Làng Quỳ Chử, xã Hoằng Quỳ, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa cũng được tác giả lựa chọn để trình bày.Tác giả sách đã miêu tảlịch sử tên gọi, địa giới hành chính, văn hóa và đánh giá“Quỳ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND TỈNH THANH HÓA
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC
LÊ THỊ XUÂN
LỊCH SỬ VĂN HOÁ VÙNG ĐẤT HOẰNG QUỲ
(HOẰNG HOÁ, THANH HOÁ)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
THANH HÓA, NĂM 2022
Trang 3BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND TỈNH THANH HÓA
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC
LÊ THỊ XUÂN
LỊCH SỬ VĂN HOÁ VÙNG ĐẤT HOẰNG QUỲ
(HOẰNG HOÁ, THANH HOÁ)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 82.29.013
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Thuý
THANH HÓA, NĂM 2022
Danh sách Hội đồng chấm luận văn Thạc sỹ khoa học
(Theo Quyết định số : / QĐ- ĐHHĐ ngày tháng năm 2022
Trang 4của Hiệu trưởng Trường Đại học Hồng Đức)
Học hàm, học vị
Họ và tên Cơ quan Công tác
Chức danh trong Hội đồng
Chủ tịch HĐ
UV Phản biện 1
UV Phản biện 2
Uỷ viên Thư ký
Xác nhận của Người hướng dẫn
Học viên đã chỉnh sửa theo ý kiến của Hội đồng
Ngày tháng năm 2022
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này không trùng lặp với các khóa luận, luận văn, luận án và các công trình nghiên cứu đã công bố
Thanh Hoá, ngày tháng năm 2022
Người cam đoan
Lê Thị Xuân
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành Luận văn Thạc sĩ của mình, cùng với sự nỗ lực phấn đấu của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các cá nhân, tập thể và ban, ngành
Trước hết, tôi xin phép được bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới
PGS.TS Nguyễn Thị Thúy trường Đại học Hồng Đức đã tận tình hướng dẫn,
giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô trong khoa Khoa học
Xã hội, đặc biệt là bộ môn Lịch sử đã truyền đạt và trang bị cho tôi những kiến thức bổ ích trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Xin chân thành cảm ơn Đảng bộ, HĐND, UBND, các đồng chí cán bộ phòng Văn hóa - Xã hội xã Hoằng Qùy; Ban Quản lí Di tích và Danh thắng Thanh Hóa; Phòng Địa chí thư viện tỉnh Thanh Hóa; Ban Nghiên cứu và Biên soạn lịch sử tỉnh Thanh Hóa; Cán bộ trông coi di tích cùng nhân dân địa phương
đã cung cấp các nguồn thông tin, tài liệu thiết thực để tác giả hoàn thành Luận văn Thạc sĩnày
Xin bày tỏ lòng biết ơn tới người thân trong gia đình cùng bạn bè đã động viên, giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành Luận văn Thạc sĩ của mình
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện đề tàisong chắc chắn Luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tác giả rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến củaquý thầy côvà các bạn để hoàn thiện luận văn!
Xin chân thành cảm ơn!
Thanh Hóa, tháng năm 2022
Tác giả
Lê Thị Xuân
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN - 1 -
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT v
MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2.Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3.Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 8
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
5.Nguồn tài liệu và phương pháp nghiêncứu 10
6.Đóng góp của luậnvăn 11
7.Bố cục luận văn 12
Chương 1 VÀI NÉT VỀ VÙNG ĐẤT HOẰNG QUỲ 13
1.1.Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 13
1.1.1 Vị trí địa lý 13
1.1.2.Điều kiện tự nhiên 15
1.2.Quá trình hình thành vùng đất Hoằng Quỳ 18
1.2.1 Địa danh vùng đất Hoằng Quỳ trong lịch sử 18
1.2.2 Nguồn gốc dân cư và sự hình thành làng xã 21
1.3.Truyền thống lịch sử - văn hóa 26
1.3.1.Trong lao động sản xuất 26
1.3.2.Trong chiến đấu, chống giặc ngoại xâm 28
1.3.3.Trong giáo dục - khoa cử 31
Tiểu kết chương 1 34
Chương 2 DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ 36
2.1.Di tích khảo cổ học Quỳ Chử 36
2.1.1.Khu mộ táng Bãi Chùa 36
2.1.2 Khu mộ táng Đồng Cáo 37
2.1.3 Khu di chỉ cư trú Bãi Chùa 40
2.2 Đình làng 40
2.2.1.Đình làng Đông Khê 40
Trang 82.2.2.Đình Trung làng Quỳ Chử 42
2.2.3.Đình làng Trọng Hậu 44
2.2.4.Đình làng Phúc Tiên 47
2.2.5.Đình làng Ích Hạ 51
2.3.Đền thờ 53
2.3.1.Đền thờ Lê Phụng Hiểu 53
2.3.2.Đền thờ Đức Thánh Mẫu 55
2.4 Nhà thờ họ 57
2.4.1 Nhà thờ họ Nguyễn Đình 57
2.4.2.Nhà thờ họ Trần 58
2.4.3.Nhà thờ họ Lưu 60
2.5.Thực trạng và giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị 62
2.5.1.Thực trạng 62
2.5.2.Giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị 64
Tiểu kết chương 2 68
Chương 3 DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ 69
3.1 Lễ hội truyền thống 69
3.1.1 Lễ hội đền Thánh Tến 69
3.1.2 Lễ hội Kỳ Phúc 71
3.1.3.Lễ Kỵ Thánh Bà 77
3.2 Nghệ thuật trình diễn và trò chơi dân gian 78
3.2.1.Hát Chèo Chải làng Phúc Tiên 78
3.2.2.Trò Tú Huần 81
3.3.Nghề làm hương truyền thống làng Đông Khê 82
3.4.Thực trạng và giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị 86
3.4.1.Thực trạng 86
3.4.2.Giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị 89
Tiểu kết chương 3 91
KẾT LUẬN 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96 PHỤ LỤC P1
Trang 9DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT STT Ký hiệu, chữ viết tắt Được hiểu là
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (tháng 7-1998) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đã khẳng
định: “Xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu văn hóa, vì xã hội
công bằng, văn minh, con người phát triển toàn diện” Đặc biệt trong Nghị
quyết Đại hội XII (tháng 1-2016)và Đại hội XIII (tháng 2-2021) đã chỉ rõ:“Văn
hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững của đất nước Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, với các đặc trưng dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học”( Nguồn Báo điện tử Chính phủ Chinhphu.vn)
Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, việc nghiên cứu về nông thôn nói chung và văn hóa làng xã nói riêng đã trở thành yêu cầu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn Kết quả nghiên cứu về lịch sử văn hóa làng xã sẽ đóng góp những luận cứ khoa học cần thiết để từ đó đề xuất các giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa của địa phương - dân tộc
1.2 Thanh Hoá là vùng đất cổ có lịch sử phát triển hàng ngàn năm Nơi đây
là một trong những “cái nôi”của người Việt cổ với nền văn hóa - văn minh Đông Sơn nổi tiếng nhân loại Không chỉ vậy, vùng đất nàycòn hiện hữuhệ thống di sản văn hóa đặc sắc, giàu giá trị Nhìn chung, các di sản văn hóa xứ Thanh hầu như hội tụ đầy đủ các đặc điểm chung của làng Việt cổ truyền nhưng vẫnmang những đặc trưng riêng của vùng đất chuyển tiếp giữa Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ
Đối với xứ Thanh thì Hoằng Hoálà một trong số ít các địa phươnghội tụ được đầy đủ những nét văn hóa truyền thống lâu đời của dân tộc Nằm ở hạ lưusông Mã, lại có vị trí địa lí đắc địa, vùng đất Hoằng Hóa sớm trở thành địa bàn giao lưu, hội tụ sắc thái văn hóa của nhiều vùng miền khác nhau trên cả nước để
từ đó làm giàu cho văn hóa quê hương Điều này lí giải tại saovăn hóa Hoằng Hóa lại phong phú, đa dạng, vừa có những đặc điểm riêng của văn hóa xứ Thanh nhưng
Trang 11vẫn mang trong mình đặc trưng văn hóa của khu vực đồng bằng Bắc Trung Bộ
1.3.Hoằng Quỳ là một trong 43 xã, thị trấn của huyện Hoằng Hóa Cách thị trấn Hoằng Hóa 7km về phía Tây Nam, nằm ven đô thành phố Thanh Hóa,
có tuyến đường quốc lộ 1A, đường sắt Bắc-Nam chạy qua, xã Hoằng Quỳ có nhiều thuận lợi trong giao lưu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với các vùng lân cận.Đồng thời, nơi đây còn là vùng đất tụ cư của người Việt cổ từ thời kì văn hóa tiền Đông Sơn (thế kỉ II TCN) Trải qua quá trình hình thành và phát triển liên tục từ thời hậu kỳ đồ đồng cho đến thời hiện đại, Hoằng Quỳ đã trở thành vùng đất với các xóm làng trù phú và dân cư đông đúc
1.4 Với vị trí địa lí đắc địa vàlịch sử phát triển hàng ngàn năm, vùng đất Hoằng Quỳ đãtrở thành địa bàn hội tụ những giá trị văn hóa truyền thống phản ánh cốt cách, bản lĩnh của cộng đồng các thế hệ cư dân nơi đây Đó là hệ thống
di sản văn hóa vật thể phong phú, giàu giá trị Trong đó, di tích khảo cổ học Quỳ Chử đã được xếp hạng cấp Quốc gia và các di sản được xếp hạng cấp Tỉnh nhưđình Đông Khê,đình Trung, đình Trọng Hậu, đình Phúc Tiên;nhà thờ họ Nguyễn Đình Bên cạnh hệ thống di sản văn hóa vật thể, vùng đất Hoằng Quỳ còn hội tụ nhiều loại hình di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu là các lễ hội truyền thống (lễ hội đền Thánh Tến, lễ hội Kỳ Phúc, lễ Kỵ Thánh Bà); nghệ thuật biểu diễn, trò chơi dân gian (trò Chèo Chải, trò Tú Huần) Các di sản đã góp phần tạo nên một diện mạo văn hóaphong phú, đa dạng cho vùng đất Hoằng Quỳ và làng Việt cổ truyền
Tuy nhiên, trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập toàn cầu đang diễn ra ngày một sâu rộng thì những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc nói chung và xã Hoàng Quỳ nói riêng đã và đang có nguy cơ bị phá hủy, mai một hoặc biến tướng Vì vậy việc nghiên cứu qúa trình phát sinh, phát triển cùng các giá trị của hệ thống di sản văn hóa trên vùng đất Hoằng Quỳ để từ đó đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị là việc làm không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn mang giá trị thực tiễn sâu sắc
Trang 12Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn vấn đề Lịch sử văn hóa vùng
đấtHoằng Quỳ (Hoằng Hóa, Thanh Hóa)làm đề tài Luận văn Thạc sĩ, chuyên
ngành Lịch sử Việt Nam
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Mảng đề tài về văn hóa Việt Nam nói chung hay lịch sử văn hóa vùng đất nói riêng không phải là vấn đề mới mẻ nhưng luôn là một đề tài hấp dẫn đối với các nhà khoa học trong và ngoài nước Trong những năm gần đây, với xu thế trở
về cội nguồn dân tộc, xu hướng xây dựng, phát triển nền văn hóa Việt Nam “tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, đã có nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu về
văn hóa, đặc biệt là lịch sử văn hóa địa phương, xuất phát từ những yêu cầu đó nên đã có nhiều hội thảo về lịch sử văn hóa được tổ chức Đây là những nội dung
tích cực góp phần cho mỗi vùng,miền“đánh thức” lại đầy đủ các giá trị văn hóa
truyền thống vốn có của quê hương
Xã Hoằng Quỳ (Hoằng Hóa, Thanh Hóa) được xem là vùng đất cổ có bề dày phát triển hàng ngàn năm Đây là địa bàn chứng kiến những hoạt độngđầu tiên của con người trên vùng đất Hoằng Hóa và mang trong mình nhiều giá trị lịch sử - văn hóa riêng biệt Vì vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu về đất và người Hoằng Quỳ được công bố Có thể điểm qua một số công trình nghiên cứu sau:
Đầu thế kỉ XX, vùng đất Thanh Hóa nói chung và huyện Hoằng Hóanói riêng đã được các học giả Pháp quan tâm nghiên cứu Tiêu biểu như tiến sĩ
Charles Robequanin với công trình nổi tiếng La Thanh Hoa (Tỉnh Thanh
Hóa)[50] Tác phẩm đã đi sâu khảo cứu về vùng đất và con người xứ Thanh
với những nét văn hóa đặc trưng Đặc biệt, công trình đã đề cập đến quá trình hình thành các làng cổ ở xứ Thanh Các làng của xã Hoằng Quỳ cũng được trình bày ở một vài khía cạnh nhất định Đây là những thông tin qua trọng để
có những đánh giá tổng thể về làng xã Thanh Hóa thời kỳ thuộc Pháp
CuốnTên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX [65]đã giới thiệu một cách chi
tiết và khá đầy đủ về địa danh cổ của các làng xã từ Nghệ An trở ra Đây là
Trang 13nguồn tư liệu quý cho quá trình tìm hiểu các vấn đề về lịch sử, văn hóa, dân tộc học, xã hội học, khảo cổ học có liên quan tới địa danh xa xưa Công trình đã liệt kê tên gọi từng thôn, xóm, vạn, trang, phường, giáp, trại thuộc từng tổng, huyện, phủ của 15 trấn, xứ, đạo của Việt Nam Trong đó đề cập đến nội trấn Thanh Hoa và huyện Hoằng Hóa Tác giả đã khắc họa bức tranh chung về làng
xã của huyện Hoằng Hóa: Xã Hoằng Quỳ là một trong số đó
Cuốn Văn hóa làng và làng văn hóa xứ Thanh[43]đã đi sâu tìm hiểu về
mảng đề tài văn hóa truyền thống của làng xã Thanh Hóa và giới thiệu những điểm cần thiết để xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn Ở phần thứ nhất, tác giả đã trình bày những cơ sở lí luận cho quá trình xây dựng làng văn hóa Ở phần hai, tác giả đi sâu trình bày về các làng văn hóa ở Thanh Hóa Xã Hoằng Quỳ được tác giả quan tâm trình bày ở khía cạnh của nền văn hóa Quỳ Chử trong bức tranh tổng quan về văn hóa thời đại các vua Hùng
Trong công trìnhTên làng xã Thanh Hóa, tập 1[13]cùng với việc giới
thiệu khái quát về quá trình hình thành và tên làng xã ở Thanh Hóa; nỗi dung sách cũng đã đề cập đến xã Hoằng Quỳ Công trình đã phác họa quá trình hình thành, phát triển của xã Hoằng Quỳ trong bức tranh tổng quát lịch sử huyện Hoằng Hóa và tỉnh Thanh Hóa
Cuốn Địa chí văn hóa Hoằng Hóa[32]đã trình bày tổng quan về địa lý,
giáo dục, văn hóa, kiến trúc, nghệ thuật, phong tục - tập quán, các nhân vật lịch
sử, các ngành nghề truyền thốngcùng các dấu tích lịch sử của huyện Hoằng Hóa Tác giả sách đã trình bày về xã Hoằng Quỳ ở khía cạnhdi tích khảo cổ Quỳ Chử, nhân vật Lê Phụng Hiểu, trò diễn dân gian Chèo Chải, Tú Huần Đây là một trong số các công trình nghiên cứu công phu về huyện Hoằng Hóa nói chung, xã Hoằng Quỳ nói riêng, có giá trị tham khảo caocho quá trình triển khai nghiên cứu đề tài luận văn
Trong cuốnThanh Hóa chư thần lục[64]đã đề cập đến lễ hội đền Thánh
Tến (đền thờ Lê Phụng Hiểu) tại làng Bái, nay là làng Ích Hạ, xã Hoằng Quỳ
Trong phần Những gương mặt sau các huyền thoại và giai thoại,tác giả sách
Trang 14cũng đã giới thiệu sơ lược về Thánh Bưng Lê Phụng Hiểu
Cuốn Văn hóa làng Quỳ Chử[42]là công trình nghiên cứu chuyên sâu về làng
Quỳ Chửtrên khía cạnhtruyện cổ, ca dao, tục ngữ, phương ngôn, thành ngữ, thơ
ca, hò vè, ngụ ngôn, giai thoại, câu đối, hương ước theo hướng nghiên cứu văn hoá dân gian Đây là nguồn tài liệu có giá trị để tác giả luận văn có cái nhìn tổng thể về hệ thống di sản văn hóa phi vật thể ở trên vùng đất Hoằng Quỳ
Tác giả sáchĐất và người xứ Thanh[11]đã mô tả, ghi chép lại những sự kiện,
chứng tích, con người, lịch sử diễn ra trên mảnh đất Thanh Hóa Trong đó, tác giả sách đã đề cập đến nhân vật Lê Phụng Hiểu và dòng họ Trần làng Phúc Tiên, xã Hoằng Quỳ
Năm 2000, Nxb Văn Hóa – Thông tin đã xuất bản cuốnĐịa chí Thanh
Hóa, tập 1[53].Với tính chất của một công trình địa chí tập thể tác giả đã tập
trungkhảo tả về vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên; hành chính, dân cư và lịch sử Thanh Hóa từ thời tiền sử - sơ sử đến năm 1995 Trong
đó có đề cập đến huyện Hoằng Hóa và xã Hoằng Quỳ Ở tập 2[54], tác giả đãgiới thiệu một số thành tựu văn hoá vật thể và phi vật thể tiêu biểu tại các địa phương Một số danh sĩ văn hóa tiêu biểu của vùng đất Hoằng Quỳ cùng đã được điểm qua trong công trình nghiên cứu nàyđây là nguồn tài liệu quan trọng, phục vụ trực tiếp cho tác giả trong quá trình triển khai nghiên cứu đề tài
Cuốn Lễ tục lễ hội truyền thống xứ Thanh[60]đã giới thiệu tổng quan về
các lễ hội truyền thống tiêu biểu tại Thanh Hóa Trong đó, tác giả đã đề cập đến lễ hội truyền thống tại đền Thánh Tến, làng Ích Hạ, xã Hoằng Quỳ, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa về cả phần lễ và phần hội Phần lễ trình bày sơ lược về địa phương, thần điện Phần hội trình bày những hoạt động diễn ra trong lễ hội Đây
là cơ sở để tác giả luận văn có những nhận định, đánh giá về lễ hội trên vùng đất Hoằng Quỳ
Nội dung cuốn Những làng văn hoá tiêu biểu tỉnh Thanh[51]cũng đã
chọn lọc những làng, bản, khu phố đạt danh hiệu làng văn hóa cấp tỉnh và huyện
để trình bày Ở mỗi làng văn hóa, tác giả giới thiệu về tên gọi, lịch sử hình
Trang 15thành và những nét văn hóa tiêu biểu Làng Quỳ Chử, xã Hoằng Quỳ, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa cũng được tác giả lựa chọn để trình bày.Tác giả
sách đã miêu tảlịch sử tên gọi, địa giới hành chính, văn hóa và đánh giá“Quỳ
Chử là một làng cổ có bề dày truyền thống lịch sử văn hóa”[51; tr 64]
Cuốn Danh nhân văn hóa Hoằng Hóa [33] đã ghi lại những nét chính về
cuộc đời của các bậc tiền nhân quê Hoằng Hóa trong khoảng mười thế kỉ với những phẩm chất đạo đức thanh cao, trong sáng và những cống hiến to lớn cho quê hương, đất nước Các danh nhân văn hóa xã Hoằng Quỳ cũng được tác giả quan tâm đề cập
Luận văn Thạc sĩ vềLịch sử - văn hóa làng Quỳ Chử, xã Hoằng Quỳ,
huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá (từ thế kỷ XV đến năm 2009)[48]là công
trình nghiên cứu trực tiếp về một trong năm làng của xã Hoằng Quỳ.Tác phẩm
đi sâu nghiên cứu về làng Quỳ Chử trên hai khía cạnh: Lịch sử và văn hóa trong khoảng thời gian từ thế kỉ XV đến năm 2009 Đây là nguồn tài liệu giúp ích cho đề tài triển khai nghiên cứu về lịch sử xã Hoằng Quỳ và giá trị của hệ thống
di sản trên vùng đất này
Cuốn Lịch sử xã Hoằng Quỳ, tập1 [21] là công trình liên quan trực tiếp
đến vấn đề nghiên cứu Ở chương 1, 2, tác giả sách đã phác họa tổng quan về nền văn hóa Quỳ Chử trong buổi bình minh của lịch sử Hoằng Quỳ; vùng đất,
cư dân, truyền thống lao động, văn hóa và đấu tranh của xã Hoằng Quỳ Ở các chương còn lại, tác phẩm đi sâu trình bày bối cảnh lịch sử, hoạt động của Đảng
bộ và nhân dân xã Hoằng Quỳ theo tiến trình lịch sử dân tộc Công trình góp phần khắc họa bức tranh chung về lịch sử xã Hoằng Quỳ từvăn hóa Quỳ Chử cho đến năm 2010 Công trình nghiên cứu này đặc biệt có giá trị trong quá trình triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Trong cuốn Di tích và danh thắng Thanh Hóa [10] tác giả sách cũngđã
trình bày các di tích và danh thắng của Thanh Hóa trên khía cạnhlịch sử, kiến trúcvà những giá trị về cảnh quan thiên nhiên Công trình đã trình bày sơ lược
về đình làng Trọng Hậu của Hoằng Quỳ Từ những thông tin này tác giả luận văn đã phục dựng lại nguồn gốc và quá trình trùng tu tôn tạo di tích đình làng Trọng Hậu
Trang 16Tác giả sách Một số điểm đến du lịch, lễ hội và làng nghề Thanh Hóa
[45] đã giới thiệu về những nét đặc sắc trong du lịch, lễ hội cổ truyền và các làng nghề nổi tiếng tại xứ Thanh mặc dùcông trình có đề cập đến lễ hội làng Quỳ Chử, nhưng quá trình phát sinh, phát triển và quy trình lễ hội lại chưa được tác giả sách quan tâm nghiên cứu
Cuốn Chùa xứ Thanh, tập 3[27] đã tìm hiểu về cách đặt tên, ý nghĩa tên
gọi, lịch sử hình thành, phát triểnvà kiến trúc, cảnh quan, nội thất, đồ thờ của các ngôi chùa trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá Công trình đã có những đánh giá tổng quátvề chùa Hưng Viên (Liên Hoa tự) ở làng Quỳ Chử, xã Hoằng Quỳ, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Trong công trình Lịch sử Đảng bộ và phong trào cách mạng của nhân huyện
Hoằng Hóa (1930-2015) [22] đã ghi lại quá trình đấu tranh gian khổ, đầy hi
sinh nhưng rất vẻ vang của Đảng bộ và nhân dân huyện Hoằng Hóa trong quá trình phát triển của cách mạng qua các thời kì, đặc biệt là Cách mạng tháng Tám 1945 và cuộc kháng chiến trường kì chống thực dân Pháp xâm lược Công trìnhđã giới thiệu về những thành tích vẻ vang của nhân dân xã Hoằng Quỳ trong bức tranh truyền thống cách mạng huyện Hoằng Hóa
Tác giả sách Di sản văn hóa tỉnh Thanh Hóa [9] đã giới thiệu những vấn đề
cơ bảnvề hệ thống di sản văn hóa tỉnh Thanh Hóa Công trình nâng cao trách nhiệm trong việc bảo tồn và phát huy giá trị hệ thống di sản nhằm giáo dục truyền thống lịch sử, văn hóa, từ đó góp phần phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội địa phương Ở mỗi chương, nội dung sách đã trình bày tổng quan từng loại hình di sản (vật thể, phi vật thể) sau đó đi sâu miêu tả những di sản tiêu biểu Tác giả cũng đã quan tâm tìm hiểu, trình bày sơ lược về di tích khảo cổ học Quỳ Chử, xã Hoằng Quỳ
Cuốn Tinh hoa văn hóa xứ Thanh [47] đã nghiên cứu thành tựu nhiều
mặt về lịch sử, kinh tế, xã hội, kiến thiết làng xã, nghệ thuật kiến trúc, tín ngưỡng tôn giáo, ca nhạc của tỉnh Thanh Hóa Nội dung sách chuyên sâu
về“tinh hoa, cốt lõi nhất, in đậm dấu ấn sắc thái Thanh Hóa của 40 vạn năm
văn hóa xứ Thanh, được xem là nước Việt Nam thu nhỏ”[47; tr 5].Trong đó,
tác giả sách đã đề cập đến 2 di sản quan trọng tại xã Hoằng Quỳ Đó lànghệ thuật trình diễn Chèo Chải và trò Tú Huần Công trình góp phần khắc họa những nét cơ bản về nghệ thuật trình diễn và trò diễn dân gian nổi tiếng tại xã Hoằng Quỳ, có giá trị tham khảo cao trong quá trình nghiên cứu đề tài của luận văn
Trang 17Như vậy, chođến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về đất và ngườiHoằng Quỳở các khía cạnh, góc độ khác nhau được công bố Đây đều là những thông tin, luận cứ khoa họccần thiết để tác giả tiếp tục nghiên cứu về vùng đất Hoằng Quỳ trong bối cảnh thực tiễn sinh động thời kì đổi mới.Tuy nhiên, Hoằng Quỳ là vùng đất cổ, nơi quần cư lâu đời của người Việt từ xa xưa và mang trong mình nhiều nét văn hóa đặc sắc, do đó, cần tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống về lịch sử văn hóa vùng đất Hoằng Quỳ trên các khía cạnh:
- Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên; quá trình hình thành, phát triển làng xã
và các truyền thống lịch sử - văn hóa của vùng đất Hoằng Quỳ
- Quá trình phát sinh, phát triển và giá trị của hệ thống di sản văn hóa vật thể, phi vật thể tiêu biểu tại địa phương
- Thực trạng các loại hình di sản văn hóa trên vùng đất Hoằng Quỳ vàhệ thống giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy giá trị di sản
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu toàn diện quá trình hình thành, phát triển và giá trị của hệ thống di sản văn hóa (vật thể, phi vật thể) trênvùng đất Hoằng Quỳ Từ đó đánh giá thực trạng, đề xuất cácgiải pháp nhằm bảo tồn, phát huy giá trịdi sản
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nêu trên, luận văn cần giải quyết được các nhiệm
vụ nghiên cứu sau:
- Khái quát vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên; quá trình hình thành, phát triển và các truyền thống lịch sử - văn hóa tiêu biểu của vùng đất Hoằng Quỳ
- Làm rõ diện mạo hệ thống di sản văn hóa vật thể, phi vật thể tại địa phương
- Đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy
giá trị di sản
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu nguồn gốc, quá trình phát sinh, phát triển và giá trị của hệ thống di sản văn hóa vật thể, phi vật thể tiêu biểu tại
xã Hoằng Quỳ
Trang 184.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung:Đề tài nghiên cứu nguồn gốc, quá trình phát triển, giá trị
của hệ thống di sản văn hóa (vật thể, phi vật thể) và các truyền thống lịch sử - văn hóa tiêu biểucủavùng đất Hoằng Quỳ
- Về không gian:Không gian nghiên cứu của đề tài được giới hạn trong
địa bàn xã Hoằng Quỳ, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa với năm làng: Phúc Tiên, Ích Hạ, Quỳ Chử, Đông Khê, Trọng Hậu.Ngoài ra, đề tài còn mở rộng phạm
vi khảo sát đến các làng, xã phụ cận, để tìm hiểu các vấn đề liên quan đến lịch sử văn hóa vùng đất Hoằng Quỳđó là xã Hoằng Lộc, Hoằng Quang, Hoằng Phú, Hoằng Quýthuộc huyện Hoằng Hóa, phường Hàm Rồng,Tào Xuyên thuộc thành phố Thanh Hóa
- Về thời gian:Thời gian nghiên cứu tập trung vào sự hình thànhlàng xã;
nguồn gốc, quá trình tôn tạo, phục dựng hệ thống di sản theo dòng chảy lịch sử - văn hóa dân tộc
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiêncứu
5.1 Nguồn tàiliệu
* Tài liệu thành văn
Đây là nguồn tài liệu quan trọng đối với quá trình triển khai nghiên cứu
đề tài luận văn Tài liệu thành văn bao gồm các bộ sử gốc nhưĐại Việt sử ký
toàn thư, Lịch triều hiến chương loại chí, Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến cuối thế kỉ XIX…Các công trình đã ghi chép sơ lược về lịch sử, văn hóa của các
địa phương, trong đóđề cập đến huyện Hoằng Hóa và Tỉnh Thanh Hóa trong dòng chảy lịch sử dân tộc
Bên cạnh các bộ sử gốc, bản gia phả của các dòng họ trên vùng đất Hoằng Quỳ; các hồ sơ lý lịch di tích đang được lưu giữ tại Trung tâm Bảo tồn Di sản Văn hóa tỉnh Thanh Hóa cũng là một trong số tài liệu liên quan trực tiếp đếnvùng đất Hoằng Quỳ và hệ thống di sản tại địa phương Đây là nguồn tài liệuquan trọng giúp tác giả khảo tả lịch sử hình thành, phát triểnvùng đất Hoằng Quỳ; quá trình hình thành, tôn tạo, kiến trúc và giá trị của hệ thống di sảntại địa phương
Trang 19* Tài liệu văn hóa dân gian
Tài liệu văn hóa dân gian bao gồm các truyện kể, truyền thuyết, ca dao tục ngữ có liên quan đến đất và người Hoằng Quỳ Đây là nguồn tài liệu giúp tác giả tìm hiểu về lịch sử văn hóa vùng đất này theo khía cạch của tâm thức văn hóa dân gian Tuy nhiên, đây là nguồn tài liệu chỉ mang tính chất tham khảo nên tác giả cần cẩn trọng và xem xét khi sử dụng
* Tài liệu điền dã
Để bổ sung thêm nguồn tài liệucần thiết cho đề tài, tác giả còn sử dụng thêmcác hình ảnh,tài liệu, kết quả phỏng vấn thu được qua những lần khảo cứu trực tiếp tại địa phương.Tiếp xúc, trao đổi với các cụ cao niên trong làng, người đứng đầu các dòng họ, cán bộ quản lí văn hóa cũng đã thu thập thêm được một số tư liệu có giá trị
5.2 Phương pháp nghiêncứu
-Trong quá trình triển khai nghiên cứu đề tài, tác giả đã sử dụng chủ yếu
phương pháp lịch sử đểlàm sáng tỏquá trình phát sinh, phát triển các loại hình
di sản văn hóa vật thể, phi vật thể trên vùng đất Hoằng Quỳ theo dòng chảy lịch sử- văn hóa dân tộc.Phương pháp logic cũng được sử dụngđể làm rõ mối liên
hệ giữa các yếu tố địa lí, tự nhiên, kinh tế - xã hội, lịch sử, văn hóa đến sự vận động, phát triển của xã Hoằng Quỳ nói chung và hệ thống di sản văn hóa
tại vùng đất này nói riêng
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu của các chuyênngành như: Khảo cổ học, Dân tộc học, Văn hóa học…
Trang 20- Bên cạnh phương pháp lịch sử và logic, tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp để sưu tầm, tổng hợp các nguồn tư liệu cần thiết,từ đó làm
rõ quá trình hình thành, phát triển, diện mạo các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể trên vùng đất Hoằng Quỳ
- Phương pháp so sánh được tác giả sử dụng để đánh giá, nhận diện sự tương đồng và khác biệt về giá trị văn hóa của vùng đất Hoằng Quỳ so với các vùng đất khác trong địa phương cũng như trên địa bàn cả nước Từ đó tác giả lựa chọn các di sản văn hóa thực sự tiêu biểu, đặc sắc để trình bày
- Đồng thời, tác giảcòn sử dụng phương pháp nghiên cứu khu vực học -
một hệ phương pháp mang tính liên ngành.Tác giả đặt vùng đất Hoằng Quỳ
trong mối quan hệ tương tác đa chiều với điều kiện tự nhiên, môi trường xã hội
và hoàn cảnh lịch sử để từ đó rút ra những đặc trưng văn hóa riêng biệt của vùng đất này
-Tác giả còn sử dụng phương pháp điều tra điền dã, khảo cứu trực tiếp
tại địa phương để kiểm chứng và bổ sung nguồn tư liệu, đánh giá thực trạng các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể tại Hoằng Quỳ; tiến hành phỏng vấn hồi cố các bậc cao niên, nhà quản lý văn hóa địa phương để đối chiếu giữa lý luận và thực tiễn Từ đó đề xuất các giải pháp thiết thực, phù hợp nhằm bảo tồn
và phát huy giá trị di sản
6 Đóng góp của luậnvăn
- Luận văn là công trình nghiên cứu toàn diện, hệ thống về vùng đất Hoằng Quỳ Kết quả nghiên cứu của luận văngóp phần khắc họa bức tranh sinh động về nguồn gốc, lịch sử hình thành, phát triển và các truyền thống lịch sử - văn hóa tiêu biểu của xã Hoằng Quỳ; lột tả rõ nét diện mạo hệ thống di sản văn hóa vật thể, phi vật thể tại địa phương
- Trên cơ sở khắc họa bức tranh chung về hệ thống di sản, luận văn đánh giáthực trạng và đề xuất giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di sản Đây là
cơ sở giúp các cơ quan có thẩm quyền tại địa phương có thêm định hướng trong việc giáo dục truyền thống văn hóa và khai thác tiềm năng của hệ thống di sản
Trang 21- Luận văn góp phần bổ sung nguồn tư liệu về di sản văn hóa địa phương;
là nguồn tài liệu phục vụ cho giáo viên, học sinh, sinh viên trong việc nghiên cứu, giảng dạy về lịch sử địa phương, dân tộc
- Luận văn còn có ý nghĩa thiết thực trong việc quảng bá các giá trị văn hóa truyền thống của địa phương; góp phần bồi dưỡng niềm tự hào, lòng yêu quê hương, đất nước cho người dân xã Hoằng Quỳ nói riêng và cả nước nói chung Từ đó, phát huy vai trò của mỗi cá nhân trong quá trình xây dựng, phát triển vùng đất Hoằng Quỳ ngày càng giàu đẹp và bảo lưu được nhiều giá trị văn hóa truyền thống
7.Bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, Nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1.Vài nét về vùng đất Hoằng Quỳ
Chương 2 Di sản văn hóa vật thể
Chương 3.Di sản văn hóa phi vật thể
Trang 22Chương 1 VÀI NÉT VỀ VÙNG ĐẤT HOẰNG QUỲ
1.1.Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
1.1.1.Vị trí địa lý
Hoằng Hoá là một huyện đồng bằng ven biển của tỉnh Thanh Hóa Đây
là vùng đất gắn bó mật thiết với Ái Châu – Thanh Hóa, từ thời tiền sử.Và Đây
là vùng đất cóbề dày lịch sử - văn hóavàtruyền thống cách mạng lâu đời
Về mặt vị trí địa lí, huyện Hoằng Hóa nằm ở 19,46 vĩ độ Bắc và 105,45đến 105,58 độ kinh Đông Phía đông huyện Hoằng Hóa giáp biển Phía tây giáp huyện Thiệu Hóa, Yên Định, Vĩnh Lộc Phía nam giáp huyện Quảng Xương, Đông Sơn và thành phố Thanh Hóa Phía bắc giáp huyện Hậu Lộc [32; tr 15]
Có thể khẳng định, Hoằng Hóa là vùng đất hội tụ đầy đủ các đặc điểm địa lý của vùng châu thổ sông Mã Huyện Hoằng Hóa có núi, sông, lạch,
biểnnhư một bức tranh“sơn thủy hữu tình”, phản ánh sự thanh bình của một
vùng quê trù phú ven sông Mã
Như vậy, về mặt vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên, huyện Hoằng Hóacó sông, núi, biển, đồng lúa, đồng màu, lại nằm trên các tuyến đường giao thông đường bộ, sắt xuyên Việt và giáp thành phố Thanh Hóa Với vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên và hệ thống giao thông tương đối thuận lợi, huyện Hoằng Hóa có điều kiện để phát triểnkinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; đồng thời giao lưu buôn bán với các vùng khác trong và ngoài khu vực
Trải qua thăng trầm của lịch sử,mặc dù đã nhiều lần thay đổi danh xưng
và địa giới đơn vị hành chính nhưng về cơ bảnhuyện Hoằng Hóa là đơn vị hành chính cấp huyện có địa giới ổn định, ít biến động Hiện nay, theo thống kê của UBND, huyện Hoằng Hóa có diện tích tự nhiên là 20.380,2ha, dân số 253.450 người (2018) và chia thành 43 đơn vị hành chính cấp cơ sở (42 xã và 1 thị trấn)
Hoằng Quỳ là một trong 43 xã, thị trấn của huyện Hoằng Hóa Xã Hoằng Quỳ được thành lập từ tháng 10 năm 1953 với 5 thôn: Phúc Tiên, Trọng Hậu, Ích Hạ, Quỳ Chử và Đông Khê Theo thống kê của huyện ủy Hoằng Hóa, năm
2004, xã Hoằng Quỳ có diện tích đất tự nhiên là 489,23ha, dân số là 6.730 người [62; tr 81]
Trang 23Trong không gian văn hóa chung của huyện Hoằng Hóa và tỉnh Thanh Hóa, vùng đất Hoằng Quỳ đã trải qua những chặng đường lịch sử đầy gian khó nhưng rất đỗi vẻ vang, tự hào và để lại nhiều dấu ấn quan trọng trong lịch sử của quê hương Hoằng Hóa nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung
Về mặt địa giới hành chính, xã Hoằng Quỳ nằm ở phía tây của huyện Hoằng Hóa, cách thị trấn Hoằng Hóa 7km Phía đông xã Hoằng Quỳ giáp xã Hoằng Khê và Hoằng Cát Phía Tây giáp xã Hoằng Hợp Phía Nam giáp phường Tào Xuyên (thành phố Thanh Hóa) Phía bắc giáp xã Hoằng Phú, Hoằng Quý
Đánh giá một cách tổng thể, bao bọc xung quanh xã Hoằng Quỳ đều là những vùng đất có bề dày lịch sử và chiều sâu văn hóa của tỉnh Thanh Hóa
Trước hết, xã Hoằng Quỳ cách trung tâm thành phố Thanh Hoá khoảng 10km về phía Bắc Vùng đất này làmột trong những cái nôi của người Việt cổnền văn minh trong thời kỳ dựng nước Không những vậy, nơi đây còn là địa phương sinh dưỡng nên nhiều anh hùng hào kiệt, các bậc khai quốc công thần được lưu danh sử sách và có nhiều danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử nổi tiếng
Cùng với đó, Hoằng Quỳ cách làng Bồ Điền (nay là làng Phú Điền, huyện Hậu Lộc) - vùng đất cách mạng, nơi diễn ra cuộc khởi nghĩa Bà Triệu chống giặc Đông Ngô năm 248 khoảng 6km về phía Đông Nam; cách di chỉ đồ đá cũ nổi tiếng thế giới - Núi Đọ khoảng 10km về phía Đông Bắc, cách khu văn hoá Đông Sơn khoảng 3km về phía Bắc
Có thể khẳng định, với vị trí địa lí thuận lợi như vậy, từ rất sớm vùng đất Hoằng Quỳ đã trở thành địa bàn giao lưu, hội tụ sắc thái văn hóa của nhiều vùng miền khác nhau trên cả nước
Không chỉ nằm trong vùng đất giao thao văn hóa của nhiều làng Việt
cổ truyền, xã Hoằng Quỳ còn có hệ thống giao thông tương đối thuận lợi
Hệ thống giao thông tại đây bao gồm một số tuyến quốc lộ, tuyến đường sắt Bắc - Nam và các tuyến đường liên hương, liên xã
Xưa kia, trên đất Hoằng Quỳ có tuyến đường thiên lý Bắc - Nam (nay là quốc lộ 1A) và tuyến đường sắt chạy qua Đây là 2 tuyến giao thông huyết mạch vào Nam ra Bắc của đất nước Tuyếnquốc lộ 1A và tuyến đường sắt Bắc Nam
đã tạo thuận lợi cho địa phương trong giao lưu phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục với các vùng miền khác nhau trên cả nước
Trang 24Các tuyến đường liên hương, liên xã đã có từ thời lập làng Từ Hoằng Quỳ, dọc theo quốc lộ 1A và các tuyến đường liên xã để qua Hoằng Lộc, Hoằng Thịnh về cầu Bút Sơn sang huyện Hậu Lộc; xuôi theo quốc lộ 1A về phía Nam
để qua Hoằng Quang, qua cầu Nguyệt Viên để đi vào trung tâm thành phố Thanh Hóa
Đến nay, hệ thống đường quốc lộ, liên xã, liên thôn đã được nâng cấp,
mở rộng, rải nhựa, bê tông để phục vụ thiết thực cho sự phát triển kinh tế - xã hội và sinh hoạt của người dân địa phương
Như vậy, về mặt vị trí địa lý, xã Hoằng Quỳ nằm trong vùng châu thổ sông Mã Vùng đất này có vị trí địa lí đắc địa, nằm trên trục đường thiên lí Bắc Nam, có tuyến đường sắt chạy qua, tiếp giáp với nhiều vùng quê nổi tiếng của
xứ Thanh Vì vậy, từ rất sơm, cư dân Hoằng Quỳ đã có điều kiện tiếp xúc, giao lưu với các địa phương trong và ngoài tỉnh để từ đó chọn lọc, kết tinh nét văn hoá độc đáo của các làng xã xung quanhvà tạo nên một nền văn hóa phong phú,
đa dạng đồng thời mang đậm những đặc trưng riêng biệt của cư dân Hoằng Quỳ
1.1.2 Điều kiện tự nhiên
Cùng với các dòng sông, huyện Hoằng Hóa có đường bờ biển dài 12km,
có 2 cửa lạch lớn ăn sâu vào đất liền (Lạch Trào và Lạch Trường) Đây là vùng tiềm năng sinh sản tôm, cua, cá nước lợ Vì vậy, huyện Hoằng Hóa có diện tích nuôi trồng thủy sản lớn nhất tỉnh Thanh và khu vực Bắc Trung Bộ Đồng thời,
từ xưa vùng đất này đã là cửa biển sầm uất, tấp nập các hoạt động giao thương kinh tế, văn hoá và được xem là cửa ngõ lớn phía Đông của tỉnh Thanh Hóa
Điểm tô thêm cho vẻ đẹp sinh động của bức tranh “sơn thủy hữu tình”
huyệnHoằng Hóa là những dãy núi Đất Hoằng Hóa được bao bọc, che chở chủ yếu bởi hai dãy núi cao: phía Tây Bắc là dãy Sơn Trà uy nghi, được ví như
Trang 25ngọn “hải đăng” chỉ đường, định hướng về cho thuyền bè đi biển; phía Đông
là dãyLinh Trường thơ mộng mà kỳ vĩ, gắn liền với những chiến tích của con người trong quá trình dựng nước và giữ nước Rải rác giữa các làng xã của huyện là những dãy núi thấpnổi lên như điểm nhấn, nét chấm phá của người hoạ sỹ tài hoa trong một bức hoạ kiệt tác Đó là núi Triêng (Hoằng Giang), núi Bưng (Hoằng Sơn), núi Đẽn (Hoằng Trinh)… Các ngọn núi đã gắn liền với bao giai thoại, truyền thuyết mà tên tuổi của chúng hiện còn được lưu truyền đậm sâu trong tâm thức dân gian
Về khí hậu, vì là huyện đồng bằng ven biển nên huyện Hoằng Hoá chịu ảnh hưởng trực tiếp của khí hậu đại dương nhiệt đới Nhìn chung,nền khí hậu thuận lợi cho sản xuất và sinh hoạt của người dân.Tuy nhiên, bên cạnh những yếu tố thuận lợi, khí hậu cũng đem đến cho huyện Hoằng Hoá nhiều khó khăn, thách thức trong quá trình chinh phục và cải tạo tự nhiên như phòng chống thiên tai, bãolũ, hạn hán
Là một bộ phận của Thanh Hoá, đồng bằng Hoằng Hoá ba phía đều có sông bao bọc, một phía là biển Vì thế đây là vùng đất được bồi đắp bởi sự bào mòn của nền đất cũ cùng hiện tượng biển lùi và sự lắng đọng phù sasông Mã, sông Chu Tuy nhiên, nhiều khu vực do sự tác động của địa chấn nên địa hình không bằng phẳng được nâng lên hoặc lún xuống Trải qua hàng ngàn năm kiến tạo,bộ mặt địa hình huyện Hoằng Hóa đã trở nênphì nhiêu hơn Nền cảnh địa hình ấy không chỉ do thiên nhiên tạo ra mà phần lớn độ màu mỡ của đồng
bằng, sự sầm uất, trù mật của xóm làng nơi đây đều “mang dấu vết của bàn tay,
của trí não con người Hoằng Hóa, ròng rã bao thế kỉ chống chọi với thiên nhiên,
tạo nên một quê hương giàu đẹp rất đỗi tự hào”[32; tr 26]
Trên cái nềnđịa hình chung của huyện Hoằng Hóa, địa hình xã Hoằng Quỳ tương đối bằng phẳng và nghiêng dần theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Đây là điều kiện thuận lợi cho cư dân Hoằng Quỳ phát triển kinh tế nông nghiệp, ổn định đời sống vàxây dựng nơi đây trở thành vùng quê trù phú của đồng bằng sông Mã
* Đất đai
Cùng với địa hình thì đất đai là nhân tố quan trọng, quyết định trực tiếp
sự tồn tại và phát triển lâu dài của cộng đồng cư dân địa phương Cũng như các làng xã khác của huyện Hoằng Hóa, đất đai ở Hoằng Quỳ chủ yếu được hình thành do sự bào mòn của nền đất cũ, hiện tượng biển lùi và lắng đọng phù sa của sông Mã Tuy nhiên, hiện nayđê sông Mã đã được bồi đắp kiên cố nên đất đai ở Hoằng Quỳchủ yếu thuộc nhóm đất phù sa cổ không được bồi đắphằng
Trang 26năm Loại đất này có độ PH trung tính, lượng mùn khá cao, rất thuận lợi cho việc phát triển các giống cây trồng, đặc biệt là cây lúa và hoa màu
Nhìn chung, đất đai ở Hoằng Quỳ phì nhiêu, màu mỡ, phù hợp với kinh
tế nông nghiệp trồng lúa nước, hoa màu và cây ăn quả Tuy nhiên, tại Hoằng Quỳ hiện vẫn còn nhiều cánh đồng trũng nhưCồn Cáo, Cồn Mã Voi, Mã Hệ,
Mã Cáo, Mã Kẻ, Đồng Bái, Đồng Rồn Tại đây,đất thường chua, vì vậy, trong quá trình sản xuất, nhân dân thường bón vôi để cải tạo và trung hòa độ PH
* Sông ngòi
Hoằng Hoá là một trong những huyện đồng bằng ở xứ Thanh có hệ thống sông ngòi phong phú và đa dạng Các dòng sông Mã, sông Ngu, sông Trà… đã tạo nên mạng lưới sông ngòi dày đặc, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất và sinh hoạt của cư dân
Địa bàn xã Hoằng Quỳ xưa kia được bồi đắp bởi phù sa từ nhiều dòng chảy của sông Mã Trong đó, vết tích rõ nhất của sông Mã đi qua vùng đất Hoằng Quỳ là sông Dọc Sông Dọc chảy ven phía nam làng Quỳ Chử xuống Đông Khê nối với sông Môn, rồi chảy xuôi về làng Phú Địch, Đại Khê Các làng Ích Hạ, Phúc Tiên, Trọng Hậu cũng nằm kề một nhánh sông Mã chảy từ bến Tuần qua Tào Xuyên rồi đổ về sông Bút Trước khi hệ thống đê sông Mã được xây dựng kiên cố, hằng năm vùng đất Hoằng Quỳ đềuđược bồi đắp một lượng lớnphù sa từ dòng sông này
Sông Dọc là con sông cổ chảy qua địa phận làng Quỳ Chử Hiện nay, sông Dọc đã bị lấp chìm chỉ còn lại vết tích Nhiều đoạn sông Dọc cổ nay đã trở thành đồng ruộng, xóm làng
Tuy nhiên “những vết tích của sông vẫn còn, đó là thảm cát vàng chìm sâu trong lòng đất từ 0,4m đến 1m Thảm cát này rộng 30 - 40m ở rìa phía Tây làng Quỳ Chử Từ đây vết cát uốn lượn vòng theo hướng Tây Bắc qua làng Vĩnh (Hoằng Hợp), qua làng Cuội trên và nối vào một đoạn còn khá nguyên vẹn ven bìa làng Cuội dưới (xã Hoằng Hợp) Sau đó vết cát chảy về phía Tây qua Hoằng Giang, tới gần lưu vực sông Mã, sông Chu thì nhập vào sông Mã
Ở hướng Quỳ Chử, sông men theo hướng Nam - Đông Nam làng, chảy qua quốc lộ 1A, nối với sông Trà ở làng Phú Đích (xã Hoằng Khê) và đổ ra biển
Toàn bộ chiều dài của sông Dọc cổ ước tính khoảng 11km”[32; tr 179]
Cũng như các làng xã khu vực châu thổ Thanh Hóa, Xã Hoằng Quỳ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa với nền nhiệt độ cao Tuy có 4 mùa xuân, hạ, thu, đông, nhưng có hai mùa rõ rệt là mùa đông và mùa hè
Trang 27Nhìn chung, khí hậu ở Hoằng Quỳ thuận lợi cho sinh hoạt và các ngành sản xuất, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp, thâm canh cây lương thực, hoa màu
và chăn nuôi Đây là yếu tố tác động mạnh mẽ tới quá trình hình thành làng xã
và cộng đồng dân cư tại địa phương Tuy nhiên, bên cạnh những yếu tố thuận lợi, xã Hoằng Quỳ cũngphải chịu những ảnh hưởng không nhỏ từ điều kiện khắc nghiệt của tự nhiên Hằng năm, nhiều cơn bão đikèm mưa togió lớngây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản Sự khô nóng của gió Lào, lạnh và khô của gió bấc cũng tác động mạnh mẽ đến sản xuất và sinh hoạt của người dân
Như vậy, có thểkhẳng định, về mặt vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên thì vùngđấtHoằng Quỳ mang trong mình nhiều thuận lợi căn bản Vùng đất này có
vị trí địa lí đắc địa, lại có điều kiện tự nhiên, địa hình, đất đai, sông ngòi thuận lợi Vì vậy, cư dân Hoằng Quỳcó điều kiện tập trung phát triển sản xuất nông nghiệp, ổn định đời sống và xây dựngxóm làng, góp phần bồi đắp cho xãHoằng Quỳ thành vùng nông nghiệp trồng lúa với xómlàng trù mật
1.2 Quá trình hình thành vùng đất Hoằng Quỳ
1.2.1 Địa danh vùng đất Hoằng Quỳ trong lịch sử
Hoằng Quỳ là vùng đất cổ có lịch sử hình thành và phát triển hàngngàn năm Các nguồn sử liệu, địa danh và kết quả nghiên cứu khảo cổ học đã chứng
tỏ sựphát triển lâuđời vàliêntụccủacon ngườitrên vùngđấtnày
Dựa vào những cứ liệu địa chất, các nhà khoa học đã nhận định “tiến
trình hình thành đồng bằng Thanh Hóa nói chung và Hoằng Hóa nói riêng, trong đó có Hoằng Quỳ được bắt đầu từ kỷ Đệ Tứ do sự bồi đắp của hệ thống sông Mã mà thành”[33; tr 35-36] Do được định hình từ rất sớm, lại có sông
Dọc chảy qua, vùng đất Hoằng Quỳ đã thu hút những cư dân cổ có niên đại cách ngày nay trên dưới 3000 năm đến sinh sống
Những hiện vật thu được tại di chỉ khảo cổ Đồng Cáo(làng Quỳ Chử)hay các mảnh gốm thô sơ, đồng vụn, xương động vật với mật độ dày đặc trên một
số cánh đồng của làng Ích Hạ đều là những hiện vật cổ xưa xác nhận dấu vết
cư trú của con người tại vùng đất Hoằng Quỳ từ hàng ngàn năm trước Từ cuối thời kì văn hóa Bắc Sơn (sơ kì đá mới có niên đại cách ngày nay khoảng 10.000 đến 8.000 năm), từ các hang động ở miền núi phía Tây tỉnh Thanh Hóa con người đã tiến về đã tràn ra sinh sống ở vùng phía biển, tạo thành văn hóa Đa Bút mà các di vật, di tích còn để lại tại các địa điểm khảo cổ học Đa Bút (huyện Vĩnh Lộc), cồn Cổ Ngựa (huyện Hà Trung) Đến thời đại đồng thau, địa bàn
Trang 28hoạt động của con người ngày càng mở rộng; phạm vi cư trú đến vùng trung
du và đồng bằng Trong quá trình đó, họ đã đếntụ cư lâu dài tại Quỳ Chửvà sáng tạo nên nền văn hóa Quỳ Chử độc đáo, phản ánh giai đoạn phát triển của con người từ cuối thời đại đồng thau chuyển sang thời đại đồ sắt
Sau giai đoạn văn hóa Quỳ Chử, con người tại đây đã tràn ra sinh sống
khắp đôi bờ sông Dọc và cả vùng tả ngạn sông Mã Có thể khẳng định “người
Việt cổ ở Quỳ Chử đã góp phần tạo thành những quần thể cư dân quanh lưu vực sông Mã, cùng chung lưng đấu cật với dân cư cổ vùng sông Hồng, sông
Cả dựng nên nền văn minh Đông Sơn rực rỡ Chính những người Việt cổ ấy,
sau này có nhóm là tổ tiên trực tiếp sinh ra người Việt” [21; tr 21]
Bên cạnh đó, xét về mặt ngôn ngữ học, hầu hết tên gọi cổ của các làng
tại xã Hoằng Quỳ đều mang thành tố “Kẻ’’ Tên gọi “Kẻ” phân bố từ Bắc Bộ
đến Bắc Trung Bộ, tuy nhiên đậm đặc hơn cả vẫn là Bắc Bộ và Thanh Hóa
Hiện tại có nhiều cách cắt nghĩa tên “Kẻ”, có người cho rằng tên “Kẻ” bắt nguồn từ “quel” trong tiếng Mường mà sau này thành từ “Quê” trong tiếng
Việt Đó là Kẻ Tổ (làng Quỳ Chử), Kẻ Bái (làng Ích Hạ), Kẻ Trọng hay Kẻ Chọng gồm hai làng Trọng Hậu và Phúc Tiên Điều này cho thấy các làng của
xã Hoằng Quỳ đều được hình thành từ cách đây hàng ngàn năm
Như vậy, qua các nguồn tài liệu, đặc biệt là các hiện vật thu được tại di chỉ khảo cổ học Quỳ Chử, có thể khẳng định từ thuở bình minh của xã hội loài người thì vùng đất Hoằng Quỳ đã là địa bàn tụ cư của người Việt cổ Những chứng cứvăn hóa vật chất từ ngàn xưa còn lưu giữ cho đến ngày nay đã khẳng địnhHoằng Quỳ nằm trong vùng trung tâm làng cổ, được hình thành, phát triển
từ thời kỳ văn hoá tiền Đông Sơn, cách ngày nay hơn ba ngàn năm Các cư dân Việt cổ đã tràn xuống sinh sống tại Quỳ Chử, tiến hành khai phá vùng đất còn hoang sơ, lầy lội ven sông Mã thành những cánh đồng trù phú và tạo lập nên những tụ điểm dân cư đông đúc, sầm uất Đó là những cộng đồng dân cư đặt nền móng cho sự ra đời của nhà nước Văn Lang trong lịch sử dân tộc Việt
Đến khoảng thế kỷ VII-VI TCN (ở giai đoạn Đông Sơn), mặc dù trong
xã hội sự phân hóa giai cấp chưa thật sâu sắc nhưng do tác động mạnh mẽ của yêu cầu trị thủy và chống ngoại xâm đã thúc đẩy cho sự ra đời sớm của nhà nước Văn Lang Sự ra đời của nhà nước Văn Lang đã đánh dấu mốc mở đầu thời đại dựng nước và giữ nước đầu tiên của dân tộc Việt.Khi ra đời, nhà nước Văn Lang gồm 15 bộ, các làng xã của huyện Hoằng Hóa, trong đó có xã Hoằng
Trang 29Quỳ là đất thuộc bộ Cửu Chân Từ đó cho đến nay, vùng đất Hoằng Quỳ luôn gắn bó mật thiết với huyện Hoằng Hóa
Thời thuộc Hán, vùng đất Hoằng Hóa thuộc huyện Tư Phố Đời Tam quốc và Lưỡng Tấn, Hoằng Hóa là đất của huyện Kiến Sơ rồi Cao An Đến đời Đường, vùng đất Hoằng Hóa thuộc huyện Sùng An, sau đó là Sùng Bình
Thời Ngô, Đinh, Tiền Lê, huyện Hoằng Hóa được gọi là giáp Cổ Hoằng nằm trong vùng đất Ái Châu Vùng đất Hoằng Quỳ thuộc giáp Cổ Hoằng
Thời Lí giáp Cổ Hoằng đổi thành giáp Cổ Đằng, thuộc phủ Thanh Hóa Vùng đất Hoằng Quỳ thuộc giáp Cổ Đằng, phủ Thanh Hóa
Năm 1225, sau khi lên thay nhà Lí, nhà Trần đổi lộ, châu làm phủ, có một thời gian gọi lộ, phủ là trại, sau đó lại đổi về lộ Đất Hoằng Hóa đổi từ giáp
Cổ Đằng thành huyện Cổ Đằng Năm Quang Thái thứ 10 (1397), Hồ Quý Ly làm Phụ chính Thái sư, đổi các phủ lộ thành trấn Đổi lộ Thanh Hóa làm trấn Thanh Đô Giáp Cổ Đằng đổi thành huyện Cổ Linh thuộc trấn Thanh Đô.Thời thuộc Minh, lại gọi là huyện Cổ Đằng
Đến thời Lê Thánh Tông, niên hiệu Quang Thuận thứ 10 (1469) phủ Thanh Hóa đổi thành Thanh Hoa thừa tuyên cai quản 4 phủ, 16 huyện và 4 châu Huyện Cổ Đằng đổi thành huyện Hoằng Hóa thuộc phủ Hà Trung Từ đây cho đến cuối thế kỉ XVIII, xã Hoằng Quỳ thuộc huyện Hoằng Hóa, phủ Hà Trung, nội trấn Thanh Hoa
Đến đầu thế kỉ XIX, huyện Hoằng Hóa thuộc phủ Hà Trung, nội trấn Thanh Hoa Lúc này, huyện Hoằng Hóa có 7 tổng: Lỗ Đô, Dương Sơn, Từ Minh, Bái Cầu, Hành Vĩ, Bút Sơn, Kim Xuyết với 161 xã, thôn, trang, sở.Các làng của
xã Hoằng Quỳ thuộc tổng Lỗ Đô, phủ Hà Trung, trấn Thanh Hoa[65; tr 107]
Từ năm Minh Mệnh 19 (1838), huyện Mỹ Hoá thành lập (gồm tổng Đại
Lý của huyện Hậu Lôc và hai tổng Lổ Hương, Hương Sơn của huyện Hoằng Hoá) Lúc này, huyện Mỹ Hóa gồm 4 tổng: Lổ Dương, Dương Thuỷ, Dương Sơn
và Đại Lý Từ 1838-1889, xã Hoằng Quỳ thuộc tổng Dương Thuỷ, huyện Mỹ Hoá
Từ 1889 đến tháng 8/1945, huyện Hoằng Hóa có 8 tổng Đó là: Hành Vĩ, Bái Trạch, Từ Minh, Bút Sơn, Ngọc Chuế, Dương Thủy, Lỗ Hương và Dương Sơn với 169 xã, thôn Xã Hoằng Quỳ thuộc tổng Dương Thuỷ, huyện Hoằng Hoá
Trang 30Sau Cách mạng tháng Tám 1945, huyện Hoằng Hóa vẫn gồm 8 tổng, và nhập thêm một làng của huyện Hậu Lộc Đó là làng Trung Hòa vào xã Hoằng Trinh Các làng của xã Hoằng Quỳ thuộc tổng Dương Thủy, huyện Hoằng Hóa
Năm 1953, xã Hoằng Quỳ được thành lập với 5 thôn: Phúc Tiên, Trọng Hậu, Ích Hạ, Quỳ Chử và Đông Khê.Đến nay, huyện Hoằng Hóa gồm 43 xã và
1 thị trấn Xã Hoằng Quỳ là một trong 43 xã, thị trấn của huyện Hoằng Hóa
Như vậy, các chứng cứ vật chấtđược phát hiện tại các di chỉ khảo cổ học trên vùng đất Hoằng Quỳ làminh chứng rõ nét chứng tỏ con người đã làm chủ mảnh đất Hoằng Quỳtừ xa xưa Đồng thời, khẳng định người Việt cổ đã đến đây, chọn vùng đất này là nơi cư trú để lậpnên cácxóm làng nổi tiếng của xứ Thanh Trải qua thời gian dài của lịch sử, mặc dù địa giới hành chính, danh xưng có sự thay đổi nhưng các làng xã Hoằng Quỳ vẫn là vùng đất gắn bó cùng với các bước phát triển thăng trầm của lịch sử huyện Hoằng Hóa, nơi chứng kiến những bước
đi sơ khai của con người
1.2.2 Nguồn gốc dân cư và sự hình thành làng xã
Làng xã“là một cộng đồng có tính chất dân tộc học, xã hội học và tín
ngưỡng Nó hình thành trong quá trình liên hiệp tự nguyện giữa người dân lao
động trên con đường chinh phục những vùng đất gieo trồng”[66; tr 11]
Hoằng Quỳ là vùng đất cổ có lịch sử hình thành và phát triển hàng ngàn năm Trong đó, lịch sử hình thành vùng đấtHoằng Quỳ gắn liền với lịch sử hình thành các làng cổ ở vùng đồng bằng hạ lưu sông Mã Căn cứ vào tên gọivà những hiện vật còn được lưu giữ đã minh chứng rõ nét cho sự có mặt của các làng cổ trên vùng đất này.Trải qua quá trình thay đổi địa giới và sáp nhập các đơn vị hành chính, hiện nay, xã Hoằng Quỳ gồm 5 làng: Quỳ Chử, Phúc Tiên, Ích Hạ, Đông Khê, Trọng Hậu
* Làng Quỳ Chử
Trong số các làng cổ ở xứ Thanh, làng Quỳ Chử (Kẻ Tổ) là vùng đất giàu truyền thống lịch sử, văn hoá và cách mạng Làng Quỳ Chử nằm ở phía Tây của huyện Hoằng Hoá, thuộc tả ngạn sông Mã Phía đông làng Quỳ Chửgiáp làng Đông Khê Phía tây giáp làng An Phú (xã Hoằng Hợp) Phía nam giáp làng Ích
Hạ Phía bắc giáp xã Hoằng Phú, Hoằng Kim Làng cách trung tâm huỵên khoảng 8km về phía đông, cách thành phố Thanh Hoá khoảng 10km về phía bắc
Làng Quỳ Chửcó lịch sử hình thành lâu đời, được xác định là vào khoảng thế kỷ II TCN Đây là địa bàn người Việt cổ đến định cư đầu tiên trên đất Hoằng Hoá và phát triển thành vùng đồng bằng Hoằng Hoá rộng lớn như ngày nay
Trang 31Thời Văn Lang - Âu Lạc, làng Quỳ Chửthuộc bộ Cửu Chân Thời Hán thuộc huyện Từ Phố Thời Nam Bắc triều thuộc Kiến Sơ rồi Cao An Thời Tuỳ thuộc huyện Long An Thời Đường thuộc huyện Sùng An, Sùng Bình
Thời Ngô, Đinh, Tiền Lê (thế kỷ X) làng có tên là Tổ Cá Phường, thuộc giáp Cổ Đằng Thời Trần thuộc huyện Cổ Đằng Từ năm 1397 thuộc huyện Cổ Linh Thời thuộc Minh lại thuộc huyện Cổ Đằng Thời Lê sơ, làng đổi tên thành
“Quỳ Chử” Việc đổi tên này gắn liền với truyền thuyết Bà Lão Quỳ Chử trong
cuộc khởi nghĩa chống Minh của Lê Lợi Đến năm Quang Thuận thứ 10 (1469) huyện Cổ Đằng được đổi thành huyện Hoằng Hoá thuộc phủ Hà Trung Làng Quỳ Chử thuộc huyện Hoằng Hóa, phủ Hà Trung
Theo sách Lịch triều hiến chương loại chí, làng Quỳ Chử xuất hiện với
tên gọi hành chính cấp xã từ năm Hoàng Định thứ 8 (1607) Như vậy danh xưng Quỳ Chử xuất hiện từ năm 1428, sau đó phát triển lên thành xã Quỳ Chử Lúc này xã Quỳ Chửgồm 3 thôn: thôn Đông, thôn Trung, thôn Thịnh Mỹ, thuộc tổng
Lỗ Đô, huyện Hoằng Hoá, phủ Hà Trung, nội trấn Thanh Hoá
Từ năm Minh Mệnh 19 (1838), huyện Mỹ Hoá được thành lập Từ
1838-1889, làng Quỳ Chử thuộc tổng Dương Thuỷ, huyện Mỹ Hoá
Năm 1889 bỏ huyện Mỹ Hoá, tổng Đại Lý được trả lại cho Hậu Lộc thì địa giới Hoằng Hoá ổn định cho tới ngày nay Từ 1889 cho đến tháng Tám năm
1945, xã Quỳ Chử thuộc tổng Dương Thuỷ, huyện Hoằng Hoá Lúc này, xã Quỳ Chử có 4 thôn: thôn Thịnh Mỹ, thôn Đông, thôn Trung và Đông Khê Sau ngày 6-1-1946, xã Quỳ Chử chia thành hai làng: Quỳ Chử và Đông Khê
Tháng 10/1953, xã Hoằng Quỳ được thành lập Từ đó cho đến nay làng Quỳ Chử thuộc xã Hoằng Quỳ, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Quá trình hình thành làng Quỳ Chử gắn liền với quá trình tụ cư của các dòng họ khác nhau trên cả nước đến đây sinh cơ lập nghiệp Ở làng Quỳ Chử
từ buổi khai sơn lập địa cho đến nay đã có nhiều dòng họ đến định cư sinh sống, cùng nhau đoàn kết chống thiên tai, bão lũ và xây dựng xóm làng.Tuy nhiên,
do sự biến thiên của lịch sửnên không tránh khỏi sự chuyển dịch của các dòng
họ, có họ đến từ buổi đầu nay còn hay di rời nơi khác cũng không rõ Chỉ biết rằng hiện nay ở Quỳ Chửcó 54 dòng họ cùng sinh sống Trong đócó các dòng
họ chiếm phần lớn cư dân trong làng như họ Nguyễn Đình, Lê Đình, Lê Sỹ, Lê Văn…Ngoài ra còn có nhiều dòng họ khác nhưLê Bá, Nguyễn, Vũ, Trịnh,
Trang 32Nguyễn Bá, Lê Huy, Lê Đặng, Lê Nhã, Lê Đắc, Lý, Đỗ, Hoàng Mặc dù thời điểm đến đất Quỳ Chử lập nghiệp của các dòng họ có khác nhau nhưng các họ đều sống hòa thuận, đoàn kết, cùng chung lưng đấu cật để ổn định sản xuất và tạo dựng xóm làng, góp phần bồi đắp cho làng Quỳ Chử trở thành làng quê tiêu biểu của xứ Thanh
* Làng Đông Khê
Làng Đông Khê, xã Hoằng Quỳ cách thành phố Thanh Hóa 12km về phía Bắc, nằm cạnh quốc lộ 1A và tuyến đường sắt xuyên Việt Theo nguồn tài liệu được biết làng Đông Khêhình thành vào khoảng thế kỷ XVI, do hai ông Lưu Bá Linh, vợ là bà Lê Thị Thuận và ông Đoàn Nhân Cảnh đến sinh cơ lập nghiệp, đời vua Lê Anh Tông (1557-1573)[12; tr 131].Vì vậy hai ông Lưu Bá Linh và Đoàn Nhân Cảnh được dân làng tôn làm Thành hoàng Không bao lâu sau khi họ Lưu,
họ Đoàn đến đâu sinh sống lập nghiệp, đến đầu thế kỉ XVII, Đông Khê đã là mảnh đất sinh dưỡng nên Lưu Đình Chất, Đoàn Tất Đạt Hai vị đều là văn quan, võ tướng nổi tiếng của triều Lê - Trịnh
Theo các cụ cao niên trong làng, xưa kia làng Đông Khê được gọi là Đông Khu điếm thuộc trang Phú Trừng (tức làng Phú Khê)
Đầu thế kỷ XIX thôn Đông Khê xuất hiện trong địa danh đơn vị hành chính Lúc này, thôn Đông Khê thuộc xã Cẩm La, tổng Lỗ Đô, huyện Hoằng
Hóa, phủ Hà Trung[65; tr257]
Từ 1889 đến trước Cách mạng tháng Tám 1945, làng Đông Khê trở thành một bộ phận củaxã Quỳ Chử Lúc này, làng Đông Khê được chia thành ba xóm: Xóm Đình, xóm Giữa, xóm Bến
Sau ngày 6-1-1946, xã Quỳ Chửđược thành lập Theo đó, làng Đông Khê thuộc xã Quỳ Chử, được chia thành hai xóm Thanh Khê và Hoằng Khê
Năm 1953, xã Hoằng Quỳ được thành lập, lúc này toàn bộ xã Quỳ Chử sáp nhậpvào xã Hoằng Quỳ Thôn Đông Khê thuộc xã Hoằng Quỳ, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóatừ năm 1953 cho đến nay
Hiện nay, làng Đông Khê có các dòng họLưu Đình, Đoàn Tất, Đoàn Lê, Đoàn Hữu, Trịnh, Hoàng, Nguyễn Văn, Nguyễn Trương, Lê Danh, Lê Quốc,
Hà, Đỗ cùng chung sống để xây dựng quê hương, phát triển làng xã.Bằng truyền thống lao động cần cù, chịu thương chịu khó, lớp lớp các thế hệ cộng đồng cư dân làng Đông Khê đã chung sức đồng lòngtạo dựng nên xóm làng đông vui, đoàn kết, và cùng nhaugìn giữ truyền thống văn hóa tốt đẹp của cha ông
Trang 33* Làng Ích Hạ
Cùng với làng Quỳ Chử, làng Ích Hạlà địa bàn sinh sống của người Việt
cổ thuộc giai đoạn cuối của thời đại đồng thau Xưa kia, làng Ích Hạ vốn là một phần của làng Bái Cầu, gồm làng Bái Thượng (Đức Giáo)và Bái Hạ (Ích Hạ) Đầu thế kỉ XIX, tên làng Ích Hạ chưa xuất hiện.Đến năm 1885, đời vua Đồng Khánh làng mới có tên là Ích Hạ Lúc này, làng được chia thành 4 xóm; xóm Đình, xóm ngoài (hay xóm Hà), xóm giữa, xóm Lũy Làng Ích Hạ được xemlà vùng quê với cảnh sắc khá điển hình của một làng cổ vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam
Với vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên thuận lợi, đất đai trù phú, từ xa xưa, làng Ích Hạ đã trở thành điểm tụ cư lập nghiệp của nhiều dòng họ Gia phả dòng họ Trịnh ghi rõ, vào đầu thế kỷ XVII, ông Trịnh Long là cháu đời thứ 5 của Minh Khang Thái Vương Trịnh Kiểm sinh được bảy người con trai, trong
đó các ông Trịnh Đàn, Trịnh Ý, Trịnh Huyền đến cư trú tại làng Ích Hạ Tiếp
đó họ Đào, họ Nguyễn từ Ninh Bình cũng tụ cư tại đây vào thế kỷ XIX Đến đầu thế kỷ XX, dòng họ Vương tới Ích Hạ nhập cư Bên cạnh các dòng họ nêu trên, hiện nay tại làng Ích Hạ còn có một số dòng họ khác như họ Lê Viết, Lê Văn, Lê Trọng Tuy nhiên, chưa tìm thấy nguồn tài liệughi chép về thời điểm
và quá trình tụ cư của các dòng họ này tại làng Ích Hạ
Mặc dù thời điểm đến đất Ích Hạ lập nghiệp của các dòng họ có khác nhau nhưng tất cả các dòng họ đều đã có những đóng góp chung cho quá trình hình thành làng xã Cộng đồng các dòng họ, thế hệ cư dân Ích Hạ đã góp phần xây dựng nên truyền thống lịch sử, văn hóa đặc sắc cho vùng đất châu thổ sông Mã
* Làng Phúc Tiên
Hiện chưa tìm thấy nguồn tài liệu thành văn ghi chép về lịch sử hình thàng làng Phúc Tiên Chỉ biết đếnđầu thế kỷ XIX, vùng đất này thuộc xã Quỳ Chử, tổng Lỗ Đô, huyện Hoằng Hóa, phủ Hà Trung, trấn Thanh Hoa [65; tr 113] Từ đó cho đến trước Cách mạng tháng Tám 1945, làng Phúc Tiên thuộc tổng Dương Thủy, huyện Hoằng Hóa
Thực chất làng Phúc Tiên là địa danh mới của làng Thượng Thọ, xã Trì Trọng, tổng Lỗ Đô, huyện Hoằng Hóa, phủ Hà Trung đầu thế kỷ XIX [65; tr 569] Việc đổi tên làng từ Thượng Thọ sang Phúc Tiên diễn ra sau khi cuộc khởi nghĩa Ba Đình thất bại Vì làng Thượng Thọ thuộc xã Trì Trọng trùng tên
Trang 34làng Thượng Thọ thuộc huyện Nga Sơn nên để tránh sự đàn áp của thực dân Pháp, làng đã đổi tên từ Thượng Thọ thành Phúc Tiên Làng Phúc Tiên cùng làng Trọng Hậu đều thuộc xã Trì Trọng (Kẻ Trọng và kẻ Chọng) cho đến trước Cách mạng tháng Tám 1945 [21; tr38]
Sau Cách mạng tháng Tám 1945, các phủ, tổng bị bãi bỏ, thành lập chính quyền các xã Huyện Hoằng Hóa lúc này thành lập các xã lớn, làng Phúc Tiên thuộc xã Quỳ Chử Năm 1953, huyện Hoằng Hóa chia thành 47 xã và 1 thị trấn, làng Phúc Tiên là một trong 5 làng (Quỳ Chử, Ích Hạ, Trọng Hậu, Đông Khê, Phúc Tiên) của xã Hoằng Quỳ
Hiện nay, làng Phúc Tiên có 15 dòng họ cùng sinh sống Đó là họ Lê Văn, họ Lê Đăng, họ Trần, họ Lê Ngọc, họ Nguyễn Quang, họ Lê Phi, họ Lê Phụng, họ Vũ Ngọc, họ Lê Đình, họ Phan, họ Đặng, họ Lê Đình, họ Chế Văn,
họ Nguyễn Hữu và họ Vũ Khánh Nghề nghiệp chính của cư dân Phúc Tiên là trồng trọt, chăn nuôi, (trước đây còn có nghề dệt vải) Nhân dân làng Phúc Tiên sống đôn hậu, thủy chung, đoàn kết tương thân, tương ái, cùng chung lưng đấu cật xây dựng xóm làng và tạo dựng nên nhiều công trình văn hóa có giá trị Tiêu biểu là đình làng Phúc Tiên Di tích này đã cùng với những di tích lịch sử- văn hóa khác của xã Hoằng Quỳ góp phần tạo dựng cho nơi đây một quần thể
di tích phong phú, đa dạng và đặc biệt có giá trị
Theo văn tế của làng, những dòng họ đầu tiên đến vùng đất Trọng Hậu sinh sống gồm có họ Đào, họ Ngô và họ Phan, nhưng không cho biết thời điểm
ba dòng họ ấy đến đây tụ cư Sau đó họ Lê Nhân từ Kinh Bắc đến; họ Lê Văn
từ Ninh Bình đến; họ Nguyễn Văn từ Quảng Xương; họ Lê Như đến từ Thiệu Hóa; họ Nguyễn từ Nghệ An ra Đến đầu thập kỷ 60 của thế kỷ XX, ba dòng
họ Đào, Ngô, Phan không còn cư trú ở làng Hiện nay, làng Trọng Hậu có 16
Trang 35dòng họ, trong đó, họ Lê Nhân và họ Nguyễn đã cư trú tại đây khoảng 15-16 đời, có 1 họ 10 đời, 5 họ 9 đời Cư dân tại đây chủ yếu là làm nông nghiệp, chăn nuôi gia súc, gia cầm, kinh tế ổn định Họ đã cùng nhau đoàn kết khai phá, cải tạo tự nhiên để ổn định đời sống, phát triển sản xuất và chung tay xây dựng nên một hệ thống di sản văn hóa có giá trị cho vùng đất Trọng Hậu nói riêng
và xã Hoằng Quỳ nói chung [21; tr143]
Như vậy, quá trình hình thành vùng đất Hoằng Quỳdiễn ra cánh đây hàng ngàn năm Quá trình này gắn liền với sự hình thành của nền văn hóa Quỳ Chử
và các làng cổ ở xứ Thanh Trong đó, nền văn hoá Quỳ Chử được xem là buổi bình mình của lịch sử xã Hoằng Quỳ Đây là giai đoạn phát triển cuối cùng của thời đại đồng thau ở xứ Thanh và là thời kì phát triển rực rỡ của nền văn hóa Đông Sơn Làng Quỳ Chửchính là địa bàn xuất hiện người Việt cổ, cư dân đầu tiên của Hoằng Quỳ.Trong quá trình sinh tồn, người Việt Cổ tại Quỳ Chử đã góp phần tạo nên những quần thể cư dân quanh lưu vực sông Mã,từ đó làm nên nền văn minh Đông Sơn Trên mảnh đất này họ đã định cư lâu dài, chung sức đấu tranh bảo vệ xóm làng, tạo ra những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần phong phú
1.3 Truyền thống lịch sử - văn hóa
1.3.1 Trong lao động sản xuất
Nằm ở phía Tây của huyện Hoằng Hóa, vùng đất Hoằng Quỳ là một trong những địa bàn tụ cư lâu đời của người Việt Trải qua các bước phát triểnthăng trầm của lịch sử, đất và người nơi đây đã sáng tạo nên hệ thống giá trị văn hóa vật chất và tinh thần đặc sắc Trong đónổi bật là truyền thống cần cù, chịu thương, chịu khó trong lao động sản xuất
Ngay từ thuở sơ khai mở đất lập làng, cộng đồng cư dân Hoằng Quỳ bằng tinh thần lao động hăng say và trí thông minh đã biết dựa vào thuận lợi của điều kiện tự nhiên, khắc phục khó khăn, chung sức đồng lòng khai khẩn đất đai,biến vùng đất hoang vu, lầy lội ven sông Mã trở thành vùng đồng bằng phì nhiêu với ngành nông nghiệp trồng lúa là chủ đạo và nhiều ngành nghề truyền thống khác Xã Hoằng Quỳ trở thành địa phương giàu kinh nghiệm trong gieo trồng cây lúa và các loại hoa màu Hiện trên vùng đất Hoằng Quỳ còn lưu truyền câu ca dao:
Trang 36Đồn rằng Kẻ Trọng lắm cau
Kẻ Cát lắm mía, Kẻ Mau lắm tiền
Trên đất Hoằng Quỳ hiện vẫn còn nhiều địa danh cổ của các xứ đồng mà
cư dân nơi đây đã khai phá được đó là cồn Mả Voi, Mả Hệ, Mả Cáo, Mả Kẻ, Nước Mò, Đù Đù, Ngũ Hảo, Sâng, Bưởi, Tép, Đồng Bái, Đồng Dồn [32; tr 179] Đặc biệt, việc phát hiện ra các công cụ sản xuất, vật dụng bằng gốm và bằng đồng trong đợt khai quật (tháng 3-1978) tại di tích khảo cổ học Quỳ Chử như quả cân gốm, nồi, chạc, dọi xe chỉ, rìu xéo, giáo, lao đều là những minh chứng hùng hồn, sống động cho quá trình lao động sáng tạocủa con người trong quá trình tụ cư trên vùng đất này
Đóng góp vào truyền thống lao động sản xuất của vùng đất Hoằng Quỳ còn có các nghề thủ công truyền thống Mặc dù xem nông nghiệp là gốc nhưng
cư dân Hoằng Quỳ vẫn chú trọng phát triển thủ công nghiệp, xem đây là nghề
bổ trợ cho nông nghiệp để tăng thu nhập lúc nông nhàn Vì vậy, hoạt động thủ công nghiệp đã có điều kiện phát triển và trở thành nét đặc trưng gắn liền với truyền thống lao động cần cù, đảm đang của cộng đồng cư dân nơi đây.Vùng đất này nổi tiếng gần xa với nghề làm hương Tết ở làng Đông Khê, nghề dệt vải, kéo sợiở làng Quỳ Chử Bằng bàn tay tài hoa, khéo léo và sự chịu thương chịu khó, cư dân Hoằng Quỳ đã tạo nên thương hiệu riêng cho vải Tổcủa làng
Ca dao, tục ngữ ở Hoàng Quỳ cho biết:
Từ xưa Quỳ Chử quê ta Vải thô Kẻ Tổ đậm đà bền lâu
Hay:
Lại còn dệt vải nghề chi đọ bằng Vải ra tấm, đượng điệp trùng
Áo quần lành lặn lại còn bán ra
Truyền thống lao động sản xuất của người Hoằng Quỳcòn được ghi nhận đậm nét bởi tư duy sáng tạo và bàn tay tài hoa của người nghệ nhân đã xây dựng trên quê hươngmột quần thể kiến trúc đình làng, đền thờ, nhà thờ cổ kính Tiêu biểu là đình làng Đông Khê, Quỳ Chử, Trọng Hậu, Phúc Tiên, Ích Hạ; đền
Lê Phụng Hiểu, đền Đức Thánh Mẫu, nhà thờ họ Nguyễn Đình, nhà thờ họ Trần, nhà thờ họ Lưu
Trang 37Như vậy, trong quá trình sinh tồn và phát triển, cộng đồng cư dân Hoằng Quỳ đã chung tay nỗ lựccải tạo tự nhiên, chọn hướng sản xuất phù hợp để ổn định đời sống cũng như gắn kết tinh thần làng xã Hiện nay, trải qua biến động thăng trầm của lịch sử, những truyền thống tốt đẹp trong lao động sản xuất của
cư dân Hoằng Quỳ vẫn luôn được gìn giữ, phát huy và có nhiều đóng góp to lớn trong sự nghiệp đổi mới đất nước, xây dựng quê hương giàu mạnh
1.3.2.Trong chiến đấu, chống giặc ngoại xâm
Là một vùng quê trù phú nằm trên đường thiên lí Bắc - Nam, lịch sử xã Hoằng Quỳghi đậm dấu ấn của lịch sử dân tộc.Trải qua quá trình phát triển hàng ngàn năm, cộng đồng cư dân nơi đây đã hun đúc nên truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm, góp phần làm vẻ vang cho mảnh đất Hoằng Quỳ nói riêng
và xứ Thanh nói chung
Trong suốt hơn một nghìnnăm Bắc thuộc, nhân dân Hoằng Quỳ đã không ngừng vươn lên cùng với nhân dân Thanh Hoá kiên trì đấu tranh chống âm mưu đồng hoá của kẻ thù phương Bắc.Hẳn nhiều cư dân Hoằng Quỳ đã có mặt trong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng ở thế kỉ I (năm 43) khi tướng Đô Dương mang lực lượng vào Thanh Hóa để xây dựng căn cứ Hoàng Sơn (huyện Nông Cống) Trong cuộc khởi nghĩa Bà Triệu, cộng đồng cư dân Hoằng Quỳ đã hết lòng ủng
hộ nghĩa quân đánh đuổi giặc Ngô ở làng Bồ Điền (huyện Hậu Lộc) Đến nay,
ở Quỳ Chử vẫn còn lưu truyền câu ca:
Phường ta, phường Tổ, tổ tiên Nuôi quân Bà Triệu đã quen từng ngày
Voi ngựa trú ở mả này
Mỗi khi xung trận đánh rày quân Ngô
Đến thế kỷ X, Ngô Quyền từ vùng đất hạ lưu sông Mã, sông Chu đã tiến
ra Bắc tiêu diệt quân Nam Hán, giành lại nềnđộc lập, tự chủ cho đất nước Đây
là mốc son chói lọi của lịch sử dân tộc, đánh dấu kết thúc hơn một nghìn năm Bắc thuộc Trong chiến thắng lẫy lừng ấy, cư dân mảnh đất Hoằng Quỳ đã đóng góp một phần sức lực không nhỏ để góp phần xây dựng nền độc lập, tự chủ lâu dài cho dân tộc
Trang 38Dưới thời Lí, vùng đất Hoằng Hóa là nơi các vị hoàng đế dẫn quân đi chinh phạt giặc ngoại xâm phương Nam.Trong mỗi bước đi đó đều in đậm dấu chân của binh tướng Hoằng Quỳ nói riêng và Hoằng Hóa nói chung
Đến thời Trần, trong những năm chống ngoại xâm phương Bắc và giặc phương Nam diễn ra, cửa Lạch Trường là nơi đọ chiến quyết liệt giữa thủy quân triều đình với thủy quân của địch Nhiều làng của xã Hoằng Quỳ đã nhanh chóng đóng bè mảng, chặt cây vót nhọn để giúp đỡ nhà vua đánh giặc
Trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, qua mười năm nếm mật nằm gai cho đến ngày toàn thắng, Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn đã được nhân dân hết lòng ủng hộ, không ít những chiến sỹ vô danh của Hoằng Hoá nói chung, Quỳ Chửnói riêng đã có mặt trong đoàn quân cứu nước ấy Nhiều giai thoại, truyện
kể, truyền thuyết tại địa phương đã phản ánh sinh động lòng yêu nước, tấm lòng
hy sinh vì độc lập, tự do cho đất nước của người Hoằng Quỳ.Tiêu biểu là câu
truyện Bà Lão Quỳ Chử
Trong những năm Lê - Mạc phân tranh, vùng đất Hoằng Hoá có nhiều người đã đứng lên phò Lê diệt Mạc Họ là con cháu của các cựu thần nhà Lê,
đã ra sức tôn phò nhà Lê dù phải chịu bao hy sinh mất mát Tiêu biểu là cụ Nguyễn Đình Hội làng Quỳ Chử Ông đã có công lớn trong cuộc chiến đánh bại nhà Mạc để lập nên triều Lê Trung Hưng, là bậc tôn thần cao quý thượng thượng đẳng, trung trật khắc tĩnh, hiệu Lãng Thắng Sơn Khi mất ông được sắc
phong “Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu thượng tướng quân cẩm y vệ đô chỉ
huy sứ phù nghĩa hầu”[26; tr 9]
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, nhân dân Hoằng Quỳđồng lòng đứng lên đánh giặc, giữ nước.Khi phong trào Cần vương bùng
nổ, cộng đồng cư dân Hoằng Quỳ đã tích cực tham gia các đội nghĩa quân chống Pháp Làng Quỳ Chử trở thànhtrọng điểm hậu cần, cung cấp lương thực, thực phẩm cho nghĩa quân trong vùng Trong đó, tiêu biểu là tấm gương bà Lê
Thị Nhugiàu nghĩa khí của phụ nữ Việt Nam với tinh thần“giặc đến nhà đàn
bà cũng đánh” Bà đã đóng góp toàn bộ tài sản của mìnhcho nghĩa quân và trực
tiếp phụ trách hoạt động hậu cần trong cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp tàn bạo [42; tr 130]
Tại làng Đông Khê, ông Trịnh Biếc (còn có tên là Trịnh Quát)đã thành lập một đội nghĩa quân chống thực dân Pháp khoảng 50 người Ôngđược các nhà
Trang 39lãnh đạo khởi nghĩa Ba Đình phong làm vệ uý Nghĩa quân của ông hoạt động ở vùng ngoại vi, hỗ trợ cho cử điểm Ba Đình Trong một trận giao chiến với địch tại làng Cẩm Lũ, ông Trịnh Biếc bị bắtvà bị toà án Nam triều kết án tử hình Nhưng sau đó, giảm án xuống mức quản thúc tại quê nhà trong ba năm Mặc dù nhanh chóng bị đàn áp nhưng hoạt động của các đội nghĩa quân làng Quỳ Chử
và Đông Khêđã chứng tỏ tinh thần yêu nước nồng nàn của đất và người nơi đây,
là minh chứng tô đậm thêm cho bức tranh toàn dân chống Pháptrên toàn cõi Việt Nam
Truyền thống yêu nước của cư dân Hoằng Quỳ lại tiếp tục được phát huy cao độ trong thời kỳ có Đảng lãnh đạo Dưới ngọn cờ của Đảng, nhân dân Hoằng Quỳ đã tích cực tham gia phong trào đấu tranh 1930 - 1931, phong trào dân chủ
1936 - 1939 và trực tiếp chuẩn bị cho cuộc vận động giải phóng dân tộc 1939 -
1945 Nhân dân Hoằng Quỳ đã cùng nhân dân cảnước làm nên thắng lợi Cách mạng tháng Tám 1945 lịch sử, mở ra kỉ nguyên mới của lịch sử dân tộc Việt
Nam.Đó là thắng lợi của tinh thần “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”, đưa tới
nguồn lực mới trong xây dựng chế độ dân chủ cộng hoà và bảo vệ thành quả cách mạng
Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng cộng sản Việt Nam, truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm của nhân dân xã Hoằng Quỳ lại tiếp tục được phát huytrong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1946 - 1954) và đế quốc Mĩ
Suốt chín năm chống Pháp, Đảng bộ và nhân dân xã Hoằng Quỳ đã có những đóng góp xứng đáng cho tiền tuyến, phát huy tinh thần yêu nước và truyền thống lao động cần cù tạo ra một phong trào cách mạng sôi nổi, vừa xây dựng hậu phương, vừa chi viện cho chiến trường, góp phần cùng nhân dân cả nước đánh thắng thực dân Pháp quay trở lại xâm lược
Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, Đảng bộ và nhân dân Hoằng Quỳ đã nối tiếp nhau thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ to lớn Nhân dân Hoằng Quỳ hoàn thành cải cách ruộng đất, vừa tiến hành sản xuất vừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại để đóng góp sức người, sức của cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Toàn xã tiễn 782 thanh niên lên đường nhập ngũ, 186 thanh niên xung phong, 36 dân công hoả tuyến ở Quảng Trị, 49
Trang 40dân công thổ hoả tuyến Hàng năm, xã Hoằng Quỳ đóng góp 277 tấn lương thực, 7 tấn lạc, 39 tấn thực phẩm các loại, 1/3 số hộ trong xã cho mượn nhà để làm kho chứa đạn dược, lương thực [21; tr 322].Như vậy, trong 21 năm kháng chiến chống Mĩ, nhiều con emHoằng Quỳ đã nêu cao gương sáng vì nước quên thân, góp phần hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước, đưa cả nước bước vào
kỉ nguyên độc lập, tự do và tiến lên chủ nghĩa xã hội
Có thể khẳng định, cùng với nhân dân cả nước, bằng lòng yêu nước nồng nàn và tinh thần đấu tranh chống giặc ngoại xâm mạnh mẽ, cư dân Hoằng Quỳ
đã có nhiều đóng góp to lớn cho các thắng lợi vĩ đại của dân tộc Với những thành tích xuất sắc đó, xã Hoằng Quỳ đã được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân theo Quyết định ngày 11-6-1999
Hiện nay, kế thừa và phát huy truyền thống yêu nước được hun đúc từ hàng ngàn năm lịch sử, Đảng bộ xã Hoằng Quỳ và nhân dân địa phương phấn đấugiành thắng lợi trong những chặng đường cách mạng tiếp theo
1.3.3 Trong giáo dục - khoa cử
Gắn liền với truyền thống cần cù, chịu thương chịu khó trong lao động sản xuất và yêu nước chống giặc ngoại xâm là truyền thống hiếu học của cư dân Hoằng Quỳ Cùng với các xã khác của huyện Hoằng Hóa như Hoằng Quang, Hoằng Lộc , xã Hoằng Quỳ trở thành vùng đất cónhiều vị đại khoa, trung khoa được lưu danh sử sách Chính thành tựu khoa cử của xã Hoằng Quỳ
đã góp phần bồi đắp cho huyện Hoằng Hóa trở thành “cái rốn khoa bảng”,
“đất học” của xứ Thanh Vì vậy, ngạn ngữ Thanh Hóa có câu“Thi Hoằng Hóa, khóa Đông Sơn” hay như nhà sử học Phan Huy Chú đã từng nhận xét “Huyện Hoằng Hóa thường có nhiều văn nho, đỗ đạt rất nhiều”[19; tr 44]
Trong lịch sử khoa cử Hán học, xã Hoằng Quỳ đã có 2 vị đỗ Đại khoa
và 27 vị đỗ Trung khoa Khắp các thôn, làng thuộc vùng đất Hoằng Quỳ đều sinh thành nên nhiều văn quan, võ tướng được lưu danh sử sách
Sách Hoằng Hóa phong vậtcho biết Nguyễn Thụy, người Trì Trọng
(thuộc dòng họ Nguyễn Hiền, làng Trọng Hậu) lúc 14 tuổi đi bộ nhanh như bay, võ nghệ vô địch Ông bắt đầu sự nghiệp từ quân ngũ, lập nhiều công tích