1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Không gian lịch sử văn hóa vùng đất mô xoài

269 29 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Không gian lịch sử - văn hóa vùng đất Mô Xoài
Tác giả Đặng Ngọc Hà
Người hướng dẫn GS.TS Nguyễn Quang Ngọc
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Việt Nam học
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 269
Dung lượng 8,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung nghiên cứu của đề tài là : xây dựng cơ sở dữ liệu nghiên cứu. Nhiệm vụ này bao gồm các nội dung sưu tầm, lựa chọn tài liệu, xây dựng hệ cơ sở dữ liệu tổng hợp nhằm sử dụng cho quá trình nghiên cứu. Nghiên cứu, vận dụng cơ sở lí thuyết cho việc thực hiện luận án, trong đó lí thuyết về không gian lịch sử văn hóa có tác dụng định hướng cách thức triển khai nội dung nghiên cứu của luận án. Triển khai tìm hiểu từng hợp phầnthành tố cấu thành nên không gian lịch sử văn hóa vùng đất Mô Xoài, bao gồm cảnh quan tự nhiên, các lớp dân cư, lịch sử, văn hóa. Nhiệm vụ này nhằm xác định diện mạo của các thành tố trong không gian lịch sử văn hóa vùng đất Mô Xoài.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VIỆT NAM HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

GS.TS Nguyễn Quang Ngọc

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các nội dung, kết quả nghiên cứu chưa được công bố dưới bất kì hình thức nào Các dẫn chứng, tài liệu tham khảo được trích dẫn trung thực, đầy đủ Nếu phát hiện bất cứ gian lận nào, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Tác giả

Đặng Ngọc Hà

Trang 4

GS.TS Phạm Hồng Tung, người đã đưa ra những góp ý quý báu cho luận án, trên cương vị là người đứng đầu cơ quan đào tạo, cơ quan công tác, Thầy đã tạo rất nhiều điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu của luận án

PGS.TS Vũ Văn Quân, PGS.TS Phan Phương Thảo, TS Nguyễn Đình Thống, PGS.TS Bùi Hoài Sơn, PGS.TS Phạm Văn Lợi, GS.TS Trương Quang Hải, PGS.TS Nguyễn Thị Phương Chi, TS Vũ Kim Chi, TS Đỗ Thị Hương Thảo đã đưa ra những góp

ý, gợi ý, chỉ dẫn sâu sắc về chuyên môn cho luận án

Ban lãnh đạo Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển cùng các phòng Khoa học Công nghệ và Đào tạo, Nghiên cứu Khu vực học đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho suốt quá trình đào tạo của tôi, đồng thời cũng đóng góp nhiều ý kiến giúp luận án

Các nhà nghiên cứu khác ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu cùng cán bộ địa phương và người dân Bà Rịa - Vũng Tàu đã nhiệt tình đóng góp về chuyên môn, cung cấp tài liệu cho việc thực hiện luận án

Tác giả

Đặng Ngọc Hà

Trang 5

MỤC LỤC

Danh mục các kí hiệu và chữ viết tắt 4

Danh mục các bảng 6

Danh mục các biểu đồ, sơ đồ, lược đồ, bản đồ 9

MỞ ĐẦU 12

1 Lí do chọn đề tài 12

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 13

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 14

4 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu 16

5 Đóng góp mới của luận án 16

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 17

7 Bố cục luận án 18

Chương 1 TỔNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU, LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ, NGUỒN TÀI LIỆU, CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

1.1 Địa bàn nghiên cứu 19

1.1.1 Phạm vi 19

1.1.2 Cảnh quan tự nhiên 26

1.1.2.1 Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên 26

1.1.2.2 Sông, biển, lục địa 30

1.1.3 Các lớp dân cư 33

1.1.3.1 Cư dân tại chỗ 33

1.1.3.2 Người Việt và các cộng đồng đến sau 37

1.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề và nguồn tài liệu 40

1.2.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 40

1.2.1.1 Nghiên cứu tổng thể 40

1.2.1.2 Nghiên cứu chuyên ngành 43

1.2.1.3 Những vấn đề đặt ra cho luận án 46

1.2.2 Tài liệu nghiên cứu 48

1.3 Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu 52

1.3.1 Cơ sở lí luận 52

1.3.1.1 Cảnh quan 52

1.3.1.2 Không gian văn hóa, vùng văn hóa, không gian xã hội 54

Trang 6

1.3.1.3 Không gian lịch sử - văn hóa 57

1.3.1.4 Quan điểm nghiên cứu 59

1.3.2 Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu, khung phân tích 61

Tiểu kết 64

Chương 2 DIỆN MẠO LỊCH SỬ 66

2.1 Khởi nguồn từ hai nền văn hóa Đồng Nai và Sa Huỳnh 66

2.1.1 Dấu tích khảo cổ 66

2.1.2 Không gian cư trú 68

2.2 Vùng biên quan yếu giữa Chămpa và Chân Lạp 70

2.2.1 Văn hóa Óc Eo, vương quốc Phù Nam, thời kì sau Phù Nam 70

2.2.2 Mô Xoài nằm giữa Chămpa và Chân Lạp 73

2.3 Vùng đất đầu tiên ở Nam Bộ được khai phá dưới thời các chúa Nguyễn 76

2.3.1 Lãnh thổ Đàng Trong mở rộng về phía nam 76

2.3.2 Quá trình khai phá vùng đất Mô Xoài 78

2.4 Vị trí quân sự chiến lược 84

2.4.1 Tranh chấp giữa Tây Sơn với Nguyễn Ánh 84

2.4.2 Cuộc nổi dậy Lê Văn Khôi 86

2.4.3 Tổ chức quân sự 91

2.5 Cửa ngõ giao thông của Nam Bộ 97

2.5.1 Đường bộ 97

2.5.2 Đường sông, đường biển 103

2.5.3 Dịch trạm 106

Tiểu kết 109

Chương 3 DIỆN MẠO VĂN HÓA 111

3.1 Văn hóa sản xuất 111

3.1.1 Nông nghiệp 111

3.1.2 Khai thác biển 115

3.1.3 Thương mại 118

3.2 Tương tác sản xuất - xã hội 124

3.2.1 Sở hữu 124

3.2.2 Kết cấu xã hội 127

3.2.3 Di động không gian sản xuất - xã hội 130

3.3 Tín ngưỡng, tôn giáo, lễ hội dân gian 133

3.3.1 Tín ngưỡng 133

Trang 7

3.3.2 Tôn giáo 137

3.3.3 Lễ hội dân gian 139

3.4 Tổ chức không gian công cộng 143

3.4.1 Không gian hành chính 143

3.4.2 Không gian thôn làng 146

3.5 Địa danh 151

3.5.1 Địa danh liên quan đến cảnh quan tự nhiên 151

3.5.2 Địa danh liên quan đến đời sống văn hóa - xã hội 155

Tiểu kết 159

Chương 4 ĐẶC TRƯNG KHÔNG GIAN LỊCH SỬ - VĂN HÓA VÙNG ĐẤT MÔ XOÀI 161

4.1 Một số đặc trưng cơ bản 161

4.1.1 Cảnh quan tự nhiên đa dạng 161

4.1.2 Vị thế địa - chính trị trọng yếu 163

4.1.3 Tiến trình phát triển chịu sự chi phối mạnh của cả tính biển và tính lục địa 166

4.1.4 Tính đa tầng về lịch sử, dân cư 170

4.1.5 Tính đa dạng về văn hóa 172

4.1.6 Nhiều lớp không gian, nhiều tiểu vùng văn hóa 174

4.2 Truyền thống và biến đổi của không gian lịch sử - văn hóa vùng đất Mô Xoài hiện nay 179

4.2.1 Cảnh quan tự nhiên biến đổi nhanh 179

4.2.2 Tính biển quyết định xu thế phát triển 183

4.2.3 Nguồn lực vị thế tiếp tục được phát huy 189

4.2.4 Không gian hành chính có sự kế thừa 192

4.2.5 Dân cư biến động mạnh 195

4.2.6 Tài nguyên văn hóa là lợi thế phát triển hàng đầu 202

Tiểu kết 209

KẾT LUẬN 210

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 215

TÀI LIỆU THAM KHẢO 217 PHỤ LỤC

Trang 8

Danh mục các kí hiệu và chữ viết tắt

DSPVT NL, BVKC Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại

và di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp

pp Từ trang đến trang (page to another page)

TEUs Đơn vị khối lượng vận tải biển tính theo container

(Twenty-foot Equivalent Unit)

TN và MT Tài nguyên và Môi trường

TTKHXH Thông tin Khoa học xã hội

TTLTQG Trung tâm Lưu trữ Quốc gia

Trang 9

UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa

của Liên Hợp Quốc (United Nations Educational Scientific and Cultural Organization)

USD Đô la Mĩ (United States Dollar)

VH và TT Văn hóa và Thể thao

VHTT và DL Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trang 10

Danh mục các bảng

trang

1 Bảng 1.1: Số liệu theo bình quân năm về nhiệt độ, số giờ nắng, lượng

2 Bảng 1.2: Niên đại các di tích khảo cổ ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu 33

3 Bảng 1.3: Dân số tổng An Phú Hạ (tỉnh Bà Rịa) năm 1901 38

4 Bảng 1.4: Tộc người thiểu số và người nước ngoài ở thôn Phước Lễ

5 Bảng 1.5: Dân số các tổng trong tỉnh Bà Rịa năm 1936 40

6 Bảng 2.1: Một số di tích khảo cổ tiêu biểu ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu 66

7 Bảng 3.1: Diện tích ruộng đất ở các thôn xã thuộc huyện Phước An năm

8 Bảng 3.2: Diện tích ruộng đất ở các thôn làng trung tâm Mô Xoài trước

9 Bảng 3.3: Diện tích, số mảnh và diện tích trung bình ruộng muối ở Mô

10 Bảng 3.4: Tình hình mua bán ruộng đất ở Mô Xoài nửa đầu thế kỉ XIX 119

12 Bảng 3.6: Chợ ở vùng đất Mô Xoài thế kỉ XIX và vị trí hiện nay 123

13 Bảng 3.7: Phân bố quy mô sở hữu của các chủ ruộng tư ở các thôn làng

14 Bảng 3.8: Sở hữu của chủ ruộng nữ ở các thôn làng trung tâm Mô Xoài

15 Bảng 3.9: Sở hữu theo nhóm dòng họ ở các thôn làng trung tâm Mô Xoài

16 Bảng 3.10: Chủ sở hữu phụ canh ruộng đất trong các thôn làng trung tâm

17 Bảng 3.11: Nguồn gốc và số lượng chủ ruộng phụ canh ở Mô Xoài đầu

18 Bảng 3.12: Danh sách các thôn làng ở huyện Phước An đầu thế kỉ XIX 147

19 Bảng 3.13: Danh sách các thôn làng ở huyện Phước An năm 1836 147

Trang 11

20 Bảng 3.14: Danh sách các thôn làng ở hạt tham biện Bà Rịa cuối thế kỉ

21 Bảng 3.15: Danh sách các thôn làng ở tỉnh Bà Rịa đầu thế kỉ XX 150

22 Bảng 3.16: Địa danh có chứa yếu tố địa hình ở tỉnh Bà Rịa đầu thế kỉ

23 Bảng 3.17: Địa danh có chứa yếu tố nước ở tỉnh Bà Rịa đầu thế kỉ XX 154

24 Bảng 3.18: Địa danh có chứa yếu tố biển ở tỉnh Bà Rịa đầu thế kỉ XX 155

25 Bảng 3.19: Các yếu tố “Phước”, “Long” trong tên gọi tổng, thôn làng ở

26 Bảng 3.20: Địa danh liên quan đến văn hóa sản xuất ở tỉnh Bà Rịa đầu

31 Bảng 4.3: Diện tích, sản lượng của một số loại cây trồng ở tỉnh Bà Rịa -

32 Bảng 4.4: Cơ cấu tổng sản phẩm theo khu vực kinh tế (tính cả dầu thô

và khí đốt) tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2019 184

33 Bảng 4.5: Cơ cấu tổng sản phẩm theo khu vực kinh tế (không tính dầu

thô và khí đốt) tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giai đoạn từ năm 2010 đến năm

34 Bảng 4.6: Số lượng tàu, thuyền có động cơ khai thác hải sản của tỉnh Bà

Rịa - Vũng Tàu giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2019 187

35 Bảng 4.7: Số lượng tàu, thuyền có động cơ khai thác hải sản theo nhóm

ngành nghề của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giai đoạn từ năm 2015 đến năm

36 Bảng 4.8: Sản lượng thủy sản, hải sản tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giai đoạn

Trang 12

37 Bảng 4.9: Tổng sản phẩm bình quân đầu người một năm của tỉnh Bà Rịa

- Vũng Tàu giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2019 191

38 Bảng 4.10: Sự kế thừa tên gọi đơn vị hành chính ở tỉnh Bà Rịa - Vũng

Tàu hiện nay so với thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX 194

40 Bảng 4.12: Dân số tỉnh Phước Tuy phân theo tộc người năm 1974 197

41 Bảng 4.13: Dân số tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu năm 2009 199

42 Bảng 4.14: Diện tích, dân số, mật độ dân số tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu năm

43 Bảng 4.15: Nơi xuất cư của người di dân đến Vũng Tàu trong những

44 Bảng 4.16: Dân số trung bình và tỉ lệ tăng dân số tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

phân theo thành thị, nông thôn giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2019 201

45 Bảng 4.17: Dân số trung bình phân theo đơn vị hành chính tỉnh Bà Rịa

- Vũng Tàu giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2019 202

46 Bảng 4.18: Người theo Công giáo từ miền Bắc di cư tới tỉnh Bà Rịa và

51 Bảng 4.23: Số lượt khách du lịch nội địa đến tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

Trang 13

Danh mục các biểu đồ, sơ đồ, lược đồ, bản đồ

trang

1 Hình a: Lược đồ hành chính tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu năm 2020 10

2 Hình b: Lược đồ không gian hành chính tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu năm

2020 trong liên vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Nam Trung Bộ 11

3 Hình 1.1: Sơ đồ trung tâm Mô Xoài và không gian phụ cận vùng trung

5 Hình 1.3: Lược đồ địa hình tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trong liên vùng Đông

6 Hình 1.4: Lược đồ địa hình tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu năm 2020 28

7 Hình 1.5: Người “Mọi Bà Rịa” và vùng đất Mô Xoài đầu thế kỉ XIX 35

9 Hình 2.1: Đường giao thông ở vùng đất Mô Xoài cuối thế kỉ XIX 98

10 Hình 2.2: Khu vực phía đông trung tâm Mô Xoài cuối thế kỉ XIX 101

11 Hình 2.3: Khu vực phía đông trung tâm Mô Xoài đầu thế kỉ XX 101

12 Hình 2.4: Bản đồ địa hình khu vực Tp Bà Rịa và huyện Long Điền hiện

13 Hình 2.5: Đường thủy ở vùng đất Mô Xoài đầu thế kỉ XIX 104

14 Hình 3.1: Vị trí một số chợ lớn ở vùng đất Mô Xoài thế kỉ XIX 120

15 Hình 3.2: Diện tích ruộng tư ở các thôn làng trung tâm Mô Xoài năm

Trang 14

Hình a: Lược đồ hành chính tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu năm 2020

(Thành lập: Đặng Ngọc Hà, Nguyễn Quang Anh hỗ trợ kĩ thuật)

Trang 15

Hình b: Lược đồ không gian hành chính tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu năm 2020

trong liên vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Nam Trung Bộ

(Thành lập: Đặng Ngọc Hà, Nguyễn Quang Anh hỗ trợ kĩ thuật)

Trang 16

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Đề tài của luận án được lựa chọn dựa trên các lí do về học thuật và thực tiễn

Sự phát triển của khu vực học đặt ra nhiều vấn đề học thuật cần phải tiếp tục nghiên cứu Hơn nữa, khu vực học không chỉ đơn thuần là khoa học cơ bản, nó còn có tính ứng dụng trong thực tiễn phát triển Đề tài luận án góp phần nghiên cứu về vùng đất

Mô Xoài xưa, mà ngày nay về cơ bản tương đương với tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Hiện vẫn còn nhiều khoảng trống nhận thức về vùng đất Mô Xoài, hơn nữa tìm hiểu về vùng đất này còn có ý nghĩa góp phần vào quá trình phát triển hiện tại và tương lai của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

Thứ nhất, có nhiều cách thức tiếp cận nghiên cứu về một vùng đất nhưng chưa

có nhiều nghiên cứu theo hướng khu vực học với cách tiếp cận không gian lịch sử - văn hóa Một số nghiên cứu tiếp cận không gian lãnh thổ theo các vấn đề cụ thể như lịch sử, kinh tế, văn hóa, xã hội, tộc người, tín ngưỡng, tôn giáo v.v… Những cách tiếp cận ấy đã có nhiều đóng góp, nhưng dường như chưa đủ để hiểu đặc trưng của một khu vực Nghiên cứu khu vực học theo hướng tiếp cận không gian lịch sử - văn hóa tỏ ra có hiệu quả nhằm tìm hiểu đặc trưng của một vùng đất, giúp nhận thức cả điều kiện tự nhiên, chủ nhân, quá trình lịch sử cùng đời sống văn hóa của không gian

đó

Thứ hai, Mô Xoài là một không gian lịch sử - văn hóa khá tiêu biểu của Nam

Bộ, nghiên cứu về vùng đất này sẽ giúp hiểu được quá trình lịch sử lãnh thổ của dân tộc Việt Nam ở khu vực Nam Bộ cùng diện mạo văn hóa trên vùng đất mới phương Nam Hiện đã có một số công trình nghiên cứu về từng khía cạnh hoặc nghiên cứu tổng thể về vùng đất Mô Xoài, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề phải tiếp tục thảo luận, nghiên cứu kĩ lưỡng hơn để nhận diện đặc trưng, bản sắc của vùng đất này Trong thời kì khai phá, xác lập chủ quyền Nam Bộ dưới thời các chúa Nguyễn vào thế kỉ XVII, Mô Xoài trở thành tiền đồn, cần có nghiên cứu để làm rõ hơn vì sao Mô Xoài lại được lựa chọn trở thành điểm khởi đầu cho quá trình mở cõi về phương Nam của dân tộc Việt Nam Trong các thời kì tiếp theo, Mô Xoài tiếp tục được định hình để trở thành không gian - lịch sử văn hóa với nhiều đặc trưng Cần phải nhận diện các

Trang 17

đặc trưng này trong một tổng thể để thấy được diện mạo của không gian lịch sử - văn hóa, đặt trong bối cảnh rộng hơn là quá trình người Việt Nam tiến dần về phương Nam để hình thành những bản sắc văn hóa ở vùng đất mới Gần đây có cuộc thảo luận về lịch sử Việt Nam cần “một cái nhìn từ biển” hay “một cái nhìn từ vùng cao”, nghiên cứu về Mô Xoài cũng có thể tham gia vào cuộc thảo luận này

Thứ ba, Bà Rịa - Vũng Tàu đang là một tỉnh phát triển rất năng động, đây là

không gian hành chính hiện đại nằm trên vùng đất Mô Xoài xưa, đặc trưng truyền thống của Mô Xoài là tiền đề cho sự phát triển hiện nay và tương lai, nhưng truyền thống không bất biến mà luôn thay đổi bên cạnh tính kế thừa Vì vậy, tìm hiểu về vùng đất Mô Xoài không chỉ để nhận thức về không gian lịch sử - văn hóa mà còn có

ý nghĩa góp phần thúc đẩy quá trình phát triển hiện nay ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

Từ các lí do trên, tác giả luận án lựa chọn đề tài nghiên cứu mang tên: Không

gian lịch sử - văn hóa vùng đất Mô Xoài

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Thực hiện luận án Không gian lịch sử - văn hóa vùng đất Mô Xoài hướng tới hai mục đích Thứ nhất, mục đích chính, nghiên cứu các hợp phần hay thành tố để từ

đó nhận diện đặc trưng của vùng đất Mô Xoài với ý nghĩa là một không gian lịch sử

- văn hóa Thứ hai, tìm hiểu tính liên tục và sự biến đổi của không gian lịch sử - văn

hóa vùng đất Mô Xoài trong quá trình phát triển hiện nay của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

Để thực hiện hai mục đích nghiên cứu trên, luận án tiến hành triển khai năm nhiệm vụ:

Thứ nhất, xây dựng cơ sở dữ liệu nghiên cứu Nhiệm vụ này bao gồm các nội

dung sưu tầm, lựa chọn tài liệu, xây dựng hệ cơ sở dữ liệu tổng hợp nhằm sử dụng cho quá trình nghiên cứu

Thứ hai, nghiên cứu, vận dụng cơ sở lí thuyết cho việc thực hiện luận án, trong

đó lí thuyết về không gian lịch sử - văn hóa có tác dụng định hướng cách thức triển khai nội dung nghiên cứu của luận án

Thứ ba, triển khai tìm hiểu từng hợp phần/thành tố cấu thành nên không gian

lịch sử - văn hóa vùng đất Mô Xoài, bao gồm cảnh quan tự nhiên, các lớp dân cư, lịch

sử, văn hóa Nhiệm vụ này nhằm xác định diện mạo của các thành tố trong không gian lịch sử - văn hóa vùng đất Mô Xoài

Trang 18

Thứ tư, phân tích tổng hợp, đánh giá các hợp phần/thành tố cùng mối quan hệ

giữa chúng nhằm nhận diện đặc trưng của không gian lịch sử - văn hóa vùng đất Mô Xoài

Thứ năm, phân tích các vấn đề cơ bản trong quá trình phát triển hiện nay của

tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để tìm hiểu những yếu tố mới và tính kế thừa từ không gian lịch sử - văn hóa vùng đất Mô Xoài

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là không gian lịch sử - văn hóa của vùng đất Mô Xoài Không gian lịch sử - văn hóa là hướng tiếp cận, quan điểm học thuật Hướng tiếp cận này được áp dụng vào không gian cụ thể là Mô Xoài, tên gọi trước kia của một vùng đất về cơ bản tương đương với phạm vi tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ngày nay

Phạm vi nghiên cứu của luận án:

Về không gian, luận án tìm hiểu về vùng đất Mô Xoài Tên gọi Mô Xoài xuất

hiện từ thế kỉ XVII, là tên gọi dân gian, không phải là tên gọi hành chính Về cơ bản, vùng đất Mô Xoài tương đương với không gian hành chính phần đất liền của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu hiện nay Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu gồm phần đất liền và quần đảo Côn Sơn Vùng đất Mô Xoài về cơ bản trùng với không gian hành chính ngày nay của Tp Bà Rịa, Tx Phú Mỹ, cùng các huyện Long Điền, Đất Đỏ, Xuyên Mộc, Châu Đức Tp Vũng Tàu tuy lúc đầu không hẳn thuộc Mô Xoài nhưng lại có các mối liên

hệ mật thiết, do đó cũng dần trở thành không gian mở rộng của vùng đất Mô Xoài Huyện đảo Côn Đảo nằm ở quần đảo Côn Sơn là thực thể hành chính nằm cách xa phần đất liền của Bà Rịa - Vũng Tàu, luận án cũng sẽ đề cập phần nào đến huyện đảo này trong các mối liên hệ với phần đất liền

Về thời gian, tên gọi Mô Xoài được sử dụng liên tục, phổ biến từ thế kỉ XVII

đến thế kỉ XIX, nhưng phạm vi nghiên cứu của luận án không chỉ bao gồm thời gian trên Tiếp cận không gian lịch sử - văn hóa nhấn mạnh đến tính liên tục của thời gian, nhưng có điểm nhấn ở những giai đoạn quan trọng Luận án tìm hiểu cả thời gian trước thế kỉ XVII vì còn có nhiều khoảng trống về nhận thức, hơn nữa là thời điểm trước khi hình thành vùng đất Mô Xoài Thời gian nghiên chủ yếu của luận án là giai đoạn từ thế kỉ XVII đến đầu thế kỉ XXI, phần lớn dung lượng của luận án sẽ trình bày

Trang 19

về khoảng thời gian này Thế kỉ XVII và thế kỉ XVIII là thời kì hình thành, thế kỉ XIX là thời kì định hình căn bản không gian lịch sử - văn hóa của vùng đất Mô Xoài

Từ nửa cuối thế kỉ XIX cho đến trước năm 1945 có sự thay đổi lớn khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, là thời kì cận đại hóa, nhưng xét về tổng thể đây vẫn là thời kì

“truyền thống” trong lịch sử Việt Nam Từ sau năm 1945 đến nay là thời kì hiện đại, luận án cũng quan tâm đến giai đoạn này vì tính liên tục và biến đổi của không gian lịch sử - văn hóa Mô Xoài Như vậy, phạm vi thời gian của luận án là từ khởi nguồn cho đến ngày nay nhưng thời gian nghiên cứu chính là giai đoạn từ thế kỉ XVII đến đầu thế kỉ XXI

Về nội dung, luận án triển khai nghiên cứu các hợp phần/thành tố và đặc trưng

chung của không gian lịch sử - văn hóa vùng đất Mô Xoài Các hợp phần của không gian lịch sử - văn hóa vùng đất Mô Xoài bao gồm cảnh quan tự nhiên, các lớp dân

cư, lịch sử, văn hóa

Cảnh quan tự nhiên là điều kiện nền, vốn hiện hữu từ rất lâu trong lịch sử tự nhiên của trái đất, có thể coi nó là tổng hợp của các yếu tố về điều kiện tự nhiên Các lớp dân cư là yếu tố con người, chủ thể của lịch sử, văn hóa, luận án nhấn mạnh đến các lớp dân cư là chủ nhân của vùng đất Mô Xoài và những thay đổi về quy mô dân

số qua các thời kì

Lịch sử hình thành, định hình của vùng đất Mô Xoài được tạo dựng chủ yếu

từ thế kỉ XVII đến thế kỉ XIX, luận án chỉ trình bày những nét tiêu biểu về diện mạo lịch sử, đó là những điểm nổi bật góp phần tạo nên đặc trưng của cả không gian lịch

sử - văn hóa vùng đất Mô Xoài

Diện mạo văn hóa ở Mô Xoài được trình bày trong quá trình hình thành, tạo dựng và định hình của vùng đất Mô Xoài, tức là từ thế kỉ XVII đến thế kỉ XIX, một phần ở đầu thế kỉ XX; khái niệm văn hóa sử dụng trong luận án được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm văn hóa sản xuất, văn hóa tinh thần, không gian văn hóa, tương tác sản xuất - xã hội; luận án không đề cập đến toàn bộ các vấn đề trong đời sống văn hóa, chỉ trình bày những diện mạo tiêu biểu, nổi bật tạo nên đặc trưng của không gian lịch sử - văn hóa vùng đất Mô Xoài

Một nội dung nữa của luận án là tìm hiểu tính liên tục và sự biến đổi của không gian lịch sử - văn hóa vùng đất Mô Xoài đặt trong bối cảnh hiện nay của tỉnh Bà Rịa

Trang 20

- Vũng Tàu; tính liên tục và sự biến đổi diễn ra trong từng hợp phần/thành tố và đặc trưng tổng thể của không gian lịch sử - văn hóa vùng đất Mô Xoài

4 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

Câu hỏi nghiên cứu được luận án đặt ra là: Không gian lịch sử - văn hóa vùng

đất Mô Xoài bao gồm các hợp phần/thành tố gì, nội dung của chúng như thế nào? Đặc trưng của không gian lịch sử - văn hóa vùng đất Mô Xoài là gì? Sự liên tục của không gian lịch sử - văn hóa vùng đất Mô Xoài còn hiện diện ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu với mức độ ra sao?

Giả thuyết nghiên cứu được đưa ra như sau: Mô Xoài là không gian lịch sử -

văn hóa có một số đặc trưng; Các đặc trưng ấy được tạo thành từ sự hòa quyện trong mối quan hệ tổng hợp của các hợp phần/thành tố gồm tự nhiên, con người, lịch sử, văn hóa; Không gian lịch sử - văn hóa vùng đất Mô Xoài vẫn có tính liên tục đến ngày nay, bên cạnh đó có những yếu tố mới đã và đang xuất hiện trong quá trình phát triển của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

5 Đóng góp mới của luận án

Luận án có đóng góp mới trên ba phương diện: cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu; nội dung nghiên cứu; nguồn tài liệu

Về cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu, đóng góp của luận án thể hiện

ở cách thức tiếp cận về vùng đất Mô Xoài dưới góc nhìn không gian lịch sử - văn hóa,

vì sử dụng cách tiếp cận này nên liên ngành trở thành phương pháp nghiên cứu có hiệu quả Hiện nay, chưa có công trình nghiên cứu nào nhìn Mô Xoài dưới góc độ không gian lịch sử - văn hóa, vì vậy đây là hướng tiếp cận mới

Về nội dung nghiên cứu, từ cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu, luận án

trình bày không gian lịch sử - văn hóa vùng đất Mô Xoài trên các phương diện hợp phần/thành tố và đặc trưng của không gian tổng thể Những đặc trưng của không gian lịch sử - văn hóa vùng đất Mô Xoài là đóng góp nổi bật của luận án Luận án đã nhận diện có hệ thống, khá đầy đủ về đặc trưng của không gian lịch sử - văn hóa vùng đất

Mô Xoài Trong luận án, có những nội dung được nhận thức sâu hơn, mới hơn, có phần đầy đủ hơn so với các nghiên cứu đi trước, chẳng hạn như: Vị trí địa chiến lược của Mô Xoài thể hiện trong quá trình mở cõi dưới thời các chúa Nguyễn vào thế kỉ XVII, cuộc tranh chấp giữa quân Tây Sơn với Nguyễn Ánh, cuộc nổi dậy Lê Văn

Trang 21

Khôi; Hệ thống giao thông liên hoàn mang tính cửa ngõ Nam Bộ của Mô Xoài qua đường sông, đường biển, đường bộ; Sản xuất muối là nét độc đáo trong văn hóa sản xuất; Địa danh chịu tác động mạnh của tự nhiên, xã hội

Về nguồn tài liệu, đóng góp của luận án thể hiện ở việc khai thác một số tài

liệu trước kia chưa được quan tâm nghiên cứu Nổi bật là một số tài liệu sau: Địa bạ vùng đất Mô Xoài thế kỉ XIX đã được giới thiệu trong công trình tập hợp tư liệu về địa bạ Nam Bộ của Nguyễn Đình Đầu, nhưng công trình trên chỉ tập hợp các số liệu tổng thể về quy mô diện tích, các loại hình sở hữu trong các thôn làng, tác giả luận

án không chỉ dừng lại ở những số liệu tổng thể mà đã đi sâu khai thác trực tiếp từng văn bản địa bạ, phân tích tương đối chi tiết, khá kĩ lưỡng các số liệu trong mỗi địa bạ; Một số bản đồ về vùng đất Mô Xoài chưa được các nhà nghiên cứu đi trước biết tới, hoặc chưa được quan tâm tìm hiểu, luận án đã khai thác, sử dụng một số bản đồ này; Các tài liệu về hành chính, dân cư, kinh tế của vùng đất Mô Xoài thời kì Pháp thuộc, thời kì Việt Nam Cộng hòa nằm trong các kho lưu trữ cũng được tác giả khai thác, sử dụng cho luận án

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Việc thực hiện luận án đã đem lại một số ý nghĩa khoa học như sau:

Thứ nhất, đóng góp một phần vào lí luận nghiên cứu về khu vực học qua hướng tiếp cận không gian lịch sử - văn hóa Tiếp tục góp thêm một thực nghiệm nghiên cứu

về không gian lịch sử - văn hóa

Thứ hai, cung cấp thêm nhận thức về lịch sử Việt Nam giai đoạn khai phá, xác lập chủ quyền của các chúa Nguyễn ở Nam Bộ các thế kỉ XVII, XVIII; lịch sử, văn hóa Nam Bộ thế kỉ XIX

Thứ ba, đóng góp một phần nhận thức vào nghiên cứu mối quan hệ giữa truyền thống và phát triển qua trường hợp vùng đất Mô Xoài xưa và tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu hiện nay

Về thực tiễn, nội dung luận án sẽ có một số đóng góp sau:

Thứ nhất, cung cấp một phần luận cứ cho quá trình phát triển hiện nay của tỉnh

Bà Rịa - Vũng Tàu

Thứ hai, là tài liệu phục vụ cho việc giảng dạy về khu vực học, lịch sử, văn hóa địa phương ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

Trang 22

7 Bố cục luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án Không gian

lịch sử - văn hóa vùng đất Mô Xoài có bốn chương

Chương 1: Tổng quan địa bàn nghiên cứu, lịch sử nghiên cứu vấn đề, nguồn tài liệu, cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu Nội dung tổng quan có ba phần:

Địa bàn nghiên cứu, gồm phạm vi, cảnh quan tự nhiên, các lớp dân cư; Lịch sử nghiên cứu vấn đề và nguồn tài liệu, gồm lịch sử nghiên cứu và tài liệu nghiên cứu; Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu, gồm cơ sở lí luận, cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu, khung phân tích Thực ra, cảnh quan tự nhiên, các lớp dân cư là hai hợp phần/thành tố của không gian lịch sử - văn hóa vùng đất Mô Xoài, nhưng nó có ý nghĩa cơ sở, nền tảng nên được đưa vào nội dung tổng quan

Chương 2: Diện mạo lịch sử Nội dung của chương trình bày những điểm nổi

bật về lịch sử, có ý nghĩa tạo nên đặc trưng của không gian lịch sử - văn hóa vùng đất

Mô Xoài Diện mạo lịch sử, tức là hợp phần/thành tố lịch sử trong không gian lịch sử

- văn hóa vùng đất Mô Xoài Chương này nhấn mạnh diện mạo lịch sử trong các thế

kỉ XVII, XVIII, XIX, là giai đoạn ra đời, định hình không gian lịch sử - văn hóa vùng đất Mô Xoài

Chương 3: Diện mạo văn hóa Nội dung của chương không trình bày toàn bộ

đời sống văn hóa, mà hướng đến các điểm nổi bật góp phần tạo nên đặc trưng của không gian lịch sử - văn hóa vùng đất Mô Xoài Diện mạo văn hóa là một hợp phần/thành tố của không gian lịch sử - văn hóa vùng đất Mô Xoài Trong chương, nhấn mạnh đến diện mạo văn hóa trong các thế kỉ XVII, XVIII, XIX, một số khía cạnh được đề cập đến trước năm 1945, thuộc giai đoạn truyền thống của văn hóa Việt Nam

Chương 4: Đặc trưng không gian lịch sử - văn hóa vùng đất Mô Xoài Nội

dung của chương gồm hai phần Đầu tiên là các đặc trưng của không gian lịch sử - văn hóa vùng đất Mô Xoài được nhận diện từ quá trình tổng kết các hợp phần/thành

tố đã trình bày trong các chương trước Tiếp theo là tính liên tục của truyền thống cùng những biến đổi, yếu tố mới của không gian lịch sử - văn hóa vùng đất Mô Xoài tồn tại trong quá trình phát triển hiện nay ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

Trang 23

Chương 1 TỔNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU, LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ, NGUỒN TÀI LIỆU,

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trong chương tổng quan này, hai nội dung hay là hợp phần/thành tố của không gian lịch sử - văn hóa vùng đất Mô Xoài là cảnh quan tự nhiên, các lớp dân cư được đưa vào mục tổng quan địa bàn nghiên cứu Mặc dù là hai hợp phần nhưng nó lại mang ý nghĩa cơ sở để nhận diện đặc trưng của không gian lịch sử - văn hóa vùng đất

Mô Xoài Các hợp phần lịch sử, văn hóa được tạo thành trên nền tảng của cảnh quan

tự nhiên cùng chủ nhân là các lớp dân cư, quan hệ giữa hai thành tố này chi phối các thành tố lịch sử và văn hóa Cảnh quan tự nhiên và các lớp dân cư lại có tính gắn kết chặt chẽ trong phạm vi không gian với ý nghĩa là không gian vật lí của vùng đất Mô Xoài

1.1 Địa bàn nghiên cứu

1.1.1 Phạm vi

Dưới thời các chúa Nguyễn, Mô Xoài là vùng đất được khai phá sớm nhất ở Nam Bộ Tên gọi vùng đất này xuất hiện từ thế kỉ XVII Trải qua quá trình lịch sử, ngày nay địa danh dân gian này dần phai nhạt trong kí ức của người dân địa phương Nhiều nghiên cứu sau này cũng không biết đến vị trí vùng đất Mô Xoài Với việc kết hợp nhiều nguồn tư liệu có thể định vị Mô Xoài là vùng đất rộng lớn tương đương với phần đất liền của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

Trong thư tịch cổ của Việt Nam, vùng đất Mô Xoài được nhắc đến sớm nhất trong Phủ biên tạp lục do Lê Quý Đôn biên chép vào nửa cuối thế kỉ XVIII Sự kiện

sớm nhất liên quan đến Mô Xoài được ghi nhận vào năm 1658 Trong năm này, chúa

Nguyễn đem quân đến Mô Xoài chống lại Chân Lạp Mặc dù sách Phủ biên tạp lục

chép về sự kiện này nhưng không nói rõ địa điểm chúa Nguyễn đưa quân đến là Mô

Xoài [115, tr 72] Đầu thế kỉ XIX, trong sách Gia Định thành thông chí, Trịnh Hoài

Đức đã bổ sung thiếu sót của Lê Quý Đôn khi nói rõ Đàng Trong đánh bại quân Chân

Lạp ở Mô Xoài [119, tr 109] Đại Nam thực lục, bộ sử đồ sộ, chính thống của nhà

Nguyễn do Quốc sử quán biên soạn cũng đề cập đến sự kiện năm 1658 tại Mô Xoài [233, tr 72]

Trang 24

Mô Xoài là vùng đất đầu tiên được khai phá ở Nam Bộ, mở mang vùng đất này có ý nghĩa quyết định trong việc tiến tiếp về phương Nam, xác lập chủ quyền toàn miền Gia Định Vị danh tướng mở cõi Nguyễn Cư Trinh đã nói với chúa Nguyễn Phúc Khoát: “Đời trước lập Gia Định, tất trước mở xứ Mỗi Xoài [Mô Xoài], rồi mở

xứ Đồng Nai, để cho quân dân hoàn tụ, rồi mở xứ Sài Gòn, thế là lấy ít đánh nhiều, lấn dần như tằm ăn” [115, tr 159] Như vậy, để hoàn thành công cuộc khai phá Nam

Bộ thì phải khai mở vùng đất Mô Xoài đầu tiên

Trịnh Hoài Đức đã ghi lại vị trí của vùng đất Mô Xoài như sau: “Lúc ấy địa đầu của Gia Định là Mô Xoài và Đồng Nai (nay là trấn Biên Hòa)” [119, tr 109] Mô Xoài nằm gần Đồng Nai, ở vị trí địa đầu của vùng đất Gia Định, tức Nam Bộ ngày nay Theo quan niệm dân gian của người Việt ở các thế kỉ XVII - XIX, Đồng Nai vừa

là tên gọi toàn bộ vùng Gia Định, nhưng cũng là tên riêng của một đơn vị hành chính

là trấn Biên Hòa, rồi tỉnh Biên Hòa Sài Gòn là tên gọi của trấn Phiên An, sau này là tỉnh Gia Định Từ những dữ kiện trên, có thể mường tượng vị trí của Mô Xoài nằm ở phía bắc của Nam Bộ ngày nay, và nằm cạnh Đồng Nai, Sài Gòn

Đầu thế kỉ XIX, trong sách Hoàng Việt nhất thống dư địa chí, Lê Quang Định

đã đề cập đến “trạm Mô Xoài” nằm trong hệ thống giao thông của trấn Biên Hòa [113, tr 85] Trong sách này còn cho biết chi tiết về các địa danh “sông Mô Xoài”,

“cầu Mô Xoài” cùng hai làng Long Hương, Phước Lễ: “Cầu sông Mô Xoài, cầu dài

22 tầm, tục gọi là cầu Mô Xoài, lệ bắt dân hai thôn phường Long Hương và Phước

Lễ làm cầu” [113, tr 85] Sách Gia Định thành thông chí khi đề cập về sông Hương

Phước ở trấn Biên Hòa có nói con sông này còn có tên khác là “Mô Xoài” và cũng nhắc tên hai làng Long Hương, Phước Lễ: “tức là sông Mô Xoài, là nơi hai thôn Long Hương và Phước Lễ cùng đài thọ lính trạm” [119, tr 37]

Phần “Cương vực chí” của trấn Biên Hòa trong sách Gia Định thành thông chí

cho biết hai làng Long Hương, Phước Lễ thuộc tổng An Phú, huyện Phước An [119,

tr 140] Vào những năm 30 của thế kỉ XIX, tổng An Phú được chia thành An Phú Thượng và An Phú Hạ, trong đó Long Hương và Phước Lễ thuộc tổng An Phú Hạ [14, 25, 26]

Tài liệu địa bạ lập vào năm Minh Mệnh thứ 17 (1836) đã giúp nhận diện vị trí của Mô Xoài với trung tâm là các làng Long Hương, Phước Lễ, Long Kiên và Long

Trang 25

Xuyên Trong các thôn của tổng An Phú Hạ, bốn thôn này được ghi chép đất đai thuộc

“xứ Mô Xoài”

- Địa bạ làng Long Hương cho biết:

Nguyên văn: “一 本 村 地 分 每 𣒱 處 壹 處” [14, tờ 3b]

Phiên âm: Nhất bản thôn địa phận Mô Xoài xứ nhất xứ

Dịch nghĩa: Thôn có một xứ là Mô Xoài

- Địa bạ thôn Phước Lễ ghi lại:

Nguyên văn: “一 本 村 地 分 每 𣒱 處 壹 處” [25, tờ 1b]

Phiên âm: Nhất bản thôn địa phận Mô Xoài xứ nhất xứ

Dịch nghĩa: Thôn có một xứ là Mô Xoài

- Địa bạ thôn Long Kiên chép:

Nguyên văn: “一 本 村 地 分 每 𣒱 處” [15, tờ 1b]

Phiên âm: Nhất bản thôn địa phận Mô Xoài xứ

Dịch nghĩa: Thôn có xứ Mô Xoài

- Địa bạ thôn Long Xuyên viết:

Nguyên văn: “一 本 村 地 分 每 𣒱 喀 處 贰 處” [20, tờ 1b]

Phiên âm: Nhất bản thôn địa phận Mô Xoài, Khách xứ, nhị xứ

Dịch nghĩa: Thôn có hai xứ là Mô Xoài và Khách xứ (xứ đất do người nơi khác đến canh tác)

Các làng cổ ở trung tâm Mô Xoài là Long Hương, Phước Lễ, Long Kiên, Long Xuyên ngày nay thuộc Tp Bà Rịa (tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) Tên các làng cổ Phước

Lễ, Long Kiên, Long Xuyên không còn, riêng tên làng cổ Long Hương hiện là tên gọi của phường Long Hương Làng Phước Lễ hiện nay được phân tách thành nhiều phường, gồm: Phước Hiệp, Phước Hưng, Long Tâm, Phước Nguyên, Phước Trung, Long Toàn Làng Long Hương chia thành phường Long Hương và phường Kim Dinh Làng Long Kiên xưa gồm các phường Phước Hưng, Long Tâm và một phần xã Hòa Long Làng Long Xuyên hiện tương đương với xã Tân Hưng, một phần các xã Hòa Long, Long Phước [56; 61, mảnh C48-35C, C48-35D, C48-47A, C48-47B; 306]

Ngoài tên xứ đất trong địa bạ, còn có các địa danh khác liên quan đến vùng trung tâm Mô Xoài là trạm Mô Xoài, cầu Mô Xoài, sông Mô Xoài, núi Mô Xoài, thành Mô Xoài, lũy Mô Xoài

Trang 26

Trạm Mô Xoài là dịch trạm đường bộ và đường thủy, có vai trò trọng yếu trong vận chuyển công văn, giấy tờ từ kinh đô Huế vào Nam Bộ, trạm đóng ở làng Long Hương, đến năm 1822 đổi tên thành trạm Biên Long [113, tr 78-80; 119, tr 79; 232,

tr 78; 234, tr 234-235; 349] Cầu Mô Xoài nối hai làng Long Hương, Phước Lễ qua sông Mô Xoài, ngày nay ở vị trí của cầu Mô Xoài xưa là cầu Long Hương, nối hai phường Long Hương và Phước Hiệp cùng thuộc Tp Bà Rịa

Như đã nói ở trên, các sách Hoàng Việt nhất thống dư địa chí, Gia Định thành

thông chí có nhắc đến tên sông Mô Xoài Cuối thế kỉ XIX, trong bản đồ Plan topographique de L’arrondissement de Baria có ghi một đoạn sông từ làng Phước Lễ

chảy ngược lên phía bắc là “Rach Mo Koai”, Mo Koai ở đây là Mô Xoài, còn từ

Phước Lễ trở ra biển được chép là sông Dinh [335] Sách Hoàng Việt nhất thống dư

địa chí cho biết sông Mô Xoài còn gọi là Vàm Dinh [113, tr 311] Như vậy, tên trước

kia của sông Dinh là Mô Xoài Hiện nay, tên sông Dinh vẫn được sử dụng để gọi con sông chảy qua Tp Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

Núi Trấn Biên từ thế kỉ XVII đến giữa thế kỉ XIX được gọi theo tên dân gian

là núi Mô Xoài [119, tr 36; 232, tr 54] Tên núi này gọi theo tên dinh Trấn Biên được chúa Nguyễn thiết lập trên vùng đất Nam Bộ từ năm 1698 Từ cuối thế kỉ XIX đến nay, núi Trấn Biên được gọi là núi Dinh Huình Tịnh Paulus Của, một người sinh ra

ở vùng đất Mô Xoài vào thế kỉ XIX đã chú trong sách Đại Nam Quấc âm tự vị như

sau: “Núi Dinh: tên núi lớn ở phủ Phước Tuy, tục kêu là núi Mô Xoài” [80, tr 236] Hiện nay, núi Dinh thuộc các phường Kim Dinh, Long Hương, Phước Hưng ở Tp

Bà Rịa

Thành Mô Xoài (sau có tên là thành Hưng Phước) gắn với sự kiện năm 1658 khi quân chúa Nguyễn tiến đến đánh bại quân Chân Lạp [119, tr 204; 233, tr 72] Thành Mô Xoài nằm ở vùng trung tâm Mô Xoài Sau này có lẽ đồn Phước Giang được Nguyễn Ánh cho đắp vào cuối thế kỉ XVIII và thành Bà Rịa do người Pháp xây dựng vào giữa thế kỉ XIX nằm trên nền cũ của thành Mô Xoài Ngày nay, nhiều khả năng thành Mô Xoài xưa nằm trên địa bàn phường Phước Hiệp (Tp Bà Rịa) Lũy Mô Xoài, còn gọi là lũy Phước Tứ gắn với sự kiện năm 1674 khi quân Đàng Trong đánh bại Chân Lạp để tiến vào Sài Gòn [119, tr 231; 233, tr 71] Lũy này nằm ở phía đông

Trang 27

trung tâm Mô Xoài, giáp làng Long Điền, tổng An Phú Thượng vào thế kỉ XIX, hiện nay vị trí của lũy nằm ở Tp Bà Rịa

Phạm vi của cả vùng đất Mô Xoài rộng lớn hơn nhiều lần vùng trung tâm Trong các thế kỉ XVII, XVIII, đầu thế kỉ XIX, vùng đất Mô Xoài được quản lí bởi đạo Mô Xoài, sau đổi tên là đạo Hưng Phước Hiện chưa rõ đạo Mô Xoài được thành lập vào thời điểm nào, nhưng lực lượng quân sự của đạo này đã tham gia vào nhiều hoạt động bảo vệ an ninh trong các thế kỉ XVII, XVIII [235, tr 72, 154] Đầu thế kỉ XIX, tuy tổng Phước An được nâng lên thành huyện nhưng không có huyện nha mà

do quản đạo Mô Xoài (Hưng Phước) điều hành công việc [235, tr 738] Kho chứa lương thực, tiền bạc của đạo Mô Xoài (Hưng Phước) nằm ở làng Long Hương, tổng

An Phú Hạ, huyện Phước An [14, tờ 2a] Điều này có nghĩa là không gian quản lí của đạo Mô Xoài tương đương không gian hành chính của huyện Phước An Cùng với đạo Mô Xoài ở đồng bằng, còn có thủ Mô Xoài quản lí vùng thượng nguồn phía bắc

Mô Xoài, tức khu vực thượng đạo [69, tr 35; 233, tr 867] Như vậy, vùng đất Mô Xoài rất rộng, tương đương với không gian hành chính của tổng Phước An vào các thế kỉ XVII, XVIII, sau là huyện Phước An ở thế kỉ XIX

Năm 1837, huyện Phước An không còn thuộc phủ Phước Long mà thuộc phủ

Phước Tuy vừa thành lập [232, tr 44] Trên Phước Tuy phủ đồ năm 1838, huyện

Phước An tương đương với tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ngày nay [218, tr 190] Năm

1838, trong An Nam đại quốc họa đồ, AJ L Taberd ghi địa danh “Mũi Xôi” (Mô

Xoài) nằm trên khu vực rất rộng ở phía nam trấn Bình Thuận, phía đông nam trấn Biên Hòa [329] Do phạm vi rộng của vùng đất Mô Xoài nên vào thời kì Pháp thuộc,

Par G Aubaret chú thích vùng đất Mô Xoài trong sách Histoire et description de la

basse cochinchine (Gia Dinh Thung chi) là “Môi - xui (Baria)” [354, tr 2], lúc này

Bà Rịa là không gian hành chính của tỉnh Phước An Thông tin trên bản đồ Plan

topographique de L’arrondissement de Baria vẽ vào năm 1881 cũng cho thấy huyện

Phước An tương đương với tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ngày nay, trong đó tổng An Phú

Hạ nằm ở phía tây huyện Phước An [335]

Qua sự thống nhất của tư liệu, có thể định hình phạm vi vùng đất Mô Xoài xưa

về cơ bản tương đương với không gian hành chính tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ngày nay Các làng cổ lưu dấu địa danh “Mô Xoài” ở thế kỉ XIX thuộc không gian hành chính

Trang 28

của Tp Bà Rịa nhưng đó chỉ là những dấu vết địa danh tồn tại ở vùng trung tâm/vùng lõi của Mô Xoài vì được bảo lưu tốt hơn các không gian lân cận Vùng đất Mô Xoài rộng lớn hơn nhiều so với Tp Bà Rịa

Hình 1.1: Sơ đồ trung tâm Mô Xoài và không gian phụ cận vùng trung tâm

(Thành lập: Đặng Ngọc Hà, Trần Thanh Hà hỗ trợ kĩ thuật) Vùng đất Mô Xoài về cơ bản tương đương với không gian hành chính của huyện Phước An, tỉnh Biên Hòa ở nửa đầu thế kỉ XIX Sau đó huyện Phước An được đổi thành tỉnh Bà Rịa và thị xã Cap Saint Jacques (có thời kì là tỉnh) vào thời Pháp thuộc Đến thời kì Việt Nam Cộng hòa, khu vực huyện Phước An xưa trở thành tỉnh Phước Tuy và thị xã Vũng Tàu Ngày nay không gian huyện Phước An là phần đất liền của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

Vùng đất Mô Xoài rộng lớn có trung tâm là Tp Bà Rịa ngày nay vì nơi này có điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp Nhưng để vào vùng trung tâm/vùng lõi, xưa kia người Việt phải đi đường biển qua các làng ven biển thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ngày nay Sau đó khi đã phát triển mạnh ở vùng trung tâm, người Việt lại mở rộng hoạt động canh tác ra các làng lân cận mà ngày nay là các huyện Long Điền, Đất Đỏ của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Hơn nữa, các khu vực xung quanh trung tâm Mô Xoài được gắn kết bởi các tuyến đường giao thông sông, biển, đường bộ Chính sự

Trang 29

gắn kết về giao thông, thương mại, nông nghiệp đã làm các khu vực xung quanh mà ngày nay đều thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trở thành ngoại vi của vùng trung tâm/vùng lõi Mô Xoài

Mô Xoài là vùng đất rộng, từ sông Thị Vãi (nay là Thị Vải) ở phía tây, qua núi Mô Xoài (núi Trấn Biên, nay là núi Dinh), qua sông Mô Xoài (nay là sông Dinh) thuộc bốn làng Long Hương, Phước Lễ, Long Xuyên, Long Kiên, trải dài trên diện tích rộng lớn theo hướng đông ra tới biển với các làng cổ Phước Tỉnh, Phước Hải Phía nam Mô Xoài là khu vực bán đảo Vũng Tàu, bao quanh khu vực này là vùng biển rộng, một cửa ngõ để tiến vào trung tâm Nam Bộ

Hình 1.2: Sơ đồ không gian vùng đất Mô Xoài

(Thành lập: Đặng Ngọc Hà, bản đồ Google Map, Google Earth)

Về cơ bản, giới hạn của vùng đất Mô Xoài có thể được xác định như sau:

- Phía bắc nằm ở vùng địa hình chuyển tiếp của phía nam Tây Nguyên và Nam Trung Bộ, nơi có các cộng đồng cư dân tại chỗ, nơi này trước thế kỉ XVII là địa bàn vương quốc Chămpa, tiểu quốc Mạ Ngày nay khu vực này giáp tỉnh Đồng Nai và tỉnh Bình Thuận

- Phía đông và phía nam tiếp giáp Biển Đông

- Phía tây giáp sông Thị Vải (thế kỉ XIX tên là Thị Vãi) Hiện nay khu vực này giáp với Tp Hồ Chí Minh

Trên không gian của vùng đất Mô Xoài xưa, ngày nay là không gian hành chính tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Tỉnh này được thành lập năm 1991 trên cơ sở nghị

Trang 30

quyết của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam tại kì họp thứ 9, khóa VIII Diện tích tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu được lập nên từ các huyện Châu Thành, Long Đất, Xuyên Mộc của tỉnh Đồng Nai cùng đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo Lúc mới thành lập, tỉnh

Bà Rịa - Vũng Tàu có 5 đơn vị hành chính, hiện nay có 8 đơn vị hành chính gồm 2 thành phố (Tp Bà Rịa, tỉnh lị; Tp Vũng Tàu), 1 thị xã (Tx Phú Mỹ), 5 huyện (Long Điền, Đất Đỏ, Châu Đức, Xuyên Mộc, Côn Đảo) Lúc mới thành lập, tỉnh lị của Bà Rịa - Vũng Tàu ở Tp Vũng Tàu, đến năm 2012 chuyển về Tx Bà Rịa (sau lên thành phố)

Không gian vùng đất Mô Xoài về cơ bản thuộc khu vực đất liền của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Trong suốt quá trình hình thành, định hình một không gian lịch sử - văn hóa, vùng đất Mô Xoài luôn gắn liền với phần đất liền, ven biển, vùng biển của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

1.1.2 Cảnh quan tự nhiên

1.1.2.1 Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên

Trước thế kỉ VII, vùng đất Mô Xoài nằm về phía đông của trung tâm văn hóa

Óc Eo và nhà nước Phù Nam, đến khi Phù Nam bị Chân Lạp chiếm vào thế kỉ VII,

Mô Xoài nằm tiếp giáp giữa Chămpa và Chân Lạp Trong các thế kỉ XVII, XVIII,

Mô Xoài nằm ở phía đông bắc của vùng đất Gia Định, tiếp giáp phủ Bình Thuận (khu vực tỉnh Bình Thuận ngày nay) Đến thế kỉ XIX, Mô Xoài thuộc phía đông bắc Nam

Kì, giáp tỉnh Bình Thuận thuộc phía nam Trung Kì Sang thời kì Pháp thuộc, Mô Xoài nằm ở ranh giới Nam Kì thuộc Pháp với Trung Kì là đất “nửa bảo hộ”

Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ngày nay nằm ở khu vực Nam Bộ, thuộc phía đông của Đông Nam Bộ Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ được phân ranh giới chạy qua Tp

Hồ Chí Minh [156, tr 92] Bà Rịa - Vũng Tàu có 1.982,48km2 diện tích tự nhiên, với dân số 1.152.218 người [85, tr 59] Chiều dài đường bờ biển của Bà Rịa - Vũng Tàu

là 119,13km [101, tr 226]

Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu gồm phần đất liền và hải đảo Phần đất liền tiếp giáp

về phía bắc với tỉnh Đồng Nai thuộc Đông Nam Bộ, phía đông giáp tỉnh Bình Thuận thuộc Nam Trung Bộ, phía nam giáp Biển Đông, phía tây giáp Tp Hồ Chí Minh cũng thuộc Đông Nam Bộ Phần hải đảo có quần đảo Côn Sơn, quần đảo này là một huyện

Trang 31

đảo cách Tp Vũng Tàu 180km về phía tây nam và cách mũi Cà Mau 200km về phía đông nam

Cách ngày nay từ 11.000 năm đến 18.000 năm, do ảnh hưởng của biến tiến đã hình thành nên các địa thềm của vùng Nam Bộ Vùng đất Mô Xoài nằm ở miền Đông của Nam Bộ, là khu vực lớn của miền đồng bằng cổ chịu ảnh hưởng của núi lửa phun trào Đây là khu vực đất đai cao: “Quá trình phong hóa theo những vết nứt trong đá khá mạnh, làm chúng đổ vỡ ra thành những khối tảng khổng lồ nằm lổn nhổn từ chân núi lên đến đỉnh núi” [274, tr 226] Khoảng 4.000 đến 5.000 năm trước đây, Nam Bộ còn ngập trong nước biển, đến thế kỉ V trước Công nguyên vùng này mới nổi lên trên mặt nước như hiện nay

Hình 1.3: Lược đồ địa hình tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trong liên vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Nam Trung Bộ

(Thành lập: Đặng Ngọc Hà, Nguyễn Quang Anh hỗ trợ kĩ thuật) Vùng đất Mô Xoài nằm trong vùng địa hình chuyển tiếp giữa cực Nam Trung

Bộ và Nam Bộ Địa hình Đông Nam Bộ dốc nghiêng từ đông bắc xuống tây nam

Trang 32

[156, tr 92] Bà Rịa - Vũng Tàu có cấu tạo địa hình thấp dần từ bắc xuống nam Địa hình của khu vực này không cao lắm và không bị chia cắt mạnh Từ mũi Dinh của Bình Thuận, đồng bằng duyên hải Bình Thuận mở rộng tiếp giáp với Bà Rịa - Vũng Tàu ở Đông Nam Bộ, khu vực này là thềm phù sa cổ, cồn cát và đụn cát chiếm diện tích tuyệt đối [156, tr 92] Một dải ven biển từ mũi Dinh đến Tp Vũng Tàu được coi

là khu vực “khô hạn nhất trong nước” [156, tr 94] Trong khi dải ven biển phía đông của vùng đất Mô Xoài có điều kiện khô hạn thì ven biển từ Vũng Tàu chạy đến Hà Tiên lại là “ tam giác châu dài nhất và điển hình nhất” [156, tr 95]

Hình 1.4: Lược đồ địa hình tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

(Thành lập: Đặng Ngọc Hà, Nguyễn Quang Anh hỗ trợ kĩ thuật) Vùng đất Mô Xoài xưa, nay nằm trên không gian hành chính tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, có ba dạng địa hình: miền đồi núi thấp, bậc thềm phù sa cổ, đồng bằng ven biển Đối núi thấp có độ cao từ 100m đến 300m, là bộ phận cuối của miền núi và cao nguyên đất đỏ Đông Nam Bộ Một dải đất phù sa kéo dài từ Long Sơn (Tp Vũng Tàu) đến Long Hải (huyện Long Điền) Phía nam là dải đất cát cộng với bãi lầy sú vẹt Phía đông Tp Bà Rịa là vùng đất cao, tiếp giáp với khu vực đồi núi thấp, phía bắc là địa hình đồi núi thấp với ngọn núi Dinh (trước gọi là núi Mô Xoài hay núi Trấn Biên) cao 504m Toàn bộ vùng đất đỏ vàng ở Xuyên Mộc vòng qua Long Thành (tỉnh Đồng Nai) tạo nên miền đồi núi thấp không thuận lợi cho nông nghiệp trồng lúa nước

Trang 33

Cũng có thể phân địa hình tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thành bốn vùng: hải đảo, bán đảo, đồi núi bán trung du, thung lũng đồng bằng ven biển [86, tr 32] Địa hình hải đảo là quần đảo Côn Lôn (huyện Côn Đảo), đảo Long Sơn (Tp Vũng Tàu) Bán đảo nằm ở phía nam là Tp Vũng Tàu, với ba mặt là biển, mặt phía bắc giáp sông Cỏ May (xưa là rạch Tắc Khái hay rạch Cửa Lấp) Đồi núi bán trung du nằm ở phía bắc, đông bắc gồm các huyện Châu Đức, Xuyên Mộc, một phần Tx Phú Mỹ Thung lũng đồng bằng ven biển gồm một phần Tx Phú Mỹ, Tp Bà Rịa, và hai huyện Long Điền, Đất Đỏ

Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thuộc khí hậu nội chí tuyến, một năm có hai mùa, nền nhiệt cao, ít bão, lụt Nhiệt độ trung bình theo năm từ 270C đến hơn 280C Tháng 4

và tháng 5 là hai tháng nóng nhất với nhiệt độ trung bình trên 300C, tháng 1 có nhiệt

độ thấp nhất vào khoảng 250C [83, tr 20; 85, tr 31] Số giờ nắng trong năm cao nhất vào khoảng hơn 2.900 giờ (năm 2015)[83, tr 21] Độ ẩm không khí trung bình năm cao nhất vào khoảng trên 79% Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào cuối tháng 10 Gió mùa Tây Nam từ Ấn Độ Dương thổi vào cộng với tính nóng ẩm gây mưa lớn và lượng mưa trung bình năm cao nhất là hơn 1.700mm (năm 2017) [83, tr 22] Mùa khô nóng bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, mùa này có gió đông bắc mạnh cấp 5, cấp 6 Vào thế kỉ XVII, khi vượt biển vào vùng đất Mô Xoài, có lẽ người Việt thường đi vào mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4

Bảng 1.1: Số liệu theo bình quân năm về nhiệt độ, số giờ nắng, lượng mưa,

độ ẩm ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

Số giờ nắng (giờ) 2.526 2.682 2.689 2.561 2.798 Lượng mưa (mm) 1.421,9 1.376,5 1.358,8 1.394,4 1.066,0

(Nguồn: Tổng hợp từ Niên giám thống kê tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu 2017 [83, tr 20-23],

Niên giám thống kê tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu 2019 [85, tr 31-34])

Cũng cần phải nói thêm rằng, với các số liệu đo đạc hiện nay cho thấy so với các tỉnh Đông Nam Bộ khác, lượng mưa ở Bà Rịa - Vũng Tàu ít hơn, vì vậy xuất hiện hiện tượng khan hiếm nước tưới vào mùa khô, do đó lượng mưa là một yếu tố khí hậu - thủy văn quan trọng cho sản xuất nông nghiệp [152, tr 14] Thời điểm đo đạc vào những năm cuối thế kỉ XX cho thấy ở Tp Bà Rịa và Tp Vũng Tàu mùa mưa đến

Trang 34

muộn nhất, vùng ven biển phía nam mùa mưa ngắn hơn khu vực phía bắc trên dưới

20 ngày [152, tr 17] Tuy nhiên, khó có thể khẳng định vào các thời kì trước kia lượng mưa thay đổi so với hiện nay Vì vậy, quá trình định cư, khai phá đất đai vào thế kỉ XVII, phát triển đời sống sản xuất trong các thế kỉ XVIII, XIX sẽ chịu ảnh hưởng của lượng mưa

Tài nguyên đất Bà Rịa - Vũng Tàu đa dạng, với 9 nhóm đất, 24 loại đất Diện tích của các nhóm đất chính như sau: đất phù sa (8.198ha), đất đen (11.133ha), đất

đỏ vàng (82.233ha), đất cát (21.658ha), đất xám (31.539ha), đất phèn (19.463ha), đất mặn (536ha), đất dốc tụ (8.897ha), đất xói mòn trơ sỏi đá (7.095ha) [218, tr 51] Xét

về chất lượng đất, có thể phân thành bốn loại: đất rất tốt, chủ yếu gồm đất phù sa và đất xám (chiếm 19,6%); đất tốt (chiếm 26,4%); đất trung bình (chiếm 14,4%); đất xấu, gồm đất phèn, đất mặn, đất dốc tụ, đất xói mòn (chiếm 39,5%) [310, tr 27]

1.1.2.2 Sông, biển, lục địa

Vùng đất Mô Xoài có đặc trưng quan trọng là tính liên hoàn giữa sông, biển,

và lục địa Không nhiều không gian lịch sử - văn hóa có được lợi thế liên hoàn này Khu vực lục địa của Mô Xoài nối thông từ phía nam Tây Nguyên xuống vùng đồng bằng phù sa cổ Trong khu vực lục địa, đất phù sa cổ là yếu tố chi phối quá trình phát triển của vùng đất này vì tạo ra lợi thế cho hoạt động nông nghiệp Các con sông ở

Mô Xoài nối kết nhiều không gian, trong đó vùng trung tâm/vùng lõi Mô Xoài có sông Mô Xoài (sông Hương Phước, tức sông Dinh hiện nay) kết nối với khu vực ven biển, xa hơn là vùng biển rộng lớn Các con sông ở Mô Xoài không chỉ tạo điều kiện cho hoạt động nông nghiệp, giao thương mà còn tạo nên vị thế địa - chính trị quan trọng Vùng ven biển Mô Xoài là nơi có hoạt động khai thai thác biển với nghề làm muối, giao thương biển, khai thác hải sản Vùng ven biển có hai cửa biển quan trọng bậc nhất là cửa Xích Lam (cửa Xích Ram, tức cửa sông Ray, cửa Lộc An hiện nay)

và cửa Tắc Khái (cửa Tắc Kí, cửa Lấp, nay gọi là cửa Lấp) (xem Hình 1.1) Vùng biển bao quanh Mô Xoài là hải vực ruộng lớn cho các hoạt động kinh tế, quân sự Chính sự liên hoàn giữa sông, biển, lục địa đã tạo nên vị thế đặc biệt và ảnh hưởng mạnh đến không gian lịch sử - văn hóa vùng đất Mô Xoài

Bà Rịa - Vũng Tàu thuộc lưu vực Đồng Nai - Vàm Cỏ nhưng nằm ở ngã ba, giao điểm giữa ba hệ thống lưu vực sông, gồm lưu vực sông Đồng Nai - Vàm Cỏ, lưu

Trang 35

vực sông Cửu Long, lưu vực sông duyên hải Khánh Hòa - Ninh Thuận - Bình Thuận [156, tr 177] Hệ thống sông Đồng Nai - Vàm Cỏ lớn thứ ba ở Việt Nam sau hệ thống sông Hồng và hệ thống sông Cửu Long [156, tr 184] Sông Đồng Nai đổ ra biển với

ba chi lưu, hai chi lưu cấp 1 là Lòng Tàu và Soài Rạp, một chi lưu cấp 2 là Đồng Tranh Trong đó Lòng Tàu là dạng cửa vịnh sâu tới 18m [156, tr 185]

Mạng lưới sông ngòi ở vùng Mô Xoài không dày đặc như các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long Sông ngòi ở đây có đặc điểm ngắn, bề mặt không rộng Hiện nay,

Bà Rịa - Vũng Tàu có bốn hệ thống sông suối lớn, đối với không gian lịch sử - văn hóa vùng đất Mô Xoài, các hệ thống sông suối này có vai trò rất quan trọng trong việc kiến tạo không gian cư trú, không gian sản xuất cũng như tạo ra diện mạo lịch

sử, diện mạo văn hóa của cả vùng

Thứ nhất, hệ thống sông Thị Vải (thế kỉ XIX tên là Thị Vãi) Sông Thị Vải ngắn, chỉ dài khoảng 30km nhưng rộng, lòng sông sâu Sông Thị Vải (Thị Vãi) chính

là ranh giới phía tây của vùng đất Mô Xoài

Thứ hai, sông Dinh (sông Mô Xoài hay sông Hương Phước) Bắt nguồn từ Láng Lớn - Xà Bang thuộc huyện Châu Đức, chảy theo hướng bắc - nam, đổ vào sông

Cỏ May ở phía nam Tp Bà Rịa Chiều dài sông khoảng 35km Hệ thống sông Dinh

có đặc điểm thưa, dài, ít quanh co, lưu vực lớn, khoảng trên 500km2, chiếm phần diện tích lớn của huyện Châu Đức, Tx Phú Mỹ, Tp Bà Rịa Đây là hệ thống sông lớn nhất, quan trọng nhất, chảy dọc qua trung tâm vùng đất Mô Xoài Phía nam của Tp

Bà Rịa có sông Cỏ May (rạch Tắc Khái, rạch Cửa Lấp) là con sông lớn nối đường giao thông từ Biển Đông vào trung tâm Mô Xoài Hệ thống nước liên hoàn gồm sông

Mô Xoài, sông Cỏ May và nhiều con sông khác chảy qua Mô Xoài đổ ra biển đã tạo thuận lợi cho vùng đất này về giao thông thủy và là một trong các con đường đưa người Việt vào cư trú

Thứ ba và thứ tư, sông Ray, sông Bà Đáp Hai hệ thống sông này bắt nguồn từ Bình Giã - Xà Bang thuộc huyện Châu Đức Chảy theo hướng bắc - nam, đổ ra biển

ở khu vực các huyện Đất Đỏ, Xuyên Mộc Chiều dài và diện tích lưu vực của hệ thống sông này xấp xỉ hệ thông sông Dinh Sông Ray (sông Xích Lam) nối khu vực miền núi cao với duyên hải, vì vậy trong giao thương và liên kết vùng, con sông này có vị trí rất quan trọng với vùng đất Mô Xoài

Trang 36

Bà Rịa - Vũng Tàu có hệ thống suối rất đa dạng với 200 con suối Các con suối này cùng với các con sông tạo nên nguồn cung cấp nước ngọt lớn Bên cạnh đó, còn có rất nhiều hồ chứa nước lớn như Kim Long, Đá Đen, Châu Pha, Đá Bàn, Sông Xoài, Lồ Ồ v.v

Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có chiều dài đường bờ biển vào khoảng 120km Đường bờ biển này chạy từ phía đông bắc giáp tỉnh Bình Thuận đến phía tây nam giáp Tp Hồ Chí Minh Khu vực ven biển gồm các huyện Xuyên Mộc, Đất Đỏ, Long Điền, Tp Vũng Tàu, Tp Bà Rịa và Tx Phú Mỹ Vùng ven biển có dải đồng bằng chạy dọc, riêng huyện Xuyên Mộc có diện tích đồng bằng ven biển nhỏ hơn với nhiều cồn cát Những dạng địa hình ven biển đều phân bố từ cao xuống thấp theo hướng tây bắc - đông nam [150, tr 23]

Trầm tích đầm lầy ven biển phân bố ở cửa sông Thị Vải (Thị Vãi), khu vực xã

An Ngãi của huyện Long Điền, phía nam Tp Vũng Tàu Bậc địa hình này thấp từ 5m xuống tới 0m Bề mặt thành tạo dày đặc sông, rạch, sình lầy nước lợ, nước mặn, đất phèn chua thích hợp cho làm muối [166, tr 25] Trầm tích biển - gió tạo ra các cồn cát trẻ chạy dọc ven biển từ huyện Long Điền qua huyện Đất Đỏ tới cửa sông Ray Các dải cát, cồn cát rộng từ 500m đến 2.500m, cao từ 1m đến 5m, có nơi như thị trấn Phước Hải (huyện Đất Đỏ) cao 26m, song song với đường bờ biển, tạo thành các đê

tự nhiên ngăn cách với đồng bằng thấp ven biển[166, tr 25]

Khu vực ven biển có hai cửa sông đóng vai trò lớn trong lịch sử phát triển của vùng đất Mô Xoài:

Cửa Tắc Khái (Tắc Kí, hay cửa Lấp, nay vẫn tên là cửa Lấp) là cửa sông/rạch Tắc Khái (nay là sông Cỏ May) ở phía bắc Vũng Tàu Đây là cửa sông có vai trò quan trọng về giao thông đường thủy, từ cửa sông này thuyền bè dễ dàng đi từ biển vào vùng trung tâm Mô Xoài qua hệ thống sông Cỏ May Cửa Tắc Khái giữ vai trò rất lớn trong quá trình khai phá Nam Bộ của người Việt vào thế kỉ XVII, tranh chấp Tây Sơn - Nguyễn Ánh ở thế kỉ XVIII hay cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi vào thế kỉ XIX

Cửa Xích Lam (Xích Ram, ngày nay là cửa sông Ray hay cửa Lộc An) là cửa gắn với tên sông Xích Lam (sông Ray) Khoảng cách từ cửa sông này đến trung tâm

Mô Xoài dài khoảng 15km Ghi chép ở thế kỉ XIX cho biết thời gian đi từ cửa Xích Lam đến trung tâm Mô Xoài bằng đường bộ là 2 canh giờ [75, tr 24], tức khoảng 4

Trang 37

giờ đồng hồ Từ cửa sông này đi lên thượng nguồn sẽ đến khu vực các tộc người tại chỗ ở phía bắc Mô Xoài, đó là: “một đường mà núi rừng sầm uất” [119, tr 38]

Vịnh Gành Rái rộng khoảng 50km2, nằm ở phía nam trung tâm Mô Xoài Đây

là một vịnh rộng, nằm giữa vùng đất Mô Xoài với cửa Cần Giờ (Tp Hồ Chí Minh) Vào thời kì tiền - sơ sử, vịnh Gành Rái nằm giữa hai di chỉ lớn của Đông Nam Bộ là Giồng Lớn (nay thuộc xã Long Sơn, Tp Vũng Tàu) và Giồng Phệt, Giồng Cá Vồ (nay thuộc huyện Cần Giờ, Tp Hồ Chí Minh) Đi từ vịnh Gành Rái có thể vào hệ thống sông ngòi dày đặc để lên Cù Lao Phố (nay thuộc Tp Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai), hoặc vào Cần Giờ để đến Sài Gòn, trung tâm Gia Định

1.1.3 Các lớp dân cư

1.1.3.1 Cư dân tại chỗ

Cư dân tại chỗ ở vùng đất Mô Xoài đã cư trú từ rất sớm, vào thời kì tiền - sơ

sử Sau đó đến lớp cư dân là các tộc người thiểu số, họ sinh sống trong một thời kì lâu dài cho đến khi người Việt vào khai phá vùng đất Mô Xoài, ngày nay vẫn còn tộc người Chơ Ro sinh sống ở phía bắc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

Sự tồn tại của các di tích khảo cổ học cùng với sự đa dạng về di vật là minh chứng cho quá trình phát triển lâu dài, liên tục của lớp cư dân đầu tiên trên vùng đất

Mô Xoài Lớp cư dân này đã tồn tại từ cách đây 3.000 năm Họ tập trung ở ba khu vực chính: Phú Mỹ, Bà Rịa - Đất Đỏ, Long Sơn (Tp Vũng Tàu) Trong đó, dấu tích

cư trú ở Bưng Bạc, Bưng Thơm với di tích của những ngôi nhà sàn trên vùng sình lầy cho thấy sự tồn tại của một cộng đồng sinh tụ khá đông đảo Ở Tx Phú Mỹ cũng tìm thấy nhiều dấu vết cư trú với bếp, tàn tích thức ăn v.v… Ở Giồng Lớn (xã Long Sơn,

Tp Vũng Tàu) mặc dù chưa tìm thấy dấu tích cư trú, chỉ có mộ táng, nhưng chắc chắn đã có một cộng đồng cư dân cư trú nên mới tạo dựng được đời sống kinh tế - xã hội phát triển với rất nhiều công cụ, đồ trang sức, tiêu biểu là đồ trang sức bằng vàng

Bảng 1.2: Niên đại các di tích khảo cổ ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

Giồng Lớn Thành phố Vũng Tàu 2.000 năm

(Nguồn: Tổng hợp từ Khảo cổ học Bà Rịa - Vũng Tàu từ tiền sử đến sơ sử [138])

Trang 38

Xét theo niên đại của các di tích, có thể phục dựng một số nét cơ bản về địa bàn có cư dân sinh sống theo thời gian Lớp cư dân đầu tiên cư trú sớm nhất ở vùng ngập mặn Tx Phú Mỹ, có thể từ sớm họ đã di chuyển từ vùng cao Đông Nam Bộ xuống Tiếp theo là điểm cư trú ở Bưng Bạc (Tp Bà Rịa), Bưng Thơm (huyện Đất Đỏ) Dấu tích muộn nhất về quá trình định cư là ở Giồng Lớn nằm trên đảo Long Sơn (Tp Vũng Tàu)

Lớp cư dân đầu tiên là cộng đồng tại chỗ, chủ nhân sáng tạo ra các giá trị văn hóa tiền - sơ sử Việc chuyển cư diễn ra liên tục, do vậy các đợt di cư từ khu vực cao hơn của Đông Nam Bộ xuống vùng đất Mô Xoài diễn ra khá thường xuyên Chủ nhân

ở Bưng Bạc, Bưng Thơm là nhóm cư dân vừa chuyển từ vùng cao xuống sinh sống ở khu vực sinh lầy, các dấu tích để lại cho thấy họ đã thích nghi khá tốt với môi trường sinh sống mới Có sự giống nhau giữa các hiện vật ở Côn Đảo với Bưng Bạc cũng như với các di tích khác ở Đông Nam Bộ Sự tồn tại của đồ đá trong thời đại kim khí

có nét giống loại hình hậu kì đá cũ, sơ kì đá mới cho thấy quá trình chuyển cư từng bước của cư dân vùng cao xuống vùng thấp, vùng sình lầy ven biển Và rõ ràng: “Có thể nhận thấy tính chậm chạp trong giai đoạn đầu tiên khi cộng đồng cư dân vùng cao tràn tỏa xuống chiếm lĩnh cung biển này [Bà Rịa - Vũng Tàu], họ mang theo những công cụ bằng đá thô sơ, nhưng rất nhanh sau đó, với vị trí địa - văn hóa của một cung biển hướng ngoại, cộng đồng cư dân này đã tiếp xúc mạnh với bên ngoài và từ khoảng

500 năm trước Công nguyên trở về sau, vùng này [Bà Rịa - Vũng Tàu] đã có những bước tiến vượt bậc” [138, tr 299]

Để xác định rõ nhân chủng của lớp người đầu tiên này là việc rất khó khăn Mặc dù đã tìm thấy 73 ngôi mộ huyệt đất ở Giồng Lớn nhưng không tìm thấy di cốt, tro cốt Nguyên nhân không giữ được di cốt là do nước biển dâng Vì không có di cốt nên khó có thể nhận biết diện mạo về nhân chủng của lớp cư dân đầu tiên Đến giai đoạn sau, vào thời kì văn hóa Óc Eo, các nhà khảo cổ đã phát hiện được nhiều xương cốt ở Nam Bộ Dựa theo các tài liệu này, người ta cho rằng cư dân chủ yếu ở Nam

Bộ thuộc nhân chủng Mongoloid, cụ thể là người Indonésien, thuộc ngữ hệ Mã Lai -

Đa Đảo (Malayo - Polinésien) [87, tr 177-199; 158, tr 393] Tất nhiên, Phù Nam là quốc gia đa tộc người, do đó có cả những người thuộc ngữ hệ Môn - Khmer cổ, nhưng những người này có số lượng ít ỏi hơn Như vậy, trên bình diện nhân chủng của cả

Trang 39

Nam Bộ, lớp người đầu tiên ở vùng đất Mô Xoài có lẽ thuộc nhóm nhân chủng Indonésien thuộc ngữ hệ Mã Lai - Đa Đảo cổ

Trước thế kỉ XVII, nhiều tộc người đã cư trú trên vùng Nam Bộ như Xtiêng,

Mạ, Chơ Ro, Cơ Ho, Mnông Trong đó, người Mạ và người Xtiêng có số lượng khá đông đảo Các tộc người này đã cư trú từ rất lâu đời và họ tồn tại trước khi Chân Lạp xâm chiếm Phù Nam Sự tồn tại của những tộc người tại chỗ này là minh chứng cho quá trình sinh tụ lâu đời của nhiều cộng đồng và chính họ là những chủ nhân của vùng đất Nam Bộ vào thời điểm trước khi người Việt đến khai phá ở thế kỉ XVII

Hình 1.5: Người “Mọi Bà Rịa” và vùng đất Mô Xoài đầu thế kỉ XIX

(Nguồn: Dictionarium Anamitico Latinum [329]) Trên bản đồ An Nam đại quốc họa đồ do AJ L Taberd vẽ năm 1838 có ghi

chú về sự tồn tại của cộng đồng tộc người tại chỗ ở vùng đất Mô Xoài (Hình 1.5) Bản đồ ghi tên nước Stiêng ở phía bắc phủ Gia Định, vào khoảng vị trí phía nam Tây Nguyên ngày nay Ở phía nam nước Stiêng có một cộng đồng được ghi là “Mọi Bà Rịa” [329] “Mọi” là danh từ chung chỉ các cộng đồng tộc người thiểu số mà người Kinh, các nhà du hành phương Tây thường gọi, sau khi xâm lược Việt Nam vào giữa thế kỉ XIX, người Pháp cũng sử dụng cách gọi này Qua đối chiếu bản đồ, có thể thấy vào đầu thế kỉ XIX, người “Mọi Bà Rịa” nằm ở phía bắc vùng đất Mô Xoài

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra sự tồn tại của tiểu quốc Mạ Tiểu quốc này có phạm

vi nằm xen giữa Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ hiện nay Vùng đất

Trang 40

Mô Xoài trước khi được các chúa Nguyễn khai phá cũng thuộc địa bàn của tiểu quốc

Mạ Đào Duy Anh nhận định Sơ Ma là tên gọi khác của tộc người Mạ, họ đã xây dựng một tiểu quốc riêng: “xưa họ đã là một nước nhỏ chiếm ở miền rừng núi ở giữa Bình Thuận là đất Chiêm Thành [Chămpa] và Biên Hòa là đất Chân Lạp” [53, tr 215] Theo Bình Nguyên Lộc, trước khi người Việt vào khai phá Nam Bộ thì đây là đất của người Mạ vì vậy người Việt chỉ gặp người Mạ [168, tr 250-251] Trần Quốc Vượng cũng cho rằng lưu vực sông Đồng Nai từ Cát Tiên (Lâm Đồng) đến Biên Hòa (Đồng Nai), Cần Giờ (Tp Hồ Chí Minh), khu vực đất liền tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu,

ra tới Côn Đảo xưa kia là đất của tộc người Mạ [319, tr 478]

Các tộc người tại chỗ đã tồn tại từ lâu đời trên vùng đất phía bắc Gia Định xưa, tuy nhiên đến thế kỉ XVI có lẽ dân số của họ vẫn thưa thớt, đời sống kinh tế kém phát triển [300, tr 66] Như vậy, tiểu quốc Mạ có phạm vi khá rộng, vùng đất Mô Xoài thuộc tiểu quốc này, và cư dân Mô Xoài ở thời kì này là cộng đồng tộc người tại chỗ Đến nay, Chơ Ro là cộng đồng tộc người lớn thứ ba ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu [263,

tr 174-176], họ phân bố tại nhiều huyện, trong đó tập trong đông đảo nhất ở các huyện Châu Đức, Xuyên Mộc, tức phía bắc và đông bắc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

Tại ấp Gò Cát, xã Phước Thuận (huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu)

đã khai quật được một vòng thành làm bằng đá ong, các nhà khảo cổ học gọi là Vòng thành Đá Trắng, vì nằm ở xóm dân cư Đá Trắng Chủ nhân của vòng thành có lẽ là một tộc người chịu ảnh hưởng của văn hóa Chămpa hoặc có thể chính là người Chăm Niên đại của Vòng thành Đá Trắng được xác định vào khoảng từ thế kỉ XIV đến thế

kỉ XVII [64, tr 8] Vật liệu xây dựng thành bằng đá ong màu nâu đen hoặc nâu sẫm, dưới thành có dấu vết hào nước Trong tầng văn hóa của vòng thành tìm thấy nhiều

di vật, có di vật xuất xứ từ đời Gia Tĩnh (1522 - 1566) thời nhà Minh (Trung Quốc)

như một mảnh sứ có khắc dòng chữ Đại Minh Gia Tĩnh niên tạo

Trước thế kỉ XVII, trên vùng đất Mô Xoài có ít nhất hai lớp dân cư Một lớp

là cư dân thời kì tiền - sơ sử, lớp thứ hai là các tộc người tại chỗ Quan hệ giữa lớp người tiền - sơ sử với những tộc người tại chỗ ở giai đoạn sau như thế nào vẫn là một vấn đề cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu Tuy nhiên, sự tồn tại của các lớp người này khẳng định quá trình cư trú lâu đời ở vùng đất Mô Xoài

Ngày đăng: 05/04/2023, 08:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Địa bạ phường Long Nhung, tổng An Phú Thượng, huyện Phước An, tỉnh Biên Hòa (1836), TTLTQG I, Hà Nội, KH: Q 15582, 13 tờ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa bạ phường Long Nhung, tổng An Phú Thượng, huyện Phước An, tỉnh Biên Hòa
Nhà XB: TTLTQG I, Hà Nội
Năm: 1836
2. Địa bạ thôn An Ngãi, tổng An Phú Thượng, huyện Phước An, tỉnh Biên Hòa (1836), TTLTQG I, Hà Nội, KH: Q 15556, 8 tờ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa bạ thôn An Ngãi, tổng An Phú Thượng, huyện Phước An, tỉnh Biên Hòa
Nhà XB: TTLTQG I, Hà Nội
Năm: 1836
3. Địa bạ thôn An Thới, tổng Phước Hưng Thượng, huyện Phước An, tỉnh Biên Hòa (1836), TTLTQG I, Hà Nội, KH: Q 15557, 6 tờ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa bạ thôn An Thới, tổng Phước Hưng Thượng, huyện Phước An, tỉnh Biên Hòa
Nhà XB: TTLTQG I, Hà Nội
Năm: 1836
4. Địa bạ thôn Đại Thuận, tổng An Phú Hạ, huyện Phước An, tỉnh Biên Hòa (1836), TTLTQG I, Hà Nội, KH: Q 15563, 5 tờ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa bạ thôn Đại Thuận, tổng An Phú Hạ, huyện Phước An, tỉnh Biên Hòa
Nhà XB: TTLTQG I
Năm: 1836
5. Địa bạ thôn Gia Thạnh, tổng Phước Hưng Hạ, huyện Phước An, tỉnh Biên Hòa (1836), TTLTQG I, Hà Nội, KH: Q 15566, 9 tờ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa bạ thôn Gia Thạnh, tổng Phước Hưng Hạ, huyện Phước An, tỉnh Biên Hòa
Năm: 1836
6. Địa bạ thôn Hưng Hòa, tổng Phước Hưng Hạ, huyện Phước An, tỉnh Biên Hòa (1836), TTLTQG I, Hà Nội, KH: Q 15569, 8 tờ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa bạ thôn Hưng Hòa, tổng Phước Hưng Hạ, huyện Phước An, tỉnh Biên Hòa
Nhà XB: Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I (TTLTQG I), Hà Nội
Năm: 1836
7. Địa bạ thôn Hưng Long, tổng An Phú Thượng, huyện Phước An, tỉnh Biên Hòa (1836), TTLTQG I, Hà Nội, KH: Q 15570, 4 tờ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa bạ thôn Hưng Long, tổng An Phú Thượng, huyện Phước An, tỉnh Biên Hòa
Nhà XB: Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I
Năm: 1836
8. Địa bạ thôn Lạc Thuận, tổng Phước Hưng Thượng, huyện Phước An, tỉnh Biên Hòa (1836), TTLTQG I, Hà Nội, KH: Q 15572, 5 tờ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa bạ thôn Lạc Thuận, tổng Phước Hưng Thượng, huyện Phước An, tỉnh Biên Hòa
Năm: 1836
9. Địa bạ thôn Long Điền, tổng An Phú Thượng, huyện Phước An, tỉnh Biên Hòa (1836), TTLTQG I, Hà Nội, KH: Q 15576, 12 tờ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa bạ thôn Long Điền, tổng An Phú Thượng, huyện Phước An, tỉnh Biên Hòa (1836)
Nhà XB: Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I
Năm: 1836
10. Địa bạ ruộng muối thôn Long Điền, tổng An Phú Thượng, huyện Phước An, tỉnh Biên Hòa (1837), TTLTQG I, Hà Nội, KH: Q 15574, 39 tờ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa bạ ruộng muối thôn Long Điền, tổng An Phú Thượng, huyện Phước An, tỉnh Biên Hòa
Nhà XB: TTLTQG I
Năm: 1837
11. Địa bạ thôn Long Hải, tổng Phước Hưng Thượng, huyện Phước An, tỉnh Biên Hòa (1836), TTLTQG I, Hà Nội, KH: Q 15675, 5 tờ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa bạ thôn Long Hải, tổng Phước Hưng Thượng, huyện Phước An, tỉnh Biên Hòa
Năm: 1836
12. Địa bạ thôn Long Hiệp, tổng An Phú Hạ, huyện Phước An, tỉnh Biên Hòa (1836), TTLTQG I, Hà Nội, KH: Q 15585, 13 tờ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa bạ thôn Long Hiệp, tổng An Phú Hạ, huyện Phước An, tỉnh Biên Hòa
13. Địa bạ thôn Long Hưng, tổng Phước Hưng Hạ, huyện Phước An, tỉnh Biên Hòa (1836), TTLTQG I, Hà Nội, KH: Q 15578, 17 tờ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa bạ thôn Long Hưng, tổng Phước Hưng Hạ, huyện Phước An, tỉnh Biên Hòa
Nhà XB: TTLTQG I, Hà Nội
Năm: 1836
14. Địa bạ thôn Long Hương, tổng An Phú Hạ, huyện Phước An, tỉnh Biên Hòa (1836), TTLTQG I, Hà Nội, KH: Q 15581, 15 tờ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa bạ thôn Long Hương, tổng An Phú Hạ, huyện Phước An, tỉnh Biên Hòa
Nhà XB: TTLTQG I, Hà Nội
Năm: 1836
15. Địa bạ thôn Long Kiên, tổng An Phú Hạ, huyện Phước An, tỉnh Biên Hòa (1836), TTLTQG I, Hà Nội, KH: Q 15584, 15 tờ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa bạ thôn Long Kiên, tổng An Phú Hạ, huyện Phước An, tỉnh Biên Hòa
Nhà XB: Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I, Hà Nội
Năm: 1836
16. Địa bạ thôn Long Lập, tổng An Phú Hạ, huyện Phước An, tỉnh Biên Hòa (1836), TTLTQG I, Hà Nội, KH: Q 15580, 9 tờ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa bạ thôn Long Lập, tổng An Phú Hạ, huyện Phước An, tỉnh Biên Hòa (1836)
Năm: 1836
17. Địa bạ thôn Long Mỹ Tây, tổng Phước Hưng Thượng, huyện Phước An, tỉnh Biên Hòa (1836), TTLTQG I, Hà Nội, KH: Q 15577, 12 tờ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa bạ thôn Long Mỹ Tây, tổng Phước Hưng Thượng, huyện Phước An, tỉnh Biên Hòa
Nhà XB: Trung tâm Lưu trữ quốc gia I
Năm: 1836
18. Địa bạ thôn Long Thạnh, tổng An Phú Thượng, huyện Phước An, tỉnh Biên Hòa (1836), TTLTQG I, Hà Nội, KH: Q 15579, 7 tờ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa bạ thôn Long Thạnh, tổng An Phú Thượng, huyện Phước An, tỉnh Biên Hòa
Nhà XB: Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I
Năm: 1836
19. Địa bạ thôn Long Thới, tổng Phước Hưng Hạ, huyện Phước An, tỉnh Biên Hòa (1836), TTLTQG I, Hà Nội, KH: Q 15583, 7 tờ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa bạ thôn Long Thới, tổng Phước Hưng Hạ, huyện Phước An, tỉnh Biên Hòa
Nhà XB: TTLTQG I, Hà Nội
Năm: 1836
20. Địa bạ thôn Long Xuyên, tổng An Phú Hạ, huyện Phước An, tỉnh Biên Hòa (1836), TTLTQG I, Hà Nội, KH: Q 15586, 12 tờ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa bạ thôn Long Xuyên, tổng An Phú Hạ, huyện Phước An, tỉnh Biên Hòa
Nhà XB: TTLTQG I, Hà Nội
Năm: 1836

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w