Bên cạnh đó, việc tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước về công tác quản lý di tích; việc hưởng ứng tham gia bảo vệ di tích của người d
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc nhất, tác giả Luận văn xin trân trọng cảm ơn:
- TS Phạm Thị Thu Hương, người hướng dẫn khoa học;
- Phòng Đào tạo Sau đại học – Trường Đại học Văn hóa Hà Nội Các thày giáo, cô giáo tham gia quản lý, giảng dạy trong suốt quá trình học tập;
- Huyện ủy, HĐND, UBND huyện Yên Thành; Phòng Văn hóa
và thông tin huyện Yên Thành; UBND các xã, thị trấn và các Tiểu ban quản lý Di tích lịch sử - Văn hóa trên địa bàn huyện Yên Thành; Văn phòng HĐND&UBND Huyện, Văn phòng Huyện ủy, Ban tuyên giáo huyện ủy Yên Thành đã cung cấp tư liệu cho Luận văn Đặc biệt, cảm
ơn các nhà nghiên cứu có những bài viết, tác phẩm mà tác giả đã sử dụng làm tài liệu tham khảo, trích dẫn trong Luận văn Xin cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ, tạo điều kiện để tôi hoàn thành Luận văn này
Dù đã nỗ lực, song luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót,
vì vậy tôi rất mong nhận được sự góp ý của những ai quan tâm tới đề tài này
Hà Nội, tháng 11 năm 2012
Tác giả - Nguyễn Trung Dũng
Trang 3Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH
SỬ - VĂN HÓA VÀ HỆ THỐNG DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN
1.1 Một số vấn đề lý luận 9
1.1.2 Cơ sở pháp lý cho công tác quản lý Di tích lịch sử văn hóa 14
1.1.3 Nội dung quản lý nhà nước về Di tích lịch sử văn hóa 17
1.2 Tổng quan về huyện Yên Thành và hệ thống Di tích lịch sử văn hóa ở
huyện Yên Thành
19
1.2.2 Đặc điểm chung của Di tích lịch sử văn hóa ở huyện Yên
1.3.2 Giá trị văn hoá, nghệ thuật 45
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ
2.1.1 Bộ máy quản lý và trách nhiệm của các cơ quan quản lý 48
2.2 Các hoạt động quản lý Di tích lịch sử văn hóa ở huyện Yên Thành 52
2.2.1 Xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch bảo tồn Di tích
Trang 42.2.4 Huy động và sử dụng nguồn lực trong bảo tồn và phát huy giá
2.3 Đánh giá công tác quản lý Di tích lịch sử văn hóa ở huyện Yên
Thành trong thời gian qua
78
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN
LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA Ở HUYỆN YÊN THÀNH, TỈNH NGHỆ AN
90
3.1 Quan điểm định hướng và nhiệm vụ của công tác quản lý Di tích lịch
sử văn hóa ở huyện Yên Thành trong thời gian tới
90
3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý Di tích lịch
sử văn hóa ở huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An
101
3.2.1 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho quần chúng
nhân dân đối với công tác quản lý Di tích lịch sử văn hóa 101
3.2.2 Kiện toàn, hoàn thiện bộ máy quản lý 102
3.2.4 Phát huy công tác xã hội hóa trong hoạt động bảo tồn di tích 110
3.2.5 Phát huy giá trị di tích gắn với phát triển du lịch 113
3.2.6 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra 121
Trang 5Tr Trang
VHNT Văn hóa Nghệ thuật
VHTT Văn hóa thông tin
VH, TT & DL Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Trang 6MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Di tích lịch sử - văn hóa là một bộ phận quan trọng của di sản văn hóa dân tộc Ngày nay, chúng càng trở nên quan trọng hơn trước những thay đổi của thời đại trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội Kinh nghiệm xây dựng và phát triển văn hóa - xã hội ở nhiều quốc gia trên thế giới cho thấy, dân tộc nào giữ được những giá trị di sản văn hóa thì dân tộc đó sẽ giữ được bản sắc văn hóa của mình Vì thế, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc bảo tồn, tôn tạo hệ thống DT LSVH Trong bối cảnh hiện nay, đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao, do đó nhu cầu hưởng thụ các giá trị văn hóa
và tìm hiểu cội nguồn văn hóa dân tộc ngày càng cao; và vì thế, việc bảo tồn để khai thác những giá trị của chúng lại càng được quan tâm Tuy nhiên, để giữ gìn di tích tồn tại lâu dài và việc khai thác giá trị của chúng đạt hiệu quả, công tác quản lý di tích cũng cần được quan tâm một cách cân xứng; bởi lẽ, nếu quản lý tốt thì mới có thể bảo tồn và phát huy giá trị của hệ thống di tích được đúng lúc, đúng chỗ và đúng cách
Để làm được điều đó một cách hiệu quả, đòi hỏi công tác quản lý văn hóa phải nắm bắt được thực trạng cũng như các giá trị của hệ thống DT LSVH một cách toàn diện, từ đó tạo cơ sở khoa học để điều chỉnh và tác động tích cực đến quá trình định hướng và xây dựng các kế hoạch, giải pháp tốt nhất cho công tác bảo tồn, khai thác và phát huy các giá trị các DT LSVH Điều này càng trở nên cần thiết đối với một huyện như huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, bởi Yên Thành không chỉ là “huyện lúa” mà còn là
“huyện di tích” với trên 200 DT LSVH và DLTC Tính đến tháng 12 năm
2011, toàn huyện có 34 di tích được công nhận, trong đó có 17 di tích cấp quốc gia, 17 di tích cấp tỉnh và nhiều di tích có đủ tiêu chí xếp hạng nhưng
Trang 7đang trong quá trình hoàn thiện hồ sơ khoa học Tuy nhiên, khá nhiều trong số đó đang ở trong tình trạng xuống cấp; và vì thế, công tác quản lý
và bảo tồn DT LSVH đang là vấn đề cấp bách đặt ra của địa phương này Trong những vừa năm, qua công tác quản lý di tích trên địa bàn huyện Yên Thành đã được quan tâm và đạt được những kết quả cụ thể; tuy nhiên, công tác này vẫn còn gặp nhiều khó khăn và vướng mắc: Việc đầu tư chống xuống cấp di tích chưa đáp ứng được yêu cầu, việc lấn chiếm đất đai, không gian di tích vẫn còn xảy ra Bên cạnh đó, việc tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước về công tác quản lý di tích; việc hưởng ứng tham gia bảo vệ di tích của người dân trong việc phát huy giá trị di tích trên địa bàn huyện cũng vẫn đang là một trong những vấn đề được đặt ra đối với công tác quản lý DT LSVH của huyện Yên Thành trong giai đoạn hiện nay
Nhìn chung, ở Yên Thành công tác quản lý, bảo tồn và khai thác giá trị của hệ thống di tích lịch sử văn hóa bên cạnh những kết quả đã đạt được, thì vẫn còn nhiều tồn tại Là người con của quê hương Yên Thành, với mục đích góp phần vào việc nghiên cứu, tìm hiểu và nâng cao chất lượng trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị của hệ thống DT LSVH ở huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiện nay và thời gian tới
Vì vậy, tác giả đã mạnh dạn lựa chọn vấn đề “Quản lý di tích lịch sử văn hóa ở huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An” làm đề tài luận văn tốt nghiệp
Cao học, chuyên ngành Quản lý Văn hóa
2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Những tập hợp tài liệu và phân tích bước đầu cho thấy, hiện nay chưa
có một công trình khoa học nào nghiên cứu về thực trạng công tác quản lý
DT LSVH trên địa bàn huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An Dù đã có một số công trình được xuất bản, song đó chỉ chủ yếu là những cuốn sách giới thiệu khái quát về huyện Yên Thành và hệ thống DT LSVH ở huyện Yên Thành như:
Trang 8+ Cuốn Lịch sử Đảng bộ huyện Yên thành (1930 - 2005), Nxb Chính
trị quốc gia, 2010 Cuốn sách nghiên cứu các nội dung bao gồm: Giới thiệu
chung về huyện Yên Thành như điều kiện tự nhiên, địa lý hành chính, lịch
sử vùng đất Yên Thành, giới thiệu tổng quan về các địa danh cấp xã của huyện, về truyền thống học hành, khoa bảng và danh nhân…
+ Cuốn sách ảnh “Hương đất Yên Thành”, Nxb Mỹ thuật, 2007 Cuốn
sách do Nghệ sĩ Nhiếp ảnh - Nhà báo Vũ Văn Cảnh thực hiện Đây là cuốn sách ảnh giới thiệu các mặt từ địa lý, lịch sử, kinh tế và nhất là văn hóa; giới thiệu các danh nhân trong lịch sử, các biến cố quan trọng từ xưa, nhất là từ khi Đảng ra đời và lãnh đạo nhân dân vượt qua cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ trên mảnh đất Yên Thành và con người nơi đây
Một công trình ít nhiều có liên quan đến hệ thống di tích lịch sử- văn hóa của huyện Yên Thành là đề tài khoa học cấp tỉnh “Điều tra, khảo sát, đề xuất giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa trên địa bàn huyện Yên Thành” Tuy nhiên, do mục đích và yêu cầu đặt ra nên đề tài chỉ dừng lại ở việc điều tra, khảo sát, thống kê di tích ở huyện Yên Thành và đưa ra một số giải pháp ở tầm vĩ mô trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích chứ không đi vào nghiên cứu thực trạng công tác quản lý di tích ở huyện Yên Thành
Có lẽ tài liệu duy nhất có đề cấp đến công tác quản lý di tích của huyện Yên Thành là các Báo cáo tổng kết công tác văn hóa của Phòng VH&TT huyện hàng năm (chúng tôi quan tâm đến các báo cáo từ năm 2001 đến năm
2011 – phạm vi thời gian nghiên cứu của luận văn này) Nhưng vì đây là bản báo cáo đánh giá kết quả của tất cả các hoạt động trong lĩnh vực văn hóa nói chung của một huyện, nên những nội dung liên quan đến công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa cũng chỉ được đề cập đến một cách có mức độ Tuy nhiên, những con số cụ thể và đánh giá được nêu trong các bản báo cáo này cũng sẽ
là nguồn tư liệu quý giá, giúp tác giả luận văn có cái nhìn chính xác hơn về thực trạng và gợi ý cho những giải pháp cần có để nâng cao hiệu quả hoạt động của công tác này trong thời gian tới
Trang 93 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn làm rõ thực trạng công tác quản lý di tích LSVH ở huyện Yên Thành trong thời gian qua (2001 – 2011); từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác này trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn tập trung giải quyết các vấn đề sau:
- Tập hợp, thống kê và phân tích các tài liệu, công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước viết về vùng đất Yên Thành và hệ thống DT LSVH ở đó
- Trình bày những cơ sở khoa học và pháp lý của công tác quản lý di sản văn hoá nói chung, DT LSVH nói riêng
- Nghiên cứu các giá trị và loại hình DT LSVH ở huyện Yên Thành (tập trung ở một số di tích tiêu biểu)
- Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản lý DT LSVH
ở huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An từ năm 2001 đến nay (2011), chỉ ra các ưu điểm và tồn tại trong công tác quản lý DT LSVH của huyện thời gian qua
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý DT LSVH trên địa bàn huyện Yên Thành trong thời gian tới
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là công tác quản lý DT LSVH ở huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An
4.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Về không gian: Đề tài tập trung khảo sát, nghiên cứu thực trạng công
tác quản lý DT LSVH trong phạm vi huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An
+ Về thời gian: Luận văn tập trung đi sâu nghiên cứu công tác quản lý
DT LSVH ở huyện Yên Thành từ năm 2001 đến nay (2011)
Trang 105 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.1 Phương pháp luận: Trên cơ sở các quan điểm duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về di sản văn hóa dân tộc, tác giả vận dụng vào việc nghiên cứu công tác quản lý DT LSVH trên một địa bàn cụ thể ( huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An)
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành như: Quản lý văn hóa, Lịch sử học, Bảo tàng học, Văn hóa học, Xã hội học…
- Phương pháp khảo sát điền dã: Điều tra, phỏng vấn, thống kê, ghi chép, chụp ảnh, phân tích và tổng hợp tài liệu
6 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
- Luận văn sẽ bổ sung nguồn tài liệu cho việc nghiên cứu thực trạng cũng như giải pháp cho công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực quản lý DT LSVH của huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An
+ Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu trung ương và địa phương, các nhà quản lý DT LSVH ở huyện Yên Thành và tỉnh Nghệ An
7 BỐ CỤC LUẬN VĂN
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày thành 3 chương như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quản lý Di tích lịch sử văn hóa và hệ
thống Di tích lịch sử văn hóa ở huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý Di tích lịch sử văn hóa ở huyện Yên
Thành, tỉnh Nghệ An
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý Di tích lịch sử văn
hóa ở huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An
Trang 11Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ
DI TÍCH LỊCH SỬ- VĂN HÓA VÀ HỆ THỐNG DI TÍCH
LỊCH SỬ- VĂN HÓA Ở HUYỆN YÊN THÀNH, TỈNH NGHỆ AN
1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA VÀ QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA
Để có thể đi sâu, làm rõ thực trạng công tác quản lý DT LSVH ở huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, trước hết tác giả xin được trình bày một số vấn đề
về lý luận chung có liên quan đến DT LSVH góp phần vào việc giải quyết các nội dung, vấn đề có liên quan trong luận văn
1.1.1 Một số khái niệm
* Quản lý
Thuật ngữ “Quản lý” có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau Theo nghĩa thông thường, trong tiếng Việt thuật ngữ “Quản lý” được hiểu là trông nom, sắp đặt công việc hoặc gìn giữ, theo dõi; Nếu hiểu theo nghĩa Hán - Việt thì “Quản” là lãnh đạo một việc, “Lý” là trông nom, coi sóc Ở phương Tây người ta dùng từ “Management” có nghĩa là quản lý, là bàn tay hoặc liên quan đến hoạt động của bàn tay, tức là hành động theo một quan điểm tác động để dẫn dắt
Các Mác cho rằng: “Quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản
chất xã hội của quá trình lao động” [17, tr.29]; giải thích cho nội dung này,
Trang 12năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm
tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng [18, tr.480]
Còn theo F.Angghen thì: “Quản lý là một động thái tất yếu phải có khi nhiều người cùng hoạt động chung với nhau, khi có sự hiệp tác của một số đông người, khi có hoạt động phối hợp của nhiều người” [18, tr.435]
Mỗi ngành khoa học nghiên cứu về quản lý ở một góc độ riêng nào đó, chúng đều có những định nghĩa riêng về quản lý Ví dụ như trong Điều khiển học, quản lý được hiểu là sự tác động vào một hệ thống hay một quá trình để điều khiển, chỉ đạo sự vận động (diễn biến) của nó theo những quy luật nhất định nhằm đạt được những mục đích hay kế hoạch do người quản
lý đề ra từ trước; quản lý trong kinh doanh hay quản lý trong các tổ chức nhân sự nói chung là hành động đưa các cá nhân trong tổ chức làm việc cùng nhau để thực hiện, hoàn thành mục tiêu chung Công việc quản lý bao gồm 5 nhiệm vụ (theo Henry Fayol): xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm soát Trong đó, các nguồn lực có thể được sử dụng và để quản lý là nhân lực, tài chính, công nghệ và thiên nhiên;…
Điểm qua một số quan điểm, chúng ta thấy rõ bản chất của quản lý và hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động Quản lý là một hoạt động khách quan nảy sinh khi cần có nỗ lực tập thể để thực hiện mục tiêu chung Quản lý diễn ra ở mọi tổ chức, từ phạm vi nhỏ đến phạm vi lớn, từ đơn giản đến phức tạp Đối với xã hội có trình độ phát triển càng cao, yêu cầu quản lý càng lớn và vai trò của quản lý ngày một tăng lên
Theo ý nghĩa thông thường, phổ biến, thuật ngữ “quản lý” được hiểu là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức và có định hướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và
Trang 13hành vi của con người nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng theo những mục tiêu đã định
Với cách hiểu về khái niệm quản lý như đã trình bày ở trên thì quản lý bao gồm các yếu tố sau:
- Chủ thể quản lý: là tác nhân tạo ra các tác động quản lý Chủ thể luôn là con người hoặc tổ chức Chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý bằng các công cụ với những phương pháp thích hợp theo những nguyên tắc nhất định
- Đối tượng quản lý tiếp nhận trực tiếp sự tác động của chủ thể quản lý Tùy từng loại đối tượng khác nhau mà người ta chia thành các dạng quản lý khác nhau
- Khách thể quản lý chịu sự tác động hay điều chỉnh của chủ thể quản
lý, đó là hành vi của con người hoặc quá trình xã hội
- Mục tiêu của quản lý là cái đích phải đạt tới tại một thời điểm nhất định
do chủ thể quản lý định trước Đây là căn cứ để chủ thể quản lý thực hiện các động tác quản lý cũng như lựa chọn các phương pháp quản lý thích hợp Quản
lý ra đời chính là hướng đến hiệu quả nhiều hơn, năng suất cao hơn trong mọi công việc thực hiện
* Di tích lịch sử - văn hóa
Sở dĩ gọi là DT LSVH, vì chúng được tạo ra bởi con người (tập thể hoặc cá nhân), là kết quả của hoạt động sáng tạo lịch sử, văn hóa của con người Văn hóa ở đây bao gồm cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần
Các nước trên thế giới đều đặt chung cho DT LSVH là dấu tích, vết tích còn lại Trong tiếng Anh viết là “Vestige”; tiếng Pháp cũng viết
“Vestige”; tiếng Trung Quốc viết “Cổ tích”, do đó mỗi quốc gia đã đưa ra những khái niệm, qui định về DT LSVH của dân tộc mình Trong điều I của Hiến chương Venice (Italia) đã quy định rằng: “DT LSVH bao gồm những
Trang 14công trình xây dựng đơn lẻ, những khu di tích ở đô thị hay nông thôn, là bằng chứng của một nền văn minh riêng biệt, của một sự tiến hóa có ý nghĩa hay là một biến cố về lịch sử”
Hiện nay, ở Việt Nam đã có nhiều khái niệm quy định về DT LSVH nhưng theo Từ điển tiếng Việt đưa ra thì: “Di tích là dấu vết xưa còn lại” [53, tr.292], hoặc “Di tích là cái của người xưa để lại”, tất cả những thuật ngữ trên đều có nghĩa: Di tích là dấu vết hoặc di vật của con người và những giai đoạn lịch sử đã qua còn hiện hữu đến tận ngày nay thì được gọi là di tích
Pháp lệnh số 14 - LCT/HĐNN của Hội đồng Nhà nước, nước CHXHCN Việt Nam ban hành ngày 31/3/1984 về bảo vệ và sử dụng DT LSVH và danh lam thắng cảnh quy định rõ: “DT LSVH là những công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu và tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật cũng như có giá trị văn hóa khác hoặc có liên quan đến những sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hóa, xã hội”
Luật Di sản văn hóa do Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam ban hành năm 2001, tại điều 4 quy định: “DTLSVH là công trình xây dựng, địa điểm
và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học” [37, tr.7]
Như vậy, đã có nhiều khái niệm về DT LSVH nhưng các khái niệm đều chỉ ra rằng: DT LSVH là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong
đó có chứa đựng các giá trị điển hình của lịch sử, do tập thể hoặc cá nhân sáng tạo ra trong lịch sử để lại Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, đối chiếu với cơ sở lý thuyết về quản lý di sản có thể xác định DT LSVH là đối tượng quản lý cần bàn tới, đối tượng này có những đặc điểm, tính chất khác biệt với các đối tượng quản lý khác
* Quản lý di tích lịch sử - văn hóa
Từ các khái niệm về Quản lý và DT LSVH có thể khái quát và đưa ra một khái niệm về quản lý di tích lịch sử văn hóa như sau: Quản lý DT LSVH
Trang 15là sự định hướng, tạo điều kiện tổ chức điều hành việc bảo vệ, giữ gìn các DT LSVH, làm cho các giá trị của các di tích lịch sử văn hóa được phát huy theo chiều hướng tích cực Vì DT LSVH là một bộ phận quan trọng, cấu thành nên
hệ thống di sản văn hóa, nên việc quản lý DT LSVH cũng cần tiến hành theo nội dung quản lý nhà nước về di sản văn hóa được qui định tại điều 54 của Luật Di sản Văn hóa do Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam ban hành năm
2001 Các nội dung quản lý nhà nước về di sản văn hóa sẽ được áp dụng như các tiêu chí để khảo cứu thực trạng công tác quản lý di tích ở huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An
* Quản lý nhà nước về văn hóa
Theo tác giả Lê Thị Hoài Thương trong cuốn Giáo trình Quản lý văn hóa nghệ thuật thì Quản lý nhà nước về văn hóa được hiểu theo các nội dung sau:
- Xây dựng và thực thi hệ thống pháp luật nhằm quản lý thống nhất
các hoạt động văn hóa như: Văn hóa nghệ thuật (Âm nhạc, Hội họa, Văn học, Sân khấu, Điện ảnh, xiếc,…); Văn hóa thông tin đại chúng (Báo chí, Phát thanh, Truyền hình, băng đĩa, Internet…); Văn hóa xã hội (Lễ hội, Thủ công mỹ nghệ, phong tục, tập quán, công viên, quán rượu…); Các công trình văn hóa (Thư viện, Bảo tàng, Tượng đài, DT LSVH, câu lạc bộ, nhà văn hóa…)
- Ban hành và thực thi hệ thống các chính sách về văn hóa, điều
đó được thể hiện qua việc thể chế hóa các quan điểm, giải pháp giải quyết các vấn đề phát sinh trong hoạt động văn hóa
- Tiến hành đầu tư tài chính cho văn hóa là đầu tư cho phát triển, được thể hiện qua một số khía cạnh: Mức độ đầu tư;
mô hình đầu tư; nguồn đầu tư [55, tr.18]
Trang 161.1.2 Cơ sở pháp lý của công tác quản lý Di tích lịch sử văn hóa
Trải qua chiều dài lịch sử với các triều đại phong kiến, ý thức giữ gìn, bảo quản, kiểm kê và tu bổ di tích đã được cả chính quyền trung ương và toàn xã hội chú ý Trong các bộ sử ký, các sách địa chí đều có các ghi chép về di tích như: đình, đền, chùa, quán, miếu, thành quách và các nhân vật lịch sử Bộ Luật Hồng Đức ban hành dưới triều vua Lê Thánh Tông đã có những điều khoản quy định việc xử phạt những người lấy cắp, phá huỷ tượng Phật và chuông đồng cổ Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, người Pháp đã tiến hành điều tra, nghiên cứu về các di tích kiến trúc nghệ thuật, khảo cổ học trên đất nước ta nhưng việc ban hành các văn bản pháp lý để quản lý và điều hành các hoạt động có tính chất bảo vệ di tích thì hầu như chưa có
Kể từ khi hoạt động bảo tồn di tích ở Việt Nam bắt đầu tiếp cận với khoa học bảo tồn hiện đại của thế giới, các văn bản pháp lý từng bước được xây dựng để làm sơ sở cho mọi hoạt động có liên quan, đặc biệt là công tác quản lý các DT LSVH như:
+ Sắc lệnh số 65/SL ban hành ngày 23 tháng 11 năm 1945 về việc
“Thành lập Đông Phương Bác Cổ học viện và Bảo tồn cổ tích trên toàn cõi Việt Nam”
Nội dung Sắc lệnh nêu rõ: “Cấm phá huỷ đình, đền, chùa, đền miếu
hoặc những nơi thờ tự khác như cung điện, thành quách cùng lăng mộ đình chùa được bảo tồn”
+ Nghị định số 519-TTg ban hành ngày 29 tháng 10 năm 1957 của Thủ tướng
Chính phủ về việc “Quy định các luật lệ cơ bản cho hoạt động bảo tồn di tích”
Đây là một văn bản pháp lý quan trọng có giá trị nền tảng cho hoạt động bảo vệ di tích nói riêng và bảo tồn bảo tàng nói chung Nghị định số 519-TTg ngày 29 tháng 10 năm 1957 do Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký, quy định các điều luật cơ bản cho hoạt động bảo tồn di tích thời gian này Nghị định gồm 7
Trang 17mục 12 điều trong đó mục II quy định về liệt hạng di tích; Mục III quy định
về sưu tầm và khai quật; Mục IV quy định về bảo quản; Mục V quy định về trùng tu, sửa chữa; Mục VI quy định về xuất nhập khẩu những di vật có giá trị lịch sử
+ Pháp lệnh số 14-LCT/HĐNN ban hành ngày 04 tháng 4 năm 1984 của
Hội đồng Nhà nước về việc “Bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn hoá và
danh lam thắng cảnh”
Pháp lệnh là căn cứ pháp lý quan trọng để bảo vệ di tích sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất và trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Đây là bước tiến lớn của ngành bảo tồn bảo tàng, nhằm thống nhất quản lý và chỉ đạo mọi hoạt động bảo vệ di tích bằng các điều luật cụ thể Nhờ có Pháp
lệnh và một cơ chế quản lý mới, với phương châm “Nhà nước và nhân dân
cùng làm”, hàng ngàn di tích đã được cứu vãn bởi sự huỷ hoại và những vi
phạm về đất đai liên quan đến di tích cũng được góp phần ngăn chặn
+ Hiến pháp ban hành năm 1992 của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam
Điều 34 của Hiến pháp quy định cụ thể: Nhà nước và xã hội bảo tồn, phát huy các di sản văn hoá dân tộc, chăm lo công tác bảo tồn, bảo tàng, tu
bổ, tôn tạo, bảo tồn và phát huy tác dụng của các di tích lịch sử, cách mạng, các di sản văn hoá, các công trình nghệ thuật, các danh lam thắng cảnh Nghiêm cấm các hành động xâm phạm đến các di tích lịch sử, cách mạng, các công trình nghệ thuật và danh lam thắng cảnh
+ Hội nghị lần thứ V, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã ra
Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 16 tháng 7 năm 1998 về việc “Xây dựng và
phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”
Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ V, khóa VIII về “Xây dựng và
phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” đã khẳng
định: DSVH là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản
Trang 18sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa Bảo tồn
và phát huy các DSVH được coi là 1 trong 10 nhiệm vụ cụ thể trong sự nghiệp xây dựng phát triển văn hóa Bản sắc dân tộc ở mỗi giai đoạn lịch sử cũng được bồi đắp thêm bởi nhiều nhân tố, những giá trị văn hóa bền vững, những tinh hoa kết đọng qua từng thời kỳ lịch sử dân tộc, thể hiện ở các DSVH bao giờ cũng là cái cốt lõi Chính với ý nghĩa đó, Nghị quyết nhấn mạnh: “Phải hết sức coi trọng bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng bao gồm cả văn hóa vật thể
và phi vật thể”
+ Luật Di sản Văn hóa và văn bản hướng dẫn thi hành năm 2001 và
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản Văn hoá năm 2009
Những nội dung cơ bản của Luật đã bám sát và đáp ứng được những nhu cầu trong cơ chế điều hành đất nước ta trong giai đoạn hiện nay là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ; toàn dân sống, học tập và làm việc theo pháp luật
Luật DSVH ra đời đã tạo ra những cơ sở pháp lý để triển khai một loạt các hoạt động cần thiết trong việc bảo vệ và phát huy giá trị DSVH; xác định
rõ quyền hạn và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân và chủ sở hữu đối với DSVH, chỉ rõ những việc được làm và không được làm, những hành vi bị nghiêm cấm, cơ chế khen thưởng, tôn vinh những người có công, xử phạt các hành vi
vi phạm di tích; quy định trách nhiệm của các Bộ, ban, ngành có liên quan ở trung ương và Ủy ban nhân dân các cấp trong việc bảo tồn DSVH
Những quy định của Luật DSVH được xây dựng theo hướng cởi mở, sát với thực tiễn nhằm tạo ra hành lang pháp lý thông thoáng và môi trường thuận lợi cho việc đầu tư phát triển kinh tế của đất nước nói chung và thúc đẩy phát triển du lịch nói riêng, đồng thời góp phần mở rộng giao lưu văn hóa, hội nhập cộng đồng quốc tế
Trang 19Tuy nhiên, trong quá trình đưa Luật DSVH áp dụng vào thực tiễn bên cạnh những mặt tích cực, cũng nảy sinh một số hạn chế như chưa xử lý thoả đáng mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển, dẫn đến tình trạng thương mại hoá di tích Một số di tích có xu hướng bị biến dạng bởi những hoạt động thương mại tưởng chừng như đóng góp vào ngân sách của địa phương, nhưng thực chất là đang phá huỷ di tích, làm mất đi những giá trị về mặt lịch sử, văn hoá, khoa học và kiến trúc thẩm mỹ của di tích Vì vậy, năm 2009 Quốc hội
đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật DSVH năm 2001
+ Nghị định số 92/2002/NĐ-CP ban hành ngày 11/11/2002 của Chính
phủ về việc “Hướng dẫn chi tiết Luật Di sản Văn hóa”
+ Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ban hành ngày 06/11/2010 của Chính
phủ về việc “Hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật DSVH và Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật DSVH năm 2001”
Đây là những văn bản quan trọng qua các thời kỳ, quy định các hoạt động liên quan đến di tích Đó là cơ sở pháp lý quan trọng cho các hoạt động bảo tồn và quản lý di tích lịch sử - văn hóa ở Việt Nam
1.1.3 Nội dung quản lý nhà nước về Di tích lịch sử văn hóa
Pháp luật là công cụ, phương tiện để Nhà nước quản lý và điều chỉnh các mối quan hệ xã hội Pháp luật ra đời và phát triển cùng với sự ra đời của Nhà nước Trong quản lý xã hội, bất kỳ một lĩnh vực nào cũng cần đến pháp luật và quản lý DSVH không nằm ngoài quy định đó Như đã nêu ở trên, công tác quản lý DSVH là một nhiệm vụ không hề đơn giản và nhiều khi phải
có những chế tài cụ thể để thực hiện
Luật DSVH năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật DSVH năm 2009; các Nghị định hướng dẫn thi hành chi tiết Luật DSVH đã
cụ thể hóa đường lối, chính sách pháp luật, thể hiện tư duy đổi mới của Đảng
và Nhà nước ta trong giai đoạn cách mạng mới hiện nay Nội dung quản lý
Trang 20nhà nước và cơ quan quản lý nhà nước về DSVH được quy định tại Điều 54
và Điều 55 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật DSVH năm 2009,
cụ thể như sau:
* Điều 54:Quy định nội dung quản lý nhà nước về DSVH, bao gồm:
- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị DSVH;
- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về DSVH;
- Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về DSVH;
- Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về DSVH;
- Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị DSVH;
- Tổ chức, chỉ đạo khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị DSVH;
- Tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị DSVH;
- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về DSVH
* Điều 55: Quy định về cơ quan quản lý nhà nước về DSVH, bao gồm:
- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về DSVH;
- Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về DSVH;
Trang 21- Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm quản lý nhà nước về DSVH theo phân công của Chính phủ Chính phủ quy định cụ thể trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong việc phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch để thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về DSVH;
- Ủy ban Nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình thực hiện việc quản lý nhà nước về DSVH ở địa phương theo phân cấp của Chính phủ
1.2 TỔNG QUAN VỀ HUYỆN YÊN THÀNH VÀ HỆ THỐNG DI TÍCH LỊCH SỬ Ở HUYỆN YÊN THÀNH
1.2.1 Khái quát chung về huyện Yên Thành
* Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Huyện Yên Thành nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Nghệ An, cách thành phố Vinh 50km về phía Đông Bắc, nằm trong tọa độ từ 180 55’ đến 190 12’ vĩ
độ Bắc và từ 1050 11’ đến 1050 12’ kinh độ Đông Về địa giới hành chính, huyện Yên Thành phía Bắc giáp huyện Diễn Châu và huyện Quỳnh Lưu; phía Nam giáp huyện Đô Lương và huyện Nghi Lộc; phía Đông giáp huyện Diễn Châu; phía Tây giáp huyện Nghĩa Đàn và huyện Tân Kỳ
Hiện nay, Yên Thành có tổng diện tích đất tự nhiên là 54.571,67 ha, trong đó, đất nông nghiệp là 42.254,79 ha, đất phi nông nghiệp là 9.605,09
ha, đất chưa sử dụng là 2.711,79 ha [Theo thống kê của Sở Tài nguyên – Môi trường Nghệ An 29 – 4 -2009)] Địa hình huyện Yên Thành tựa hình lòng chảo: ba phía Bắc, Tây, Nam là rừng núi và đồi thấp, ở giữa và phía Đông là vùng trũng tiếp giáp huyện Diễn Châu, với chiều dài gần 40km từ Bắc xuống Nam, chiều rộng gần 35km từ Đông sang Tây Vị trí gần bờ biển nhất là xã
Đô Thành (cách 6km) và đỉnh Vàng Tâm với độ cao 544m, vị trí thấp nhất là cánh đồng trũng dọc kênh Biên Hòa, xã Vĩnh Thành, cao 0,2m so với mực
Trang 22nước biển Phía Bắc huyện là dãy núi Bồ Bồ, phía Tây và Tây nam là đồi núi
có các thung lũng, hang động tạo nên nhiều cảnh quan đẹp
Từ trước thế kỷ X, vùng đồng trũng của huyện Yên Thành thường bị ngập nước Từ thời Tiền Lê, thời Lý, công cuộc di dân, khai hoang được đẩy mạnh đã tạo nên những hương ấp, làng xóm Đặc biệt, từ thời Trần, vùng biên viễn xưa kia đã trở thành những cánh đồng trù phú, là vựa lúa của vùng, đồng thời cũng
là nơi tập trung đông đảo các cư dân nông nghiệp trồng lúa nước
Hệ thống sông ở Yên Thành không nhiều và không có con sông nào lớn, hầu hết là các con sông ngắn và nhỏ Các con sông chảy qua huyện Yên Thành gồm: sông Dinh bắt nguồn từ động Trọc (xã Quang Thành cũ) theo khe Cấy và một nhánh từ các làng Đồng Trổ, Đồng Mai theo khe Vằng, hợp lưu với nhau chảy qua xã Tràng Thành sang các làng Long Hồi, Tích Phúc xuống sông Điển; Sông Dền bắt nguồn từ động Huyệt chảy qua xã Phúc Thành, Kẻ Dền đổ xuống sông Sọt; Bàu Sừng bắt nguồn từ động Mồng Gà chảy về các làng Quỳ Lăng, Yên Mã, Thanh Đạt, Tiên Bồng đổ xuống sông Sọt ở Khe Nhà Trò, khe Mả Tổ bắt nguồn từ hòn Câu, hòn Sường chảy về các làng Phúc Lộc, Phúc Trạch, Thọ Trường, Lạc Thổ Ở phía Nam, do đồi núi trọc nên không có nguồn nước chảy đều, chỉ có một số khe và bàu (đầm) như: khe Ngọng, bàu Mậu Long, bàu Chèn, bàu Liên Trì chảy về sông Vũ Giang rồi xuống sông Điển Khe Cát chảy qua các làng Tràng Sơn, Lương Hội về sông Điển Sông Điển chảy qua các xã Khánh Thành, Long Thành, Vĩnh Thành hợp lưu với sông Sọt, chảy về sông Bùng ra Lạch Vạn
Hệ thống nông giang Bắc Nghệ An được khảo sát từ năm 1927 và tiến hành xây dựng trong những năm 1932 - 1937, đã đưa nước sông Lam từ Bara
Đô Lương về tưới cho phần lớn diện tích đồng bằng huyện Yên Thành Từ năm 1960 đến nay, đặc biệt trong những năm kháng chiến chống Mỹ, huyện Yên Thành đã xây dựng được gần 200 hồ đập lớn, vừa và nhỏ để tưới cho vùng cao, chống úng cho vùng sâu, giúp thâm canh hai, ba vụ
Trang 23Yên Thành nằm trong vùng tiểu khí hậu Bắc Trung Bộ Mùa hè, gió Tây Nam thổi mạnh, không khí nóng nực, nhưng khi gió Đông Nam (gió nồm) đưa hơi nước từ biển lên thì mát mẻ, dễ chịu, mùa thu thường phải chống chọi với những cơn bão lớn còn mùa đông có gió mùa Đông Bắc, mưa dầm kéo dài
Hiện nay, hệ thống giao thông trên địa bàn huyện tương đối phát triển Quốc lộ 7, đoạn đi qua huyện từ xã Vĩnh Thành đến xã Mỹ Thành dài 18km; tỉnh lộ 538, đoạn đi qua huyện từ xã Hợp Thành về xã Công Thành dài 15km; tỉnh lộ 534, đoạn đi qua huyện từ xã Sơn Thành đến thị trấn dài 14km; đường Dinh - Lạt từ xã Nhân Thành đi xã Tây Thành dài 21km Ngoài ra, còn có 23 tuyến đường liên xã, liên xóm đều đã đổ nhựa hoặc bê tông đến từng gia đình
* Địa giới hành chính và điều kiện kinh tế
+ Địa giới hành chính
Yên Thành là vùng đất cổ đã có hàng nghìn năm lịch sử Theo cuốn Lịch
sử Đảng bộ huyện Yên Thành (1930-2005) thì “thời Hùng Vương, Yên Thành
thuộc bộ Việt Thường (Việt Thường là một trong 15 bộ của nước Văn Lang) Thời Bắc thuộc, Yên Thành được gọi là huyện Hàm Hoan, thuộc quận Cửu Chân đời Triệu, quận Cửu Đức đời Ngô, quận Đức Châu đời Lương, quận Nhật Nam đời Tùy, châu Nam Đức, Đức Châu rồi Hoan Châu đời Đường” [33, tr.12].
Năm Trinh Quán thứ nhất (627) đời Đường, Hoan Châu được chia thành Diễn Châu và Hoan Châu Lỵ sở của Diễn Châu đóng ở làng Kẻ Sừng, xã Quỳ Lăng
Buổi đầu thời kỳ độc lập, nhà Khúc (905 - 907), nhà Ngô (939 - 965), vùng Quỳ Lăng vẫn là trung tâm của Châu Diễn
Thời Tiền Lê, sau khi lên làm vua, Lê Đại Hành đã phong cho Hoàng tử
Lê Long Toàn làm Đông Thành Vương và cử Long Toàn vào trấn trị Châu Diễn Sau 15 năm làm Tri châu và 7 năm xưng vua Ngân Tích Vương mà
Trang 24nhân dân thường gọi là vua Dền, Lê Long Toàn đã lấy vùng Kẻ Dền - Công Trung - Tràng Thành làm lỵ sở, xây dựng nơi đây thành trung tâm kinh tế, quân sự của Châu Diễn Và vì thế, tên địa danh Đông Thành có từ thời Tiền
Lê (gọi theo tước vương của vua Dền)
Thời nhà Trần, Yên Thành được gọi là Trấn Vọng Giang, là huyện Thổ Thành (thành đất) Thời nhà Hồ gọi phủ Linh Nguyên; thời thuộc Minh gọi là huyện Đông Ngàn; thời nhà Lê đến đầu đời Nguyễn gọi là huyện Đông Thành của phủ Diễn Châu
Tên huyện Yên Thành (một số tài liệu chép là huyện An Thành) được đặt từ niên hiệu Minh Mệnh năm thứ 10 (1829) Niên hiệu Minh Mệnh năm thứ 18 (1837) đã chính thức cắt 5 tổng gồm: Hoàng Trường, Vạn Phần, Thái Trạch, Quan Triều và Cự Lâm để thành lập huyện Yên Thành Niên hiệu Minh Mệnh năm thứ 21 (1840) đã tách tổng Cự Lâm về huyện Nghĩa Đường (tức huyện Nghĩa Đàn)
Niên hiệu Thành Thái năm thứ 10 (1898), huyện Nghĩa Đường chia lại thành hai huyện Yên Thành và Đông Thành Huyện Yên Thành ở phía Tây gồm các tổng: Quỳ Trạch (tức tổng Thái Trạch), Quan Hóa (tức tổng Quan Triều), Vân Tụ (tức tổng Vân Lôi), Quan Trung và Vân Hội Lỵ sở huyện Yên Thành chuyển về làng Phụng Luật (nay thuộc xã Hợp Thành)
Từ năm 1898 đến năm 1945, huyện Yên Thành có 5 tổng, 136 làng xã Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, cắt các làng: Xuân Lạc (Kẻ Năn), Phượng Kỷ (Kẻ Mưng), Yên Lương, Mỹ Hòa, Trịnh Sơn về huyện Anh Sơn Đồng thời, cắt các làng: Trị Nội, Hội Yên về huyện Nghi Lộc Sau năm 1955, cắt làng Cận Nghĩa Môn về huyện Quỳnh Lưu Hiện nay, huyện Yên Thành gồm: 1 thị trấn và 38 xã
+ Điều kiện kinh tế
Hiện nay, kinh tế chủ yếu của huyện Yên Thành là nông nghiệp trồng lúa và chăn nuôi gia súc, gia cầm, ở các xã miền núi phía Tây của huyện có
Trang 25thêm việc phát triển kinh tế đồi rừng và chăn nuôi đại gia súc Đặc biệt, một
số xã như: Vĩnh Thành, Nam Thành, Khánh Thành, Đồng Thành… có thêm ngành khai thác đá Trong những năm gần đây, nông dân Yên Thành chuyển dần sang việc sản xuất nông sản hàng hóa (hoa tươi, dưa hấu, sắn, dứa…), một bộ phận chuyển sang hoạt động dịch vụ Trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp: việc đầu tư đổi mới khoa học công nghệ và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất được chính quyền và nhân dân trong huyện tích cực hưởng ứng nên ở những cánh đồng lúa tập trung ở các xã: Hoa Thành, Văn Thành, Hợp Thành, Nhân Thành, Long Thành đã đạt năng suất cao (hơn 400kg/sào/vụ) Toàn huyện đã hình thành vùng chuyên canh rau sạch, cây cao sản, hoa cảnh… Giá trị sản xuất nông nghiệp trên 1ha đất cũng không ngừng được nâng cao Trong lĩnh vực phát triển công nghiệp, thương mại và dịch vụ: tuy đã có bước phát triển tuy nhiên, nhưng tốc độ còn chậm Huyện Yên Thành đã huy động vốn đầu tư xây dựng một số cơ sở hạ tầng như một số chợ trung tâm buôn bán nhằm thu hút nguồn hàng từ các huyện lân cận như: Chợ Dinh Sy, Chợ Hợp Thành, Chợ Cầu Dinh… Tốc độ tăng trưởng của ngành thương mại - dịch vụ bình quân 10 năm qua 2001 - 2011 đạt 25% Là huyện đang trong quá trình phát triển, Yên Thành đã xây dựng quy hoạch theo tầm nhìn đến năm 2030 Công tác quản lý đất đai, quản lý trật
tự xây dựng hết sức phức tạp, nhưng với tinh thần chỉ đạo và xử lý kiên quyết của các cấp, ngành trên địa bàn huyện nên đã ngăn chặn có hiệu quả tình trạng lấn chiếm đất công, xây dựng trái phép, không phép của các hộ dân Công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giao đất nông nghiệp theo Nghị định 64/CP cơ bản được hoàn thành…
Nhìn chung, đời sống kinh tế của người dân Yên Thành hiện nay đã có nhiều chuyển biến theo chiều hướng tích cực, tuy nhiên vẫn còn nhiều khó khăn so với tình hình chung của tỉnh Nghệ An
Trang 26* Đặc điểm dân cư và truyền thống văn hóa - xã hội
+ Đặc điểm dân cư
Từ xa xưa, Yên Thành là địa bàn cư trú thuận lợi của người Việt cổ Những kết quả khai quật khảo cổ học cho thấy, huyện Yên Thành nằm trong vùng có các di chỉ khảo cổ như: Lèn Vĩnh Tuy (xã Vĩnh Thành), Bảo Nham (xã Bảo Thành), Đức Hậu (xã Hậu Thành)… Những hiện vật thuộc thời đại đồ
đá mới, đồ đồng, đồ gốm được phát hiện cho thấy, Yên Thành là nơi người Việt cổ cư trú lâu đời và là bộ phận khăng khít của hậu duệ các vua Hùng Từ
đó góp phần làm nổi bật giá trị của nền văn hóa Đông Sơn trong buổi bình minh của lịch sử dân tộc
Thời kỳ Bắc thuộc, nhà Đường đã chọn Quỳ Lăng làm lỵ sở của Châu Diễn Nơi có địa thể hiểm yếu, có thể xây dựng thành căn cứ quân sự đồn trú để trông coi cả vùng biên viễn phía Nam Đến thời Tiền Lê, thời Lý, thời Trần, lỵ sở Châu Diễn chuyển xuống vùng Kẻ Dền, Công Trung, Tràng Thành Công cuộc di dân, khai hoang lập làng của vua Dền, Trần Quang Khải, Trần Quốc Khang… đã góp phần xây dựng Yên Thành trở thành vùng nông nghiệp lúa nước, tập trung đông cư dân trong các hương
“Nghệ Đông Thành, Thanh Nông Cống”
Trang 27hay
“Hết nước thì có nước nguồn,
Hết gạo thì có gạo buôn Đông Thành”
Do đó, vùng đất Yên Thành trở thành một trong những địa bàn chiến lược/đất đứng chân, nơi xuất hiện các nhân tài và cung cấp vật lực cho công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam
Hiện nay, cư dân huyện Yên Thành là người Kinh và không có đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống Trước đây, có một số đồng bào các dân tộc thiểu số cư trú trên các đồi thấp trong các thung lũng, nhưng về sau họ đã
di cư lên miền ngược Đến nay, khu vực này chỉ còn lại dấu vết mộ táng, tên đất hoặc tên làng bản
Theo cuốn “Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX” biên soạn dựa vào các cuốn “Các tổng, trấn, xã danh bộ lãm” và “Đồng Khánh ngự lãm dư địa
chí danh hương” cho biết: huyện Đông Thành (bao gồm cả huyện Diễn Châu,
Yên Thành, Nghĩa Đàn và Đô Lương hiện nay) có 7 tổng, 242 xã, thôn trang, sách, phường Riêng địa phận Yên Thành gồm có 4 tổng gồm: Tổng Quan Trung có 49 xã thôn, sở, phường; tổng Quan Triều (về sau đổi thành tổng Quan Hóa) có 35 xã, thôn; tổng Thái Trạch (về sau đổi thành Quỳ Trạch) có
25 xã, thôn và tổng Vân Trụ (xưa có tên Vân Lôi) có 32 xã, thôn, trang
Về dân số, nếu năm 1930, huyện Yên Thành có 64.000 người thì đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, dân số huyện Yên Thành là 274.630 người
+ Truyền thống văn hóa - Khoa bảng
Có thể nói, Yên Thành là một vùng quê nông nghiệp trồng lúa nước, có truyền thống lịch sử lâu đời, gắn liền với quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam Trải qua các thời kỳ lịch sử, nhân dân Yên Thành vừa phải lao động sản xuất, vừa phải chiến đấu bảo vệ quê hương, đất nước Điều
Trang 28đó đã tạo nên truyền thống cần cù, sáng tạo trong lao động; kiên cường, dũng cảm trong chiến đấu với tinh thần đoàn kết “thương người như thể thương thân”, gia đình gắn với họ hàng, làng nước; truyền thống tôn sư trọng đạo, uống nước nhớ nguồn, tưởng nhớ và biết ơn ông bà, tổ tiên
Đặc biệt, khi nói đến Yên Thành, người ta thường nhấn mạnh truyền
thống hiếu học và học giỏi Trong tác phẩm “Diễn Châu - Đông Thành huyện
thông chí”, Thám hoa Phan Thúc Trực đã viết: “An Thành thế đất bằng
phẳng, tục dân thuần tú, văn hóa khoa bảng đứng đầu một phủ”
Người dân Yên Thành không chỉ đã từng thuần hóa, giữ gìn những giống lúa quý như: lúa chăm, lúa hẻo, đặc biệt là lúa nếp rồng thơm ngon nổi tiếng, mà họ còn là những người chuộng đạo đức, nêu cao truyền thống khổ học, hiếu học và học giỏi Thuở Hán học còn thịnh đạt, làng xã nào cũng dành một phần ruộng đất làm học điền, nhiều làng xây dựng văn miếu, thành lập hội tư văn, hội đồng môn để tôn vinh đạo học Dù giàu hay nghèo nhưng nhà nào cũng cố gắng nuôi dưỡng cho con cháu “học dăm ba chữ để làm người”; Vì thế, đất học Yên Thành có nhiều gia đình và dòng họ liên tiếp có người đỗ đạt cao trong lịch sử
Người mở đầu cho truyền thống khoa bảng của huyện Yên Thành và cả
xứ Nghệ là Trạng nguyên Bạch Liêu Ông quê gốc ở làng Trúc Hạ, xã Thanh
Đà (nay là xã Mã Thành) Bạch Liêu đỗ Trạng nguyên khoa thi Bính Dần, niên hiệu Thiệu Long năm thứ 9 (1266) đời vua Trần Thánh Tông Từ đó về
sau, theo các tài liệu “Đăng khoa lục”, huyện Yên Thành có 22 vị đỗ Đại
khoa, trong đó có 4 vị Trạng nguyên (chiếm 2/3 số trạng nguyên của toàn tỉnh Nghệ An), 3 Thám hoa, 3 Hoàng giáp, 7 Tiến sĩ và 4 Phó bảng Nhiều người trong số những vị đại khoa, trung khoa đã đem tài năng giúp nước, có công trong việc xây dựng đất nước, trở thành những nhà văn hóa để lại nhiều trước tác có giá trị
Trang 29Trạng nguyên Bạch Liêu với kế sách “Biến pháp tam chương” giúp nhà
Trần xây dựng Hoan Diễn trở thành thắng địa, nơi cung cấp sức người, sức của cho 3 lần chiến thắng giặc Nguyên Mông xâm lược
Trạng nguyên Hồ Tông Thốc là nhà văn hóa lớn có tài năng nhiều mặt
về văn, thơ, lịch sử với các trước tác như: “Thảo nhà hiệu tần thi tập”, “Đại Nam thế chí”, “Việt sử thông giám cương mục”
Thám hoa Phan Thúc Trực đỗ Hội nguyên, Đình nguyên, nêu gương
“Học cao hạnh thuần”, ông đã để lại các trước tác như: “Việt Nam thế chí”,
“Diễn Châu phủ chí”, “Diễn Châu - Đông Thành huyện thông chí”, “Cẩm đình thế tập”
Tiến sĩ Trần Đình Phong, làm Tế tửu Quốc Tử Giám, ông đã trực tiếp
đào tạo nhiều nhân tài cho đất nước Ông còn tổ chức biên soạn tập “Đông
Yên nhị huyện khoa phổ” và trực tiếp biên soạn “Thanh Khê xã chí”, “Quỳ
Trạch đăng khoa lục”…
Khi đất nước đứng trước họa xâm lăng, với tấm lòng yêu nước thương dân, những nhà nho, những bậc khoa bảng sẵn sàng xả thân vì nghĩa lớn, cùng nhân dân đánh đuổi quân xâm lược như: Trạng nguyên Bạch Liêu, Phó bảng Lê Doãn Nhã, các cử nhân Chu Trạc, Lê Liễu…
Đất học Yên Thành còn sản sinh ra những thầy đồ hay chữ, sống có tiết tháo, bổ sung vào đội ngũ những thầy đồ xứ Nghệ để mở trường dạy học tại quê nhà hay ở những địa phương khác
Truyền thống hiếu học của nhân dân huyện Yên Thành được nuôi dưỡng và phát huy trong dòng chảy lịch sử, nối tiếp đến thời kỳ tân học (học quốc ngữ và chữ Pháp) đã sản sinh ra tầng lớp trí học, kịp tiếp thu những
“Tân thư” của các nhà trí sĩ như: Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh và những tài liệu sách báo của Nguyễn Ái Quốc từ nước ngoài chuyển về đã trở thành
Trang 30những hạt giống đỏ, góp phần truyền bá tác phẩm “Đường kách mệnh” vào phong trào yêu nước của nhân dân Yên Thành trong những năm 1925 - 1930
+ Truyền thống yêu nước
Bên cạnh truyền thống hiếu học, Yên Thành còn là mảnh đất của những con người giàu lòng yêu nước và cách mạng Trong lịch sử dân tộc, Yên Thành là vùng đất hiểm yếu, nằm trong vùng địa bàn chiến lược của đất Hoan Diễn xưa (Nghệ An ngày nay), nơi được xem là “thắng địa” hay “thành đồng
ao nóng của cả nước” hoặc là “phên dậu then khóa của các triều đại” Nhà yêu nước Lê Doãn Nhã đã viết nên những vần thơ cảm khái để diễn tả địa danh này như sau:
“Nhớ thời núi tụ anh linh,
Quy Lai giáo dựng, Động Đình gươm treo
Trời chiều nổi áng cờ treo, Nhớ ơn tằng tổ hiểm nghèo xông pha”
Không phải ngẫu nhiên mà từ năm 627, các vị Kinh lược sứ, Thứ sử chọn Kẻ Sừng, Quỳ Lăng làm lỵ sở của Châu Diễn Nơi đây tựa lưng vào rừng núi, nhìn ra đồng bằng, nằm trên đường thượng đạo từ Nam ra Bắc, thế tiến công và phòng thủ đều thuận lợi Đến thời kỳ nước ta giành được quyền
tự chủ, nhân dân Đông Thành đã giúp đỡ vua Dền Lê Long Toàn vừa xây dựng, vừa chiến đấu bảo vệ quê hương, bảo vệ cả vùng biên viễn phía Nam của nước Đại Việt
Thời Lý, nhân dân Yên Thành đã giúp Uy Minh Vương Lý Nhật Quang xây dựng nhiều trang ấp, đồn trại, kho lương Nhiều trai đinh các làng gia nhập nghĩa quân của Lý Giác và lấy vùng Công Trung, Tràng Thành làm căn
cứ xây dựng lực lượng chống lại ách áp bức bóc lột của triều đình
Sang đời Trần, nhân dân huyện Yên Thành đã giúp Trần Quốc Khang xây dựng lại thành Dền, đồng thời, khai phá đất đai, lập nhiều vệ sở, làng xã, cung
Trang 31cấp sức người, sức của cho các vị tướng Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật chặn đứng đội quân xâm lược từ phía Nam ra Sử sách còn ghi lại chiến tích và công lao của hai nhân vật kiệt xuất người huyện Yên Thành, đó là Trạng nguyên Bạch Liêu và danh nhân Hoàng Tá Thốn
Bạch Liêu, còn có tên là Bạch Đồng Liêu, sau khi đỗ Trạng nguyên đã không ra làm quan mà mở trường dạy học Nhưng khi đất nước bị giặc Nguyên - Mông xâm lược, ông đã hưởng ứng lời kêu gọi của vua Trần, tình nguyện làm mưu sĩ quan trọng cho Thượng tướng Trần Quang Khải Ông đã
dâng kế sách “Biến pháp tam chương” để khai khẩn đất hoang, nuôi dưỡng
sức dân, xây dựng nhiều kho lương đồn trại từ Đông Thành vào chân đèo Ngang Từ đó luyện quân, tuyển quân, biến vùng đất Hoan Diễn thành hậu phương chiến lược cung cấp đội quân tinh nhuệ và lương thực cho cuộc kháng chiến
Hoàng Tá Thốn, còn có tên là Hoàng Đại Liêu, quê gốc ở Vạn Phần (nay thuộc Diễn Vạn, huyện Diễn Châu) lên định cư ở làng Vạn Tràng (nay thuộc xã Long Thành) Ông là người có sức khỏe và tài võ nghệ, đặc biệt là tài bơi lặn giỏi được Trần Hưng Đạo tin dùng Ông nhiều lần đục thủng thuyền giặc, có công lớn trong nhiều trận thủy chiến với giặc Nguyên, được vua Trần phong là
“Sát Hải đại tướng quân” Nhân dân Yên Thành lập đền thờ Hoàng Tá Thốn ở làng Vạn Tràng (thuộc xã Long Thành) và đền Đức Hoàng (ở xã Phúc Thành)… Khi Bình Định Vương Lê Lợi cử Đinh Lễ về vùng núi phía tây huyện Yên Thành xây dựng thành Động Đình ở sách Quy Lai (nay thuộc khu vực xã
Mã thành, Lăng thành), tổ chức tuyển thêm quân lính, luyện tập binh mã, sắm sửa vũ khí…, trai tráng các làng đã nô nức gia nhập nghĩa quân Từ căn cứ Động Đình, nghĩa quân Đinh Lễ đã kéo xuống bao vây thành Diễn Châu đánh quân tiếp viện và đã giành thắng lợi lớn Trong những chiến thắng vang dội của nghĩa quân Lam Sơn trên đất Nghệ An như: trận Bồ Đằng, Trà Lân, Lam
Trang 32Thành, Diễn Châu…, Nguyễn Vĩnh Lộc đã hiến nhiều kế hay giết giặc, ông được Lê Lợi ban quốc tính chuyển từ họ Nguyễn sang họ Lê, tức Lê Lộc
Ở làng Tiên Thành (nay thuộc xã Bắc Thành), Phan Vân cũng đem lương thảo ủng hộ nghĩa quân Trai tráng, nhân dân nhiều làng xã ở huyện Yên Thành đã rào làng chiến đấu, dùng làng để giữ nước, góp phần xứng đáng vào cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Minh
Trong cuộc nội chiến Lê - Mạc (tức thời Nam - Bắc triều) kéo dài 60 năm (1533 - 1592) và hỗn chiến Trịnh - Nguyễn từ năm 1627 đến năm 1672, chiến tranh giữa các tập đoàn phong kiến kéo dài triền miên hơn 200 năm, các trận chiến xảy ra trên đất Yên Thành như: ở làng Vĩnh Tuy, Hào Kiệt … Người dân huyện Yên Thành phải làm lao dịch, binh dịch, chiến đấu và phục
vụ chiến đấu, nhân dân phải đóng góp thuế khóa nặng nề, đời sống nhân dân
vô cùng cực khổ
Trong hoàn cảnh đói nghèo, cơ cực như thế, nhân dân Yên Thành đã liên tục vùng lên hưởng ứng các cuộc khởi nghĩa nông dân Phong trào Tây Sơn nổi lên, đặc biệt là khi Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc lần thứ hai, trên đường từ Nam Đàn qua Truông Hến ra Yên Thành, nhân dân huyện Yên Thành đã đem thóc gạo ủng hộ nghĩa quân, cứ ba suất đinh có một người tòng quân, chiến đấu dũng cảm, lập công giết giặc như: Nguyễn Hữu Có (xã Kim Thành), Phan Duy Nậm (xã Tràng Thành)…
Trong những năm chống Pháp trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, có hai sự kiện lớn diễn ra trên đất Yên Thành đó là cuộc khởi nghĩa Cần Vương, thường gọi là khởi nghĩa Đồng Thông - Vũ Kỳ và những hoạt động chuẩn bị khởi nghĩa của Chu Trạc ở Tràng Thành
Hưởng ứng chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi, cuối năm 1875, Tiến
sĩ Nguyễn Xuân Ôn, người làng Cồn Sắt (nay thuộc xã Diễn Thái, huyện Diễn Châu) cùng Phó bảng Lê Doãn Nhã, người làng Tràng Sơn (nay thuộc
Trang 33xã Sơn Thành) đã tập hợp các sĩ phu yêu nước cùng đông đảo nghĩa binh ở các huyện Yên Thành, Diễn Châu, Anh Sơn làm lễ tế cờ, phát động cuộc khởi nghĩa đánh Pháp Nghĩa quân đã lấy vùng núi phía tây Yên Thành làm đại bản doanh, trong đó có căn cứ Đồng Thông - Vũ Kỳ Tập hợp dưới ngọn cờ Cần Vương của Nguyễn Xuân Ôn, Lê Doãn Nhã có nhiều tráng đinh từ các lò vật ở các làng xã Từ căn cứ Đồng Thông - Vũ Kỳ, nghĩa quân mở rộng hoạt động, tổ chức nhiều trận đánh địch ở Đồn Sy, Đồng Mờm, Thừng Sủng, Bảo Nham, Vĩnh Tuy, xóm Hố, Đồng Thông, đặc biệt là trận thắng lớn ở Tràng Thành vào tháng 5 - 1885, diệt hơn 500 tên giặc Nhân dân nhiều làng đã tự
tổ chức nghĩa binh, rào làng chiến đấu, góp lương thực vật dụng bằng kim loại, mở lò rèn vũ khí ủng hộ nghĩa quân Ở làng Xuân Đào, hàng chục nghĩa quân đã thành lập đội quân Nghĩa Xuân Hội Dưới sự chỉ huy của ông Vương Thức, nghĩa binh làng Xuân Đào đã tề tựu dưới cờ nghĩa của Nguyễn Xuân
Ôn, Lê Doãn Nhã Khi thực dân Pháp và binh lính triều đình đàn áp, chủ tướng Nguyễn Xuân Ôn bị địch bắt, Lê Doãn Nhã và những lực lượng còn lại của nghĩa quân liên lạc với Phan Đình Phùng tiếp tục chiến đấu
Chu Trạc, sinh năm 1849 trong một gia đình nông dân yêu nước Ông là người có nghĩa khí, có sức khỏe và tài võ nghệ Năm 30 tuổi, ông thi đỗ Võ
cử nhân (Cử nhân võ) ở trường thi Thanh Hóa rồi vào Huế học tiếp để chuẩn
bị thi Tạo sĩ (Tiến sĩ võ) Năm Ất Dậu, vua Hàm Nghi chạy nạn, kinh đô Huế
có biến, ông bỏ về quê mở cửa hàng buôn bán nông thổ sản, cắt thuốc Nam, thuốc Bắc ở chợ Dinh Ông vừa kiếm sống, vừa làm địa điểm liên lạc với Phái Ám Xã trong Hội Duy Tân và Quang Trang (huyện Quỳnh Lưu) tìm đường ra Bắc liên hệ với Hoàng Hoa Thám Ông được Đề Thám giao nhiệm
vụ tuyển mộ người, gây quỹ, sắm sửa vũ khí, chuẩn bị lực lượng Chu Trạc
đã vận động được nhiều thanh niên yêu nước ở các huyện Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Đô Lương, Thanh Chương, Yên Thành vào “Nghĩa Đảng” và sắm sửa được một số vũ khí Khi hay tin phong trào chống thuế Trung Kỳ lan ra phủ
Trang 34thành Hà Tĩnh, đến 26-2-1908, Chu Trạc làm lễ tế cờ ở xóm Nương Che và phát hịch đánh Pháp:
“Ai là khách anh hùng xin hãy chung lưng đấu cật
Nước mất còn chỉ ở lúc ni”
Sau lễ tế cờ, Chu Trạc phân công Nguyễn Xuân Vĩnh về huyện Diễn Châu, Phan Văn Chớn chỉ huy khoảng 30 người sang nước Lào mua vũ khí Còn Hồ Xuân Trang đến huyện Nghi Lộc liên hệ với Đặng Thái Thân, Phạm Văn Ngôn ra Yên Thế liên hệ với Hoàng Hoa Thám… Nhưng vì sơ hở trong việc lựa chọn nghĩa binh, bị kẻ xấu lọt vào, báo mật thám Đêm 10 - 4 - 1908, trong lúc Chu Trạc đang họp với các cộng sự tại nhà ông thì bị bọn lính vào vây bắt Tài liệu của mật thám Pháp gửi Khâm sứ Trung Kỳ (3 - 1913) viết:
“Vụ Chu Đình Trạc là một vụ nổi loạn lớn ở Nghệ An năm 1908… Chu Đình Trạc lúc đó là Tổng Tư Lệnh quân đội Bắc - Trung kỳ do Đề Thám trao quyền, bị đầy đi Côn đảo”
Trên điều kiện tự nhiên của một vùng đất vừa có đồng bằng, vừa có rừng núi, “Phía trước kho lương, phía sau rương tiền” Từ năm 627, khi các Kinh lược sứ chọn Quỳ Lăng làm lỵ sở Châu Diễn cho đến đầu thế kỷ XX, trải qua gần 15 thế kỷ, nhân huyện Yên Thành vừa cần cù lao động xây dựng quê hương, vừa cùng nhân dân trong tỉnh Nghệ An đổ bao xương máu để chiến đấu bảo vệ quê hương đất nước Lịch sử dựng nước và giữ nước đã hun đúc nên những truyền thống tốt đẹp cần cù, sáng tạo trong lao động; yêu thương, đoàn kết, dũng cảm trong đấu tranh và khi cần không tiếc máu xương để bảo vể
tổ quốc; ham học hiếu học, trọng đạo học, trọng đạo lý làm người; sống tình nghĩa, tin tưởng vào sức mạnh của chính mình và của lớp người kế tục
+ Phong tục tập quán
Một trong những nét đặc trưng văn hóa của cộng đồng chính là phong tục tập quán, biểu hiện tính cách và trình độ văn minh của cộng đồng đó
Trang 35Điều này được thể hiện trong các hương ước làng Hương ước là văn bản pháp lý của mỗi làng, trong đó bao gồm các quy ước về dân sự, hình sự, các điều ước về giữ gìn đạo lý, về phong tục tập quán… có liên quan đến tổ chức
xã hội cũng như đến đời sống nhân dân trong làng Hương ước là tấm gương phản chiếu bộ mặt cũng như đời sống văn hóa của mỗi làng
Nhìn chung phong tục, tập quán của người dân Yên Thành xưa cũng giống như hầu hết phong tục tập tập quán của người Việt Tuy nhiên, ở các làng xã thuộc huyện Yên Thành có những nét đặc trưng riêng Từ xa xưa, các
lệ tục ở đây rất đa dạng, phong phú và phức tạp Chúng được thể hiện thông qua các hương ước của một số làng cổ và được quy định rất rõ ràng cho từng việc như: đối với tang lễ phải để trong nhà ít nhất 2 ngày, phải làm rất nhiều
lễ để cúng người chết, con trai phải nằm đường khi đưa tang cha mẹ, phải đội
mũ rơm, thắt dây chuối…; đối với cưới xin, ngày xưa phải có sáu lễ chính, để tiến đến lễ cưới, hai gia đình phải thực hiện những lễ chính sau: lễ nạp thái, lễ vấn danh, lễ nạp cát, lễ nạp tệ (hay nạp trưng), lễ thỉnh kỳ, lễ thân nghinh (tức
lễ rước dâu hay lễ cưới)
Tuy nhiên, ngày nay cộng đồng cư dân đã xây dựng quy ước mới, đó là những điều ước của một tập thể dân cư sống trong một khu vực Khu vực này
có thể là một làng cổ truyền, có thể là một làng mới được hình thành, có thể
là khối phố, một xóm từ xã cũ mới tách ra… Trong đó bao gồm các điều ước
về văn hóa xã hội, về trật tự an ninh, về vệ sinh môi trường, về cưới hỏi, việc tang ma và lễ hội, về bảo vệ sản xuất và hoa màu, về xây dựng gia đình văn hóa… để xây dựng làng văn hóa khu dân cư, xóm văn hóa Đó cũng là những luật tục mới hình thành sẽ tồn tại song song với luật pháp của nhà nước Ví
dụ, với việc tang: gia đình phải chôn cất người chết trong vòng 24 giờ, con cái không phải nằm đường, không đội mũ rơm, không thắt dây chuối, đặc biệt
là không làm cỗ ăn uống linh đình…; đối với việc cưới hỏi, ngày nay ở Yên Thành chỉ còn có hai lễ chính là lễ ăn hỏi và lễ cưới, không còn tục thách
Trang 36cưới và đám cưới không được sử dụng thuốc lá để mời khách, không được tổ chức quá 2 ngày và mời quá nhiều khách…
+ Tôn giáo, tín ngưỡng
- Phật giáo: Phật giáo ảnh hưởng sâu đậm trong đời sống của người dân nơi đây Nhân dân đi lễ Phật rất đông và thường xuyên, không chỉ vào ngày Rằm, mồng Một, ngày lễ tết mà vào bất cứ ngày nào Vào buổi tối cuối tuần dân làng, đặc biệt là các cụ già tập trung tại chùa đọc kinh, niệm Phật và thường xuyên tổ chức các chuyến đi sang các địa điểm chùa ở các xã, huyện, tỉnh khác để tham quan, thắp hương lễ phật…
- Nho giáo: Huyện Yên Thành có nhiều văn chỉ, từ chỉ thờ các nhân vật
đỗ đạt cao qua con đường thi cử của nho giáo làm quan cho triều đình phong kiến, các nhân vật này cũng được phối thờ trong các đền, miếu hoặc trong các nhà thờ dòng họ như: Nhà thờ Trạng Nguyên Hồ Tông Thốc, nhà thờ họ Nguyễn, nhà thờ Thám Hoa Phan Thúc Trực, nhà thờ Thám Hoa Phan Tất Thông… Ảnh hưởng của nho giáo trong đời sống hàng ngày của người dân không nhỏ ở đạo làm con phải hiếu thảo với cha mẹ, làm thầy phải gương mẫu, làm trò phải tiên học lễ hậu học văn, tôn sư trọng đạo
- Đạo giáo: Đạo giáo cũng ăn sâu vào đời sống của người dân nơi đây
từ bao đời nay từ việc ma chay cưới hỏi, xem tướng số, bùa chú ma thuật, yểm triệt ma quỷ Tuy nhiên trong huyện cũng không có nhiều quán đạo thờ riêng các nhân vật đạo giáo
- Tín ngưỡng: Tín ngưỡng của người dân Yên Thành cũng giống như
cư dân của các huyện vùng đồng bằng khác của tỉnh Nghệ An nói riêng và người Việt nói chung Đặc biệt rõ nét nhất là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên Gia đình nào cũng có ban thờ tổ tiên, con cái thờ cúng cha mẹ, ông bà và cứ thế đời này qua đời khác
Trang 37Nói chung, hoạt động văn hóa tín ngưỡng của người dân huyện Yên Thành xưa cũng như ngày nay thể hiện rất rõ truyền thống đạo lý sống cao đẹp của dân tộc Việt Nam, đoàn kết nhân ái, luôn ghi nhớ tôn vinh những người có công với đất nước, xóm làng, quê hương Ví dụ, việc thờ cúng nhiên thần, nhân thần, Thành Hoàng làng… những người có công với làng xóm, với đất nước tại đình làng, đền…
1.2.2 Đặc điểm chung của Di tích lịch sử văn hóa ở huyện Yên Thành
Như đã đề cập, Yên Thành có nhiều điều kiện thuận lợi về tự nhiên, con người và môi trường xã hội, đó là những tiền đề cơ bản cho việc hình thành hệ thống DT LSVH Yên Thành là vùng quê có mật độ khá nhiều các
di tích và danh thắng Theo số liệu điều tra, Yên Thành có khoảng trên 200 di tích và danh thắng Qua kết quả nghiên cứu của các nhà khảo cổ, các công cụ bằng đá tìm thấy ở một số vùng địa danh trong huyện như: Bảo Nham - Bảo Thành; vườn Bổn - Vĩnh Tuy - Vĩnh Thành; Đồng Thành; Hậu Thành có niên đại khoảng 2.700 TCN thuộc nền văn hoá Bàu Tró - Quảng Bình Đó là nền văn hoá thuộc hậu kỳ thời đại đá mới Việt Nam Các hiện vật thu thập được cho thấy, các bộ lạc cuối thời kỳ đồ đá mới sống ở đây đã có kỹ thuật chế tác công cụ đạt đến trình độ cao Nguồn sống của họ chủ yếu là lúa, ngô, khoai, sắn, các hải sản như tôm, tép, ốc, hến… Các chứng cứ khoa học đã chứng minh rằng, Yên Thành là vùng đất cổ, nơi sinh sống của ngững tộc người nguyên thủy vùng ven biển xứ Nghệ Đến thời đại văn hoá Đông Sơn, thuở các vua Hùng dựng nước Văn Lang, cư dân Yên Thành đã biết tự mình xây dựng cuộc sống kinh tế, văn hoá… Họ đã mở rộng địa bàn cư trú từ các hang động xuống các dải đất cao dọc thung lũng ven khe suối Con người chuyển từ thời đại đồ đá sang thời đại đồ đồng, họ biết cày, cuốc ruộng, biết hông xôi, làm bánh, làm đồ gốm bằng bàn xoay, biết đúc đồng, luyện sắt Nguồn sống chính của họ là làm ruộng, trồng lúa, ngô, khoai, sắn và chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà…
Trang 38Nét văn hóa đặc sắc của vùng quê Yên Thành, làng nào cũng có đình, đền, chùa, miếu, nhà thờ dòng họ , có lệ làng, có hương ước, có phong tục tập quán riêng của mình Các sinh hoạt văn hóa dân gian, các tập tục văn hóa tín ngưỡng, văn hóa cộng đồng luôn được thể hiện qua các ngày lễ hội và theo nhịp điệu cuộc sống, mùa màng Sự hình thành địa lý và con người trên vùng đất Yên Thành, đã để lại một hệ thống di sản văn hoá, trong đó các di tích - danh thắng, là di sản vô giá, giúp cho việc nghiên cứu lịch sử, sinh hoạt văn hóa tâm linh thông qua lễ hội, giáo dục truyền thống, quảng bá, phát triển
du lịch, góp phần xây dựng quê hương Yên Thành đổi mới, phát triển
Hiện nay trên địa bàn huyện còn lại trên 200 di tích và danh thắng, trong
đó có 195 di tích Hệ thống DT LSVH ở Yên Thành đa dạng về loại hình như: đình, đền, chùa, nhà thờ, miếu, lăng mộ, giếng, đồn, khu lưu niệm… Phản ánh đầy đủ các giá trị như: lịch sử, khảo cổ, kiến trúc- nghệ thuật Ngoài ra, còn có một số danh thắng, địa danh đã đi vào huyền thoại, gắn bó máu thịt với con người Yên Thành Hiện tại, ở Yên Thành có các địa điểm tiềm năng để phát triển du lịch như: Rú Gám, Sông Dinh, Hồ Vệ Vừng, Hồ Quản Hài, Đập Sặt, Đập Lọ Nồi, lèn đá Bảo Nham, Rừng Lim nguyên sinh ở Hậu Thành và Lăng Thành
Trong những năm đổi mới đất nước, công tác bảo tồn các di tích trên địa bàn huyện được các cấp uỷ Đảng, chính quyền quan tâm chỉ đạo Đến nay tổng số di tích đã được công nhận và xếp hạng trên địa bàn là 34/195 di tích (trong đó có 17 di tích cấp quốc gia: 4 đình, 7 đền, 1 phủ thờ, 2 nhà thờ họ; 1
di tích cách mạng, 2 khu lưu niệm; và 17 di tích cấp tỉnh: 2 đền, 15 nhà thờ họ) Bố cục mặt bằng tổng thể của các di tích chủ yếu được làm theo kiểu chữ
“Nhị” và chữ “Tam” Nhân vật được thờ hoặc phối thờ tại các di tích rất phong phú, đa dạng gồm: các vị thánh, thành hoàng làng… Họ được coi là những người có công với quê hương và đất nước như: Hoàng Tá Thốn thờ tại Đền Đức Hoàng và Đền Cả; Cao sơn Cao Các, Tứ Vị Thánh Nương, Tam
Trang 39Tòa Đại Vương thờ tại Đền, Chùa Gám… Bên cạnh các di tích như đình, đền, miếu, chùa, Yên Thành còn còn các loại hình di tích khác như: văn từ, văn chỉ, nhà thờ họ, di tích lưu niệm Niên đại của loại hình này chủ yếu mang phong cách nghệ thuật tạo hình thời Nguyễn, có những di tích mới được xây dựng lại trong thời gian gần đây nhưng với tư cách là không gian thờ tự, chúng đóng vai trò nhất định trong hệ thống kiến trúc dân gian truyền thống của huyện Yên Thành
1.2.3 Số lượng, loại hình di tích
Hiện nay, trên địa bàn huyện Yên Thành có 34/195 DT LSVH đã được xếp hạng, phân bố tại 19/39 xã, thị trấn Trong đó, các xã có nhiều di tích nhất là xã Hoa Thành (4 di tích), Phúc Thành, Thọ Thành, Mỹ Thành, Vĩnh Thành (3 di tích); Bắc Thành, Hậu Thành (2 di tích), còn lại là các xã có 1 di tích [phụ lục 3, 4, tr.161,162]
Theo quy định của Luật Di sản văn hóa, hệ thống di tích LSVH được chia thành 4 loại hình: loại hình di tích khảo cổ, loại hình di tích lịch sử, loại hình di tích kiến trúc - nghệ thuật và danh lam thắng cảnh Ở Yên Thành, 34
di tích đã xếp hạng chủ yếu tập trung vào 2 loại hình sau:
* Loại hình di tích lịch sử:
Đây là loại hình chiếm số lượng chủ đạo (29/34 di tích), trong đó có thể chia ra làm hai loại chính:
- Di tích lưu niệm sự kiện (9/29 di tích):
Trong số các di tích thuộc loại di tích lưu niệm sự kiện có thể kể đến một số
di tích tiêu biểu:
+ Khu lưu niệm Bác Hồ về thăm Vĩnh Thành (ngày 10/12/1961), toạ lạc ở Rú Tháp, nơi có rừng cây bốn mùa toả bóng Ngay tại địa điểm năm xưa chiếc trực thăng chở Bác và đoàn đại biểu Trung ương đáp xuống, nay là
Trang 40một quần thể di tích khá khang trang bề thế (công trình được tu bổ, tôn tạo với tổng kinh phí 9,5 tỷ đồng, gồm 10 hạng mục, được cắt băng khánh thành ngày 9/11/2011) Nơi đây có nhà lưu niệm Bác Hồ, cũng là nơi trưng bày những kỷ vật thiêng liêng lưu giữ dấu tích ngày Bác Hồ về thăm Vĩnh Thành
Ở đây, chúng ta được xem lại hàng chục bức ảnh lịch sử của vị cha già dân tộc khi Người nói chuyện với hàng vạn cán bộ và nhân dân tại sân trường cấp
1 Vĩnh Thành; hình ảnh Người phát kẹo cho các cháu ở nhà trẻ làng Vĩnh Tuy; ảnh Bác đi thăm nhà hộ sinh; ảnh Bác gắn huy hiệu cho 5 cá nhân điển hình phong trào Đại Phong Ở đây còn có những hiện vật quý như: có mô hình chiếc máy bay trực thăng do Bộ Tư lệnh Bộ đội phòng không không quân tặng, bút tích của Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết về nhà lưu niệm… Đặc biệt, chúng ta còn được đọc toàn văn bài nói chuyện của Bác Hồ với cán
bộ và nhân dân trong buổi sáng ngày 10/12/1961 lịch sử ấy, thấy được tấm lòng yêu nước, thương dân bao la của Người, thấy được tầm nhìn sâu xa của Bác về nông nghiệp, nông thôn và nông dân 50 năm trước, Vĩnh Thành là địa phương dẫn đầu tỉnh Nghệ An về thành tích làm thuỷ lợi, trồng cây, xây dựng hợp tác xã, được vinh dự đón Bác Hồ về thăm 50 năm qua, đảng bộ và nhân dân Vĩnh Thành đã thực hiện lời dạy của Người trở thành xã Anh hùng lực lượng vũ trang trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và lập những thành tích xuất sắc trong sự nghiệp đổi mới Khu lưu niệm Bác Hồ về thăm Vĩnh Thành được xếp hạng di tích lịch sử quốc gia năm 1995 Khu lưu niệm
là nơi sinh hoạt, giáo dục truyền thống cách mạng cho các thế hệ nhân dân trong và ngoài huyện Yên Thành
+ Đình Liên Trì, trong “Nghệ An cổ trích lục” còn có tên gọi là đình Tam Tòa, vì đình có 3 tòa xếp theo hình chữ “Tam” Đình là nơi thờ Thành hoàng làng Lý Nhật Quang, một nhân vật lịch sử nổi tiếng ở thế kỷ thứ XI Không những thế, đình còn là nơi các văn thân, sĩ tử hợp nhau lại để biểu thị quyết tâm và vạch kế hoạch kháng Pháp, ủng hộ cuộc khởi nghĩa Giáp tuất
1874 Trong phong trào Cần Vương giai đoạn từ năm 1885 - 1895, đình là