Hiện nay trên địa bàn thành phố Việt Trì có 150 DTLS- VH, 14 di tích cấp quốc gia, 50 di tích khảo cổ thời kỳ tiền Hùng Vương và Hùng Vương, trong đó tiêu biểu là Đền Hùng- di tích lịch
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ BÍCH VIÊN
QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA
Trang 2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ BÍCH VIÊN
QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ
Chuyên ngành: Quản lý văn hóa
Mã số : 60310642
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA
Trang 3MỤC LỤC Trang
Chương 1: cơ sở lý luận vμ tổng quan về di tích
1.1 Cơ sở khoa học và pháp lý cho công tác quản lý di tích lịch sử-văn hóa 10
1.2.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 22
Chương 2: THỰC TRẠNG công tác quản lý di tích lịch
2.1 Hệ thống tổ chức quản lý di tích lịch sử- văn hóa thành phố Việt Trì 49
2.1.2 Trách nhiệm, chức năng của Phòng Di sản 502.1.3 Ban Quản lý khu di tích lịch sử Đền Hùng 512.1.4 Phòng VH& TT các huyện, thành phố 52
2.2 Thực trạng hoạt động của hệ thống tổ chức quản lý di tích lịch
Trang 42.2.1 Xây dựng thực hiện quy hoạch, kế hoạch bảo tồn di tích lịch
2.2.2 Tổ chức tuyên truyền và phổ biến nhân dân pháp luật về di
2.2.3 Tổ chức thực hiện các hoạt động nghiệp vụ nhằm giữ gìn và
phát huy giá trị di tích lịch sử- văn hóa 60 2.2.4 Tổ chức khai thác và phát huy giá trị di tích 692.2.5 Huy động nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch
2.2.6 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu
nại, tố cáo về di tích lịch sử- văn hóa 75
2.3 Một số tồn tại trong công tác quản lý di tích lịch sử- văn hóa trên địa
Chương 3: giải pháp NHẰM nâng CAO HIỆU QUẢ công
tác QUẢN lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bμn
3.2 Một số giải pháp nâng cao chất l−ợng và hiệu quả công tác quản
lý di tích lịch sử- văn hoá trên địa bàn thành phố Việt Trì 89 3.2.1 Giải pháp về nâng cao chất l−ợng quản lý 89
Trang 5UBMTTQ : Ủy ban mặt trận tổ quốc
UBND : Ủy ban nhân dân
VH,TT& DL : Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Trang 6
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1.Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đang ngày càng đi vào chiều sâu thì văn hóa nổi lên là một trong những trụ cột chính, cùng với kinh tế, môi trường và công bằng xã hội, văn hóa đang được coi là trụ cột thứ 4 của phát triển bền vững
Đại hội Đảng lần thứ VII đã đánh dấu một mốc quan trọng trong nhận thức của Đảng về vai trò của văn hóa trong phát triển: văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội vừa là động lực vừa là mục tiêu của sự phát triển kinh tế
xã hội
Di sản văn hóa, dù ở hoàn cảnh lịch sử nào, giai đoạn cách mạng nào, cũng là tài sản của dân tộc, là linh hồn, là nền tảng tinh thần, là động lực nội sinh của sự phát triển bền vững, nhất là trong quá trình đất nước đang đổi mới
và hội nhập
1.2.Việt Trì là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học kỹ thuật của tỉnh Phú Thọ ngày nay, là kinh đô của nhà nước Văn Lang- Nhà nước đầu tiên trong lịch sử dân tộc Việt Nam, nơi lưu giữ các giá trị văn hóa truyền thống, là cái nôi của văn hóa vật thể, phi vật thể của vùng Đất Tổ Hiện nay trên địa bàn thành phố Việt Trì có 150 DTLS- VH, 14 di tích cấp quốc gia, 50
di tích khảo cổ thời kỳ tiền Hùng Vương và Hùng Vương, trong đó tiêu biểu
là Đền Hùng- di tích lịch sử quốc gia đặc biệt và nhiều di tích kiến trúc nghệ thuật có giá trị cao như: Đình Lâu Thượng, đình Bảo Đà, đình Hùng Lô, đình
An Thái, đình Hương Trầm …Gắn với các di tích là các loại hình di sản văn hóa phi vật thể phong phú và đặc sắc với các loại hình trò chơi dân gian hấp dẫn như hội bơi chải- Bạch Hạc, hội giã bánh giầy ở Mộ Chu Hạ, hội Hát Xoan- An Thái, Kim Đức, Phượng Lâu, hội Tịch Điền ở phường Minh Nông,
Trang 7hội chơi đu tiên ở xã Minh Phương, ném chài cướp bông ở phường Vân Phú,
đi cầu đốt pháo ở thôn Vân Lang xã Trưng Vương, lễ hội rước tiếng Hú ở làng Vi… đặc biệt năm 2011 Hát Xoan Phú Thọ và năm 2012 tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương được UNESCO công nhận di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại Đây thực sự là nguồn tiềm năng to lớn tạo cho việc xây dựng Việt Trì thành thành phố lễ hội để khai thác tiền năng di sản văn hóa nhằm phát triển kinh tế của tỉnh nói chung và thành phố Việt Trì nói riêng
1.3 Phần lớn các DTLS- VH trên địa bàn thành phố Việt Trì được xây dựng chủ yếu bằng vật liệu gỗ, trải qua thời gian và sự khắc nghiệt của thời tiết, nhiều DTLS- VH đã và đang trong tình trạng xuống cấp ở mức độ khác nhau, trong đó có những di tích ở mức độ nghiêm trọng, rất cần được bảo tồn
và tôn tạo Bên cạnh đó sự tác động thiếu ý thức của con người đã làm cho một bộ phận DTLS- VH bị mai một Do vậy việc nghiên cứu xác định rõ các giá trị lịch sử -văn hóa, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp quản lý, khai thác, phát huy giá trị của hệ thống di tích trên địa bàn thành phố Việt Trì là vấn đề cấp bách và cần thiết
Ngày 31 tháng 5 năm 2007 Hội đồng nhân dân tỉnh Phú Thọ thông qua nghị quyết số 97/NQ- HĐND về việc quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh Phú Thọ đến năm 2020, trong đó có nhiệm vụ xây dựng thành phố Việt trì thành thành phố lễ hội về với cội nguồn dân tộc Việt Nam; tháng 4
năm 2009 UBND thành phố Việt Trì tổ chức hội thảo khoa học “Quy hoạch
xây dựng thành phố Việt trì trở thành thành phố lễ hội về với cội nguồn dân tộc Việt Nam”
Nhận thức được vị trí, vai trò, tầm quan trọng của di sản văn hóa- cụ thể
là DTLS- VH trong việc xây dựng thành phố Việt Trì trở thành thành phố lễ
hội, tôi đã chọn đề tài “Quản lý DTLS- VH trên địa bàn thành phố Việt Trì”
làm luận văn tốt nghiệp bậc cao học của mình, với hy vọng luận văn góp phần
Trang 8nâng cao chất lượng hiệu quả công tác quản lý DTLS- VH nhằm bảo tồn và phát huy tác dụng của nó một cách bền vững góp phần vào công tác xây dựng, quy hoạch thành phố Việt Trì đến năm 2020
2 Lịch sử nghiên cứu
Trong nhiều năm qua, vấn đề nghiên cứu các DTLS-VH trên địa bàn thành phố được nhiều người quan tâm, nhiều học giả, nhiều nhà nghiên cứu văn hóa đã đề cập đến vấn đề này Xin đề cập đến một số công trình tiêu biểu: Hùng Vương dựng nước (Kỷ yếu) – NXB KHXH gồm 4 tập các năm
1971, 1972, 1973, 1974
Việt Trì Kinh đô Văn Lang Di tích và Lễ hội (Lương Nghị- xuất bản năm 2011)
Lễ hội truyền thống vùng Đất Tổ- Sở VH,TT &DL Phú Thọ
Tổng tập “Về miền lễ hội cội nguồn dân tộc Việt Nam” (4 tập)- Sở VH,TT & DL Phú Thọ
DTLS- VH thời đại Hùng Vương trên đất Việt Trì
Kỷ yếu hội thảo: Quy hoạch xây dựng TP.Việt Trì trở thành thành phố
lễ hội về với cội nguồn dân tộc Việt Nam – UBND TP Việt Trì tháng 4 năm
2009
Đề tài: “Nghiên cứu, điều tra khảo sát một số DTLS- VH liên quan đến Kinh đô Văn Lang và thời đại Hùng Vương ở Việt Trì để phục vụ cho phát triển du lịch”- Đề tài nghiên cứu cấp tỉnh năm 2002
Ngoài ra còn nhiều đề tài nghiên cứu, các bài viết khác trên các tập san, tạp chí về giá trị di sản văn hóa trên vùng đất Tổ Trong quá trình triển khai
đề tài “Quản lý DTLS- VH trên địa bàn thành phố Việt Trì ”, tác giả luận
văn sẽ tiếp thu, kế thừa những kết quả của các tác giả đi trước, vận dụng vào
Trang 9một số nội dung của công trình nghiên cứu, đặc biệt là phần đánh giá về giá trị của các DTLS- VH trên địa bàn thành phố
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Trên cơ sở nhận thức sâu sắc vai trò của công tác quản lý DTLS- VH trong việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa nhằm phát triển kinh tế của tỉnh nói chung và của thành phố Việt Trì nói riêng một cách bền vững, luận văn đi sâu khảo sát, phân tích, đánh giá những kết quả đạt được cũng như những tồn tại, hạn chế trong công tác quản lý DTLS- VH trên địa bàn thành phố Việt Trì trong 10 năm trở lại đây Từ đó đề xuất một số giải pháp cụ thể, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý DTLS- VH trên địa bàn thành phố Việt Trì trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn tập trung giải quyết các vấn đề sau:
Tìm hiểu về giá trị hệ thống DTLS- VH trên địa bàn thành phố Việt Trì trong đó sẽ tập trung nghiên cứu một số di tích, cụm di tích tiêu biểu của thành phố;
Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý DTLS- VH
trên địa bàn thành phố Việt Trì từ năm 2002 đến nay;
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả của công tác quản lý DTLS- VH trên địa bàn thành phố Việt Trì gắn với phát triển kinh
tế xã hội của tỉnh, nhất là phát triển du lịch
4 Đối tượng, Phạm vi, thời gian nghiên cứu
4.1.Đối tượng nghiên cứu
- Công tác quản lý DTLS- VH trên địa bàn thành phố Việt Trì
- Trong điều kiện cần thiết, sẽ mở rộng nghiên cứu một số địa bàn huyện trong tỉnh có liên quan để đối chiếu, so sánh, trao đổi kinh nghiệm
Trang 10quản lý di tích, nhằm rút ra bài học kinh nghiệm, áp dụng cho công tác quản
lý trong thành phố
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Thành phố Việt Trì
- Thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động quản lý nhà nước đối với DTLS- VH trong khoảng thời gian từ năm ra đời luật Di sản văn hóa đến nay (năm 2002)
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của luận văn là hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng và Nhà nước về quản lý di sản văn hóa
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận văn triển khai những phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
- Phương pháp điều tra, khảo sát, phân tích, so sánh
- Phương pháp phỏng vấn trực tiếp, thống kê và tổng hợp
- Đặc biệt luận văn sử dụng phương pháp tiếp cận liên nghành: khoa học quản lý văn hóa, văn hóa học, xã hội học, lịch sử…
6 Đóng góp của luận văn
- Đánh giá công tác quản lý và phát huy giá trị của hệ thống DTLS- VH trong giáo dục truyền thống, giữ gìn bản sắc cũng như góp phần phát triển kinh tế thông qua hệ thống DTLS- VH
- Đề xuất một số giải pháp, cơ chế chính sách nhằm góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác quản lý DTLS- VH trên địa bàn thành phố trong thời gian tới
Trang 11- Làm tài liệu tham khảo về công tác quản lý DTLS- VH cho các địa phương cũng như những người muốn tìm hiểu công tác quản lý DTLS- VH trên địa bàn tỉnh
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành 3 chương
- Chương1:Thành phố Việt Trì và hệ thống di tích lịch sử- văn hóa trên địa bàn thành phố
- Chương 2: Thực trạng công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn thành phố Việt Trì
-Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý di tích lịch sử- văn hóa trên địa bàn thành phố Việt Trì
Trang 12Chương 1 THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ VÀ HỆ THỐNG DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA
1.1.1.1 Khái niệm di sản văn hóa
Văn hóa, hiểu theo nghĩa rộng bao gồm nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội hơn là hiểu theo nghĩa hẹp chỉ là hoạt động văn hóa trong lĩnh vực văn chương, nghệ thuật, vui chơi giải trí Văn hóa được xem là tổng thể các hoạt động sáng tạo, các giá trị, tri thức, truyền thống, niềm tin, phong tục, tập quán…tạo nên bản sắc và gắn kết cá nhân, cộng đồng, chi phối hành động, suy nghĩ, của cộng đồng
Suy nghẫm về văn hóa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết:
“Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho
Trang 13sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và phương thức sử dụng Toàn
bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”
Tổng giám đốc UNESCO F May-ơ nêu ra quan niệm văn hóa của ông như sau:
“Văn hóa là tổng thể sống động của các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu- những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” [ 10, Tr.18]
Như vậy văn hóa là những giá trị con người sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại nhưng không phải tất cả những gì con người sáng tạo ra đều là
di sản văn hóa Mà chỉ bao gồm những gì có “giá trị” vật chất và tinh thần
của một quốc gia, một dân tộc để lại
Di sản văn hóa là sản phẩm tinh thần, vật chất do con người sáng tạo ra
có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác Như vậy, chúng ta có thể hiểu rằng di sản văn hóa là tài sản vật chất và tinh thần được các thế hệ kế tiếp sử dụng để sáng tạo ra những giá trị vật chất
và tinh thần mới hoặc sử dụng làm chỗ dựa tinh thần để phát triển
Luật Di sản văn hóa năm 2011 nêu rõ:
“Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta” [ 14, tr.11]
Di sản văn hóa tồn tại dưới hai dạng: di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể Theo điều 4, Luật Di sản văn hóa Việt Nam:
“Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch
sử, văn hóa khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được
Trang 14lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết nghệ thủ công truyền thống, tri thức về y dược học cổ truyền, về văn hóa
ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác”
“ Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử
văn hóa, khoa học, bao gồm DTLS- VH, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.” [ 14, tr.12- 13]
Cũng cần nói thêm rằng di sản văn hóa không chỉ là những di tích mang ý nghĩa vật chất và tinh thần có giá trị trong nước mà còn có ý nghĩa đối với thế giới
Theo Công ước Bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, thì di sản văn hóa bao gồm 3 nhóm; nhóm các di tích kiến trúc (monuments), nhóm các công trình xây dựng (groups of buildings) và nhóm các di chỉ (sites) Các di tích kiến trúc trong công ước này là các các công trình kiến trúc, các công trình điêu khắc và hội hoạ kiến trúc, các bộ phận hoặc kết cấu có tính chất khảo cổ học, các bi ký, các hang động cư trú và những bộ phận kết hợp, mà xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật hoặc khoa học là có giá trị nổi tiếng toàn cầu Trong nhóm các công trình xây dựng có các nhóm kiến trúc riêng lẻ
có giá trị nổi tiếng toàn cầu Các di chỉ được qui định trong công ước là các công trình của con người hoặc công trình kết hợp giữa con người và thiên nhiên, cũng như các khu vực có các di chỉ khảo cổ học mà xét theo quan điểm lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhân học là có giá trị nổi tiếng toàn cầu [3, tr.2]
1.1.1.2 Khái niệm di tích và di tích lịch sử văn hóa
Trang 15Theo từ điển Tiếng Việt thì “Di tích là cái của người xưa để lại”, tức là
toàn bộ những vật chất có giá trị hiện tồn của những giai đoạn lịch sử đã qua còn lại đến ngày nay được coi là di tích
Di tích là một bộ phận của di sản, là thành tố quan trọng của môi trường
xã hội, là thông điệp của quá khứ gửi lại cho các thế hệ mai sau, nó có năng lực trường tồn theo thời gian Quan tâm tới di tích, chăm lo bảo tồn di tích đã trở thành một hoạt động không thể thiếu trong xã hội văn minh Cố thủ tướng
Phạm Văn Đồng đã nói: “Một nước không có ý nghĩa lịch sử thì mất ý nghĩa
đi” Như vậy, di tích có thể coi như nền tảng để xây dựng nên tư tưởng, đạo
đức, lối sống cũng như các giá trị truyền thống của dân tộc
Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam giải thích, di có nghĩa là còn lại, tích là dấu vết, hay nói cách khác di tích là dấu vết từ trước để lại và có giá trị lịch
sử Như vậy di tích là không gian vật chất cụ thể, khách quan, được hình thành từ sự sáng tạo của tập thể hoặc cá nhân trong lịch sử, tồn tại bằng những không gian muôn hình, muôn vẻ, với nhiều bộ phận cấu thành như môi trường, cảnh quan thiên nhiên, công trình kiến trúc, tác phẩm mỹ thuật…
DTLS-VH là bộ phận quan trọng của di sản văn hóa Chương 1 điều 4, Luật Di sản văn hóa qui định di tích lịch sử - văn hóa là “công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học” [14, tr.13]
Ngoài ra, Luật Di sản văn hóa cũng qui định rõ thêm một số khái niệm khác liên quan đến di tích lịch sử văn hóa như di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia Chẳng hạn, di vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học; cổ vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học, có từ một trăm năm tuổi trở lên; bảo vật quốc gia là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếm tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hóa, khoa học
Trang 16Điều 28 Luật Di sản văn hóa nêu rõ: DTLS-VH phải có các tiêu chí sau đây:
“ Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước;
Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân của đất nước;
Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, kháng chiến;
Địa điểm có giá trị tiêu biểu về khảo cổ;
Quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn
lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử” [14, tr.22]
Căn cứ vào giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, DTLS- VH, danh lam thắng cảnh được chia thành:
“ Di tích cấp tỉnh là di tích có giá trị tiêu biểu của địa phương;
Di tích quốc gia là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia;
Di tích quốc gia đặc biệt là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia.” [14, tr.23]
Mỗi chính sách của pháp luật đều có hiệu lực và giá trị trong khoản thời gian lịch sử nhất định, phạm vi nhất định vì vậy khái niệm DTLS- VH được phân tích, lý giải trên cơ sở khoa học sẽ là tiền đề xây dựng các văn bản pháp
lý quan trọng nhằm thức hiện hiệu quả công tác quản lý: bảo tồn, khai thác, phát huy giá trị di sản trong các thời kỳ lịch sử cụ thể khác nhau
1.1.1.3 Quản lý nhà nước về di sản văn hóa
Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý đến đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn
Trang 17lực, các thời cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trường luôn biến động
Con người muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của một tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng ở tầm quốc gia, quốc tế và đều phải thừa nhận và chịu một sự quản lý nào đó trên tất cả các lĩnh vực trong đời sống xã hội
Với ý nghĩa thông thường phổ biến thì quản lý được hiểu là hoạt động
nhằm tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng theo những mục tiêu đã định [23, tr.3]
Quản lý nhà nước về văn hóa: Là sự quản lý của nhà nước đối với toàn
bộ hoạt động văn hóa của quốc gia bằng quyền lực của nhà nước thông qua hiến pháp, pháp luật và cơ chế chính sách nhằm bảo đảm sự phát triển của nền văn hóa dân tộc
Từ các khái niệm về quản lý cũng như quản lý văn hóa chúng ta có thể khái quát: quản lý di sản văn hóa là sự định hướng, tạo điều kiện tổ chức, điều hành việc bảo vệ, giữ gìn các di sản văn hóa làm cho các giá trị của di sản phát huy theo chiều hướng tích cực Quản lý DTLS - VH có thể coi là sự tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý (DTLS - VH), giúp DTLS -
VH tồn tại bền vững, phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của địa
phương nói riêng và của dân tộc nói chung
1.1.2 Cơ sở pháp lý
1.1.2.1 Các văn bản pháp quy
Pháp luật là công cụ, phương tiện để nhà nước quản lý và điều chỉnh các mối quan hệ xã hội Nó ra đời và phát triển cùng với sự ra đời của nhà nước Trong quản lý nói chung và quản lý lĩnh vực văn hóa nói riêng nhà nước đều phải cần hoàn thiện hệ thống pháp luật
Trang 18DTLS - VH Việt Nam nằm trong kho tàng di sản văn hóa dân tộc của quốc gia có nền văn hiến lâu đời Giữ gìn DTLS - VH là nhiệm vụ là trách nhiệm của nhà nước nói chung và mỗi cá nhân nói riêng trong cộng đồng dân tộc Ý thức được điều đó ngay từ thời kỳ đầu giành độc lập và cho đến ngày nay, việc ban hành và hoàn thiện hệ thống văn bản về bảo vệ giữ gìn DTLS -
VH ngày càng được quan tâm, củng cố hoàn thiện
Ngày 23/11/1945 Hồ Chủ Tịch ký sắc lệnh số 65 – SL về việc ấn định nhiệm vụ Đông phương Bác cổ Học viện Nội dung của sắc lệnh đã khẳng định rằng từ những ngày đầu lập nước còn bộn bề công việc, Nhà nước Việt Nam đã quan tâm ngay đến việc giữ gìn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc, phục vụ cho sự nghiệp kháng chiến kiến quốc, nâng cao dân trí Sắc lệnh gồm có 6 điều, trong đó nội dung chính ấn định nhiệm vụ của Đông phương Bác cổ Học viện: Bảo tồn tất cả cổ tích trong toàn cõi Việt Nam Sắc lệnh coi toàn bộ DTLS - VH là tài sản của nhân dân, nghiêm cấm việc phá hủy đình, chùa, đền, miếu và các di tích khác chưa được bảo tồn Cấm phá hủy bia ký, văn bằng có ích cho lịch sử Sắc lệnh cũng quy định Nhà nước chi ngân sách cho việc bảo vệ, tu sửa di tích và công nhận các khoản trợ cấp cho học viện Đông phương Bác cổ
Những năm sau 1954 nước ta chia cắt làm hai miền, Nhà nước vừa chỉ đạo cuộc kháng chiến giải phóng miền Nam, vừa xây dựng CNXH ở miền Bắc nhưng việc ban hành văn bản quản lý nhà nước về di sản văn hóa vẫn được coi trọng cụ thể:
Ngày 28/6/1956 Ban bí thư Trung ương Đảng ra Thông tư số 38- TT/TƯ về việc bảo vệ di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh Thông tư đề cập nâng cao ý thức trách nhiệm bảo vệ di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh trong các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội và toàn dân; đình chỉ ngay những
Trang 19hoạt động kinh tế đang phương hại trực tiếp đến di tích; Tiến hành phân loại
và cần có kế hoạch để tu bổ di tích
Thông tư số 954/TTg ngày 3/7/1957, Thủ tướng chính phủ ra thông tư
về việc bảo vệ di tích và danh lam thắng cảnh gửi tới các ủy ban hành chính, các khu tỉnh, thành trong cả nước
Tiếp theo đó ngày 29/10/1957 Thủ tướng chính phủ ra Nghị định số 519/TTg quy định về thể lệ bảo tồn cổ tích Nghị định là môt văn bản quan trọng cho mọi hoạt động của công tác quản lý di sản văn hóa trong gần 30 năm Nghị định gồm 7 mục 32 điều đề cập đến các vấn đề: liệt hạng di sản văn hóa; tiêu chuẩn của các công trình được liệt hạng là di tích lịch sử văn hóa; việc trùng tu, tôn tạo di tích; chế độ khen thưởng đối với cá nhân tổ chức trong việc bảo vệ phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc
Ngày 9/11/1960, Thủ tướng chính phủ ban hành Thông tư số 268/TTg
về việc bảo vệ di sản văn hóa dân tộc, chủ yếu ngăn chặn buôn bán đồ cổ ra nước ngoài
Hội đồng chính phủ ban hành Thông tư số 81/CP ngày 29/4/1966 về việc bảo vệ di tích lịch sử, di tích nghệ thuật và hang động được sử dụng và công tác sơ tán phòng không
Ngày 1/6/1966, Chính phủ ban hành Nghị định 100/CP về việc quản lý xuất khẩu văn hóa phẩm trong đó có quy định về bảo vệ cổ vật
Ngày 24/10/1966, Hội đồng Chính phủ ban hành Chỉ thị 188/TTg về việc bảo vệ và phát huy tác dụng của di tích lịch sử trong thời gian chống Mỹ cứu nước
Ngày 26/6/1969, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 59/TTg về việc bảo tồn di tích chống Mỹ cứu nước
Sau khi hòa bình lập lại, đất nước thống nhất, Quốc hội đã thông qua bản hiến pháp mới năm 1980, đánh dấu sự phát triển về Nhà nước và Pháp
Trang 20luật của nước ta Việc bảo vệ DTLS- VH của dân tộc được đưa vào văn bản pháp lý có giá trị cao nhất trong hệ thống pháp luật Nhà nước, tại điều 46 của Hiến pháp quy định: Các di tích lịch sử và văn hoá, các công trình mỹ thuật công cộng, các danh lam, thắng cảnh được tu bổ và bảo vệ
Ngày 31/3/1984, Hội đồng Nhà nước đã ban hành và công bố Pháp lệnh 14LCT/HĐNN về việc bảo vệ di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh Pháp lệnh gồm 5 chương 27 điều trong đó khẳng định việc bảo vệ di
tích lịch sử văn hóa là: “góp phần giáo dục tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa
xã hội và lòng tự hào dân tộc, nâng cao kiến thức, phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, đáp ứng nhu cầu về thẩm mỹ và văn hoá của nhân dân, xây dựng nền văn hoá mới và con người mới xã hội chủ nghĩa, làm giàu đẹp kho tàng di sản văn hoá dân tộc và góp phần làm phong phú văn hoá thế giới” (Lời mở đầu của Pháp lệnh)
Tại điều 2 chương 1 Pháp lệnh xác định rõ biện pháp quản lý Nhà nước đối với di sản văn hóa gồm 3 việc:
- Kiểm kê, đăng ký, công nhận và xác định các loại hình di tích lịch sử, văn hoá và danh lam, thắng cảnh
- Quy định chế độ bảo vệ, sử dụng di tích lịch sử, văn hoá và danh lam, thắng cảnh và tổ chức việc thực hiện các chế độ đó
- Thanh tra việc thi hành những quy định của pháp luật về việc bảo vệ,
sử dụng di tích lịch sử, văn hoá và danh lam, thắng cảnh
Pháp lệnh quy định rõ chức năng của các cơ quan trong việc quản lý DTLS - VH và danh lam thắng cảnh theo đó: “Hội đồng bộ trưởng thực hiện việc quản lý Nhà nước đối với các di tích lịch sử, văn hoá và danh lam, thắng cảnh trong cả nước Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện việc quản lý Nhà nước đối với các di tích lịch sử, văn hoá và danh lam, thắng cảnh theo quy định của Hội đồng bộ trưởng Bộ Văn hoá và các cơ quan văn hoá thuộc hệ
Trang 21thống Bộ này tại các địa phương là những cơ quan giúp Hội đồng bộ trưởng
và Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện việc bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hoá và danh lam, thắng cảnh.”
Pháp lệnh số 14 năm 1984 là một văn bản pháp lý ra đời trên sự kế thừa
và hoàn thiện những nghị định trước đó, quy định lập hồ sơ xếp hạng di tích, khoanh vùng bảo vệ di tích; quy định trong việc xuất nhập khẩu cổ vật; nhiệm vụ của các cấp các ngành trong việc tu bổ, tôn tạo di tích
Việc ra đời Pháp lệnh có một ý nghĩa to lớn trong việc hoàn thiện văn bản pháp quy, là một bước tiến về mặt pháp lý với mục đích hoàn thiện hơn công tác quản lý di sản văn hóa dân tộc
Đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, hội nhập về kinh tế, giao lưu về văn hóa
Từ đó đòi hỏi phải có một văn bản pháp lý với phạm vi điều chỉnh rộng hơn, phục vụ hiệu quả công tác quản lý và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc nói chung và DTLS- VH nói riêng Ngày 29/6/2001 Quốc hội nước CHXH chủ nghĩa Việt Nam thông qua Luật Di sản văn hóa gồm 7 chương 74 điều tạo hành lang pháp lý cho công tác quản lý DTLS- VH trong cả nước, góp phần vào việc giữ gìn giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Sau một thời gian
áp dụng, một số điều của Luật Di sản văn hóa 2001 đã không phù hợp với yêu cầu thực tiễn của đời sống kinh tế - xã hội đất nước, nên đến 18/6/2009, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XII, đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa, có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2010 Để thực hiện Luật Di sản văn hóa, chính phủ đã ban hành một số văn bản hướng dẫn và quy định cụ thể khác như: Nghị định số 75/2010/NĐ-CP, ngày 12/7/2010, quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa; Thông tư số 09/2010/TT-BVHTTDL, ngày 24/8/2010, Quy định chi tiết thi hành một số quy định tại Nghị định số 75/2010/NĐ-CP, ngày 12/7/2010, quy định xử phạt
vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa; Nghị định số 98/2010/NĐ-CP,
Trang 22ngày 21/9/2010, quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa; Thông tư số 13/2010/TT-BVHTTDL, ngày 30/12/2010, Quy định trình
tự, thủ tục đề nghị công nhận bảo vật quốc gia; Thông tư số BVHTTDL, ngày 14/7/2011, Quy định về nội dung hồ sơ khoa học để xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh
09/2011/TT-Ngày 06/5/2009, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số
581/QĐ-TTg quyết định về việc phê duyệt Chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam
đến năm 2020 trong đó, di sản văn hóa được nhìn nhận là vốn quý cho bảo
tồn tinh hoa văn hóa dân tộc, là nguồn lực quan trọng cho sự phát triển kinh
tế, văn hóa, xã hội đất nước
1.1.2.2 Nội dung quản lý nhà nước đối với di sản văn hóa
Nội dung quản lý Nhà nước về di sản văn hóa được quy định tại Chương V, Luật Di sản văn hóa, bao gồm 15 điều, từ điều 54 đến điều 68 chia thành 4 mục:
Mục 1: Nội dung quản lý nhà nước và cơ quan quản lý nhà nước về di
sản văn hóa (từ điều 54 đến điều 56) Quy định 8 nội dung: Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hóa; Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về di sản văn hóa; Tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học; đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về di sản văn hóa; Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; Tổ chức, chỉ đạo khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; Tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và sử lý vi phạm pháp luật về di sản văn hóa
Trang 23Mục 2: Nguồn lực cho các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản
văn hóa Từ điều 57 đến điều 62 quy định: Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho các hội về văn học và nghệ thuật, khoa học và công nghệ tham gia các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá; khuyến khích việc
xã hội hoá hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá; nguồn tài chính để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá bao gồm (ngân sách nhà nước; các khoản thu từ hoạt động sử dụng và phát huy giá trị di sản văn hoá; tài trợ và đóng góp của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài); Ưu tiên đầu tư ngân sách cho các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di tích quốc gia
đặc biệt, bảo tàng quốc gia, bảo vật quốc gia, di tích lịch sử cách mạng và di
sản văn hoá phi vật thể có giá trị tiêu biểu; tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu hoặc được giao quản lý, sử dụng di tích, sưu tập, bảo tàng được thu phí tham quan và lệ phí sử dụng di tích, sưu tập, bảo tàng theo quy định của pháp luật; khuyến khích tổ chức, cá nhân đóng góp, tài trợ cho việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá, nguồn tài chính phải được quản lý, sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả
Mục 3: Hợp tác quốc tế về di sản văn hóa, gồm 3 điều từ điều 63 đến
điều 65 Nhà nước có chính sách và biện pháp đẩy mạnh quan hệ hợp tác với các nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá; khuyến khích người Việt Nam định cư ở nước ngoài và tổ chức,
cá nhân nước ngoài tham gia các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá Việt Nam theo quy định của pháp luật; nội dung hợp tác quốc tế về di sản văn hoá bao gồm: Xây dựng và thực hiện chương trình, dự án, các tổ chức
và điều ước quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá; nghiên cứu khoa học, ứng dụng khoa học và chuyển giao công nghệ hiện đại trong lĩnh vực bảo quản, tu bổ di tích, xây dựng bảo tàng, khai quật khảo cổ; trao đổi các cuộc triển lãm về di sản văn hoá; hợp tác trong việc bảo hộ di sản văn hoá của
Trang 24Việt Nam ở nước ngoài; đào tạo, bồi dưỡng, trao đổi thông tin và kinh nghiệm trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá
Mục 4: Thanh tra giải quyết, khiếu nại tố cáo về di sản văn hóa, gồm 3
điều, từ điều 66 đến điều 68 quy định nhiệm vụ của thanh tra Nhà nước về chuyên ngành di sản văn hóa; quyền và nghĩa vụ của đối tượng thanh tra; quyền khiếu nại, khởi kiện tố cáo đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc thi hành pháp luật về di sản văn hoá
1.2 Khái quát chung về thành phố Việt Trì
1.2.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý: Thành phố Việt Trì nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Phú
Thọ, cách thành phố Hà Nội 80 km về phía Tây Bắc, có đường quốc lộ 2 và đường sắt chạy qua Phía Đông giáp với huyện Lập Thạch (Vĩnh Phúc); phía Nam giáp huyện Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc), huyện Ba Vì (Hà Nội); phía Tây giáp huyện Lâm Thao; phía Bắc giáp huyện Phù Ninh
Việt Trì nơi hợp lưu của 3 con sông Hồng, Lô và sông Đà; Phía Tây Nam có dãy núi Ba Vì, vệt cuối cùng của dãy Hoàng Liên Sơn, phía Đông Bắc là dãy Tam Đảo điệp trùng Hai dãy núi tựa như hai cánh cung ôm lấy Việt Trì tạo địa thế “sơn chầu, thủy tụ” Với vị trí địa lý thuận lợi nơi đây xưa kia được các vua Hùng chọn đất đóng đô của Nhà nước Văn Lang ,nhà nước đầu tiên trên đất Việt Nam thời đại các Vua Hùng dựng nước Ở vị trí 3 con
sông lớn chảy qua hay người ta còn gọi là vùng tam giang tạo nên “thành phố
ngã ba sông” với nhiều thuận lợi để trở thành một thành phố công nghiệp
Việt Trì có diện tích tự nhiên 11.175,11ha, bao gồm vùng núi, vùng đồi bát úp và vùng ruộng thấp trũng Ở vùng núi có đỉnh núi Hùng cao154m Địa hình có hướng dốc về 4 phía trong khu vực có độ dốc > 25% Vùng đồi núi thấp nằm rải rác khắp thành phố, bao gồm các quả đồi bát úp đỉnh phẳng sườn
Trang 25thoải về các thềm của sông Hồng và sông Lô Cao độ trung bình của các đồi
từ 50-70m với độ dốc của các sườn từ 5 đến 15% Vùng thung lũng thấp gồm các thung lũng nhỏ hẹp giữa các quả đồi dọc theo hai bên tả ngạn sông Hồng
và hữu ngạn sông Lô, có độ cao từ 8,0 đến 32m
Khí hậu: Khí hậu Việt Trì nằm trong vùng khí hậu đồng bằng và trung
du Bắc Bộ
Mùa hè nóng ẩm mưa nhiều, mưa thường kéo dài từ tháng 4 đến tháng
10 Lượng mưa nhiều nhất vào tháng 8 Từ tháng 9 đến tháng 4 sang năm thuộc
về mùa ít mưa hơn Đặc biệt ở đây có những trận mưa rào với lượng mưa lớn kèm theo dông bão kéo dài từ 3 đến 5 ngày gây úng ngập cho toàn khu vực
Mùa đông trùng với mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 sang năm lượng mưa ít, khô, hanh và lạnh Khí hậu thành phố Việt Trì nói riêng và khí hậu tỉnh Phú Thọ nói chung mang những nét điển hình của khí hậu nhiệt đới
ẩm gió mùa, mùa đông lạnh, cuối mùa đông có hiện tượng ẩm ướt và mưa phùn đặc sắc
Sông ngòi: Việt Trì là vùng đất hợp lưu của 3 dòng sông: Sông Hông,
sông Lô, sông Đà vì vậy Việt Trì thường được gọi là thành phố ngã ba sông
Sông Hồng bắt nguồn từ cao nguyên Quý Châu (Vân Nam- Trung Quốc) chạy vào địa phận Việt Nam từ Lao Cai, qua Yên Bái vào Phú Thọ từ
xã Hậu Bổng (Hạ Hòa) đến Việt Trì Đoạn sông chảy qua Phú Thọ gọi là sông Thao, dài 140km Do độ dốc lòng sông lớn (cao hơn mặt biển 1766m) dòng chảy quanh co khúc khuỷu, có nhiều bến bãi và vật cản làm trở ngại cho việc thoát lũ nên chênh lệch và lưu lượng mực nước cũng như về tổng lượng nước giữa mùa mưa và mùa khô rất lớn Lưu lượng nước bình quan là 8203/s Mùa khô chỉ khoảng 1653/s nhưng mùa mưa lũ cõ thể lên đến 98603/s
Về lượng phù sa, sông Hồng có lượng phù sa 7,660kg/m3 nước, được xếp vào hàng đầu thế giới Chính vì màu đỏ phù sa đậm đặc đó nên sông được
Trang 26gọi là sông Hồng Đoạn sông Hồng chảy qua Phú Thọ có một chi lưu lớn là sông Bứa và các chi lưu nhỏ: Ngòi Lao, ngòi Giành, ngòi Me
Sông Lô phát nguyên từ Vân Nam- Trung Quốc chảy qua Hà Giang, Tuyên Quang vào tỉnh Phú Thọ từ xã Chí Đám (Đoan Hùng) về hợp vào ngã
ba Bạch Hạc Việt Trì, đoạn này dài 67km Sông Lô có hai chi lưu lớn là sông Chảy và sông phó Đáy Lưu lượng nước sông Lô trung bình 11503/s nhưng về mùa mưa có thể lên tới 87803/s Nước sông Lô trong xanh về mùa cạn hầu như không có phù sa nên còn có tên gọi là Thanh Giang
Sông Đà phát nguyên từ Tứ Xuyên – Trung Quốc, có độ cao 5000m, chảy qua Vân Nam Trung Quốc, Lai Châu, Hòa Bình vào đất Phú Thọ ở xã tinh nhuệ (Thanh Sơn) về hợp lưu với sông Thao ở xã Hồng Đà (Tam Nông), đoạn sông này dài 41,5km
Cả ba sông trên cùng hàng chục sông ngòi, suối khác trong tỉnh cùng
đổ về hòa một dòng ở ngã ba Bạch Hạc rồi mới về xuôi.Về mùa mưa, nước lũ
đổ về làm các triền sông dâng lên rất nhanh Vùng ngã ba sông là một biển nước khổng lồ đe dọa cuộc sống của nhân dân trong vùng Vì vậy vấn đề đắp
đê trống lụt ở đây luôn được đặc biệt coi trọng trong mọi thời đại
Động thực vật: Thành phố Việt Trì có núi cao,đồi thấp, ruộng trũng, có
hồ, ao sông,…lại có khí hậu 4 mùa rõ rệt nên hệ động thực vật rất phong phú
Về thực vật:Hệ thực vật phong phú có giá trị về mặt đa dạng sinh học Trong khu vực rừng quốc gia Đền Hùng có 636 loài thực vật thuộc 429 chi của 144 họ…Trong đó có 15 loài gỗ quý hiếm có giá trị khoa học Ở các đền chùa có nhiều cây cộ thụ quý hiếm: cây Vàng, cây Bạc ở Thiên cổ miếu- Trưng Vương Cây Da bò- Trưng Vương, Cây Sui chùa Việt Lâm- Thụy Vân…Trên đồi có cọ, sấu, Hồng Hạc, ruộng nước trồng lúa nước với loại nếp Hương Trầm nổi tiếng
Trang 27Về động vật: Việt Trì là thành phố với nhiều sông ngòi, ao hồ nên thủy
sản rất phong phú Nổi tiếng nhất là cá anh vũ, cá chiên, cá lăng Ngoài những vật nuôi thông thường như trâu, bò,lợn, gà Hiện nay vùng ven thành phố đã
và đang phát triển nghề nuôi ong, rắn, thỏ nhím
Cư dân:Thành phố Việt Trì nói riêng và tỉnh Phú Thọ nói chung là cái nôi
đầu tiên của con người sinh sống Các kết quả khai quật khảo cổ học cho thấy con người đã xuất hiện và sinh cư lập nghiệp trên mảnh đất này từ rất sớm, hậu
kỳ thời đại đồ đá cũ cách ngày nay 10 vạn năm tiêu biểu là di chỉ khảo cổ học Sơn Vi Trên địa bàn tỉnh có tổng số 104 di chỉ thuộc giai đoạn văn hóa Sơn Vi, tiếp theo đó là quá trình phát triển liên tục của con người từ hậu kỳ thời đại đồ đá
cũ đến sơ kỳ thời đại kim khí: Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn Trên địa bàn Việt Trì với di chỉ khảo cổ học cư trú- mộ táng nổi tiếng Làng Cả- văn hóa Đông Sơn (Sơ kỳ thời đại kim khí) là một minh chứng rõ ràng nhất con người sinh sống trên mảnh đất này từ rất sớm
Ngày nay theo báo cáo tổng dân số toàn thành phố 277.539 người (tính đến 31/12/2010) trong đó nữ chiếm 52,37% Dân số nội thành chiếm 53,83% dân số, dân số ngoại thành chiếm 46,17% dân số Tổng dân số toàn thành phố được phân bố trên 23 đơn vị hành chính phường, xã (Bao gồm 13 phường là: Bạch Hạc, Bến Gót, Thanh Miếu, Thọ Sơn, Gia Cẩm, Tiên Cát, Tân Dân, Nông Trang, Vân Cơ, Dữu Lâu, Minh Phương, Minh Nông, Vân Phú và 10 xã gồm: Sông Lô, Trưng Vương, Phượng Lâu, Thuỵ Vân, Thanh Đình, Chu Hoá,
Hy Cương, Kim Đức, Hùng Lô và Tân Đức) Quy mô dân số các phường nội thành dao động trong khoảng trên 4,8 nghìn người đến 17 nghìn người, các xã khoảng 4000 đến 11000 người Mật độ trung bình toàn thành phố đạt 1.646 người/km2, tuy nhiên mật độ dân số phân bổ không đồng đều trong các khu vực Trong các năm gần đây biến động dân số chủ yếu do mở rộng phạm vi ranh giới thành phố, mở rộng các xã Chu Hóa, Hy Cương, Thanh Đình (Lâm Thao), Hùng Lô(Phù Ninh), Tân Đức(Hà Tây cũ) về thành phố Việt Trì
Trang 28Thành phố Việt Trì là đô thị loại I, giữ vai trò trung tâm hành chính, kinh tế, văn hóa của tỉnh Phú Thọ Theo chiến lược phát triển đô thị Việt Nam thì Thành phố Việt Trì còn giữ vai trò trung tâm vùng, là cửa ngõ của vùng núi trung du Bắc Bộ, là đô thị cầu nối các hoạt động kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật giữa các tỉnh vùng núi Trung du Bắc Bộ với thủ đô Hà Nội, vùng đồng bằng sông Hồng, vùng thủ đô Hà Nội và vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ
1.2.2 Địa danh và cương vực
Việt Trì vốn là một từ Hán Việt gồm 2 âm tự Việt với nhiều nghĩa nhưng nghĩa đầu tiên là vượt qua; Trì nghĩa chính là ao, hồ nhưng vùng có nghĩa là Hồi, đào xung quanh thành Không biết từ bao giờ người ta dùng từ Hán Việt, Việt Trì để chỉ một miền đất ở đó có ao hồ Sách “Lĩnh Nam chích
quái” viết từ thế kỷ XIV có “Truyện núi tản viên” chép rằng: “Thời Chu Văn
Vương thứ 18 đến ở đất Việt Trì- Phong Châu lấy quốc hiệu là Văn Lang”
Đến địa danh Việt Trì là một thôn thì mới thấy được ghi chép trong sách bộ lễ nhà Lê do người thôn Lương Yên vào năm Cảnh Hưng 24 triều Lê (1763) có tên “Nam Việt thần kỳ hội lục” chép về 2824 vị thần được thờ trong
cả nước trong đó đã chép về thánh tổ Hùng Vương: Nhất các xứ huyện,xã dân đồng phụng sự cộng thất thập tam xã…Bạch Hạc huyện, Bạch hạc xã, Việt Trì thôn (dân các xã, huyện, xứ cùng thờ cúng, có 73…thôn Việt Trì, xã Bạch Hạc, huyện Bạch Hạc.)
Địa danh Việt Trì thôn còn được khắc trong bài minh của quả chuông
chùa hoa Long có tên “Hoa Long thiền tự” với dòng lạc khoản: Tam Đới phủ,
Bạch Hạc huyện, Bạch Hạc xã Việt Trì thôn Lê triều Cảnh Hưng vạn vạn niên chi nhị thập bát, tuế thứ Đinh Sửu, tam nguyệt cốc nhật (năm thứ 28 niên hiệu Cảnh Hưng triều Lê là năm Đinh Sửu 1767- ngày tốt tháng 3)
Tác giả Nguyễn Văn Siêu chép về đời Lê : Huyện Bạch Hạc có 69 xã, 1 thôn, 2 châu; một thôn là thôn Việt Trì
Trang 29Như vậy địa danh Việt Trì “thôn” có rất nhiều sử sách ghi chép và địa danh Việt Trì được tồn tại trong suốt thời kỳ phân cấp hành chính ra huyện,
xã, thôn dưới thời Lê, Việt Trì là một thôn duy nhất thuộc về đất đai miền hữu ngạn sông Lô Trải qua các thời kỳ lịch sử, làng Việt Trì nay cũng có sự thay đổi về địa giới hành chính như sau:
Thời Hùng Vương,vùng Việt Trì- Bạch Hạc là trung tâm chính trị- kinh
tế, được coi là kinh đô Nhà nước Văn Lang Dưới thời thuộc Hán, vùng Việt Trì thuộc về huyện Mê Linh, quận Giao Chỉ Từ thế kỷ thứ III đến thế kỷ thứ
VI, Việt Trì thuộc huyện Gia Ninh, quận Tân Xương Đời Đường vùng Việt Trì thuộc huyện Thừa Hóa quận Phong Châu; thời thập nhị sứ quân (944- 967), Việt Trì nằm trong khu vực chiếm giữ của tường Kiều Công Hãn Thời
Lý, Trần Việt Trì thuộc về Châu Thao Giang, lộ Tam Giang Thời nhà Lê, Việt Trì là một thôn thuộc xã Bạch Hạc, phủ Tam Đới, trấn Sơn Tây Đầu thời Nguyễn địa giới Việt Trì về cơ bản vẫn giữ như thời Hậu Lê Năm 1832, vua Minh Mạng tiến hành cải cách hành chính, đổi tất cả các trấn trong cả nước thành tỉnh Thôn Việt Trì thuộc về xã Bạch Hạc, huyện Bạch Hạc phủ Tam Đái, sau đổi thành phủ Vĩnh tường tỉnh Sơn Tây
Vào thời kỳ thực dân Pháp xâm lược nước ta, chúng xáo trộn các đơn
vị lập ra những tỉnh mới nhỏ hơn để dễ bề cai trị và đàn áp Việt Trì tách khỏi
xã Bạch Hạc trở thành một làng trong tổng Lâu Thượng, huyện Hạc Trì, còn
xã Bạch Hạc vẫn nằm trong huyện Bạch Hạc phủ Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Yên Nhận rõ Việt Trì là cửa ngõ tuyến đường giao thông thủy, bộ ở phía Bắc Việt Nam, ngày 22/10/1907, toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập thị xã Việt Trì và đặt trung tâm huyện lỵ Hạc Trì tại đây
Cách mạng tháng Tám, Việt Trì được gọi là thị xã thuộc tỉnh Phú Thọ Thời kháng chiến chống thực dân Pháp Việt Trì nằm trong xã Sông Lô lục này gồm các thôn: Lâu Hạ, Hạ Giáp, Thuần Lương, Việt Trì làng và Việt Trì
Trang 30phố Tháng 2/1945 thi trấn Việt Trì đươc tái lập gồm 3 khu phố: Thuần Lương, Việt Hưng và Việt Lợi Ngày 7/6/1957 Thủ tướng chính phủ cho sát nhập thị trấn Bạch Hạc thuộc tỉnh Vĩnh Yên với thị trấn Việt Trì thành thị xã Việt Trì
Ngày 4/6/1962, Hội đồng chính phủ ra quyết định số 65-CP thành lập thành phố Việt Trì thuộc tỉnh Phú Thọ Thành phố lúc đó bao gồm thị xã Việt Trì và 4 xã thuộc huyện Hạc Trì Ngày 5/7/1977, chính phủ quyết đinh chuyển các xã Vân Phú, Phượng Lâu, Thụy Vân, hai thôn Mộ Chu Hạ, Lang Đài về thành phố Việt Trì Đến ngày 13/1/1984, Hội đồng Bộ trưởng ra quyết định số 10- HĐBT phân vạch địa giới xã phường của thành phố, theo quyết định này giải thể thị trấn Bạch Hạc để thành lập Phường Bạch Hạc, chia lại các phường cũ lập các phường mới, đồng thời chia lại một số xã cho phù hợp với địa dư Thành phố Việt Trì từ đó bao gồm 8 phường (Bạch Hạc, Thanh Miếu, Thọ Sơn, Tiên Cát, Gia Cẩm, Nông Trang, Vân Cơ, Tân Dân) và 8 xã (Thụy Vân, Minh Nông, Minh Phương, Vân Phú, Phượng Lâu, Dữu Lâu, Sông Lô, Trưng Vương)
Từ năm 1968, khi hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ hợp nhất thành tỉnh Vĩnh Phú, thành phố Việt Trì trở thành trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của tỉnh Vĩnh Phú Có tỉnh lỵ là thành phố Việt Trì; các xã Quất Thượng, Lâu Thượng và Sông Lô hợp nhất thành xã Trưng Vương
Ngày 6/11/1996, Quốc hội (khóa IX) ra nghị quyết tách tỉnh Vĩnh Phú thành hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ Tỉnh lỵ Phú Thọ tiếp tuc được đặt tại thành phố Việt Trì Ngày 8/4/2002, Chính phủ ra Nghị định số 39- NĐ/CP, thành lập phường Dữu Lâu và phường Bến Gót thuộc thành phố Việt Trì
Ngày 14/10/2004, Thủ tướng chính phủ ký quyết định số 180/QĐ-TTg công nhận thành phố Việt Trì là đô thị loại 2 Mở rộng diện tích, tăng quy mô dân số, thực hiện Nghị định của chính phủ về việc điều chỉnh địa giới hành
Trang 31chính các xã: Chu Hóa, Hy Cương, Thanh Đình (huyện Lâm Thao); Hùng Lô, Kim Đức (thuộc huyện Phù Ninh); Tân Đức (huyện Ba Vì) được sát nhập về thành phố Việt Trì Thành phố cũng thực hiện đầu tư nâng cấp xã lên phường là: Minh nông, Minh Phương và Vân Phú
Như vậy đến thời điểm này, thành phố Việt Trì có 23 đơn vị hành chính gồm 13 phường là: Bạch Hạc, Bến Gót, Thanh Miếu, Thọ Sơn, Gia Cẩm, Tiên Cát, Tân Dân, Nông Trang, Vân Cơ, Dữu Lâu, Minh Phương, Minh Nông, Vân Phú và 10 xã gồm: Sông Lô, Trưng Vương, Phượng Lâu, Thụy Vân, Thanh Đình, Chu Hóa, Hy Cương, Kim Đức, Hùng Lô và Tân Đức
1.2.3 Những nét tiêu biểu về lịch sử, văn hóa của thành phố Việt Trì
Hàng vạn năm về trước trên các bậc thềm phù sa cổ các dòng sông đã có những thị tộc, bộ lạc sinh sống, dấu tích còn lại là hàng trăm địa điểm có chứa những công cụ bằng đá cuội thô sơ các nhà khảo cổ học xếp vào nền văn hóa Sơn Vi thuộc hậu kỳ thời đại đá cũ các ngày nay từ hơn 10 ngàn năm đến 20 ngàn năm Trên địa bàn thành phố Việt Trì phát hiện nhiều di tích có chứa công cụ lao động thuộc văn hóa này Do những biến động về khí hậu và môi trường địa bàn cư trú người Việt cổ bị ảnh hưởng, văn hóa Sơn Vi bị thu hẹp lại, để rồi khoảng 4000 năm cách ngày nay người Việt cổ tiến xuống chiếm lĩnh vùng đồng bằng làm nên nền văn minh sông Hồng với văn hóa Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn nổi tiếng ở khu vực Đông Nam Á Nền văn minh sông Hồng là tiền đề về kinh tế, xã hội, văn hóa để ra đời một nhà nước sơ khai trong lịch sử đó là nhà nước Văn Lang với kinh đô được chọn đặt ở vùng Đất Tổ Phong Châu thuộc Việt Trì, Phú Thọ
Dưới thời phong kiến, Việt Trì không được chú ý xây dựng, không có thành quách, dinh thự, không có cửa quan, nhà trạm Trước khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, Việt Trì chỉ là một thôn thuộc xã Bạch Hạc, huyện Bạch
Hạc, tỉnh Sơn Tây Sách “Các tổng trấn xã danh bị lãm” (làng xã Việt Nam
Trang 32đầu thế kỷ XIX) soạn thời vua Gia Long nói rõ Việt Trì là một thôn của Bạch Hạc, tổng Nghĩa Yên, huyện Bạch Hạc, phủ Tam Đái, trấn Sơn Tây Như vậy
về mặt địa lý -lịch sử cái tên Việt Trì – Bạch Hạc gắn bó với nhau trong cùng một đơn vị hành chính xã suốt thời đại phong kiến, trước khi thực dân Pháp đánh chiếm nước ta Năm 1900 thực dân Pháp cắt một số làng của huyện Lâm Thao và Phù Ninh lập ra huyện Hạc Trì Làng Việt Trì tách khỏi xã Bạch Hạc nhập vào huyện Hạc Trì tỉnh Phú Thọ Nhận rõ Việt Trì là cửa ngõ Việt Bắc,
án ngữ các tuyến giao thông thủy, bộ có vị trí rất quan trọng về mặt kinh tế, quân sự, thực dân Pháp đã thay thế làng Việt Trì thuần túy nông nghiệp xưa kia thành một thị trấn và đặt huyện lỵ huyện Hạc Trì tại đây Thị trấn Việt Trì
ra đời từ đó Những năm đầu của công cuộc xây dựng CNXH miền Bắc, vào cuối năm 1958, nhà nước quyết định xây dựng Việt Trì thành một trong những khu công nghiệp Bốn năm sau khu công nghiệp Việt Trì cơ bản được hoàn thành, ngày 4-6-1962, Hội đồng chính phủ ra quyết định số 65-CP thành lập thành phố Việt Trì trực thuộc tỉnh Phú Thọ
Trải qua bao năm tháng hình thành, xây dựng và phát triển mảnh đất này, người dân cùng nhau đoàn kết xây dựng những truyền thống tốt đẹp trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, những kinh nghiệm quý báu trong lao động sản xuất và trong cuộc sống hàng ngày Người dân Việt Trì chăm chỉ, cần cù lao động, khai khẩn hình thành nên nhiều sản vật quý có tiếng trong vùng: mía mật Tiên Cát, Hồng Hạc, dưa hấu gắn với sự tích dưa hấu của Mai An Tiêm, Quýt Thượng, Quýt Hạ, trầu không Lâu Thượng; các món ăn chế biến
từ vật nuôi như: rắn, chó, thỏ, gà Các món ăn chế biến từ các loại thủy sản: cua, cá, ốc, ếch, ba ba…Việt Trì nói riêng, Phú Thọ nói chung có nhiều món
ăn ngon, đặc sắc gắn liền với truyền thuyết và huyền thoại thời kỳ Hùng Vương như: bánh chưng- bánh giày gắn với sự tích chọn người kế vị, bánh út
Trang 33gắn với sự tích nàng út công chúa con vua Hùng Ngoài ra còn các loại bánh nẳng, bánh tai, xôi cọ, cá Anh Vũ, cá Lăng…Nằm ở vị trí thuận lợi ngã ba sông nên ở đây hình thành, phát triển nghề khai thác cát sỏi trên sông Lô, hình thành cửa ngõ buôn bán với những chợ lớn, chợ Bến Gót, chợ Thanh Miếu Vào những ngày lễ tết, hội hè, sau một năm làm việc cực nhọc, vất vả người dân tụ tập quanh đình vui chơi, nghe hát những làn điệu dân ca đậm đà bản sắc dân tộc: hát ví, hát ghẹo, hát Xoan, hát chèo, hát trống quân, ngâm thơ Bút Tre, vịnh thơ Hồ Xuân Hương và xem những trò giải trí hấp dẫn như: đánh đu, đánh vật, kéo co (Phượng Lâu), cờ người (Chu Hóa và Hy Cương), bơi chải (Tam Giang- Bạch Hạc), đu tiên (Minh Nông) ném còn, cướp bông (Vân Phú), nấu cơm thi, leo dây, múa rối (Bạch Hạc) Đền Tam Giang bên bờ sông Hồng thường là đích đến của các cuộc bơi chải hàng năm xuất phát từ Bạch Hạc lên Các công trình đền chùa, miếu mạo làng nào cũng có trong thành phố cho thấy người dân Việt Trì không chỉ cần cù trong lao động mà còn rất thông minh, sáng tạo, để lại cho hậu thế nhiều công trình kiến trúc có giá trị và nhiều lễ hội nổi tiếng trong và ngoài nước Tiêu biểu là các công trình đình Lâu Thượng, đình Thọ Sơn, đền, chùa Tam Giang, đình Tiên, chùa Hoa Long…Trong phạm vi thành phố Việt Trì có 41 lễ hội, tiêu biểu là lễ hội Đền Hùng hàng năm thu hút khoảng 3-4 triệu lượt người, lễ hội bơi chải- Tam Giang (phường Bạch Hạc), lễ hội Tịch Điền (xã Minh Nông)…Ngoài ra vùng này cũng sản sinh ra những danh nhân văn hóa có tên tuổi mà tiêu biểu
là Trần Tụy- đỗ tiến sĩ thời Mạc Trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc, mảnh đất Việt Trì còn ghi lại tên tuổi và chiến công của hai nữ tướng thời hai Bà Trưng là Bát Nàn và Nàng Nội được nhân dân phụng thờ cho đến ngày nay Vào thế kỷ thứ XIII, ngã ba Hạc- Việt Trì trở thành nơi huấn luyện quân thường xuyên Ngày 11-12-1287 tại Ngã Ba Hạc tướng Trần Nhật Duật chỉ
Trang 34huy một trận huyết chiến chống quân Nguyên- Mông xâm lược Ngày nay ở các làng Thụy Vân (Việt Trì ), Cao Xá, Tứ Xã vẫn còn đền thờ ông
Sự cần cù, sáng tạo trong lao động, ý chí quật cường các trận chiến bảo
vệ quê hương, xóm làng, bảo vệ tổ quốc của người dân trên mảnh đất Phú Thọ nói chung và Việt Trì nói riêng còn in đậm trong tâm trí mỗi người và là niềm tự hào, là truyền thống quý báu trên vùng ngã ba sông này Truyền thống tốt đẹp đó được hun đúc, được bảo tồn và phát huy trong cuộc sống hôm nay đều tự hào là con dân của vùng đất Tổ của mảnh đất mà từ lâu đã trở thành cội nguồn dân tộc
1.3 Đặc điểm chung hệ thống di tích lịch sử- văn hóa của địa bàn thành phố Việt Trì
1.3.1 Số lượng và loại hình di tích lịch sử- văn hóa ở thành phố Việt Trì
Tại thành phố Việt Trì hiện có hơn 151 di tích, trong đó có 48 di tích đã xếp hạng Trong số các di tích đã được xếp hạng có 14 di tích xếp hạng cấp quốc gia, 34 di tích xếp hạng cấp tỉnh và trên 100 di tích còn lại chưa được xếp hạng Trong hệ thống DTLS-VH có mặt cả 3 loại di tích, đó là di tích văn hóa khảo cổ, di tích lịch sử và di tích kiến trúc nghệ thuật
Trang 35Hùng Vương, trong đó có 37 di chỉ thuộc thời kỳ Văn hóa Sơn Vi, 16 di chỉ thuộc văn hóa Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun và 7 di chỉ thuộc văn hóa Đông Sơn mà tiêu biểu là di chỉ khảo cổ học Làng Cả Các di tích khảo cổ học đều nằm trên những gò đồi thấp, sát với khu dân cư, nhà máy, trường học, bệnh viện…cách lưu vực các con sông Hồng, Đà, Lô chừng 500 đến 1500m Con người dưới thời kỳ văn hóa tiền sử là cư dân nông nghiệp, sống định cư và làm ruộng ven chân gò đồi mà họ cư trú, thức ăn chủ yếu là những sản phẩm tự làm trong vùng, sau này mới có kết hợp trồng trọt với chăn nuôi gia súc, vết tích của họ được phản ánh qua tầng văn hóa với độ dầy, trung bình là 0,6m Chúng tôi xin kể ra một số di tích tiêu biểu đại diện cho các nền văn hóa khảo cổ có mặt trên địa bàn thành phố Việt Trì như:
- Văn hóa Sơn Vi có di chỉ Làng Cả, Núi Chùa, Phân Đậu, Phân Muồi, Núi Nỏn, Hóc Vải…
- Văn hóa Phùng Nguyên có các di chỉ Đồi Giàm (xã Phượng Lâu), Gò Ghệ- Gò Dạ, Đồng Sấu, Gò Sạnh, Gò Thờ
- Văn hóa Đồng Đậu có di chỉ Gò Mã Lao (xã Minh Nông)
- Văn hóa Gò Mun có các di chỉ Gò Gai, Gò Tro Trên- Gò Tro Dưới ,
Gò Con Cá, Gò Thế (xã Thụy Vân)
- Văn hóa Đông Sơn có các di chỉ Gò Tôm (xã Minh Phương), di chỉ Gò Hào (xã Trưng Vương), di chỉ Làng Cả (tp Việt Trì)
Trong các di tích văn hóa khảo cổ này đều chứa đựng rất nhiều hiện vật tiêu biểu có giá trị, phản ánh khá đầy đủ và xuyên suốt đời sống, văn hóa, kinh tế, xã hội của cư dân thời kỳ dựng nước Văn Lang Tiêu biểu trong các
di chỉ này là khu di chỉ cư trú- mộ táng làng Cả- Phường Thọ Sơn thành phố Việt Trì thuộc giai đoạn văn hóa Đông Sơn có niên đại khoảng 2000 đến 2500 năm TCN Được phát hiện năm 1959 khi san ủi nhà máy mỳ chính Việt Trì Những năm 1960- 1961 và 1974- 1976 Viện Khảo cổ hoc Việt Nam phối hơp
Trang 36với Ty Văn hóa Vĩnh Phú điều tra, thám sát và đưa ra kết luận Làng Cả vừa
là di chỉ cư trú và vừa là di chỉ mộ táng của cư dân thời Hùng Vương chủ yếu với các loại hình hiện vật là đồ đồng: rìu, dao, giáo, dao găm, đồ đựng có âu thạp, trống đồng minh khí cùng nhiều mảnh nồi nấu đồng, xỉ đồng, khuôn đúc đồng và hàng vạn mảnh gốm vỡ từ các đồ gia dụng chôn theo Năm 1977 và năm 2005, Viện Khảo cổ Việt Nam phối hơp với Sở Văn hóa Thông tin Phú Thọ tiếp tục tiến hành khai, tổng số lần khai quật thám sát cho thấy đây là khu
mộ táng lớn bao gồm 327 mộ, trong đó hơn 300 mộ thuộc thời đại kim khí và
7 mộ mang phong cách thời Bắc thuộc Mật độ phân bố dày đặc, phần lớn huyệt mộ hình chữ nhật, được đào sâu dưới lớp đất khoảng 40- 60cm có chiều dài trung bình 2m rộng 0,5m, bên cạnh tuyệt đại mộ đất thì có 01 mộ vò Trong các ngôi mộ có rất nhiều hiện vật chôn theo khoảng hơn 200 hiện vật gồm nhiều chất liệu: đồng, gốm, đá Với các loại hình đồng là rìu, giáo, dao găm, thuổng, vòng tay, khuyên tai, khóa thắt lưng bằng đồng, trống đồng minh khí, đinh đồng, hộ tâm phiến, mũi lao, mũi dáo, thạp đồng, tượng cóc, dùi, dao khắc…Các loại hình hiện vật đá: khuyên tai, chuỗi hạt, khuy áo Các loại hình hiện vật gốm: Khuôn đúc các loại rìu, dao găm, giáo, chuông, nồi rót đồng, vò, nồi, bình, bát Trong số 327 ngôi mộ phát hiện tại di chỉ Làng Cả nhiều ngôi mộ không có đồ tùy táng là khá lớn (84% mộ không có hiện vật chôn theo), chứng tỏ sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội lúc đó khá sâu sắc Cùng với nó số lượng vũ khí chiếm khá lớn 56% phản ánh những người chiếm hữu tài sản lớn nhất bấy giờ là những thủ lĩnh quân sự Xác định được giá trị to lớn mà di chỉ khảo cổ Làng Cả hàm chứa ngày 19/3/2007 UBND tỉnh Phú Thọ phê duyệt quy hoạch chi tiết tại quyết định số: 592/QĐ- UBND với mục đích bảo tồn, tôn tạo di tích KCH Làng Cả trở thành điểm tham quan phục vụ công tác nghiên cứu khoa học và tham quan du lịch văn hóa trên địa bàn thành phố Việt Trì
Trang 37*Loại hình di tích lịch sử
Lịch sử Việt Trì gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của tỉnh Phú Thọ cũng như lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Trong quá trình ấy để lại nhiều di tích lịch sử, tỉnh Phú Thọ từ 1947 đến năm 1964 đã vinh dự 9 lần đón Chủ tịch Hồ Chí Minh về ở, thăm và làm việc, trong đó Việt Trì có 4 di tích Vào đầu những năm 1947 trong hành trình di chuyển từ thủ đô Hà Nội trở lại chiến khu Việt Bắc trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến trống thực dân Pháp, Hồ Chí Minh chuyển đến ở và làm việc tại
xã Chu Hóa thành phố Việt Trì ngày 19/3/1947 Bác dừng và làm việc tại đây
11 ngày, trong thời gian đó người soạn thảo nhiều văn kiện quan trọng và chủ trì cuộc họp Thường vụ Trung ương Đảng và Hội đồng chính phủ Di tích này
đã được Bộ Văn hóa thông tin xếp hạng quốc gia năm 1999
Vào những năm 60 cả nước bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội vì miền Nam thân yêu ruột thịt, Việt Trì và Thái Nguyên là “Hai đứa con đầu lòng” của công cuộc công nghiệp hóa nước nhà trong những năm này Việt Trì được dự kiến xây dựng thành một tổ hợp kinh tế công nghiệp hiện đại, quy mô tập trung khá lớn, gồm có các nhà máy: Đường, điện, giấy, hóa chất và một số nhà máy khác Hồ Chủ Tịch về thăm công trường xây dựng người nhấn mạnh: “Đây là khu công nghiệp đầu tiên của nước ta Xưa các vua Hùng chọn làm nơi đóng đô dựng nước, nay ta xây dựng trên Đất Tổ một khu công nghiệp to lớn, cơ sở của CNXH Từ đây ta sẽ bắt đầu cho công cuộc xây dựng to lớn của đất nước…”
Địa điểm tại xã Chu Hóa và tại khu công nghiệp Việt Trì là hai trong số
4 địa điểm lưu niệm về chủ tich Hồ Chí Minh được khoanh vùng và bảo vệ Đối với nhân dân cả nước nói chung và đối với nhân dân Việt Trì nói riêng, Bác luôn là vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc, là tấm gương sáng để cho các thế
hệ noi theo
Trang 38*Loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật
Di tích kiến trúc nghệ thuật trên địa bàn thành phố Việt Trì có gần 100/150 di tích bao gồm các loại hình: đình, đền, miếu, chùa Theo số liệu thống kê di tích, trong tổng số các di tích kiến trúc nghệ thuật trên địa bàn Việt Trì, số di tích liên quan đến việc thờ tự vua Hùng và tướng lĩnh vợ con vua Hùng là chủ yếu (gần 80 di tích), như: Đền Hùng, Đình Việt Trì thờ vua Hùng
và công chúa Hoa Dung; Đình Bảo Đà, Đình Dữu Lâu, Đình Hương Trầm thờ các tướng và vợ con Vua Hùng; Đình Thét, An Thái, Đình Lâu Thượng, Đình Hương Lan… còn lại là đền thờ tướng lĩnh các giai đoạn lịch sử khác nhau Hơn 22 ngôi chùa là các giáo đường phật giáo Như vậy có thể thấy rằng có trên 40% tổng số các di tích đình, đền, miếu trên địa bàn là liên quan đến thời đại các vua Hùng Điều đó nói lên tính chất cội nguồn, tính chất kinh đô đậm nét của Việt Trì
Trong di tích liên quan đến thời đại các vua Hùng có những di tích còn được bảo lưu khá nguyên vẹn dấu tích kiến trúc- nghệ thuật thời Hậu Lê và thời Nguyễn như đình Đình Lâu Thượng là một công trình tôn giáo có quy
mô lớn nhất và có giá trị kiến trúc nghệ thuật hàng đầu trong hệ thống di tích thành phố Việt Trì được xếp hạng DTLS- VH quốc gia năm 1975 Đình Lâu Thượng thờ 4 vị thần: Tản Viên Sơn Thánh, Hai Bà Trưng Đình làm theo kiểu chữ Đinh (J) gồm có đại bái 5 gian 2 chái và hậu cung 3 gian Từ ngoài nhìn vào ta thấy, các đầu đao vút lên thanh thoát, nếp bờ dải là những con rồng vươn theo đầu đao, dưới chân là những cụm mây mềm mại, những con thú, con giống bằng đất nung hiên ngang, vững chãi Trên bờ nóc đắp hình lưỡng long chầu nguyệt Đình kết cấu theo kiểu 6 hàng chân cột gỗ, với tổng
số là 60 chiếc cột, đường kính mỗi cột là 75cm, đường kính cột con là 56cm, các xà ngang, xà dọc ăn mộng với nhau tạo thành một bộ khung bền, vững chắc, trên mái lợp ngói mũi hài Đình Lâu thượng là một công trình kiến trúc
Trang 39chạm trổ công phu vào bậc nhất tỉnh Phú Thọ Với tổng số 27 bức chạm, đây
là những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc gỗ dân gian Đề tài tập chung chủ yếu
ở đây là hình ảnh con rồng- biểu tượng sức mạnh vương triều Cad tác phẩm
điêu khắc với đề tài: “Quần long hội tụ”, “Long- Ly- Quy- Phượng”, “Lưỡng
Long chầu nguyệt”, sử dung các kỹ thuật chạm bong, đục thủng công phu
điêu luyện cho ta thấy người nghệ nhân thế kỷ 17 với đôi bàn tay khéo léo, óc sáng tạo làm nên những công trình tuyệt đẹp
Đình Bảo Đà: Thuộc thôn Bảo Đà, phường Dữu Lâu, thờ Tam vị Đại
Vương là Cao Sơn, Quý Minh, Cương Trực là những vi tướng tài thời Hùng Vương thứ 18 Kết cấu kiến trúc, nghệ thuật điêu khắc trang trí của đình cho thấy đình được làm vào cuối thời Hậu Lê theo kiểu chữ Đinh, gồm tòa đại bái
3 gian 2 dĩ, dài 20,5m, rộng 17,5m Tòa được kết cấu theo kiểu 6 hàng chân cột gỗ với tổng số 36 chiếc cột gỗ Toàn bộ các cột đều đươc kê trên cối đá xanh Đặc biệt đình Bảo Đà còn dấu vết dầm sàn từ chân cột đến mộng sàn là 0,50m Tòa hậu cung làm theo kiểu chồng diêm hai tầng mái khiến cho ngôi đình thêm duyên dáng và có phần độc đáo hơn so với những ngôi đình có cùng niên đại Kết cấu hậu cung đình có 4 hàng chân cột với tổng số 12 cột Các cột đều được đánh bóng bào trơn bằng loại gỗ tứ thiết nên rất chắc khỏe
Về mảng điêu khắc đình các nghệ nhân tập trung cao độ đến các vì kèo,
kẻ bẩy, cửa võng hậu cung tạo cho đình một cảm giác nhẹ nhàng uy nghiêm Các bức chạm ở đầu bẩy, dép hoành, của võng, của khám đều được chạm công phu, tỉ mỉ
Có thể nói đình Bảo Đà ngoài giá trị về lịch sử kiến trúc nghệ thuật đây còn là một bảo tàng cổ vật rất phong phú có giá trị về mỹ thuât cổ dân gian:
06 đạo sắc phong triều Nguyễn (Gia Long, Thiệu Trị, Tự Đức, Đồng Khánh, Duy Tân), một quấn ngọc phả viết năm Hồng Phúc nguyên niên tháng trọng đông ngày tốt (năm 1572) do quan Đông các Đại học sĩ Viện hàn lâm
Trang 40Nguyễn Bính phụng soạn môt cuốn ngọc phả chép năm Thuận Thiên (tháng 11/1430) Ngoài ra đình còn rất nhiều hiện vật như: long ngai, kiệu bát cống,
8 cây đèn, 2 giá súng, bộ bát bửu 2 tàn, 2 quán tẩy, thanh la, đĩa đồng, bát hương, nậm rượu và một số bát đĩa cổ thời Lê- Nguyễn…Với những giá trị về mặt lich sử, mỹ thuật quý giá như vậy nên vào năm 1993 đình Bảo Đà được
Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng di tích cấp quốc gia
Đình An Thái được xây dựng vào thời Hậu Lê khoảng cuối thế kỷ 17
đầu thế kỷ 18 Kiến trúc của Đình được làm rộng theo kiểu chữ nhất, theo kiểu 6 hàng chân với 36 chiếc cột gỗ, trong đình còn lưu giữ rất nhiều cổ vật
và hiện vật quý Với những giá trị về kiến trúc nghệ thuật, điêu khắc gỗ cổ và những cổ vật còn lưu giữ được trong di tích cùng với lễ hội hát Xoan truyền thống, đình An Thái được Bộ Văn hóa xếp hạng cấp quốc gia năm 2000
Đình Hùng Lô là một quần thể kiến trúc còn khá nguyên vẹn gồm: Đại
môn, miếu, đình, chùa, văn chỉ, long đình, lầu chuông, lầu trống Kiến trúc khu đình chính gồm 2 tòa 5 gian song hành nối với nhaut tạo nên kiến trúc kiểu chữ công Các mảng chạm khắc công phu đều tập trung tại tòa đại đình, trên các đầu bẩy, cốn, ván mê, các hình chạm với nhiều đề tài phong phú:
“Đánh vật”, “Long cuốn thủy” Các tích dân gian được thể hiện sinh động với
cảnh: Đường Tăng đi Tây Trúc lấy kinh, Đinh Tiên Hoàng tập trận, Ngũ Lão Đăng Sơn, Trúc Lâm thất hiền, Võ tòng đả hổ…sử dụng kỹ thuật chạm bong
tỉ mỷ, chau chuốt kỹ lưỡng thể hiện sâu sắc nội dung các đề tài Người nghệ sĩ dân gian với bàn tay khéo léo và trí óc sáng tạo đã để lại cho chúng ta những
tác phẩm nghệ thuật điêu khắc gỗ “Tạc mà như vẽ” bởi sự tinh tế của đường
nét, bởi sự bố cục nội dung hài hòa chặt chẽ Không chí có giá trị về kiến trúc, nghệ thuật, Đình Hùng Lô còn là một bảo tàng về các sưu tập đồ thờ quý: Đình Hùng Lô có tới 43 câu đối nội dung ca ngợi cảnh đẹp quê hương, công đức các Vua Hùng có giá trị nghệ thuật, văn hóa, ngoài ra còn đỉnh đồng, lọ