kỷ XIX tổng Thạch Giản gồm có 20 xã thôn gồm: thôn Hậu Trạch xã Thạch Giản, thôn Vân Hoàn xã Thạch Giản, thôn Trung Nại xã Thạch Giản, thôn Thanh Lãng xã Thạch Giản, thôn Nhân Lý Đông, thôn Nhân Lý Đoài, Sở Minh Thận, thôn Báo Biến xã Sơn Đầu, thôn Cối Kê xã Sơn Đầu, thôn Mục Đội xã Sơn Đầu, thôn Yên Lạc xã Sơn Đầu, thôn Minh Nghĩa Đông, thôn Minh Nghĩa Trung, thôn Minh Nghĩa Đoài, thôn Hậu xã Bạch Câu, thôn Hà xã Bạch Câu, thôn Hoàng Thổ xã Bạch Câu, thôn Yên xã Bạch Câu, xã Hanh Cù, xã Phương Đê Nga Phượng lúc này gồm các thôn Nhân Lý Đông (trước đó còn có tên là Sy Đông); Nhân Lý Đoài (trước đó có tên là Sy Đoài với 4 giáp Mè, Trung, Nam và Đoài), thôn Báo Biến, thôn Cối
Trang 26Kê, thôn Mục Đội, thôn Yên Lạc và thôn Vân Hoàn
Đến khoảng từ năm 1920 - 1925, trên cơ sở giáp Lợi Nhân đã thành lập làng Lợi Nhân (lúc đầu có tên là làng Sở) Đây là làng theo đạo Thiên Chúa giáo (còn gọi họ Lợi Nhân)
Như vậy, đến trước cách mạng Tháng 8 năm 1945, Nga Phượng gồm 8 thôn là Nhân Lý Đông; Nhân Lý Đoài, thôn Báo Biến, thôn Cối Kê, thôn Mục Đội, thôn Yên Lạc, thôn Vân Hoàn và thôn Lợi Nhân
1.2.2 Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945
Theo chủ trương của nhà nước bỏ đơn vị tổng, thành lập xã, tổng Thạch Giản chia thành ba xã gồm: xã Long Vân, Thạch Giản và Sơn Đầu Nga Phượng lúc này gồm hai xã Long Vân và Sơn Đầu
Năm 1947, sáp nhập ba xã trên thành một xã lấy tên là xã Phượng Mã -
từ năm 1947 đến năm 1954 Nga Phượng thuộc xã Phượng Mã
Ngày 07 tháng 5 năm 1954, theo Quyết định số 106/TC-CB của UBHC tỉnh Thanh Hóa xã Phượng Mã chia thành 3 xã Nga Thạch, Nga Lĩnh và Nga Nhân Nga Phượng lúc này gồm 2 xã là Nga Nhân và Nga Lĩnh Tên xã Nga Nhân và Nga Lĩnh bắt đầu từ đây và ổn định về mặt hành chính đến năm
2019 Xã Nga Nhân lúc này gồm 3 thôn là: thôn Đông Thành, Vy Mỹ và Lợi Nhân Xã Nga Lĩnh gồm 5 thôn là: Báo Văn, Đồng Đội, Hội Kê, Vân Hoàn, Giải Uấn
Ngày 16 tháng 10 năm 2019 hai xã Nga Nhân và Nga Lĩnh được sáp nhập toàn bộ diện tích và dân số thành xã Nga Phượng theo Nghị quyết số
786/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc sắp xếp các
đơn vị hành chính cấp xã thuộc tỉnh Thanh Hóa
Hiện nay xã Nga Phượng gồm 8 làng là: Báo Văn, Đồng Đội, Hội Kê, Vân Hoàn, Giải Uấn, Đông Thành, Vy Mỹ và Lợi Nhân
- Làng Báo Văn: Làng Báo Văn là một làng có diện tích nhỏ và dân số
trung bình trong xã Phía Bắc giáp làng Thượng xã Nga Thắng, phía Nam giáp làng Hội Kê, phía Đông giáp làng Tam Linh xã Nga Thắng, phía Tây
Trang 27giáp sông Hoạt ranh giới giữa hai huyện Nga Sơn và Hà Trung
Làng Báo Văn được hình thành vào khoảng thời Lý – Trần, trên cơ sở của xóm Đại Đồng sau là Đại Lợi
Trong sách Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX thuộc các tỉnh từ Nghệ
An trở ra cho biết: làng Báo Văn lúc này có tên là Báo Biến, là một thôn
thuộc tổng Thạch Tuyền, huyện Nga Sơn, phủ Hà Trung, trấn Thanh Hoa (Tổng Thạch Tuyền có 19 xã, thôn, sở: thôn Bảo Đạc thuộc xã Thạch Tuyền, thôn Vân Suối, thô Trung Nại, thôn Thanh Lãng, thôn Đông thuộc xã Minh Đương, thôn Trung, thôn Đoài, sở Minh Đương, thôn Hà thuộc xã Bạch Câu, thôn Hoàng Các, thôn An, thôn Hậu, thôn Đông thuộc xã Nhân Lý, thôn Đoài, thôn Đồng Đội thuộc xã Sơn Đầu, thôn Báo Biến, thôn An Lạc, thôn Hội Kế, Hanh Cù) [78; tr109]
Năm 1841 đến đời vua Đồng Khánh (1885 – 1888), thôn Báo Biến, là một thôn thuộc tổng Thạch Giản, huyện Nga Sơn, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa Từ đầu thế kỷ XX thôn Báo Biến được đổi thành Báo Văn cho tới ngày nay
Ban đầu thành lập làng Báo Văn có 5 dòng họ đến sinh sống gồm : họ Nguyễn, Lê, Mai, họ Yên, họ Lường Trải qua thời gian dài tồn tại, đến nay trong làng Báo Văn có 16 dòng họ Đó là 4 họ Nguyễn (Nguyễn Văn, Nguyễn Ngọc, Nguyễn Duy, Nguyễn Như), họ Mai, họ Lê, họ Yên, họ Lương, họ Phạm, họ Trần, họ Đỗ và họ Đào Trong đó họ Nguyễn chiếm 3/4 dân số trong làng
- Làng Đồng Đội: Nằm ở phía Nam xã Nga Phượng Phía nam giáp làng
Vân Hoàn; phía bắc giáp làng Giải Uấn; phía tây giáp sông Lèn; phía Đông giáp làng Vy Mỹ
Tương truyền vào năm 1205 khi vua Cao Tôn cùng vợ thứ bảy đi dẹp giặc Chiêm Thành, khi chiến thắng trở về thấy đây là nơi đất rộng rãi, màu
mỡ phì nhiêu Bà xin nhà vua cho ở lại cùng với bảy người lính đi theo để xây dựng và lập nên làng lúc đó và lấy tên là Dầu Đội Làng Đầu Đội lúc bấy giờ
Trang 28có 5 họ gồm: họ Phạm, họ Trịnh, họ Nguyễn, họ Vũ và họ Đồng
Đầu thế kỷ XIX, làng Đồng Đội thuộc xã Sơn Đầu, tổng Thạch Tuyền, huyện Nga Sơn, phủ Hà Trung Đến cuối thế kỷ XIX, thôn Đồng Đội đổi tên thành Mục Đội Từ những năm đầu thế kỷ 20 lại đổi tên thành Đồng Đội cho đến nay
Trong quá trình hình thành và phát triển, làng đã xây dựng được một ngôi chùa, một đình làng, hai ngôi nghè và một phủ Rất tiếc các công trình này đã bị phá hủy hoàn toàn, chỉ mới phục hồi, tôn tạo được duy nhất ngôi phủ Đồng Đội
- Làng Hội Kê: Phía Bắc giáp làng Báo Văn, phía Đông giáp làng Đồng
Đội, phía Nam giáp làng Giải Uấn, phía Tây giáp sông Hoạt
Làng Hội Kê được hình thành từ đời nhà Trần với sự có mặt sớm cùng chung sống của 4 dòng họ Mai, Trương, Hoàng, Đỗ
Đầu thế kỷ XIX, có tên là Hội Kế, thuộc tổng Thạch Tuyền, huyện Nga Sơn, trấn Thanh Hoa Đến cuối thế kỷ XIX đổi tên thành Cối Kê thuộc xã Sơn Đầu, tổng Thạch Tuyền Đầu thế kỷ XX lại đổi thành thôn Hội Kê thuộc xã Sơn Đầu, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa
Qua quá trình tồn tại và phát triển đến nay làng Hội Kê đã có 12 dòng họ: Mai, Trương, Hoàng, Đỗ, Đinh, Nguyễn, Vũ, Đoàn, Lê, Chu, Ngô và Phạm Trong đó lớn nhất là dòng họ Mai với 2/3 dân số Họ Mai có cụ Mai Thế Ức làm quan dưới triều đình Nhà Trần đã được nhà vua phong sắc ban thưởng
Hiện nay các dòng họ làng Hội Kê luôn đoàn kết gắn bó thương yêu đùm bọc lẫn nhau, chia ngọt sẻ bùi trong quá trình phát triển làm nên lịch sử truyền thống của làng, với những nét thuần phong mỹ tục tốt đẹp
- Làng Vân Hoàn: Nằm ở phía đông nam của xã Nga Lĩnh cũ Phía đông
giáp làng Vy Mỹ, phía tây giáp làng Giải Uấn, Phía nam giáp làng Trung Thành, xã Nga Thạch và sông Lèn bên kia sông là xã (Liên Lộc và Quang Lộc) thuộc huyện Hậu Lộc, phía bắc giáp làng Đồng Đội
Trang 29Làng Vân Hoàn được thành lập vào khoảng cuối thời Lý - Trần với sự xuất hiện của ngôi chùa Sùng Nghiêm và các bút tích còn lại trên vách núi Vân Lỗi Tấm bia có niên đại sớm nhất đề ngày 16 tháng 2 năm Nhâm Tý đời vua Trần Duệ Tông năm thứ 3 (1372) Như vậy cho thấy từ năm 1372 đã có dân cư tới khai cơ lập ấp nơi đây
Ban đầu làng có tên là làng Sỏi, sau đó đổi thành Ô Lỗi Đầu thế kỷ XIX
có tên là thôn Vân Suối, thuộc tổng Thạch Tuyền, huyện Nga Sơn, phủ Hà Trung, trấn Thanh Hoa Đến cuối thế kỷ XIX đổi tên thành thôn Vân Hoàn cho đến ngày nay
Trong quá trình tồn tại và phát triển nhân dân làng Vân Hoàn đã hình thành nên nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể có giá trị như chùa Sùng Nghiêm Vân Lỗi, Đình làng Vân Hoàn, nhà thờ họ Nguyền Hữu…lễ hội làng, các trò chơi dân gian…
Đặc biệt trong thời gian kháng chiến chống Pháp nhân dân làng Vân Hoàn đã giúp đỡ đồng bào các xã Yên Mô, Kim Sơn, Yên Khánh (huyện Ninh Bình) và bà con các xã Nga Liên, Nga Điền, Nga Phú và Nga Thái bị địch chiếm đóng tản cư vào Năm 1950 đình làng Vân Hoàn trở thành bệnh viện giã chiến tiền phương của mặt trận Nga Sơn Các mẹ, các chị luôn có mặt động viên chăm sóc thương bệnh binh; Tổ chức lực lượng đảm bảo an toàn thành công Đại hội Đảng bộ huyện Nga Sơn tại chùa Vân Hoàn và Đại hội Đảng bộ huyện Kim Sơn – Ninh Bình tại đình làng Vân Hoàn
Vân Hoàn là làng có truyền thống lịch sử lâu dài, nổi bật nhất là sau cách mạng Tháng 8 đến nay Đó là truyền thống yêu quê hương, đất nước, tinh thần sáng tạo bất khuất trong lao động và chống giặc ngoại xâm
- Làng Giải Uấn: Phía Bắc giáp thôn Đồng Đội, phía Tây giáp thôn Hội
Kê, phía Đông giáp thôn Vân Hoàn, phía Nam giáp sông Lèn
Làng Giải Uấn lúc đầu có tên là làng Mía Theo sách Tên làng xã Việt
Nam đầu thế kỷ XIX [78] cho biết: Cuối thời Lê – đầu thời Nguyễn làng Mía
đổi tên là thôn An Lạc (hay còn gọi là Yên Lạc), thuộc tổng Thạch Tuyền,
Trang 30huyện Nga Sơn, phủ Hà Trung, trấn Thanh Hoa Cuối thế kỷ XIX là một thôn thuộc tổng Thạch Giản (Thạch Tuyền cũ), huyện Nga Sơn, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa Đến năm 1921 đổi tên thôn An Lạc thành Giải Uấn và giữ nguyên đến ngày nay
Sau cách mạng Tháng 8 năm 1945 làng Giải Uấn thuộc xã Sơn Đầu, huyện Nga Sơn Năm 1947, thực hiện chủ trương thành lập các liên xã, xã Sơn Đầu, xã Thạch Giản và xã Long Vân sáp nhập làm một lấy tên là xã Phượng Mã
Năm 1954, xã Phượng Mã chia làm 3 xã Nga Nhân, Nga Lĩnh và Nga Thạch, làng Giải Uấn thuộc xã Nga Lĩnh
Năm 2019 sáp nhập hai xã Nga Lĩnh và Nga Nhân làm một xã lấy tên là Nga Phượng theo Nghị quyết số 786/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã thuộc tỉnh Thanh Hóa
Ban đầu làng có hai dòng họ lớn là họ Hoàng và họ Nguyễn, qua quá trình tồn tại và phát triển đến nay làng Giải Uấn đã có 7 dòng họ lớn đó là họ Nguyễn, họ Hoàng, họ Lê khác họ Vũ, họ Dư, họ Bùi, họ Đỗ Trong đó lớn nhất là 2 dòng họ Nguyễn và Hoàng chiếm 2/3 dân số trong làng
- Làng Đông Thành: Phía bắc giáp xã Nga Trung, phía nam giáp xã Nga
Bạch, phía đông giáp làng Lợi Nhân, phía tây giáp làng Vy Mỹ
Làng Đông Thành được thành lập từ cuối thời Nhà Trần (1225-1400), bốn dòng họ đầu tiên đến vùng đất này là họ Trình, họ Trần, họ Mai, họ Nguyễn Lúc bấy giờ nơi đây là cồn bãi biển bồi, cây cối rậm rạp, các dòng
họ đã cùng nhau khai phá vỡ hoang, xây dựng cuộc sống Sau này các dòng
họ khác đã tiếp nối đến định cư ở vùng đất này như họ Đặng, họ Hà, họ Vũ,
họ Lý, họ Phạm, họ Trình, họ Đại
Ban đầu làng có tên gọi là Sy Đông, đến đầu thế kỷ XIX đổi thành thôn Đông, thuộc xã Nhân Lý, tổng Thạch Tuyền Cuối thế kỷ XIX đổi tên thành thôn Nhân Lý Đông, thuộc tổng Thạch Giản (Thạch Tuyền cũ) Từ năm 1954, thôn Nhân Lý Đông được đổi tên thành thôn Đông Thành, thuộc xã Nga Nhân
Trang 31Hiện nay, làng Đông Thành chia làm 4 thôn Đông Thành, Quang Phú, Đông Sơn, Đông Quang
Trong quá trình khai khẩn và sinh sống ở vùng đất Nga Phượng, Đông Thành cũng như các thôn, xóm khác trong xã đã tiếp nhận cư dân nhiều vùng miền trong, miền ngoài Trải qua các thời kỳ lịch sử đã hình thành nên những bản sắc văn hóa phong phú của người dân nơi đây Đồng thời, hình thành nên một số công trình tín ngưỡng, tôn giáo ở địa phương, trong đó có Nghè Mái (hay còn gọi là Nghè Đông)
- Làng Vy Mỹ: Phía dông giáp làng Đông Thành, phía tây giáp làng Giải
Uấn, phía bắc giáp làng Tam Linh xã Nga Văn, phía nam giáp làng Hậu Trach, xã Nga Thạch
Xưa làng có tên gọi là Sy Đoài Cuối thời Lê – đầu thời Nguyễn có tên là thôn Đoài, thuộc tổng Thạch Tuyền, huyện Nga Sơn, phủ Hà Trung, trấn
Thanh Hoa Theo sách Đồng Khánh địa dư chí [79] cho biết: Thôn Đoài được
đổi thành Nhân Lý Đoài (gồm 4 giáp là giáp Mè, giáp Trung, giáp Nam và giáp Đoài), thuộc tổng Thạch Giản (Thạch Tuyền cũ)
Sau cách mạng Tháng 8 năm 1945, tổng Thạch Giản chia thành 3 xã: Sơn Đầu, Long Vân và Thạch Giản Làng Nhân Lý Đoài lúc này đổi tên là làng Vy Mỹ, thuộc xã Long Vân, huyện Nga Sơn
Năm 1947, sáp nhập 3 xã trên thành xã Nga Phượng Năm 1954 tách xa Nga Phượng thành 3 xã Nga Nhân, Nga Lĩnh và Nga Thạch Làng Vy Mỹ lúc này thuộc xã Nga Nhân Năm 2019, sáp nhập các xã Nga Lĩnh, Nga Nhân và Nga Thạch thành một lấy tên là xã Nga Phượng theo Nghị quyết số 786/NQ-
UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc sắp xếp các đơn vị
hành chính cấp xã thuộc tỉnh Thanh Hóa
Làng Vy Mỹ hiện nay chia thành 3 thôn: Mỹ Thiện, Mỹ Thuật, Mỹ Tho Đây là nơi chung sống của các dòng họ: họ Mỵ Duy, họ Đỗ Đăng, họ Mai Thế, họ Mai Trọng, họ Đặng, họ Vũ Ngọc, họ Đinh, họ Nguyễn Văn, họ Khương, trong đó họ Mỵ chiếm phần đông
Trang 32Qua bao thăng trầm của lịch sử, biến đổi của xã hội, con người làng Vy
Mỹ vẫn không ngừng phát triển về mọi mặt cùng quê hương đất nước
- Làng Lợi Nhân: Phía đông giáp làng Bạch Đông, xã Nga Bạch; phía
tây giáp làng Đông Thành; phía Bắc giáp làng Đoài Tiến, xã Nga Trung; phía nam giáp làng Phương Phú, xã Nga Thạch
Làng Lợi Nhân là làng được hình thành muộn nhất trong các làng thuộc vùng đất Nga Phượng
Từ cuối thế kỷ XIX trở về trước, Lợi nhân là một giáp thuộc thôn Nhân
Lý Đông (còn gọi là làng Sở) Ban đầu làng có 5 dòng họ đến khai hoang và định cư gồm họ Nguyễn, họ Lê, họ Hỏa, họ Bùi và họ Khương
Đến đầu thế kỷ XX, trên cơ sở giáp Lợi Nhân đã thành lập nên làng Lợi Nhân Sau cách mạng Tháng 8 năm 1945, làng Lợi Nhân thuộc xã Long Vân, huyện Nga Sơn Năm 1947, thuộc xã Nga Phượng Năm 1954 tách xa Nga Phượng thành 3 xã Nga Nhân, Nga Lĩnh và Nga Thạch Làng Lợi Nhân lúc này thuộc xã Nga Nhân Từ năm 2019 đến nay làng Lợi Nhân thuộc xã Nga Phượng
Hiện nay làng Lợi Nhân chia thành 2 thôn là Lợi Nhân 1; thôn Lợi Nhân
2 với 12 dòng họ (họ Nguyễn, họ Lê, họ Hỏa, họ Bùi, họ Khương, họ Tuấn,
họ Phạm, họ Ngô, họ Mai, họ Tống, họ Mỵ và họ Đỗ) và hơn 300 hộ dân Làng Lợi Nhân là làng duy nhất có nhà thờ họ Thiên chúa và có số giáo dân chiếm đa số dân trong làng Theo thống kê năm 2019, hiện nay giáo họ Lợi Nhân có 588 giáo dân đang sinh sống Giáo dân trong giáo họ chủ yếu làm nông nghiệp, một số ít làm nghề lao động tự do nên đời sống còn nhiều khó khăn Nhưng bù lại, nhờ kế thừa truyền thống đạo đức của cha ông nên đời sống đức tin bà con giáo dân Lợi Nhân khá vững bền
Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng bào công giáo nói riêng và nhân dân làng Lợi Nhân nói chung đã có nhiều đóng góp cho quê hương đất nước
Trang 331.3 Truyền thống lịch sử - văn hóa
1.3.1 Truyền thống lịch sử
Truyền thống lao động sản xuất
Trong quá trình khai khẩn vùng đất bồi ven sông và cận biển, bằng bàn tay lao động và khối óc sáng tạo người Nga Phượng đã biết dựa vào thuận lợi của điều kiện tự nhiên, khắc phục khó khăn cùng chung sức, đồng lòng vỡ đất, ngăn mặn, thau chua biến đất hoang thành ruộng đồng, xóm làng trù phú
Đó chính là nét đẹp được người Nga Phượng hun đúc thành truyền thống đoàn kết, lao động cần cù thông minh và sáng tạo Truyền thống đó đã xuyên suốt ngàn năm lịch sử góp phần xây dựng khối đoàn kết trong cộng đồng làng
xã, tạo dựng cho quê hương trở thành vùng nông nghiệp trồng lúa, màu và phát triển các ngành nghề thủ công truyền thống
Công cuộc khai phá đất hoang, biến vùng đất chua mặn ven sông, cạnh biển thành đồng ruộng tươi tốt, làng xóm trù phú, phong quang, chứng tích là hàng chục cánh đồng được khai khẩn từ bàn tay lao động của nhiều thế hệ người Nga Nhân với các tên gọi cổ như Mở Đàng, Đồng Thẳng, Đồng Bún, Rọc Nghè, Sau Chùa, Cây Đâu, Rọc Giếng, Cồn Họ, Nước Lớn, v.v
Là vùng đất sản xuất nông nghiệp trồng lúa nước, trồng màu và cây công nghiệp, cây lưu niên, Nga Phượng không chỉ giàu kinh nghiệm trong gieo trồng cây lúa mà còn rất giàu kinh nghiệm trong trồng màu và cây công nghiệp, cây lưu niên từ khâu chọn giống đến chọn đất phù hợp cho từng loại cây trồng Từ xưa, khi đồng ruộng còn nhiễm mặn, người dân Nga Phượng đã chọn được những giống lúa chịu nhiễm mặn để cấy như lúa Chăm, gié hoa (cấy vụ mùa), tép dài (cấy vụ chiêm) Hiện nay do cải tạo tốt đồng ruộng xã Nga Phượng đã trồng những bộ giống lúa cho năng suất cao từ 12 - 13 tấn lúa/ha/năm
Từ lâu đời người dân Nga Phượng đã có kinh nghiệm chọn những vùng đất cao, đất cát, đất có khả năng chịu hạn để trồng dâu và các loại cây lấy gỗ như xoan, phi lao, bạch đàn, cây ăn quả v.v Đặc biệt, trồng màu ở Nga
Trang 34Phượng khá phát triển đã trở thành vùng có nhiều sản phẩm màu: ngô, khoai, lạc, đậu, rau, củ Trong đó từ xưa cây lạc là cây trồng mũi nhọn
Cùng với việc đẩy mạnh trồng trọt, từ xưa Nga Phượng cũng là vùng có kinh nghiệm kết hợp chăn nuôi gia súc, chăn nuôi lợn và gia cầm, phục vụ sức kéo trong sản xuất nông nghiệp và đời sống
Sự đa dạng của các loại cây trồng trong sản xuất nông nghiệp, kết hợp với chăn nuôi đã tạo ra nguồn kinh tế xây dựng quê hương và làm giàu thêm truyền thống lao động của Nga Phượng
Các sản phẩm nông sản và các nghề thủ công ở Nga Phượng không chỉ phục vụ cho địa phương mà đã được tiêu thụ ở chợ Nhân Lý và các chợ trong vùng Chợ Nhân Lý (Nga Nhân cũ) là một tụ điểm giao thương đã có ảnh hưởng rộng trong vùng với các mặt hàng: lúa, gạo, khoai, ngô, lạc, rau, quả và đặc biệt là chiếu cói, các sản phẩm chăn nuôi, sản phẩm chế biến từ lương thực, thực phẩm vv
Sự ra đời sớm của chợ Nhân Lý đã tạo điều kiện xuất hiện nghề buôn bán ở Nga Nhân Tuy nhiên phương thức buôn bán còn nhỏ lẻ, chủ yếu là trao đổi hàng hóa giữa các chợ trong vùng Mặc dù vậy, chợ Nhân Lý đã giúp Nga Phượng xưa mở rộng giao lưu góp phần phát triển kinh tế - văn hóa quê hương
Truyền thống chống ngoại xâm
Nga Phượng là vùng đất có lịch sử phát triển liên tục và lâu đời Ngay từ buổi đầu dựng nước cho đến thời kỳ đấu tranh chống giặc ngoại xâm bảo vệ đất nước và cho đến ngày nay, vùng đất Nga Phượng luôn có những dấu ấn và đóng góp quan trọng trong suốt quá trình ấy
Năm 248 Bà Triệu đã phát động cuộc khởi nghĩa chống lại giặc Ngô Dưới sự lãnh đạo của Bà Triệu, nghĩa quân đã đánh thắng nhiều trận, triệt hạ nhiều thành lũy của địch, Quan lại của nhà Ngô từ Thái thú đến huyện lệnh,
kẻ bị giết, kẻ bỏ trốn Từ Cửu Chân (Thanh Hóa) khởi nghĩa đã lan ra Giao Chỉ, giết chết thử sử châu Giao làm cho toàn thể châu Giao chấn động”, Bà
Trang 35Triệu đã xây dựng căn cứ Bồ Điền (Hậu Lộc) và phòng tuyến dọc theo sông Lèn để chống quân Ngô Trong cuộc khởi nghĩa này nhân dân vùng đất đôi
bờ sông Lèn đã có nhiều đóng góp Truyền thuyết dân gian cho biết từ vùng núi Vân Lỗi, Nga Phượng đến núi Chung Trinh (Hà Trung) nhân dân đã tích cực tham gia lập phòng tuyến và chiến đấu chống giặc góp phần vào chiến công chung
Trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên - Mông thế kỷ XIII nhân dân Thanh Hóa đã góp phần xứng đáng Trong chiến công chung
đó có phần đóng góp quan trọng của nhân dân các huyện Hà Trung, Nga Sơn, trên trận tuyến sông Lèn chống lại đạo quân của Toa Đô
Tài liệu lịch sử cho biết: Để chống lại đạo quân của Toa Đô từ phía Nam đánh ra, vua tôi nhà Trần đã dàn quân trên bờ Bắc sông Lèn để chiến đấu Được sự tham gia của đông đảo nhân dân nên quân ta đã gây cho giặc nhiều tổn thất
Truyền thuyết dân gian cho biết: Quân Nguyên - Mông chết nhiều, máu giặc nhuộm đỏ thắm cả một đoạn sông Lèn (đoạn từ Nga Thạch đến Nga Lĩnh cũ) nên bến đò gần xã Nga Thạch có tên là bến đò Thắm, thây giặc chất đống bên đất Hoa Lộc nên có tên gọi là gò Má Hồ
Trong cuộc chiến đấu chống Thực dân Pháp xâm lược cuối thế kỷ XIX vùng đất Nga Sơn đi vào Lịch sử với địa danh sáng chói Ba Đình
Ba Đình là căn cứ chống Pháp nằm ở đồng bằng nhưng có vị trí hiểm yếu bảo vệ cửa ngõ yết hầu của Miền Trung để tấn công giặc ngay tại đồng bằng Khi cần, từ Ba Đình sẽ dễ dàng rút lên miền núi rừng phía Tây của tỉnh Việc xây dựng căn cứ Ba Đình là công sức của toàn bộ nghĩa quân cũng như nhân dân trong tỉnh - nhất là nhân dân các làng ở Nga Sơn Cũng như các làng khác, nhân dân mỗi làng Nga Phượng lúc này đóng góp 30 cái rọ lớn, 100 cây tre tươi, 10 gánh rơm và lương thực, thực phẩm Nhiều trai tráng địa phương
kể cả cai tổng đã nhập vào đội nghĩa quân, tham gia nhiều trận đánh tại căn
cứ Ba Đình và hy sinh anh dũng
Trang 36Do chênh lệch về tương quan lực lượng, cuộc chiến đấu ở Ba Đình cũng như phong trào "Cần Vương" chống Pháp ở Thanh Hóa và cả nước đã thất bại, nhưng càng nung nấu thêm truyền thống yêu nước Nhân dân Nga Phượng đã cùng với nhân dân trong huyện, tỉnh tiếp tục hưởng ứng các phong trào yêu nước những năm đầu thế kỷ XX như chống bắt lính, chống thuế, đòi thả cụ Phan Bội Châu, để tang cụ Phan Châu Trinh Đến những năm 30 của thế kỷ XX, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập (ngày 03-02-1930), tiếp
đó ngày 29 tháng 7 năm 1930, Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa ra đời đã lãnh đạo nhân dân đi theo con đường cách mạng dân tộc dân chủ, đánh đuổi thực dân - phong kiến giành độc lập tự do
1.3.2 Truyền thống văn hóa
Truyền thống hiếu học
Vùng đất Nga Phượng nằm trong tổng Thạch Tuyền, vùng có nhiều người đỗ đại khoa như các tiến sĩ Mai Thế Chuẩn, Mai Anh Tuấn, Mai Duyên (Nga Thạch) đó là những tấm gương cho sĩ tử nơi đây ngưỡng mộ noi theo Thời phong kiến, việc học hành luôn được các gia đình, dòng họ ở Nga Phượng chú trọng Một số gia đình khá giả, tự tổ chức lớp học, mời thầy đồ
về dạy cho con em Do vậy, dưới thời phong kiến, xã Nga Phượng đã có 05 người họ Lê và họ Mai của 3 làng Đồng Đội, Sơn Đầu và Nhân Lý thi đỗ Hương cống dưới thời Lê Trung hưng
Thời thuộc Pháp, việc học hành ở địa phương chủ yếu là con em các gia đình giàu có Tổng Thạch Giản có trường Pháp - Việt đặt tại ngã Tư Si (Bưu điện văn hóa xã ngày nay) do thầy Mai Thế Khoát (làng Mỹ Thọ) là giáo viên giảng dạy Học sinh sau 3 năm học nếu thi đậu sẽ được cấp bằng sơ học yếu lược và đủ điều kiện vào học Prime (tiểu học)
Trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, các làng ở Phượng nay có số người học hành đỗ đạt không nhiều Hơn 95% nhân dân địa phương đều mù chữ Sau ngày Cách mạng Tháng 8 năm 1945 thành công, hưởng ứng lời kêu gọi chống nạn thất học của Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh, truyền
Trang 37thống hiếu học của người Nga Phượng được phát huy mạnh mẽ Phong trào Bình dân học vụ được nhân dân hưởng ứng sôi nổi đã đặt nền móng cho sự phát triển giáo dục trên quê hương Nga Phượng
Cùng với phong trào xoá nạn mù chữ, các lớp học vỡ lòng, cấp I được thành lập ngay từ tháng 9 năm 1945; trường cấp II (nay là trường Trung học
cơ sở) cũng sớm ra đời đã thu hút đông đảo con em trong xã hăng say học tập
Từ đây địa phương ngày càng có nhiều người học hành đỗ đạt với học vị cao đẳng, đại học và trên đại học Đây là nguồn trí thức quí giá góp phần vào sự nghiệp bảo vệ và xây dựng quê hương, đất nước
Truyền thống uống nước nhớ nguồn
Truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” ở vùng đất Nga Phượng thể hiện qua tín ngưỡng về tục thờ cúng tổ tiên tại các gia đình, dòng họ; tục thờ phụng thần, phật … nên ở đây đã sớm hình thành nên những ngôi chùa, đình làng, nghè, miếu, phủ … và nhà thờ của các dòng họ Song, do nhiều nguyên nhân khác nhau, các di sản đã bị hư hỏng, đến nay chỉ còn lại một số công trình như Chùa Sùng Nghiêm, chùa Thông, chùa Giải Uấn, đình Vân Hoàn và một số nhà thờ họ như Nhà thờ họ Ngô, họ Nguyễn, Họ Phạm, họ Mai, họ
Mỵ, họ Trần
Chùa Sùng Nghiêm (còn gọi là chủa Vân Lỗi) được xây dựng trên núi Vân Lỗi là một trong những ngôi chùa được tạo dựng sớm ở Thanh Hóa Theo truyền thuyết thì chùa được xây dung vào thời Lý Tấm bia có niên đại thời Trần đã khăng định ít nhất cho đến thời Trần ngôi chùa này đã được xây dựng Đây là ngôi chùa được tạo dựng ở vị thế cảnh quan đẹp, nên đã được nhiều tao nhân mặc khách tới vãn cảnh Trên vách núi đá cạnh chùa có khá nhiều bia, dấu tích của nhiều nhân vật nổi tiếng
Xưa kia, mỗi làng ở Nga Phượng đều có đình làng thờ thần thành Hoàng như đình làng Vân Hoàn, Đông Thành, Lợi Nhân đáng tiếc, các di tích nói trên đã bị phá hủy không còn nhiều Tuy nhiên trong trí nhớ của lớp người cao tuổi ở địa phương vẫn còn lưu giữ được những hình ảnh về kiến trúc và lệ
Trang 38tế lễ, hội ở làng mình và một số làng lân cận
Trước đây, hàng năm vào các kỳ tế lễ "Xuân - Thu nhị kỳ", lễ hội diễn ra tại các đền, nghè, đình, chùa ở Nga Phượng rất sôi nổi Phần lễ được thực hiện trang nghiêm nhằm tôn vinh các vị thần có công với xóm làng, đất nước Đồng thời đã thể hiện nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc: ghi nhớ công tích của các vị tiền nhân, nhớ về cội nguồn Sau phần lễ, hội làng được tổ chức nhiều trò chơi như đánh cờ, chơi đu, đấu vật v.v
Đạo Thiên chúa giáo mới được phát triển ở vùng đất Nga Phượng vào khoảng đầu thế kỷ XX, với sự hình thành họ giáo Lợi Nhân và Nhà thờ họ đạo Lợi Nhân xây dựng năm 1925 Hiện nay, trong vùng đất Nga Phượng có khoảng gần 600 giáo dân Đồng bào công giáo đã đem đến cho quê hương nét văn hóa riêng luôn thể hiện lòng "Kính Chúa yêu nước", “Sống tốt đời, đẹp đạo", có nhiều đóng góp tích cực cho quê hương, đất nước
٭
٭
٭ Tiểu kết chương 1
Xã Nga Phượng là xã được sáp nhập từ xã Nga Lĩnh và Nga Nhân thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa Đây là vùng đất cổ nằm ở phía Nam huyện Nga Sơn, trong địa bàn hoạt động của chủ nhân văn hóa Hoa Lộc Kết quả khai quật khảo cổ học về các loại công cụ được chế tác từ các loại đá như cuốc đá, rìu đá, đục đá, đến các bàn mài, đồ trang sức…đã khẳng định được vai trò, vị trí của vùng đất này trong diễn trình lịch sử dân tộc
Với nhiều dấu vết của nền văn hóa Hoa Lộc được tìm thấy ở Nga Phượng đã khẳng định quá trình tụ cư, khai hoang lập làng trên vùng đất này
đã có lịch sử hàng nghìn năm Sự xuất hiện của các dòng họ và trải qua quá trình sinh sống lâu đời trên vùng đất Nga Phượng đã hình thành nên các làng
cổ nơi đây Qua quá trình vận động và phát triển thăng trầm của lịch sử, vùng đất Nga Phượng còn là nơi hội tụ của nhiều luồng cư dân từ nhiều địa phương khác đến sinh cơ, lập nghiệp Cư dân nơi đây ngày càng đông đúc với nhiều
Trang 39dòng họ khác nhau Ngoài dòng họ Nguyễn, họ Ngô, họ Phạm, họ Mỵ, họ Phùng, họ Mai là chủ yếu thì Nga Phượng còn là nơi sinh sống của các dòng
họ Đỗ, họ Lê, họ Trần, họ Trịnh, họ Mạc…
Sự hình thành làng xóm và dân cư ở Nga Phượng là cả quá trình lâu dài Bằng tinh thần quyết tâm lao động và khát vọng vươn lên, họ đã khai khẩn đất hoang, rừng rậm, lập nên đồng ruộng xóm làng Tuy khác nhau về nguồn gốc xứ sở, dòng họ nhưng tất cả đã chung sức, đồng lòng vượt qua mọi khó khăn gian khổ, xây dựng cuộc sống ấm no
Phát huy truyền thống cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất, truyền thống bất khuất trong đấu tranh dựng nước - giữ nước, truyền thống hiếu học, các thế hệ người dân Nga Phượng đã góp sức cùng nhân dân cả nước giành độc lập, tự do cho dân tộc Ngày nay truyền thống đó đang được phát huy trong việc thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước trong
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Yếu tố đa dân cư, đa dòng họ đã hình thành cho dân cư vùng Nga Phượng tính cố kết cộng đồng, sự giao lưu hòa nhập, tạo nên những động lực thúc đẩy, ý chí vươn lên trong quá trình lịch sử Đặc biệt, qua quá trình sinh sống, lao động, sản xuất của cộng đồng cư dân đã tạo nên một vùng đất Nga Phượng nói riêng và xứ Thanh nói chung những giá trị lịch sử, văn hóa (vật thể và phi vật thể) vô giá Đó là tiền đề giúp chúng ta bảo tồn, phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của cha ông, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam "tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc"
Trang 40Chương 2
DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ
Nga Phượng là một trong những vùng đất của huyện Nga Sơn đã được hình thành từ rất sớm, mảnh đất và con người nơi đây đã để lại nhiều di sản văn hóa vật thể quý giá như các đình, chùa, nghè, miếu, phủ, nhà thờ họ… Tuy nhiên, trải qua những thăng trầm của lịch sử, với sự tác động của tự nhiên, chiến tranh và con người, những di tích xưa đã bị tàn phá, mai một nhiều Hiện nay, trên vùng đất Nga Phượng chỉ còn lại một số di tích, di vật
từ thời nhà Trần (thế kỷ XIV) trở lại đây Các di tích ấy được bảo tồn là nhờ công sức của nhân dân và các cấp chính quyền địa phương đã quan tâm tới công tác bảo tồn, gìn giữ và phát huy giá trị đối với di sản văn hóa trên địa bàn xã Nga Phượng nói riêng và tỉnh Thanh Hóa nói chung
Hiện nay, vùng đất Nga Phượng có 02 di tích lịch sử văn hóa đã được UBND tỉnh Thanh Hóa quyết định công nhận di tích cấp tỉnh Ngoài ra còn nhiều di tích khác như đình làng Vân Hoàn, chùa Sùng Nghiêm, chùa Giải Uấn, nhà thờ họ Ngô, nhà thờ họ Nguyễn, nhà thờ họ Mai Các di tích lịch
sử đã tạo nên chiều sâu văn hóa truyền thống tiêu biểu như Chùa Sùng Nghiêm núi Vân Lỗi là di tích mang đậm dấu ấn của văn hóa thời Trần thế kỷ XIII - XIV, nơi đây đang lưu giữ nhiều bút tích chữ Hán của những tao nhân mặc khách khi qua đây vãn cảnh, đã đề thơ khắc lên vách núi; chùa Thông nơi thờ Phật và gắn liền với sự kiện cách mạng của nhân dân và đảng bộ huyện Nga Sơn, núi Thông, chùa Thông đã từng là nơi nuôi dấu các cán bộ cách mạng của Đảng ta trước khi về làng Thượng (Nga Thắng) xây dựng cơ sở cách mạng như Tố Hữu, Lê Tất Đắc, Trịnh Ngọc Điệt …
Những di tích lịch sử là tài sản quý báu trong kho tàng văn hóa vật thể, là niềm tự hào của người dân vùng đất Nga Phượng nói riêng và Xứ Thanh nói chung, tạo nên tiềm năng du lịch rất lớn cho vùng đất giàu truyền thống này, đồng thời tạo nên những đặc trưng văn hóa vật thể của cộng đồng dân cư nơi đây