Đã có một số nghiên cứu về quản lý nhà nước về DSVH vật thể, nghiên cứu về quản lý văn hóa ở một số địa phương, nghiên cứu về văn hóa, di tích, di tích văn hóa, di tích lịch sử văn hóa t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
./ ./
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LÊ THỊ PHƯƠNG NGA
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI,
TỈNH QUẢNG BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 60 34 04 03 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS.NGUYỄN THỊ PHƯỢNG
THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan nội dung trong Luận văn này do tôi viết, số liệu thu thập và các nội dung nghiên cứu, cũng như kết quả đề tài là trung thực Những số liệu phục
vụ cho nghiên cứu được sử dụng trong đề tài do chính tác giả sưu tầm từ các nguồn khác nhau và được trích dẫn nguồn trong phần tài liệu tham khảo./
Thừa Thiên Huế, ngày tháng năm 2018
Học viên
Lê Thị Phương Nga
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc cùng quý thầy, cô giáo của Học viện Hành chính Quốc gia
Đặc biệt, xin gửi lời trân trọng cảm ơn đối với - PGS.TS Nguyễn Thị Phượng
- Người cô đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo UBND thành phố Đồng Hới, Phòng Văn hóa - Thông tin thuộc UBND thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình, Ban quản
lý Di tích tỉnh Quảng Bình và bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi giúp Tôi hoàn thành chương trình Cao học Quản lý công và luận văn tốt nghiệp
Trân trọng cảm ơn
Học viên
Lê Thị Phương Nga
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA 10
1.1 Khái niệm, đặc điểm di tích lịch sử văn hóa 10
1.1.1 Khái niệm về di tích lịch sử văn hóa 10
1.1.2 Hệ thống các loại di sản văn hóa 15
1.2 Quản lý nhà nước về Di tích lịch sử - văn hóa 18
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm 18
1.2.2 Cơ sở pháp lý cho việc quản lý nhà nước về Di tích lịch sử - văn hóa 24
1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa 28
1.3 Vai trò và ý nghĩa của quản lý nhà nước về Di tích lịch sử - văn hóa 34
1.3.1 Vai trò quản lý nhà nước đối với Di tích lịch sử - văn hóa 34
1.3.2 Ý nghĩa 34
Kết luận Chương 1 35
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI, TỈNH QUẢNG BÌNH 36
2.1 Tổng quan chung về địa lý, lịch sử - văn hóa thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình 36
2.1.1 Vị trí địa lý 36
2.1.2 Đặc điểm tự nhiên, tiến trình lịch sử - văn hóa 36
Trang 52.1.3 Tổng quan về hệ thống Di tích lịch sử - văn hóa ở thành phố Đồng Hới,
tỉnh Quảng Bình 38
2.2 Thực trạng quản lý nhà nước về Di tích Lịch sử - văn hóa ở thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình 41
2.2.1 Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về Di tích lịch sử - văn hóa 41
2.2.2 Thực trạng quản lý Di tích lịch sử - văn hóa ở thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình 46
2.3 Đánh giá chung hoạt động quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình 56
2.3.1 Về ưu điểm 56
2.3.2 Về hạn chế 58
2.3.3 Nguyên nhân của các hạn chế 60
Kết luận Chương 2 61
CHƯƠNG 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI, TỈNH QUẢNG BÌNH 63
3.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong công tác quản lý nhà nước về Di tích lịch sử - văn hóa 63
3.1.1 Quan điểm của Đảng về bảo tồn phát huy các giá trị văn hóa 63
3.1.2 Quan điểm thống nhất vai trò quản lý Di tích lịch sử- văn hóa 64
3.1.3 Quan điểm về bảo tồn, phát huy giá trị của di tích lịch sử- văn hóa trên cơ sở tính trung thực, nguồn gốc của di sản văn hóa 65
3.1.4 Quan điểm về bảo tồn, phát huy giá trị của di tích lịch sử- văn hóa gắn với sự phát triển kinh tế- xã hội của cộng đồng, địa phương 65
3.2 Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về di sản - văn hóa trên địa bàn thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình 68
3.2.1 Chú trọng công tác quy hoạch; ban hành, phổ biến và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến bảo vệ, phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa 70
Trang 63.2.2 Kiện toàn cơ cấu tổ chức bộ máy, quan tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán
bộ công chức, viên chức làm công tác quản lý về Di tích lịch sử - văn hóa 72
3.2.3 Hoàn thiện thể chế pháp luật quản lý nhà nước về Di tích lịch sử - văn hóa 77
3.2.4 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm nâng cao ý thức của người dân và cộng đồng về Di tích lịch sử - văn hóa 78
3.2.5 Tích cực hợp tác quốc tế, huy động nguồn lực xã hội hóa tham gia bảo tồn, trùng tu, tôn tạo các Di tích lịch sử - văn hóa 80
3.2.6 Huy động sự tham gia của cộng đồng trong việc bảo tồn, tôn tạo và khai thác di tích, danh thắng phục vụ phát triển du lịch 82
3.2.7 Tăng cường công tác thanh tra việc quản lý và sử dụng các di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh 83
3.3 Một số kiến nghị 85
3.3.1 Đối với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 85
3.3.2 Đối với UBND tỉnh Quảng Bình 85
3.3.3 Đối với Sở Văn hóa, thể thao tỉnh Quảng Bình 85
3.3.4 Đối với UBND thành phố có di tích lịch sử văn hóa 86
3.3.5 Ủy ban nhân dân xã, phường có di tích lịch sử văn hóa 87
Kết luận Chương 3 88
KẾT LUẬN 89 DANH MỤC THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
BQL : Ban quản lý
BVHTT : Bộ Văn hóa - Thông tin
Bộ VHTTDL : Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
CNH : Công nghiệp hóa
UBND : Ủy ban nhân dân
UNESCO : Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Tỷ lệ đội ngũ quản lý về DTLS - VH thành phố theo độ tuổi 44 Bảng 2.2 Tỷ lệ đội ngũ quản lý về DTLS - VH thành phố theo trình độ chuyên môn nghiệp vụ 45
Trang 9DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ đội ngũ quản lý về DTLS - VH thành phố theo
độ tuổi 45 Biểu đồ 2.2 Cơ cấu đội ngũ quản lý về DTLS - VH thành phố theo trình độ chuyên môn 46
Trang 10và ngày nay, Chính phủ đã quyết định lấy ngày 23-11 hàng năm là ngày DSVH Việt Nam Như vậy, di tích, cổ tích, hay gọi đầy đủ là DSVH, cho dù ở hoàn cảnh lịch sử nào, giai đoạn cách mạng nào đều là linh hồn của dân tộc, là nền tảng tinh thần, động lực nội sinh của sự phát triển bền vững của đất nước ta, nhất là trong quá trình đổi mới, hội nhập và phát triễn kinh tế hiện nay
1.2 Thành phố Đồng Hới là một đơn vị hành chính gắn liền với quá trình hình thành, phát triển của tỉnh Quảng Bình Trải qua nhiều biến cố thăng trầm của lịch sử, thành phố Đồng Hới vẫn không ngừng phát triển Trong thời kỳ 1964 -
1975, cùng với Quảng Bình, Đồng Hới vừa là tuyến đầu đánnh Mỹ vừa là hậu phương trực tiếp của tiền tuyến lớn miền Nam anh hùng, nơi đã có những phong trào “xe chưa qua nhà không tiếc, đường chưa thông không tiếc máu, tiếc xương”,
“chiến đấu giỏi, sản xuất giỏi”… những tên làng, tên đất, tên người như: dòng Nhật
Lệ, Trận địa pháo lão dân quân Đức Ninh, em bé Bảo Ninh; các anh hùng: Quách
Trang 11và khoa học kỹ thuật; nơi có vai trò là động lực phát triển của cả tỉnh Đồng thời xây dựng thành phố Đồng Hới theo tiêu chuẩn đô thị hiện đại, nhằm từng bước nâng cao chất lượng đô thị hạt nhân, tác động thúc đẩy tiến trình đô thị hoá trên địa bàn toàn tỉnh
Những yếu tố về tự nhiên, lịch sử xã hội như trên đã góp phần tạo cho thành phố Dồng Hới, tỉnh Quảng Bình có một kho tàng DSVH đa dạng, độc đào, giàu giá trị còn được lưu truyền đến ngày nay Một trong những thành tố của kho tàng DSVH quý báu đó phải kể tới hệ thống di tích lịch sử văn hóa phong phù với nhiều loại hình khác nhau, theo thống kê đến nay, Quảng Bình gần 18 di tích lịch sử và danh thắng, trong đó có 09 di tích được xếp hạng Tuy số lượng di tích và danh thắng không nhiều nhưng lại đầy đủ các loại hình, phân bố khá tập trung, ngoài những giá trị về lịch sử, văn hoá và truyền thống, di tích và danh thắng ở thành phố Đồng Hới có tiềm năng lớn trong việc phát triển kinh tế thông qua hoạt động du lịch
Trong những năm qua, nhất là từ khi Luật Di sản văn hóa được ban hành (năm 2001), công tác quản lý nhà nước về di sản văn hóa trên địa bàn thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình có nhiều chuyển biến tích cực Các di tích trọng điểm của thành phố được quản lý, đầu tư, trùng tu, tôn tạo, phát huy tác dụng, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của cộng đồng trong và ngoài thành phố Đã nhận thức
và xác định di tích lịch sử văn hóa là một bộ phận quan trọng của nền di sản văn hóa dân tộc, là nhân chứng sống của truyền thống lâu đời cổ xưa với những giá trị
Trang 12bộ, cần phải thiết lập một hành lang pháp lý đầy đủ, hoàn thiện, đồng bộ từ trung ương đến địa phương; xác định việc bảo tồn di tích nhằm tạo ra động lực để phát huy giá trị của di tích đến với cộng đồng trong và ngoài nước, đồng thời đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng để phục vụ cho công tác quản lý nhà nước về di tích
là vấn đề thiết thực Cùng với sự phát triển kinh tế diễn ra nhanh chóng kéo theo nhu cầu khai thác, xây dựng, sản xuất ngày càng lớn sẽ làm ảnh hưởng không tốt đến công tác bảo tồn di tích Trong quá trình hợp tác quốc tế, cùng với làn sóng giao thoa về di tích văn hóa quốc tế vào Việt Nam, cần có kế hoạch phù hợp để bảo vệ những giá trị truyền thống của di tích của tỉnh, di tích của thành phố trước những tác động của bên ngoài Vì vậy, đây là vấn đề đặt ra đối với cơ quan quản lý nhà nước, cần có sự quản lý chặt chẽ, hợp lý và có hiệu quả nhà nước với những chủ trương chính sách và kế hoạch phù hợp trong công tác quản lý nhà nước về di tích, theo sát tình hình thực tế, cụ thể hóa các chủ trương bằng nhiều chính sách phù hợp, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững về di tích và chuyển giao các thế hệ mai sau giá trị di tích với đầy đủ vẻ rực rỡ huy hoàng đích thực của chúng
1.3 Giá trị của di sản văn hóa nói chung, di tích và danh thắng nói riêng là vô cùng to lớn, song điều quan trọng hơn cả là việc bảo tồn và phát huy những giá trị của
nó như thế nào để phát triển mang tính bền vững trong giai đoạn hiện nay mới chính là vấn đề cần được đặc biệt quan tâm đúng mức của các ngành, các cấp, nhất là những
Trang 134
người làm công tác quản lý văn hoá hiện nay
Đã có một số nghiên cứu về quản lý nhà nước về DSVH vật thể, nghiên cứu
về quản lý văn hóa ở một số địa phương, nghiên cứu về văn hóa, di tích, di tích văn hóa, di tích lịch sử văn hóa trong mối liên hệ giữa bảo tồn và phát triển, đất và con người của các vùng đất tại Quảng Bình và nhiều công trình, bài viêt liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập đến QLNN về văn hoá, di sản, DTLS-VH, thực trạng bảo tồn, phát huy DSVH ở nhiều địa phương trong cả nước về góc độ lý luận và thực tiễn khác nhau được công bố, nhưng đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến Quản lý nhà nước về Di tích lịch sử trên địa bàn của thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình, từ đó đưa ra giải pháp nhằm quản lý việc bảo tồn và phát huy những giá trị DSVH, quản lý tốt di tích lịch sử để phát triển mang tính bền vững trong giai đoạn hiện nay
Nhận thức tầm quan trọng cũng như tính bức thiết của vấn đề nêu trên ở tỉnh Quảng Bình, tôi đã chọn đề tài “Quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình” làm luận văn tốt nghiệp bậc cao học của mình, với hy vọng góp phần vào việc nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa nhằm bảo tồn và phát huy tác dụng của nó một cách bền vững trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trên mảnh đất thành phố Hoa hồng này
2 Tình hình nghiên cứu
Vấn đề bảo tồn di tích lịch sử văn hóa cũng như khai thác tiềm năng của di tích và danh thắng là vấn đề nhiều quốc gia, địa phương đã và đang triển khai thực hiện; do vậy đây không phải là vấn đề mới, nhiều học giả, nhiều nhà nghiên cứu văn hóa đã đề cập đến vấn đề nay Tuy nhiên, để nghiên cứu một cách có hệ thống giữa công tác bảo tồn và phát triển một cách bền vững trong điều kiện chúng ta chưa có
đủ các điều kiện để bảo tồn một cách nghiêm ngặt, khoa học và đồng bộ thì chưa có tác giả, nhóm tác giả nào nghiên cứu đề tài này ở thành phố Đồng Hới
Trong Đề án bảo tồn, tôn tạo và phát huy tác dụng của di tích, danh thắng ở thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2005 - 2015 lại tập trung vào các
Trang 145
giải pháp nhằm bảo tồn, tôn tạo, phát huy tác dụng của di tích, danh thắng thông qua giáo dục truyền thống là chủ yếu, chưa đi sâu tìm giải pháp làm sao quản lý hiệu quả di tích lịch sử văn hóa của tỉnh
Một số công trình nghiên cứu về di tích lịch sử văn hóa, địa chí về Quảng Bình cũng chỉ ghi chép, sưu tầm, nghiên cứu từng mảng nội dung theo tiêu chí của công trình nghiên cứu, biên soạn như:
- Dương Văn An, Ô Châu cận lục, Bùi Lương dịch
- Đào Duy Anh (2006), Việt Nam văn hoá sử cương, Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội
- Bộ Quốc phòng, Binh ðoàn 12 (2005), Tóm tắt Quy hoạch tổng thể bảo tồn,
tu bổ, tôn tạo và phát huy giá trị di tích lịch sử Đường Hồ Chí Minh - Đông Trường Sơn
- Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, Quyển 8 - Tỉnh Quảng Bình
- Sở Khoa học & Công nghệ Quảng Bình (2002), Phong Nha - Kẻ Bàng, Tư liệu tổng quan
- Sở Văn hoá - Thông tin Quảng Bình (1990, 2002), Quảng Bình di tích - danh thắng, Tập 1, Tập 2; (1998), Quảng Bình Thắng - Tích - Lục
- Sở Văn hoá - Thông tin Quảng Bình (1998), Thám hiểm du lịch Phong Nha
- Bộ Văn hóa - Thông tin(1993), chỉ thị 72/CT – BVHTT, ngày 30/8 về tăng cường quản lý bảo vệ di tích lịch sử văn hóa, Hà Nội
- Hội di sản văn hóa Việt Nam tỉnh Quảng Bình (2008), Quảng Bình ấn tích thời gian, nhà xuất bản Thuận Hóa
- Hội di sản văn hóa Việt Nam tỉnh - Sở Văn hóa, thể thao và du lịch Quảng Bình (2009), Quảng Bình ấn tích thời gian, nhà xuất bản Thuận Hóa
- Luật di sản văn hóa và nghị định hướng dẫn thi hành (2002), nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội
- Sở Văn hóa - Thông tin Quảng Bình (2002); Quảng Bình di tích danh thắng tập 2, xí nghiệp in Quảng Bình
Trang 156
- Lương Duy Tâm (1998), Địa lý - lịch sử Quảng Bình, Sở Văn hoá - Thông tin Quảng Bình
- Tổng cục Du lịch (2007), Du lịch ở các di sản văn hoá thế giới
- Nguyễn Tú (1998), Quảng Bình nước non và lịch sử, Sở Văn hoá - Thông tin Quảng Bình
Ngoài ra, còn có một số luận án tiến sĩ, luận văn cao học của nhiều tác giá liên quan đến đề tài
- Quản lý nhà nước về trùng tu di tích cố đô Huế, Hà Xuân Hậu (2014), Luận văn Thạc sĩ, Học viện Hành chính quốc gia, Hà Nội
- Vấn đề giữ gìn và phát huy DSVH ở Thừa Thiên Huế hiện nay, Trần Thị Hồng Minh (2014), Luận án tiến sỹ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội
- Bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, Trần Quang Tuấn Minh (2014), Luận văn Thạc sĩ, Học viện Hành chính quốc gia,
Tuy nhiên, trong quá trình triển khai nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn sẽ tiếp thu, kế thừa những kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của luận văn
3 Mục đích và nhiệm vụ của nghiên cứu đề tài
3.1 Mục đích
Trên cơ sở nghiên cứu về lý luận, thực tiễn, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về Di tích lịch sử văn hóa hiên nay, từ đó đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước về lĩnh vực này tại thành phố
Trang 164 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2020
- Phạm vi không gian: Luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu hoạt động QLNN về DTLS -VH trên địa bàn thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu và hoàn thành trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử mác xít, quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước về văn hóa, QLNN về các Di tích lịch sử - văn hóa
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả luận văn sử dụng các phương pháp cụ thể sau: phương pháp điều tra, khảo sát, phân tích, so sánh, thống kê, tổng hợp và điều tra xã hội học, cụ thể:
- Phương pháp điều tra, khảo sát: Khảo sát tại một số di tích ở thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình nhằm tập hợp những thông tin bước đầu về thực trạng quản lý các
di tích theo các loại hình tại các địa phương này, như: các di tích đang được đưa vào khai thác phục vụ du lịch: Tháp chuông nhà thờ Tam Tòa, Tháp nước, Cây đa Chùa ông, Nhà lao Đồng Hới, Trận địa pháo binh Quang Phú, Chiến khu Thuận Đức, Thành Đồng Hới, Cửa biểnn Nhật Lệ, Lũy Đào Duy Từ…
Trang 178
- Phương pháp tổng hợp, phân tích, thống kê và phân loại: Tổng hợp phân tích các nguồn tài liệu tỉnh Quảng Bình và Việt Nam nhằm làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu của luận văn Nguồn tài liệu nghiên cứu đi trước sẽ được tìm hiểu theo các nội dung liên quan như: quản lý nhà nước vầ DSVH, quản lý di tích lịch sử văn hóa, các nghiên cứu về DTLS-VH của tỉnh Quảng Bình, các địa phương khác Tổng hợp, phân tích các số liệu, thống kê phân loại di tích, phát huy giá trị di tích, số lượng khách tham quan các di tích qua một số năm Trong quá trình hoạt động quản lý, cơ hội, tiềm năng và những thách thức đặt ra đối với công atsc quản lý nhà nước sẽ tạo cho người quản lý chủ động trong công tác của mình từ đó đưa ra được những định hướng, quyết sách của mình Trên cơ sở nghiên cứu điều kiện tự nhiên, tiềm năng về di sản cũng như thực trạng của hoạt động quản lý di tích lịch sử văn hóa hiện nay, định hướng phát triển của địa phương; luận văn
sẽ phân tích để đưa ra những điểm mạnh, những hạn chế, chỉ ra những thuận lợi và thách thức trong hoạt động quản lý nhà nước về lĩnh vực trên; từ đó đưa ra được các giải pháp nhắm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa của thành phố Đồng Hới trong giai đoạn hiện nay và đến năm 2020
- Phương pháp so sánh: Phương pháp này được sử dụng để so sánh giữa các mô hình quản lý tại địa phương để tìm được những điểm mạnh, điểm yếu, khắc phục trong việc xây dựng mô hình tổ chức bộ máy, đầu tư nhân lực một cách hợp lý và có hiệu quả
6 Những đóng góp mới của luận văn
Luận vãn góp phần làm rõ những vấn đề chung trong công tác quản lý nhà nước về di tích lịch sử vãn hóa trên địa bàn của thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình Ðánh giá công tác quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn nhằm phát huy các giá trị trong giáo dục, đồng thời giữ gìn bản sắc dân tộc
- Ðýa ra quan điểm định hướng và đề xuất một số giải pháp, cơ chế chính sách nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác quản lý di tích, đồng thời góp phần phát triễn kinh tế - xã hội của thành phố Đồng Hới trong thời gian tới
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương
Trang 189
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với di tích lịch sử văn hóa Chương 2: Thực trạng công tác quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình
Chương 3: Quan điểm và giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình
Trang 1910
Chương 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA
1.1 Khái niệm, đặc điểm di tích lịch sử văn hóa
1.1.1 Khái niệm về di tích lịch sử văn hóa
Theo Công ước về Bảo vệ Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, những loại hình được coi như "di sản văn hóa" là:
Di tích kiến trúc: Các công trình kiến trúc, các công trình điêu khắc và hội họa kiến trúc, các bộ phận hoặc kết cấu có tính chất khảo cổ học, các bi ký, các hang động cư trú và những bộ phận kết hợp, mà xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật hoặc khoa học là có giá trị nổi tiếng toàn cầu
Nhóm công trình xây dựng: các nhóm công trình riêng lẻ hoặc liên kết mà,
do tính chất kiến trúc, tính chất ðồng nhất hoặc vị thế của chúng trong cảnh quan xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật hoặc khoa học là có giá trị nổi tiếng toàn cầu Các di chỉ: các công trình của con người hoặc công trình kết hợp giữa con người và thiên nhiên, cũng như các khu vực có các di chỉ khảo cổ học mà xét theo quan điểm lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhân học là có giá trị nổi tiếng toàn cầu Giáo trình Bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa của Trường Đại học Văn hóa đưa ra một khái niệm khoa học về di tích như sau: "Là những không gian vật chất
cụ thể, khách quan, trong đó chứa đựng các giá trị điển hình lịch sử; do tập thể hoặc cá nhân con người hoạt động sáng tạo ra trong lịch sử để lại" [Luật DSVH, tr 17] Theo Luật Di sản Văn hóa của Việt Nam, di tích lịch sử - văn hóa được qui
Trang 20- Về di sản thiên nhiên (danh thắng):
Theo Công ước về Bảo vệ Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới của UNESCO năm 1972, những loại hình được xem là di sản thiên nhiên (danh thắng)
đó là:
Các cấu tạo tự nhiên: bao gồm các thành tạo vật lý hoặc sinh học hoặc các nhóm có thành tạo thuộc loại đó mà, xét theo quan điểm thẩm mỹ hoặc khoa học là
có giá trị nổi tiếng toàn cầu
Các thành tạo địa chất và địa văn và các khu vực được khoanh vùng chính xác làm nơi cư trú cho các loài động vật và thảo mộc bị đe dọa mà, xét theo quan điểm khoa học hoặc bảo tồn là có giá trị nổi tiếng toàn cầu
Các di chỉ tự nhiên hoặc các khu vực tự nhiên đã được khoanh vùng cụ thể
mà, xét theo quan điểm khoa học, bảo tồn hoặc vẻ đẹp thiên nhiên là có giá trị nổi tiếng toàn cầu
1.1.1.2 Đặc điểm về di tích lịch sử văn hóa
Theo điều khoản 1, Điều 28, Luật Di sản văn hóa năm 2001 và Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa năm 2009, Di tích lịch sử văn hóa phải
có một trong các tiêu chí sau:
- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia hoặc của địa phương trong các thời kỳ lịch sử
- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu của quốc gia hoặc của địa phương trong các thời kỳ lịch sử
Trang 2112
- Địa điểm khảo cổ có giá trị tiêu biểu
- Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô
thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển
kiến trúc, nghệ thuật
Di tích lịch sử - văn hóa là nơi kết tinh tinh hoa văn hóa tiêu biểu của dân
tộc, gắn liền với tiến trình lịch sử, nơi hội tụ và gắn kết cộng đồng của dân tộc Việt
Nam
Luật Di sản văn hoá, di tích được phân loại như sau:
Thứ nhất, nếu căn cứ vào giá trị tiêu biểu nhất mà di tích chứa đựng thì di
tích được phân thành 4 loại:
- Di tích lịch sử
- Di tích kiến trúc nghệ thuật
- Di tích khảo cổ
- Di tích danh lam thắng cảnh Trong đó:
- Di tích lịch sử là nơi gắn với những sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu, những
địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, anh nhân, nhân vật
lịch sử tiêu biểu có những đóng góp, ảnh hưởng tới sự tiến bộ của lịch sử dân tộc
Các địa điểm này là nơi giáo dục tuyên thống lịch sử vẻ vang của dân tộc, đồng thời
di tích lịch sử cũng gắn liền với nét đẹp văn hóa của đất nước ta, bao gồm:
- Những công trình, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình
dựng nước và giữ nước; gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh
nhân đất nước; gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, kháng
chiến như: Di tích Nguyễn Du, di tích Phủ Chủ tịch, di tích Nhà tù Côn đảo, di tích
chiến thắng Bạch Ðằng, di tích Ðường mòn Hồ Chí Minh
- Di tích kiến trúc nghệ thuật gồm: Quần thể các công trình kiến trúc hoặc
công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc
nhiều giai đoạn lịch sử như: Di tích Ðình Làng, di tích Chùa Tháp, di tích Văn
miếu, di tích đạo quán, di tích đền, nghè, miếu, phủ, di tích thành luỹ, di tích lăng
Trang 2213
tẩm, di tích cầu, di tích kiến trúc dân gian, di tích văn hoá Chăm Pa…
- Di tích khảo cổ là: những địa điểm, ẩn dấu một bộ phận giá trị văn hoá,
thuộc về thời kỳ lịch sử xã hội loài người chưa có văn tự và thời gian nào đó trong
thời kỳ lịch sử cổ đại như di tích khảo cổ Cát Tiên…
- Di tích danh lam thắng cảnh là: Cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự
kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị thẩm mỹ tiêu
biểu hoặc địa điểm ghi dấu hoạt động của con người trong lịch sử để lại có giá trị về
lịch sử, văn hoá, khoa học
Thứ hai, theo đầu mối quản lý và giá trị của di tích, danh thắng thì di tích
danh thắng được chia thành 3 loại:
- Di tích quốc gia đặc biệt
- Di tích quốc gia
- Di tích cấp tỉnh
Trong đó:
- Di tích quốc gia đặc biệt là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia
Các di tích này được địa phương lập hồ sơ xếp hạng và trên cơ sở đề nghị của
Bộ trưởng Bộ VH, TT & DL, Thủ tướng Chính phủ quyết định xếp hạng di tích
quốc gia đặc biệt và quyết định đề nghị các tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá
của Liên Hợp Quốc xem xét đưa di tích tiêu biểu của Việt Nam vào Danh mục di
sản thế giới như: Phong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Bình), Cố đô Huế (Thừa Thiên
Huế), Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh), Thánh địa Mỹ Sơn (Quảng Nam)
- Di tích quốc gia là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia
Các di tích này được địa phương lập hồ sơ, trên cơ sở đề nghị của Chủ tịch
UBND tỉnh, Bộ trưởng Bộ VH, TT & DL ra quyết định xếp hạng di tích quốc gia
- Di tích địa phương là di tích có giá trị tiêu biểu của từng địa phương như ở
thành phố, huyện thuộc tỉnh
Địa phương lập hồ sơ, trên cơ sở đề nghị của Giám đốc Sở VH, TT & DL,
Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xếp hạng di tích cấp tỉnh
Bên cạnh phân loại như trên, theo chúng tôi cần thiết phải dựa vào hình thức
Trang 2314
quản lý và điều kiện khai thác của di tích để phân loại sâu hơn về bản chất của hệ thống di tích hiện có làm căn cứ cho việc xây dựng các chính sách và giải pháp Thứ ba, dựa vào hình thức quản lý, di tích được chia thành 3 loại:
- Di tích do nhà nước trực tiếp quản lý
- Di tích do cộng đồng dân cư (dưới hình thức tập thể) trực tiếp quản lý
- Di tích do cá nhân, gia đình trực tiếp quản lý
Trong đó:
- Di tích do Nhà nước quản lý: Đó là các di tích quốc gia đặc biệt và di tích quốc gia do các ban quản lý di tích được Nhà nước thành lập trực tiếp quản lý Nhà nước cấp lương, chi phí cho hoạt động thường xuyên, các chi phí sửa chữa trực tiếp cho Ban quản lý di tích
- Di tích do cộng đồng dân cư (hình thức tập thể quản lý) trực tiếp quản lý:
Đó là các di tích quốc gia, di tích địa phương cấp tỉnh được giao cho tổ chức nhân dân trực tiếp quản lý như đình làng, các chùa, đền thờ
- Di tích do cá nhân, gia đình trực tiếp quản lý như : Nhà thờ dòng họ, nhà ở dân cư trong các khu phố cổ, sắc phong, bảo vật của dòng họ
Thứ tư, Theo điều kiện khai thác của di tích thì di tích được phân thành 2 loại:
di tích như di tích kiến trúc nghệ thuật, di tích gắn tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, những di tích có giá trị toàn cầu, di tích nằm ở những khu vực có điều kiện giao thông đi lại thuận lợi, thuộc các tuyến tham quan du lịch
- Di tích chưa có khả năng khai thác là: Các di tích chưa có điều kiện thuận lợi khách quan về hấp dẫn khách tham quan, không có nguồn thu tại di tích và rất khó huy động các nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước cho hoạt động BT, TT &
Trang 2415
KT như các di tích cách mạng, di tích khảo cổ học, di tích lưu niệm danh nhân nằm
ở những khu vực không có điều kiện giao thông đi lại thuận lợi, không thuộc các tuyến tham quan du lịch
Điều kiện thuận lợi khách quan ở đây là do đặc điểm của từng loại di tích quy định không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người
1.1.2 Hệ thống các loại di sản văn hóa
1.1.2.1 Khái niệm di sản văn hóa
Di sản văn hóa là tài sản do các thế hệ đi trước để lại, có vai trò vô cùng quan trọng trong diễn trình văn hóa của một dân tộc nói riêng, và hiểu theo nghĩa rộng là của cả nhân loại nói chung Phần mở đầu của Luật Di sản Văn hóa của Việt Nam đã viết: "Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta" [Luật DSVH, tr.5]
Để tìm hiểu khái niệm di sản văn hóa trước hết cần phải hiểu thế nào là văn hóa Đa số học giả hiện nay cho rằng, văn hóa là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử Thống nhất với quan điểm ấy, có thể hiểu di sản văn hóa cũng chính là những sản phẩm sáng tạo đó Tuy nhiên, không phải bất cứ sản phẩm nào do con người sáng tạo ra trong quá trình phát triển của mình cũng được xem là di sản văn hóa Từ điển tiếng Việt định nghĩa một trong những khái niệm của di sản là "Giá trị tinh thần và vật chất của văn hóa thế giới hay một quốc gia một dân tộc để lại: di sản văn hóa" tuy nhiên phải những gì có giá trị mới được công nhận là di sản
Luật số 214 ngày 1/7/1975 của Nhật Bản về bảo vệ di sản văn hóa là một minh chứng Khái niệm Di sản văn hóa ở đây được hiểu là:
Những nhà cửa, các tác phẩm nghệ thuật, điêu khắc, những tác phẩm nghệ thuật thực dụng, những công trình có khắc chữ, các pho sách cổ điển, những tài liệu
cổ và những sản phẩm văn hóa vật thể khác, đều có một giá trị lịch sử và nghệ thuật cao của đất nước: bao gồm những khu vực đất đai và những vật liệu khác, gắn bó với nhau chặt chẽ và được đóng góp một giá trị tương đương, những mẫu vật khảo
Trang 25có một giá trị cao về khoa học được gọi là những công trình lưu niệm
Hay Công ước về Bảo vệ Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới (Conservation Concerning the protection of the World Cultural and Natural Heritage) của UNESCO năm 1972, những loại hình được coi như là "di sản văn hóa" và "di sản thiên nhiên" đều có đặc điểm chung là "có giá trị nổi tiếng toàn cầu" (" which are of outstanding universal value")
Luật Di sản Văn hóa của Việt Nam tại Điều 1 đã nêu rõ di sản văn hóa "bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam"
Đây có thể xem là khái niệm về di sản văn hóa được sử dụng chung nhất ở nước ta hiện nay, hoàn toàn tương tự như khái niệm về di sản văn hóa được sử dụng trên thế giới Điều đó cũng có nghĩa di sản văn hóa cũng là của cải, là tài sản quốc gia và mọi công dân phải có nghĩa vụ bảo vệ, giữ gìn
1.1.2.2 Di sản văn hóa phi vật thể
Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng,
Trang 2617
truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết và nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác
1.1.2.3 Di sản văn hóa vật thể:
Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia
Tuy nhiên, sự phân định này thực ra cũng chỉ mang tính tương đối, nhằm để nghiên cứu những đặc tính riêng của từng di sản, còn trong thực tế yếu tố vật thể và phi vật thể gắn kết chặt chẽ với nhau, cùng tồn tại để làm nên giá trị của một di sản Khi đó, di sản văn hóa phi vật thể là linh hồn, là cốt lõi, là biểu hiện tinh thần của di sản văn hóa vật thể; còn cái hiện hữu, cái làm nên di sản văn hóa vật thể thì tồn tại nhý là biểu hiện vật chất của di sản văn hóa phi vật thể ấy
Dù phân loại thế nào chăng nữa, các di sản văn hóa vẫn có những đặc điểm chung Đó là:
- Tính biểu trưng đại diện cho mỗi nền văn hóa của một quốc gia, một dân tộc; tính lịch sử với những đặc trưng của thời đại và đại diện cho thời đại sinh ra chúng, nền văn minh và kỹ thuật tái tạo chúng
- Tính truyền thống lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, không chỉ bản thân di sản mà cả những giá trị phi vật thể đi cùng với chúng cũng được truyền sang thế hệ sau bằng mô phỏng, phát triển và sáng tạo mới trên nền của di sản cũ
- Tính nhạy cảm, dễ bị ảnh hưởng dưới các tác động khác nhau, dễ dàng bị
hư hỏng, bị phỏ huỷ và bị mai một đi do những tác động khác nhau của con người, của điều kiện thời tiết, các phản ứng hóa học… Trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước, cha ông ta đã sáng tạo và để lại hàng nghìn di tích có giá trị Tuy nhiên, nhiều di tích đang bị xuống cấp nghiêm trọng và có nguy cơ mai một vì nhiều nguyên nhân như: sự tàn phá của chiến tranh, thiên tai, nhận thức chưa đầy đủ
Trang 2718
về giá trị của di tích Vì vậy, vấn đề cấp thiết đang đặt ra là phải hoạch định chiến lược, nhanh chóng xây dựng các chính sách và giải pháp để bảo tồn, tôn tạo và phát huy tác dụng của di tích ở Việt Nam nói chung, Quảng Bình núi riêng trong giai đoạn phát triển mới của đất nước một cách hợp lý, phù hợp với điều kiện kinh tế -
xã hội và góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, trong đó có hoạt động của ngành du lịch
1.2 Quản lý nhà nước về Di tích lịch sử - văn hóa
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm
1.2.1.1 Khái niệm và đặc điểm quản lý nhà nước
Quản lý là chức năng nhằm bảo vệ và duy trì các cơ cấu xác định của một tổ chức, đồng thời duy trì chế độ hoạt động thực hiện một công trình và một mục tiêu của hoạt động đã được ý thức hóa của một tập đoàn người, của một tổ chức xã hội hay một cá nhân nào đó với tư cách là một chủ thể của hoạt động quản lý Hiểu theo nghĩa thông thường thì quản lý là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người nhằm duy trì, ổn định và phát triển của đối tượng theo những mục tiêu đã định Căn cứ vào quy mô và tính chất, có thể chia thành: Quản lý vĩ mô và quản lý vi mô Quản lý vĩ mô là bao gồm hoạt động quản lý nhà nước nói chung về lĩnh vực, ngành, nghề trong xã hội Hình thức này là sự tác động mang tính chất quyền lực nhà nước, theo hướng điều tiết và định hướng các nhiệm vụ cơ bản Quản lý vi mô là những tổ chức cụ thể như một doanh nghiệp, một trường học, một cơ quan nghiên cứu, một nhà hát, một bảo tàng hình thức này đi sâu vào mục tiêu, nhiệm vụ và môi trường đặc thù của từng tổ chức cụ thể
Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức chỉ đạo và điều hành thực hiện kết hợp với thanh tra, kiểm tra bằng quyền lực nhà nước đối với các lĩnh vực trong
xã hội, do các cơ quan trong bộ máy nhà nước tiến hành trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của nhà nước, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi của công dân Bản chất của quản lý nhà nước là quyền lực nhà nước ‘‘Quyền lực nhà nước được ghi nhận, cũng cố
Trang 2819
bằng pháp luật và được thực thi bởi bộ máy nhà nước với cơ sở vật chất, tài chính
to lớn, bằng phương pháp thuyết phục và cưỡng chế”
Quản lý nhà nước được thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước Quản lý Nhà nước là dạng quản lý xã hội thực thi quyền lực nhà nước, dạng quản lý này được thực hiện trong các cơ quan nhà nước
Điều 12, Hiến pháp 199 sửa đổi ,bổ sung 2011;” Nhà nước quản lý xã hội theo pháp luật, không ngừng tăng cường pháp luật xã hội chủ nghĩa” Như vậy pháp luật
là công cụ để nhà nước thực hiện việc quản lý xã hội, không ngừng nghiên cứu, xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm nâng cao vai trò quản lý của nhà nước Quản lý nhà nước góp phần quan trọng trong việc đảm bảo mục tiêu ổn định và phát triển kinh tế xã hội” bằng pháp luật, nhà nước có thể trao quyền cho các tổ chức hoặc cá nhân để họ thay mặt nhà nước tiến hành hoạt động quản lý nhà nước” Như vậy, quản lý nhà nước là một phần không thể thiếu trong đời sống xã hội, quản lý nhà nước giúp cho sự hiện diện của nhà nước đến với mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội, tăng cường pháp chế, ổn định tình hình kinh tế xã hội đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước
1.2.1.2 Khái niệm và đặc điểm quản lý nhà nước về Di tích lịch sử - văn hóa Trước hết ta hiểu, quản lý về văn hóa là một lĩnh vực cụ thể của khoa học quản lý, đây là sự quản lý của nhà nước đối với toàn bộ hoạt động văn hóa của quốc gia bằng quyền lực của nhà nước thông qua Hiến pháp, pháp luật và cơ chế chính sách nhằm đảm bảo sự phát triển của nền văn hóa dân tộc Quản lý nhà nước về văn hóa mang tính đặc thù vì trước hết, hoạt động văn hóa là một hoạt động sáng tạo, các sản phẩm văn hóa mang giá trị lưu truyền từ đời này sang đời khác, làm phong phú cho cuộc sống con người Hoạt động đó đòi hỏi phải có những không gian dành riêng, giúp cho sức tưởng tượng của chủ thể có khả năng sáng tạo theo khả năng của mình; đồng thời, hoạt động văn hóa là hoạt động tư tưởng, có khả năng gây hiệu ứng (tốt hoặc xấu) trong xã hội và còn là hoạt động kinh tế, một nội lực trực tiếp cho sự phát triển kinh tế - xã hội
Văn hóa là một lĩnh vực rộng, trong đó, DSVH là một bộ phận cấu thành quan
Trang 2920
trọng hình thành nên bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia Nội dung quản
lý văn hóa và quản lý DSVH có những điểm chung, nhưng có những đặc trưng riêng Quản lý DSVH là một ngành khoa học Trong xã hội hiện đại, khoa học quản
lý cũng có vai trò đặc biệt vì nó giữ vị trí định hướng cho sự phát triển; chỉ đạo điều hành thông qua các chế tài và giám sát, quản lý hoạt động của ngành hay lĩnh vực
đó
Thực tế ở nước ta cho thấy, quản lý DSVH là quá trình xuyên suốt trong đời sống xã hội ở tất các các cấp độ, các địa phương Công tác này giúp cho đời sống văn hóa của xã hội có được nền tảng ổn định bền vững để tồn tại và phát triển Di sản văn hóa là tài sản của quá khứ để lại, lưu giữ dấu ấn thời gian nhưng cũng trở thành đối tượng bị thời gian tàn phá cho nên chúng ta cần phải có những biện pháp bảo tồn thích hợp để có thể gìn giữ lâu dài Đồng thời phải làm cho các di sản đến
từ quá khứ phải trở thành một hợp phần quan trọng của đời sống xã hội hiện đại Tất cả những hoạt động đó được coi là những công việc thuộc về quản lý DSVH Tuy nhiên, công tác quản lý DSVH không chỉ dừng lại ở việc bảo tồn những giá trị đặc sắc mà còn phải tiến hành những động thái tích cực, phù hợp để bổ sung, nâng cao những giá trị đó phù hợp với yêu cầu của xã hội đương đại
Quản lý Di tích văn hóa về bản chất là sử dụng có hiệu quả các công cụ quản
lý để tác động đến đối tượng bị quản lý để đạt được mục tiêu đặt ra là bảo vệ lâu dài các yếu tố gốc cấu thành giá trị DSVH và phát huy giá trị phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của các tầng lớp cư dân trong
xã hội Bàn về quản lý DSVH nhưng về cơ bản là quản lý các mặt hoạt động của con người có tác động theo cả hai chiều thuận và nghịch tới DSVH Không thể bỏ qua các hoạt động nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê, tu bổ, tôn tạo, khai thác, sử dụng DSVH và phát triển kinh tế có liên quan đến di sản Đối tượng của quản lý ở đây không chỉ là di sản mà còn bao gồm tất cả các hoạt động trong lĩnh vực bảo tồn DSVH và cả những con người thực hiện các hoạt động đó Vì vậy trong quản lý DSVH người ta luôn quan tâm đến vai trò và trách nhiệm xã hội của toàn thể cộng đồng Hiệu quả của công tác quản lý phụ thuộc trước hết vào các loại công cụ quản
Trang 30di sản và đặc biệt là sự tự nguyện tham gia của đông đảo tầng lớp cư dân trong xã hội Và cuối cùng, tiêu chí đánh giá hiệu quả của quản lý DSVH chính là các mục tiêu quản lý có được thực thi trong đời sống xã hội hay không? Nghĩa là yếu tố gốc, các mặt giá trị nổi bật của di sản có được bảo vệ và phát huy cao nhất phục vụ thiết thực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam hay không Quản lý nhà nước có thiết lập được sự cân bằng giữa bảo tồn và phát triển hay không?
Di tích lịch sử - văn hóa là một bộ phận của DSVH vật thể, do vậy nội dung quản lý DTLS - VH cũng bám sát các nội dung của quản lý DSVH Quản lý di tích lịch sử - văn hóa là sự định hướng tạo điều kiện tổ chức, điều hành việc bảo vệ, gìn giữ các di tích lịch sử văn hóa, làm cho các giá trị của di tích được phát huy theo chiều hướng tích cực và thực sự trở thành mục tiêu và động lực của phát triển Di tích phải hướng về cộng đồng và phục vụ sự phát triển cộng đồng, tạo động lực để thu hút sự tham gia của họ vào hoạt động bảo tồn DSVH Các DTLS - VH cần được tôn trọng và bảo vệ trong mỗi quốc gia, mỗi địa phương vì đây là tài sản vô giá, là tài nguyên quan trọng trong phát triển kinh tế du lịch Việc bảo vệ, khai thác, sử dụng có hiệu quả những di tích có ý nghĩa quan trọng trong việc giáo dục truyền thống, phục vụ cho nghiên cứu khoa học, tham quan du lịch, đáp ứng nhu cầu thẩm
mỹ và văn hóa của cộng đồng
Như vậy, về thực chất, việc quản lý di tích nhằm hướng tới mục đích chính: Một là, bảo tồn, gìn giữ các di tích chống lại sự tàn phá của thiên nhiên, con người Hai là, khai thác, phát huy có hiệu quả các di tích phục vụ sự phát triển kinh
tế xã hội
Trang 3122
Vấn đề bảo tồn di sản, di tích thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới Có nhiều nhà nghiên cứu đưa ra các quan điểm khác nhau nhưng tựu chung lại có quan điểm chính đó là: Quan điểm bảo tồn nguyên gốc; bảo tồn trên cơ sở sự kế thừa; bảo tồn - phát triển
Theo quan điểm bảo tồn nguyên gốc, việc giữ gìn các di sản là đảm bảo giữ nguyên trạng như sự vốn có của nó về kích thước, vị trí, đường nét, màu sắc, kiểu dáng… tránh tình trạng làm méo mó, biến dạng di sản Quan điểm này được các nhà bảo tàng học ủng hộ, đặc biệt là nó phù hợp với việc bảo tồn các DSVH vật thể bao gồm các di tích và các sưu tập hiện vật trong các bảo tàng Tổ chức UNESCO cũng
có nhiều văn bản, công ước đề cập tới tính nguyên gốc của di tích chẳng hạn như Hiến chương Venice về Bảo tồn và Trùng tu di tích (1964), Hiến chương Washington về bảo vệ thành phố và khu vực lịch sử (1987), Hiến chương Laussanne (1989)… Về căn bản, đây là những lý thuyết về bảo tồn di tích được hình thành và tuân thủ ở nhiều quốc gia nhất là các nước phương tây, cốt lõi của nó
là lấy việc bảo tồn tính nguyên gốc làm nguyên tắc và mục tiêu cao nhất… Trong khi đó những người theo quan điểm bảo tồn trên cơ sở kế thừa lại cho rằng di sản cần thực hiện nhiệm vụ lịch sử của mình ở một thời gian và không gian cụ thể Khi DSVH ấy tồn tại trong một không gian và thời gian hiện tại, di sản cần phát huy giá trị văn hóa xã hội phù hợp với xã hội hiện nay và phải loại bỏ những gì không phù hợp với xã hội ấy Các nhà nghiên cứu nhận thấy quan điểm này gặp khó khăn ở chỗ cái nào là cần kế thừa, phát huy, yếu tố nào là thứ yếu và cần loại bỏ
Trong công tác quản lý nhà nước, chức năng tổ chức quản lý rất quan trọng, nhu cầu đặt ra cho công tác quản lý là việc tổ chức một bộ máy quản lý chặt chẽ thống nhất và đồng bộ, cơ cấu tổ chức phù hợp từ Trung ương đến cơ sở Quản lý nhà nước về DTLS - VH cần giải quyết 3 vấn đề cơ bản:
- Công tác tổ chức chỉ đạo quản lý nhà nước về di tích
- Công tác điều hành thực hiện quản lý nhà nước về di tích
- Công tác thanh tra, kiểm tra quản lý nhà nước về di tích
Công tác tổ chức chỉ đạo chức năng quản lý nhà nước về di tích tập trung ở
Trang 3223
các chính sách, chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước trên cơ sở các văn bản pháp luật, theo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh Hướng dân công tác, cơ cấu, công việc, nhân sự, chiến lược phân cấp các cơ quan quản lý phân công phân nhiệm các cơ quan quản lý nhà nước về di tích Thiết kế và xây dựng được một cơ cấu tiên tiến và có hiệu quả Công tác điều hành thực hiện chức năng quản lý nhà nước về di tích do các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến cơ sở tiến hành, cùng các cơ quan, tổ chức khác có liên quan
- Công tác thanh tra, kiểm tra, quản lý nhà nước về di tích nhằm thực hiện chức năng kiểm tra, giám sắt nhà nước đối với di tích
- Công tác quản lý nhà nước về di tích phải đảm bảo một chiến lược phát triển thích hợp với tình hình thực tế và hướng tới tương lai, nhất là các nơi ở vùng sâu vùng xa có đời sống vật chất và đời sống văn hóa chưa tương xứng
Việc phân cấp quản lý di tích là một chủ trương đúng đắn, nhưng làm sao để phân cấp thực hiện tốt các chuẩn mực chung về khoa học bảo tồn di tích vẫn được tuân thủ và giữ vững trong bối cảnh đội ngũ cán bộ quản lý, chuyên môn của chúng
ta vẫn còn thiếu ,cũng cần có một lộ trình qua nhiều năm với những tiêu chí, điều kiện cụ thể cho việc phân cấp đi đôi với quy hoạch đào tạo cán bộ
Ngày nay, công chúng có thể tiếp cận và hưởng thụ các giá trị văn hóa của nhiều quốc gia, nhiều dân tộc khác nhau vì vậy mà quan điểm bảo tồn - phát triển được nhiều học giả tán đồng Các nhà nghiên cứu nhìn nhận DTLS - VH theo những cách tiếp cận mới mẻ, phong phú nhất là về vai trò, giá trị của DTLS - VH Theo đó, DTLS - VH không còn được coi là sự vật của quá khứ với những giá trị và hình thái bất di bất dịch, có giá trị vĩnh viễn Thay vào đó, DTLS - VH được nhìn nhận lại như một quá trình sáng tạo văn hóa trong những môi trường vận động thực tại Và như vậy, DTLS - VH là sản phẩm của thực tại, được tạo ra bởi cảm nhận về các giá trị của quá khứ, dẫn đường bởi những mối quan tâm đến vai trò của quá khứ trong các mối lo toan về thực tại và tương lai A.A Radughin - trong Văn hóa học, những bài giảng có viết: Xu hướng hiện đại của việc suy ngẫm lại vai trò và ý nghĩa của DTLS - VH là ở chỗ, không chỉ cố gắng giữ gìn di sản đó ở dạng ban đầu mà
Trang 3324
còn cố gắng đưa một cách tích cực di sản đó vào nền móng của đời sống xã hội Phát huy giá trị của di tích chính là sử dụng có hiệu quả các giá trị vốn có của di tích (những giá trị mang tính tích cực, có ích cho thời đại) vào việc giáo dục truyền thống lịch sử, văn hóa, thẩm mỹ và khoa học, coi đó như một nguồn lực để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và trên cơ sở đó tuyên truyền sâu rộng cho cộng đồng, nâng cao trách nhiệm bảo vệ DSVH của cộng đồng Trong trường hợp nghiên cứu của luận án, đối tượng của hoạt động quản lý, bảo tồn là các di tích lịch sử văn hóa
ở địa phương cụ thể, với những đặc trưng về loại hình, vật liệu xây dựng, việc bảo tồn cần tôn trọng tính nguyên gốc, tính chân xác, tính toàn vẹn và sự bền vững của
di tích trong những điều kiện cho phép Việc bảo tồn di tích phải vì mục tiêu và gắn với phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt cần gắn với cộng đồng, tôn trọng và đề cao vai trò của cộng đồng với tư cách là chủ thể sáng tạo văn hóa, chủ sở hữu của di sản, người hưởng thụ giá trị của di sản đó nhưng đồng thời lại đóng vai trò chủ động trong việc bảo vệ và phát huy giá trị DTLS - VH
Các di tích cần được khai thác, phát huy giá trị để tuyên truyền, giáo dục về truyền thống, bản sắc văn hóa, quảng bá hình ảnh địa phương, góp phần thiết thực phục vụ sự phát triển chung về kinh tế - xã hội của địa phương, đặc biệt là phải mang lại lợi ích thiết thực cả về tinh thần và vật chất cho cộng đồng cư dân nơi có
di tích, di sản Đây chính là quan điểm lý thuyết sẽ được tác giả luận án vận dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài Luận án sẽ tiếp cận hoạt động quản lý nhà nước trên các phương diện như việc ban hành các chính sách, văn bản pháp quy, các chiến lược phát triển… cũng như việc quản lý các hoạt động cụ thể nhằm bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa trong điều kiện hiện nay
1.2.2 Cơ sở pháp lý cho việc quản lý nhà nước về Di tích lịch sử - văn hóa
Từ sau năm 1945, hoạt động bảo tồn di tích ở Việt Nam bắt đầu tiếp cận với khoa học bảo tồn hiện đại của thế giới Từ đây, các văn bản pháp lý từng bước được xây dựng để làm sơ sở cho mọi hoạt động có liên quan, đặc biệt là công tác quản lý các di tích lịch sử văn hóa, như:
- Sắc lệnh số 65/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 23/11/1945 quy định
Trang 3425
nhiệm vụ của Đông Phương bác cổ học viện và đề cập tới việc cấm phá huỷ đình, đền, chùa, đền miếu hoặc những nơi thờ tự khác như cung điện, thành quách cùng lăng mộ phải được bảo tồn
- Nghị định số 519-TTg do Thủ tướng chính phủ ký ngày 29/10/1957, quy định Thể lệ bảo tồn cổ tích Đây là một văn bản pháp lý quan trọng có giá trị nền tảng cho hoạt động bảo vệ di tích nói riêng và bảo tồn bảo tàng nói chung
- Pháp lệnh số 14-LCT/HĐND về Bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hóa
và danh lam, thắng cảnh do Chủ tịch Hội đồng Nhà nước ký ban hành ngày 4/4/1984 Đây là căn cứ pháp lý quan trọng để bảo vệ di tích trong thời kỳ đất nước vừa hoàn toàn thống nhất, là bước tiến lớn của ngành bảo tồn bảo tàng nhằm thống nhất quản lý và chỉ đạo mọi hoạt động bảo vệ di tích bằng các điều luật cụ thể Với sự phát triển của đất nước, sự hội nhập quốc tế, việc quản lý các DSVH nói chung và Di tích lịch sử - văn hóa nói riêng được Đảng và Nhà nước quan tâm ban hành đạo luật và các văn bản dưới luật để chế định, như:
- Luật di sản văn hóa ban hành năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa năm 2009 đã cụ thể hóa đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xã hội hóa các hoạt động bảo
vệ và phát huy giá trị DTLS - VH, mở rộng phạm vi điều chỉnh cả DSVH phi vật thể là một vấn đề mà đã được nhiều quốc gia đề cập tới Luật tạo cơ sở pháp lý để triển khai các hoạt động cần thiết trong việc bảo vệ, phát huy giá trị DSVH; xác định rõ quyền hạn, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân và chủ sở hữu đối với DSVH, chỉ
rõ những việc được làm và không được làm, những hành vi bị nghiêm cấm, cơ chế khen thưởng, tôn vinh những người có công, xử phạt các hành vi vi phạm di tích; trách nhiệm của các Bộ, ban, ngành có liên quan ở trung ương và UBND các cấp trong việc bảo tồn DSVH, Di tích lịch sử - văn hóa
Tuy nhiên, trong quá trình đưa Luật áp dụng vào thực tiễn bên cạnh những mặt tích cực, cũng nảy sinh một số hạn chế như chưa xử lý thoả đáng mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển dẫn đến tình trạng thương mại hoá di tích
Vì vậy, năm 2009, Quốc hội đã thông qua việc sửa đổi, bổ sung một số điều
Trang 3526
của Luật di sản văn hóa và ban hành nhiều nghị định, chỉ thị, thông tư hướng dẫn việc triên khai thực hiện Luật và để quản lý nhà nước về DSVH, di tích lịch sử văn hóa của quốc gia và địa phương như: Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa; Nghị định
số 70/2012/NĐ-CP ngày 18/9/2012 của Chính phủ quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, phê duyệt quy hoạch, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh; Nghị định số 61/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định điều kiện kinh doanh giám định cổ vật và hành nghề bảo quản,
tu bổ, phục hồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; Chỉ thị số BVHTTDL, ngày 19/5/2009 về việc tăng cường công tác quản lý di tích và các hoạt động bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích; Chỉ thị số 16/CT-BVHTTDL, ngày 03/3/2010 về việc tăng cường công tác chỉ đạo quản lý hoạt động văn hóa, tín ngưỡng tại di tích; Thông tư số 09/2011/TT-BVHTTDL ngày 14/7/2011 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định về nội dung hồ sơ khoa học để xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh; Thông tư số 18/2012/TT-BVHTTDL ngày 28/12/2012 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định chi tiết
73/CT-về bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích; Thông tư liên tịch số BVHTTDL-BTNMT ngày 30/12/2013 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch, tổ chức lễ hội, bảo vệ và phát huy giá trị di tích; Thông tư liên tịch số 04/2014/TTLT-BVHTTDL-BNV ngày 30/5/2014 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Bộ Nội
19/2013/TTLT-vụ hướng dẫn việc thực hiện nếp sống văn minh tại các cơ sở tín ngưỡng; Thông tư
số 13/2010/TT-BVHTTDL ngày 30/12/2010 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định trình tự, thủ tục đề nghị công nhận bảo vật quốc gia; Thông tư
số 07/2011/TT-BVHTTDL ngày 07/6/2011 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ, huỷ bỏ các quy định có liên quan đến thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Văn hoá, Thể thao và
Du lịch; Thông tư số 15/2015/TT-BVHTTDL ngày 22/12/2015 của Bộ Văn hóa,
Trang 3627
Thể thao và Du lịch quy định về tổ chức lễ hội
Bộ trưởng Bộ Văn hóa và Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) Quyết định số 1706/2001/QĐ-BVHTT ngày 24/7/2001 phê duyệt Quy hoạch tổng thể Bảo tồn và Phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh đến năm 2020; Quyết định số 05/2003/QĐ-BVHTTDL, ngày 06/2/3003 về việc ban hành quy chế bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh Dự án này đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng các dự án cụ thể về bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa, danh làm thắng cảnh ở nước ta hiện nay
- Một số công ước quốc tế liên quan đến các hoạt động bảo tồn DSVH, cụ thể
là các di tích lịch sử - văn hóa, như:
+ Công ước Bảo vệ DSVH và thiên nhiên thế giới được UNESCO ban hành năm 1972 đã khẳng định giá trị nổi bật toàn cầu của DSVH và thiên nhiên thế giới, đồng thời thức tỉnh ý thức của nguyên thủ các quốc gia cũng như toàn nhân loại về trách nhiệm bảo tồn DSVH DTLS - VH Công ước hướng dẫn các yêu cầu và chuẩn mực quốc tế về bảo tồn DSVH, đồng thời hướng dẫn cơ chế giám sát mang tính toàn cầu đối với hoạt động của từng quốc gia thành viên bảo đảm sự toàn vẹn
và giá trị nổi bật toàn cầu của di sản thông qua một tổ chức thống nhất quản lý di sản và
kế hoạch quản lý thích ứng cho các di sản được đưa vào danh mục di sản thế giới
+ Công ước Bảo vệ DSVH phi vật thể do UNESCO thông qua năm 2003 là công ước tôn vinh giá trị DSVH phi vật thể cũng như tính đa dạng văn hóa toàn nhân loại, đề cao vai trò của cộng đồng cư dân địa phương với tư cách là chủ thể sáng tạo văn hóa - chủ sở hữu, người thụ hưởng giá trị - người trực tiếp bảo vệ và phát huy giá trị di sản trong đời sống xã hội Công ước đặt ra danh mục hai loại hình DSVH phi vật thể là DSVH phi vật thể đại diện của nhân loại và DSVH phi vật thể trong t́nh trạng khẩn cấp nhằm nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các quốc gia thành viên, vai trò của cộng đồng cư dân địa phương
+ Công ước Bảo vệ và phát huy sự đa dạng của các biểu đạt văn hóa được UNESCO thông qua năm 2005 Công ước có mục đích bảo vệ và phát huy sự đa
Trang 3728
dạng của các biểu đạt văn hóa được thể hiện và truyền tải cụ thể trong các hoạt động văn hóa, sản phẩm và dịch vụ văn hóa - các phương tiện của nền văn hóa đương đại Đồng thời, đặt ra một khung pháp lý thuận lợi cho tất cả các quốc gia thành viên trong lĩnh vực sản xuất, phân phối, truyền bá, tiếp cận và hưởng thụ các biểu đạt văn hóa từ nhiều nguồn gốc khác nhau
1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa
Di tích lịch sử - văn hóa là một bộ phận quan trọng cấu thành DSVH Vì vậy, việc QLNN về DTLS-VH cần phải được tiến hành theo nội dung QLNN về DSVH được quy định tại Điều 54, Luật DSVH năm 2001, như: Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược quy hoạch, chính sách cho sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị DSVH, DTLS - VH; Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về DSVH, DTLS - VH; Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị DSVH, DTLS - VH; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về DSVH, DTLS - VH; Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học, đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về DSVH; Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị DSVH; Tổ chức chỉ đạo, khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị DSVH; Tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị DSVH, DTLS - VH; Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại tố các và xử lý vi phạm pháp luật về DSVH, DTLS - VH
Từ các nội dung trên cho thấy QLNN về DTLS-VH có nội dung khá đa dạng, phong phú, tuy nhiên trong phạm vi của đề tài, có thể xác định một số nội dung cơ bản sau:
1.2.3.1 Quy hoạch và ban hành, tổ chức thực hiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, chính sách về di tích lịch sử - văn hóa
Quy hoạch hệ thống DTLS - VH là việc làm quan trọng, có ý nghĩa đối với ngành Văn hóa và mỗi địa phương Để xây dựng quy hoạch có tính khả thi, đạt hiệu quả yêu cầu chủ thể quản lý DTLS-VH phải nắm rõ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về văn hóa nói chung và DTLS -VH nói riêng, đồng thời cần khảo sát, đánh giá đầy đủ, chính xác thực trạng hệ thống DTLS
Trang 38Cùng với việc xây dựng quy hoạch, chủ thể quản lý cần xây dựng, ban hành
và triển khai thực hiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, chính sách về DTLS -
VH Hệ thống văn bản này là hành lang pháp lý, là công cụ, phương tiện để nhà quản lý tổ chức thực hiện nhiệm vụ QLNN về DTLS -VH Cơ quan QLNN phải thường xuyên tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn cho nhân dân hiểu rõ về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với DTLS - VH; đồng thời tạo điều kiện để người dân tham gia quản lý, phát huy giá trị di tích cùng với cơ quan chức năng
1.2.3.2 Tổ chức bộ máy và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực thực hiện quản
lý nhà nước về Di tích lịch sử - văn hóa
Xây dựng, kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý DTLS - VH nhằm mục đích khắc phục những tồn tại, bất cập hiện nay, qua đó củng cố bộ máy, tạo cơ sở vững chắc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, nghiệp vụ ngày càng tốt hơn Trong quá trình xây dựng tổ chức bộ máy, cần chú trọng mối quan hệ đặc biệt là quản lý chỉ đạo về chuyên môn, nghiệp vụ về công tác bảo vệ và phát huy giá trị DSVH vật thể Hoàn thiện cơ chế quản lý di tích theo hướng đẩy mạnh phân cấp quản lý, quy định rõ
Trang 3930
ràng, cụ thể về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng ban, ngành chức năng, chính quyền các cấp, phân cấp về tu bổ, tôn tạo di tích, bảo tồn và phát huy giá trị các di vật, cổ vật, bảo vật và các loại hình DSVH phi vật thể khác Cần thực hiện việc quản lý DTLS - VH theo hướng: chính quyền các cấp thực hiện chức năng QLNN về DTLS - VH, ngành VH,TT quản lý chuyên môn và chịu trách nhiệm tham mưu UBND các cấp trong việc bảo tồn và phát huy tác dụng của DTLS - VH Hoạt động QLNN về DTLS - VH mang tính khoa học, yêu cầu có tính chuyên môn cao; vì vậy, phải có đội ngũ cán bộ có trình độ, năng lực thực sự mới đủ khả năng để nghiên cứu, bảo vệ, tôn tạo và phát huy giá trị của di tích theo đúng khoa học chuyên ngành Do đó, yêu cầu bộ máy Nhà nước phải xây dựng đội ngũ cán bộ
đủ về số lượng, có chất lượng về chuyên môn, nghiệp vụ Đây là nhiệm vụ quan trọng nhất, cần quan tâm Cơ quan QLNN về lĩnh vực này cần chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm nhiệm vụ QLNN về DTLS -VH, xem đây là việc làm thường xuyên, liên tục Hằng năm, UBND các cấp, Sở VHTT tổ chức mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, công chức tham gia QLNN về di tích, đồng thời cử cán bộ tham gia các lớp học, khóa học bồi dưỡng trong và ngoài nước ở trình độ cao hơn Đội ngũ cán bộ, công chức làm nhiệm vụ QLNN về DTLS-VH cần phải có kiến thức chuyên môn, am hiểu về Luật DSVH, các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về di tích, cũng như yêu cầu về kỹ thuật tu
Một là, kinh phí từ ngân sách Nhà nước cấp: Hàng năm, Nhà nước dành một khoản kinh phí khá lớn cho mục tiêu chống xuống cấp di tích
Hai là, kinh phí từ phong trào XHH hoạt động bảo tồn, tu bổ, tôn tạo di tích, trong đó có kinh phí do người dân, doanh nghiệp đóng góp; các tổ chức nước ngoài
Trang 401.2.3.4 Quản lý quá trình tôn tạo và tổ chức khai thác các giá trị Di tích lịch
sử - văn hóa
Tôn tạo di tích là hoạt động nhằm tăng cường khả năng sử dụng, khai thác và phát huy giá trị di tích nhưng không làm ảnh hưởng đến yếu tố gốc cấu thành di tích, cảnh quan thiên nhiên và môi trường sinh thái của di tích
Quản lý quá trình tôn tạo di tích là quản lý hoạt động tăng cường sử dụng, khai thác và phát huy giá trị di tích, giữ vững yếu tố nguyên bản và không làm ảnh hưởng đến cảnh quan, không gian, môi trường di tích
Để quản lý tốt quá trình tôn tạo di tích, cơ quan thẩm quyền cần quán triệt Luật DSVH, Luật sửa đổi, bổ sung Luật DSVH năm 2009, Nghị định số 70/2012/NĐ - CP ngày 18/9/2012 Chính phủ Quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, phê duyệt quy hoạch, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi DTLS-VH; Thông tư số 18/2012/TT-BVHTT&DL ngày 28/12/2012 của Bộ VH,TT&DL Quy định chi tiết một số quy định về bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích; Chỉ thị số 73/CT-BVHTTDL ngày 19/5/2009 của Bộ VH,TT&DL về tăng cường các biện pháp quản lý di tích và các hoạt động bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích Theo đó, cơ quan thẩm quyền có trách nhiệm hướng dẫn và yêu cầu các tổ chức, cá nhân khi triển khai tôn tạo, sửa