1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lịch sử văn hoá vùng đất lang chánh, tỉnh thanh hoá

120 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lịch sử văn hoá vùng đất Lang Chính, tỉnh Thanh Hóa
Tác giả Đặng Thị Lan
Người hướng dẫn PGS.TS. Mai Văn Tùng, PGS.TS. Hoàng Thanh Hải
Trường học Trường Đại học Hồng Đức
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thanh Hóa
Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 3,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô trong khoa Khoa học xã hội, trường Đại học Hồng Đức; Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và các đồng chí lãnh đạo huyện Lang Chánh; Cảm ơn

Trang 3

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND TỈNH THANH HÓA

Người hướng dẫn khoa học:

CB hướng dẫn 1: PGS.TS Mai Văn Tùng

CB hướng dẫn 2: PGS.TS Hoàng Thanh Hải

THANH HÓA, NĂM 2022

Trang 4

Danh sách Hội đồng chấm luận văn Thạc sỹ khoa học

(Theo Quyết định số : / QĐ- ĐHHĐ ngày tháng năm 2022

của Hiệu trưởng Trường Đại học Hồng Đức)

Học hàm, học vị

Họ và tên Cơ quan Công tác

Chức danh trong Hội đồng

Chủ tịch HĐ

UV Phản biện 1

UV Phản biện 2

Uỷ viên Thư ký

Xác nhận của Người hướng dẫn

Học viên đã chỉnh sửa theo ý kiến của Hội đồng

Ngày tháng năm 2022

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này không trùng lặp với các khóa luận, luận văn, luận án và các công trình nghiên cứu đã công bố

Thanh Hoá, ngày tháng 9 năm 2022

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy: PGS.TS Mai Văn Tùng,

PGS.TS Hoàng Thanh Hải, những người hướng dẫn tôi trong quá trình triển

khai đề tài nghiên cứu và hoàn thành Luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô trong khoa Khoa học xã hội,

trường Đại học Hồng Đức; Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân

và các đồng chí lãnh đạo huyện Lang Chánh; Cảm ơn Chi cục Thống kê tỉnh

Thanh Hóa; Phòng thống kê huyện Lang Chánh; Sở Giáo dục và Đào tạo

Thanh Hóa; Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Lang Chánh; Thư viện tỉnh

Thanh Hóa; Thư viện huyện Lang Chánh … đã giúp tôi tư liệu để hoàn thành

Luận văn này

Cuối cùng xin được biết ơn gia đình, cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp,

người thân đã quan tâm, ủng hộ, động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học

tập và nghiên cứu để hoàn thành Luận văn

Thanh Hóa, ngày 07 tháng 9 năm 2022

Tác giả

Đặng Thị Lan

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN - 1 -

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

MỞ ĐẦU v

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Cơ sở lý luận, hướng tiếp cận, nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 5

6 Đóng góp của luận văn 7

7 Bố cục của luận văn 7

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ VÙNG ĐẤT LANG CHÁNH 8

1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 8

1.1.1 Vị trí địa lí 8

1.1.2 Điều kiện tự nhiên 9

1.2 Quá trình hình thành vùng đất Lang Chánh 25

1.2.1 Quá trình hình thành làng, bản 26

1.2.2 Quá trình hình thành tộc người 27

1.2.3 Dòng họ 28

1.3 Truyền thống lịch sử - văn hóa 29

Tiểu kết chương 1 35

Chương 2 DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ 36

2.1 Chùa Mèo 36

2.2 Thác Ma Hao 39

2.3 Các dấu tích của cuộc Khởi nghĩa Lam Sơn 41

2.3.1 Suối Lá (Huối Vớ) 41

2.3.2 Suối rượu (Huối láu) 41

Trang 8

2.3.3 Đền Lê Lợi 41

2.3.4 Núi Doanh Biều 42

2.4 Nhà ở truyền thống 42

2.5 Thực trạng và giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể 45

2.5.1 Thực trạng 45

2.5.2 Giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa vật thể 48

Tiểu kết chương 2 50

Chương 3 DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ 51

3 1 Phong tục - tập quán, tín ngưỡng - tôn giáo 51

3.1.1 Phong tục - tập quán 51

3.1.2 Tín ngưỡng - tôn giáo 56

3.1.3 Lễ hội truyền thống 57

3.2 Nghệ thuật, trò chơi dân gian và văn học dân gian 64

3.2.1 Nghệ thuật 64

3.2.2 Trò chơi dân gian 67

3.2.3 Văn học dân gian 69

3.3 Tri thức dân gian 71

3.3.1 Ẩm thực 71

3.3.2 Nghề thủ công 74

3.3.3 Y học dân gian 80

3.3 Thực trạng và giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể 83

3.3.1 Thực trạng 83

3.3.2 Giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể 86

Tiểu kết chương 3 88

KẾT LUẬN 89

TÀI LIỆU THAM KHẢO 92 PHỤ LỤC……… P1

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Lang Chánh là một trong những huyện miền núi của Thanh Hóa - nơi

mở ra cửa ngõ phía Tây của xứ Thanh với nước bạn Lào, xứ sở của tài nguyên với biểu trưng là “vua luồng” Đến với Lang Chánh, ta được hòa mình trong không gian hùng vĩ và thơ mộng của núi rừng; được thưởng thức kho tàng

văn hóa dân gian đặc sắc với những thiên sử thi nổi tiếng như Đẻ đất đẻ nước của người Mường, Ẳm ệt luông của người Thái được hình thành từ buổi

bình minh của lịch sử dân tộc; được thưởng thức kho tàng truyện thơ dân gian

và các bản tình ca như: Inh Lai, Nàng Ờm - chàng Bông Hương

Không những thế, Lang Chánh còn có vị trí rất quan trọng trong tiến trình lịch sử Việt Nam, từng được biết đến với vị thế là vùng đất cổ, một vùng đất giàu bản sắc văn hóa, có quá trình giao thoa, tiếp biến và hội nhập về văn hóa lâu đời giữa các tộc người, tiêu biểu như: người Thái, người Mường, người Kinh, đã tạo nên bức tranh văn hóa đa tộc người với những sắc thái

riêng biệt

Trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược của dân tộc, nhất là trong cuộc Khởi nghĩa Lam Sơn (1418 - 1427), đất và người Lang Chánh vô cùng

tự hào, vì đã có những đóng góp cực kỳ to lớn khi mà vùng rừng núi Pù Rinh

- Linh Sơn đã trở thành căn cứ địa quan trọng thứ hai của cuộc khởi nghĩa, nơi nghĩa quân Lam Sơn 3 lần rút quân lên để bảo toàn và củng cố lực lượng, góp phần vào thắng lợi vĩ đại cuối cùng của cuộc khởi nghĩa Vì vậy, mỗi ngọn núi, dòng sông, con suối, bản làng của Lang Chánh vẫn còn in đậm dấu chân hùng dũng của nghĩa quân Lam Sơn trong những ngày tháng gian khổ, hào hùng Nhiều địa danh gắn liền với người anh hùng dân tộc Lê Lợi, nhiều

sự tích, truyền thuyết dân gian vẫn còn lưu giữ, trao truyền đến thế hệ hôm nay Đặc biệt, 3 cụm di tích - danh thắng có liên quan tới anh hùng dân tộc Lê

Trang 11

Lợi và nghĩa quân Lam Sơn, đã được xếp hạng di tích - danh thắng cấp tỉnh,

đó là Thác Ma Hao - bản Năng Cát, Chùa Mèo và thác Hón Lối

Nhân dân Lang Chánh luôn ý thức đầy đủ, sâu sắc về những di sản lịch

sử - văn hóa vô giá, đã và đang trở thành nguồn lực quan trọng, góp phần phát

triển kinh tế - xã hội của địa phương trong giai đoạn hiện nay

Tiếp nối truyền thống anh hùng của dân tộc, nhân dân Lang Chánh đã đồng lòng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng và đã làm nên nhiều kỳ tích rất đáng tự hào Những đổi thay kỳ diệu trên tất cả các lĩnh vực của đất và người Lang Chánh, đặc biệt là trong hơn một phần tư thế kỷ qua kể từ khi Đảng ta khởi xướng sự nghiệp đổi mới Tiếp nối truyền thống dựng làng, dựng bản của cha ông xưa, nhiều tiềm năng đã được nhân dân các dân tộc Lang Chánh bằng lao động sáng tạo và khí phách quật cường đang được khơi nguồn Trên vùng đất Lang Chánh hôm nay, tiềm

năng tài nguyên thiên nhiên và con người đang cần phát huy hơn lúc nào hết

Với những lí do trên, tôi chọn đề tài: Lịch sử văn hóa vùng đất Lang

Chánh, tỉnh Thanh Hóa để làm luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Lịch sử Việt

Nam, hi vọng sẽ đóng góp một phần nhỏ vào việc tìm hiểu Lịch sử, văn hóa

địa phương của miền quê vùng cao mình đang sinh sống và làm việc

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Vùng đất Lang Chánh có núi, có sông tạo cho cảnh quan nơi đây như một bức tranh thủy mặc “sơn thủy hữu tình” Trong quá trình hình thành và phát triển, con người nơi đây đã sản sinh nhiều giá trị văn hóa vật chất và tinh thần góp phần tạo nên sắc thái, diện mạo riêng cũng như sự phong phú và đa dạng cho văn hóa xứ Thanh Do vậy, việc nghiên cứu một cách toàn diện lịch

sử văn hóa vùng đất Lang Chánh là vấn đề lớn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng

Ngay từ thời kỳ phong kiến, đã có một số công trình biên niên sử và địa chí, địa phương chí ghi chép về lịch sử, văn hóa Thanh Hóa nói chung, Lang

Chánh nói riêng tiêu biểu như: Lịch triều hiến chương loại chí (1962) của Phan Huy Chú [15]; Đại Nam nhất thống chí, tập 1 (2006) [35]; Đại Nam

thực lục [36]; Lam Sơn thực lục (1976) [48] Có thể nói đây là những công

Trang 12

trình chính sử, bách khoa thư được biên soạn sớm nhất đề cập đến vùng đất Thanh Hóa, trong đó có vùng đất Lang Chánh

Thời kỳ Pháp thuộc, có một số công trình của người Pháp nghiên cứu

về lịch sử văn hóa vùng đất Lang Chánh được xuất bản như: Notes sur les Tay

Deng de Lang Chanh (Thanh Hoa - An nam) (1941) của R.Robert [38]; Báo cáo khoa học số 1, nhận xét về người Tày Đèng ở Lang Chánh (Thanh Hóa)

(1942) của R.Rôbert [39]

Ngoài ra, lịch sử văn hóa vùng đất Lang Chánh còn được đề cập ít

nhiều trong hàng loạt các tài liệu như: Tìm hiểu về các dòng họ người Thái

Thanh Hóa (2002) của Hà Nam Ninh [29]; Văn hóa ẩm thực Mường, (2002)

của Hoàng Anh Nhân [30]; Tiếp cận văn hóa bản Thái xứ Thanh, (2001) của Vương Anh [5]; Vùng luồng thao thức (1998) của Vương Anh [6]; Lịch sử

Đảng bộ huyện Lang Chánh (1949 - 2004) (2005) [9]; Đảng bộ và phong trào cách mạng huyện Lang Chánh (1945 - 1990) (1991) [10]; Về Lang Chánh

(1990) của Ủy ban nhân dân huyện Lang Chánh [50]; Văn hóa truyền thống

Lang Chánh, quyển 1 (1994) của Vương Anh [4]

Đặc biệt, đề cập toàn diện nhất về vùng đất Lang Chánh phải kể đến

công trình: Địa chí huyện Lang Chánh (2009) [22] Với dung lượng 831

trang, gồm 6 phần: Phần thứ nhất; Địa lí tự nhiên; phần thứ hai: Địa lí hành chính và dân cư - dân tộc; phần thứ ba: Hệ thống chính trị, công tác quốc phòng - an ninh; phần thứ tư: Lịch sử - truyền thống xây dựng và bảo vệ quê hương đất nước; phần thứ năm: Kinh tế; phần thứ sáu: Văn hóa - xã hội Theo phương pháp đa ngành, công trình được xem là một bách khoa thư về vùng đất và con người Lang Chánh Đây là cơ sở để tác giả luận văn tìm kiếm, kế thừa những thông tin cơ bản về điều kiện tự nhiên, con người, lịch sử, kinh tế

và văn hóa của vùng đất này

Các tài liệu trên về cơ bản đã cung cấp những tư liệu một cách khái quát lịch sử và văn hóa vùng đất Lang Chánh cũng như chuyển biến về kinh

tế, địa giới hành chính, tình hình dân cư Đây cũng là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị của đề tài luận văn Nhìn chung, các nguồn tư liệu trên rất có

Trang 13

độ khác nhau trong quá trình thực hiện luận văn này Đồng thời, nhận thức được những hạn chế của các nghiên cứu và những vấn đề khoa học đang đặt

ra giúp tác giả xác định rõ hơn mục tiêu và nhiệm vụ cần giải quyết

Tuy nhiên, từ tổng quan tình hình nghiên cứu cho thấy rằng, các nguồn tài liệu trên cũng chỉ mới nghiên cứu điểm xuyết vùng đất Lang Chánh ở một khía cạnh hay một vấn đề nào đó Chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu về lịch sử văn hóa vùng đất này Vì vậy, việc tập trung nghiên cứu có hệ thống và toàn diện lịch sử văn hóa vùng đất Lang Chánh là hết sức cần thiết, vừa có ý nghĩa khoa học vừa có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Đề tài nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển và tổng thể giá trị di sản vật thể và phi vật thể của vùng đất Lang Chánh Trên cơ sở đó dựng lại diện mạo lịch sử văn hóa, đồng thời đánh giá thực trạng di sản văn hóa vùng đất Lang Chánh và đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị

- Nghiên cứu về lịch sử văn hóa vùng đất Lang Chánh để nhận biết được mối liên hệ giữa vùng đất Lang Chánh với các vùng đất khác Từ đó, có thể nhận thức được vai trò cũng như vị thế của vùng đất này trong dòng chảy lịch sử văn hóa xứ Thanh nói chung

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trang 14

5.2 Hướng tiếp cận của luận văn

Để đảm bảo tính khách quan, khoa học, luận văn kết hợp hướng tiếp cận lịch sử, hệ thống và liên ngành

- Hướng tiếp cận lịch sử

Nghiên cứu về vùng đất Lang Chánh, đề tài chủ yếu nghiên cứu theo hướng tiếp cận lịch sử Với hướng tiếp cận này, tác giả luận văn căn cứ vào các tư liệu thư tịch, kế thừa các công trình nghiên cứu trước đây, với những tư liệu nghiên cứu điền dã, nhất là các tài liệu nghiên cứu về vùng đất Lang Chánh Trên cơ sở phân tích, hệ thống, đề tài tập trung làm sáng tỏ lịch sử văn hóa vùng đất Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa

- Hướng tiếp cận liên ngành

Để nhận diện một cách tổng quan, chính xác và khách quan về lịch sử văn hóa vùng đất Lang Chánh cần phải tiếp cận theo hướng liên ngành (lịch

sử, nhân học, xã hội học, văn hóa học, kinh tế học, ) Hướng tiếp cận này sẽ đặt vùng đất Lang Chánh trong mối tương tác, quan hệ đa chiều với địa lý - tự

Trang 15

chính là hướng tiếp cận liên ngành trong nghiên cứu khu vực học (area studies), nhằm phát huy được thế mạnh của từng ngành khoa học trong việc khảo cứu, phân tích, đánh giá chuẩn xác, khách quan về quá trình hình thành

và phát triển của vùng đất Lang Chánh

- Hướng tiếp cận hệ thống

Với cách tiếp cận hệ thống, nghiên cứu về vùng đất Lang Chánh được đặt trong tổng thể các vấn đề kinh tế - chính trị, văn hóa - xã hội, hành chính - dân cư… Cách tiếp cận này sẽ cho thấy được rõ nét diện mạo vùng đất Lang Chánh trong tiến trình lịch sử dân tộc

5.3 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

5.3.1 Nguồn tài liệu

- Nguồn tài liệu thành văn

Các tài liệu thành văn liên quan đến đề tài chủ yếu là chữ Quốc ngữ, một số tài liệu bằng chữ Hán trên văn bia và chuông, một số tài liệu Pháp ngữ

- Nguồn tài liệu vật chất

Bao gồm các bia kí, di tích kiến trúc cổ hiện tồn tại trên vùng đất Lang Chánh như đền, chùa,

- Nguồn tài liệu văn hóa dân gian

Chủ yếu là phong tục, tập quán, lễ hội, lễ tục, truyền thuyết, chuyện kể dân gian, kho tàng ca dao và tục ngữ của vùng đất Lang Chánh

- Nguồn tài liệu điền dã

Đây là nguồn tài liệu nghiên cứu trực tiếp của tác giả trên địa bàn nghiên cứu Tác giả đã thu thập, sưu tầm, thẩm định, xác minh tài liệu liên quan đến nội dung đề tài Cụ thể là các nguồn tài liệu liên quan đến cảnh quan môi trường tự nhiên, tài liệu di tích lịch sử văn hóa, lễ hội Nhìn chung, đây

là nguồn tài liệu thực chứng rất quan trọng của đề tài

5.3.2 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, trong đó chủ yếu là phương pháp luận sử học Mác xít cùng với tinh thần của chủ nghĩa Mác - Lê nin và quan điểm đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh

Trang 16

Bên cạnh đó là sử dụng trực tiếp các phương pháp nghiên cứu liên ngành Đó là tiếp cận vùng đất Lang Chánh từ kết quả nghiên cứu liên ngành như: lịch sử, khảo cổ học, dân tộc học, xã hội học, địa lý học, văn hóa học

Phương pháp nghiên cứu định tính thông qua nghiên cứu hồi cố Nội dung nghiên cứu là các khía cạnh của đời sống văn hóa như: Phong tục tập quán, lễ hội, quan hệ ứng xử… của người dân Đối tượng phỏng vấn là người cao tuổi am hiểu về văn hóa địa phương, cán bộ đã và đang tham gia công tác Đảng và chính quyền, một số chủ hộ gia đình

Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, đối chiếu, điều tra, khảo sát thực địa… để xác nhận tính chân thực khách quan của các nguồn tư liệu liên quan đến đề tài

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn dựng lại bức tranh toàn diện và sinh động về một vùng đất Lang Chánh giàu truyền thống lịch sử văn hóa tiêu biểu của xứ Thanh

Luận văn còn cung cấp nguồn tài liệu tham khảo đáng tin cậy cho các công trình nghiên cứu về lịch sử văn hóa của địa phương Thông qua luận văn đất và người nơi đây được biết đến chân thực hơn Đây cũng là một cách nhằm quảng bá các điểm du lịch - văn hóa của vùng đất Lang Chánh nói riêng

và tỉnh Thanh Hóa nói chung với du khác trong nước và bạn bè quốc tế

Luận văn còn là tài liệu tham khảo có giá trị cho học sinh, sinh viên và các bạn hướng dẫn viên du lịch hiểu về đất và người cũng như các di tích, danh thắng cảnh trên địa bàn huyện Lang Chánh

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung luận văn gồm có 3 chương:

- Chương 1: Khái quát về vùng đất Lang Chánh

- Chương 2: Di sản văn hóa vật thể

- Chương 3: Di sản văn hóa phi vật thể

Trang 17

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ VÙNG ĐẤT LANG CHÁNH

1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

1.1.1 Vị trí địa lí

Huyện Lang Chánh nằm ở phía Tây của tỉnh Thanh Hóa Thị trấn Lang Chánh cách thành phố Thanh Hóa 101 km Lãnh thổ Lang Chánh có dạng gần như lá cờ tổ quốc gắn vào kinh tuyến 105000 Đ đang tung bay vẫy gọi tiến độ đầu tư sức người, trí tuệ, vốn và kỹ thuật - công nghệ từ các lãnh thổ phát triển khác đến khai thác tiềm năng của Lang Chánh nói riêng và miền Tây của tỉnh Thanh Hóa nói chung

Theo số liệu của Sở tài nguyên và môi trường Thanh Hóa, đến ngày 01/01/2020, diện tích tự nhiên của huyện Lang Chánh là 58,631 ha, chiếm 5,26% diện tích tự nhiên của tỉnh Thanh Hóa và là huyện có diện tích rộng thứ 8 của tỉnh Thanh Hóa, sau các huyện: Thường Xuân, Quan Hóa, Quan Sơn, Mường Lát, Như Xuân, Như Thanh và Bá Thước

Hiện nay, Lang Chánh có 9 xã và một thị trấn: Yên Khương, Yên Thắng, Lâm Phú, Tam Văn, Trí Nang, Giao An, Giao Thiện, Tân Phúc, Đồng Lương và thị trấn Lang Chánh Số lượng xã, thị trấn không nhiều nên có những thuận lợi cho việc quản lý, điều hành các hoạt động kinh tế - xã hội của

bộ máy hành chính của huyện

Vị trí địa lý của huyện Lang Chánh như sau:

Phía tây nam, Lang Chánh giáp huyện Sầm Tớ (tỉnh Hủa Phăn, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào) trên tuyến biên giới dài 7 km và chạy trên khu vực núi cao 1000 m

Phía tây và tây bắc giáp huyện Quan Sơn với đường địa giới cũng là đường chia nước giữa hệ thống sông Âm (tức sông Um) và hệ thống sông Lò

Phía bắc giáp huyện Bá Thước

Phía đông giáp huyện Ngọc Lặc với đường địa giới gần trùng với thung lũng sông Âm

Trang 18

Phía nam giáp huyện Thường Xuân với đường địa giới chạy trên đường chia nước giữa hệ thống sông Âm và hệ thống sông Khao [22; tr 246-256]

Với vị trí địa lý này, Lang Chánh có điều kiện giao lưu thuận lợi với các lãnh thổ khác thông qua quốc lộ 15A và đường Hồ Chí Minh Khoảng cách từ thị trấn Lang Chánh theo hướng đông nam tới đường Hồ Chí Minh khoảng 17 km Thông qua tuyến đường Hồ Chí Minh, huyện Lang Chánh có thể giao lưu thuận lợi với vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, với cảng biển và khu kinh tế tổng hợp Nghi Sơn và các vùng phát triển khác trong nước Theo quốc lộ 15A, Lang Chánh có thể giao lưu được với tỉnh Hòa Bình và các tỉnh Tây Bắc Thị trấn Lang Chánh chỉ cách quốc lộ 217 khoảng 25 km về phía bắc theo quốc lộ 15A và 30 km theo tuyến đường thị trấn Lang Chánh - Lâm Phú - Trung Hạ (huyện Quan Sơn) Nhờ vậy Lang Chánh còn có thể giao lưu với nước bạn Lào và các huyện phía bắc và phía tây Thanh Hóa Các tuyến đường trên cũng cho phép huyện giao lưu thuận lợi với các địa phương khác trong tỉnh

Vị trí địa lý như trên cũng tạo cho vùng đất Lang Chánh trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc trở thành điểm hẹn của các dòng người từ nhiều lãnh thổ khác di cư đến, mang theo những sắc thái văn hóa, những kinh nghiệm sản xuất đa dạng hội tụ về đây khai phá, lập nghiệp, sinh sống và cùng hòa nhập, giao lưu

1.1.2 Điều kiện tự nhiên

1.1.2.1 Địa hình

Địa hình tạo nên nét độc đáo của Lang Chánh và ngày nay, nó đang mở

ra nhiều cơ hội để huyện Lang Chánh khai thác những tiềm năng, lợi thế để

phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội của huyện

Bề mặt địa hình là nơi gặp gỡ, tiếp xúc của các hợp phần tự nhiên, vì thế sự phân hoá của địa hình là nguyên nhân làm cho tự nhiên phân hóa phức tạp theo lãnh thổ Bề mặt địa hình cũng là nơi diễn ra hầu hết các hoạt động

Trang 19

khác biệt theo lãnh thổ của nó có tác động rất quan trọng đối với việc phát triển và phân bố các hoạt động kinh tế - xã hội của huyện Lang Chánh

Mặc dù lãnh thổ không lớn lắm, nhưng Lang Chánh cũng có bốn khu vực địa hình với những đặc điểm khác nhau:

- Khu vực đồi thấp phía đông nam

Khu vực này phân bố ở các xã: Đồng Lương, phần đông của các xã Giao An, Giao Thiện, đông nam xã Tân Phúc và đông bắc xã Trí Nang Địa hình của khu vực này bao gồm các dạng đồi thấp bào mòn - xâm thực hình thành tại khu vực tân kiến tạo nâng lên yếu, xen các thung lũng xâm thực - bồi tụ tương đối rộng, đôi chỗ bị đầm lầy hóa cục bộ Từ đông sang tây, trong nền địa chất ta gặp tập nham cuội kết, cát kết có cấu trúc như một nền kiến tạo nằm giữa đới phức nếp lồi sông Mã và đới võng chồng Sầm Nưa Tuổi của chúng là T2a (Triat trung Anzini) Tiếp theo về phía tây là tập nham cát kết, bột kết, phiến xerixit màu đen, cát kết quăczit có tuổi Si lua thượng - Đề vôn hạ [22; tr 32-34]

Độ cao tuyệt đối trung bình của khu vực này đạt 100 - 200 m Mật độ chia cắt sâu 100 - 150 m và mật độ chia cắt dày dao động trong khoảng 0,7 - 1,1 km/km2 Trắc diện phổ biến của địa hình khu vực này là đỉnh tròn, sườn thoải, thung lũng rộng, đôi chỗ bị ngập nước, thậm chí bị lầy hóa Các quá trình địa mạo chủ yếu là xói mòn, rửa trôi, bào mòn - xâm thực Khu vực này

ít gây trở ngại cho các hoạt động cư trú, lâm nghiệp, giao thông và nông nghiệp

- Khu vực đồi cao chân núi Pù Rinh

Phân bố ở phần trung và hạ du của lưu vực sông Cảy, sông Sạo và nằm trong khu vực nửa tây nam của xã Giao An, đông bắc xã Trí Nang và phần phía tây của xã Giao Thiện, Giao An

Địa hình ở đây thấp dần từ tây xuống thung lũng sông Âm Độ cao trung bình 400 - 470 m Mật độ chia cắt sâu là 300 - 350 m Mật độ chia cắt dày là 1,2 km/km2 Đặc điểm nổi bật của địa hình ở đây là sự lặp lại nhiều lần

Trang 20

của dạng địa hình đồi cao bào mòn - xâm thực và các thung lũng xâm thực - bồi tụ Nền địa chất của nó bao gồm các đá macma, có tuổi Triat nằm ở phía tây, phần còn lại là tập nham cát kết, cuội kết tuổi T2a (Triat trung Anzini) Các quá trình địa mạo chủ yếu là bào mòn, xâm thực, mương xói, khe rãnh, rửa xói, rửa trôi, đôi chỗ là quá trình caxtơ và các quá trình trượt đất, lũ quét,

lũ bùn đá

Khu vực này chủ yếu dành cho hoạt động lâm nghiệp, du lịch Tại các bồn địa (chẳng hạn bồn địa bản Năng Cát - xã Trí Nang) hay các thung lũng sông Cảy, sông Âm, sông Sạo có thể tiến hành trồng lúa nước, ngô, sắn và các cây ăn quả

- Khu vực núi thấp Pù Rinh

Khu vực núi thấp này bao gồm xã Yên Khương, Yên Thắng, phần tây nam của xã Tam Văn, phần tây của xã Trí Nang, Giao An và phần cực tây bắc của xã Giao Thiện, Giao An

Đặc điểm nổi bật của địa hình ở đây là có hàng loạt đỉnh núi cao trên

1000 m: Pù Rinh (A) cao 1291 m, Pù Rinh (B) cao 1180 m và Pù Rinh (C) cao 1183 m và chính các đỉnh núi cao này đã tạo nên “nóc nhà” của Lang Chánh Các đỉnh này là những đỉnh nhô của khối mac ma Pù Rinh và Trí Nang được cấu tạo bởi granođiôrit, granit biôtit có amfibon và granit granôfia Khối này xuyên qua khối đá mafit khối Trí Nang ở phía đông bắc và xuyên qua lớp trầm tích núi lửa T2a ở phía nam Phần còn lại thống trị kiểu địa hình núi thấp uốn nếp khối tảng thung lũng hẹp, hình thành tại khu vực tân kiến tạo nâng lên trung bình Chúng bị quá trình xâm thực - bào mòn, trượt đất hạ thấp

độ cao Tại đây còn có dạng địa hình thung lũng xâm thực - bồi tụ nhỏ hẹp Đường nối các đỉnh núi Bản Mang (tây nam Yên Thắng) tới đỉnh Pù Rinh và bản thân dãy Pù Rinh chính là đường phân thuỷ của lưu vực sông Âm (sông Um) và sông Khao Mật độ chia cắt sâu là 600 - 700 m và mật độ chia cắt dày

là 1,1 km/km2 Hầu hết các thung lũng ở đây đều có dạng chữ V, trắc diện

Trang 21

có nhiều thác ghềnh mà điển hình là thác Ma Hao (nghĩa là thác Chó Ngáp) ở

có nguồn gốc xứ lạnh

- Khu vực núi thấp phía Tây bắc

Khu vực này phân bố ở phía Tây bắc của huyện, trên lãnh thổ của các

xã Lâm Phú, Yên Khương, Yên Thắng Phía đông bắc là tuyến đường 217, phía tây nam là biên giới Việt - Lào còn phía nam là khu vực núi thấp Pù Rinh Đường chia nước giữa lưu vực sông Âm (sông Um) và lưu vực sông Lò (Nậm Niệm) nằm ở vị trí trung tâm của vùng và chạy theo hướng tây nam - đông bắc

Khu vực này ít có những đỉnh núi cao trên 1000m, như khu vực núi thấp Pù Rinh, nhưng độ cao trung bình của nó cũng tới 700 - 800 m

Địa hình ở đây thuộc kiểu địa hình núi thấp uốn nếp khối tảng được hình thành tại khu vực tân kiến tạo nâng lên trung bình, với tập hợp các dạng địa hình thấp xâm thực - bào mòn, bị chia cắt mạnh bởi các thung lũng hẹp xâm thực

- tích tụ Đôi nơi còn gặp các gấu lũ tích, nón phóng vật liệu, gấu trượt đất ơng xói và khe rãnh phát triển ở những chỗ rừng bị tàn phá mạnh

Mư-Khu vực này chủ yếu dành cho hoạt động lâm nghiệp Hoạt động nông nghiệp nên tiến hành ở các thung lũng, những bề mặt có độ dốc thấp (dưới 150)

1.1.2.2 Địa chất

Theo sách Địa chất Việt nam, phần miền Bắc: Lãnh thổ Lang Chánh

hiện nay có các hệ tầng địa chất sau đây: Hệ tầng sông Cả, Thống Triat trung Anizi Hệ tầng T2a (Triat trung Anizi)

Trang 22

Trên bình đồ địa chất - kiến tạo, Thanh Hoá là một bộ phận của đới phức nếp lồi sông Mã và đới võng chồng Sầm Nưa Ranh giới của đới võng chồng Sầm Nưa và đới phức nếp lồi sông Mã là đứt gãy Điện Biên - Núi Nưa Các đơn vị cấu trúc trên đây lại là một bộ phận của vùng biển cổ Tetit - một vùng biển cổ nằm giữa lục địa cổ Âu - Á ở phía bắc và lục địa Gôn va na ở phía nam Quá trình phát triển lâu dài qua nhiều giai đoạn khác nhau của mỗi đới kiến tạo trên đây là nguyên nhân cơ bản hình thành những đặc điểm của lãnh thổ Thanh Hóa và Lang Chánh ngày nay [22; tr 87-88]

Trên bình đồ kiến tạo này, lãnh thổ Lang Chánh phần lớn nằm ở đới võng chồng Sầm Nưa, chỉ bộ phận phía bắc sông Âm (đoạn từ bản Lót đến thị trấn Lang Chánh) là nằm ở rìa đới phức nếp lồi sông Mã Thung lũng sông

Âm (sông Um) cũng chạy trên một đứt gãy cục bộ xuất phát từ đất Lào

1.1.2.3 Khoáng sản

Với cấu trúc địa chất - kiến tạo tương đối phức tạp, chắc chắn lòng đất Lang Chánh sẽ có nhiều khoáng sản Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có điều kiện để thăm dò được hết Những nghiên cứu ban đầucho thấy Lang Chánh

có một số khoáng sản sau đây:

- Đất sét dùng để sản xuất gạch chịu lửa ở bản En (xã Trí Nang) và một

số địa điểm khác

- Đồng ở xã Trí Nang và Na Cóc (xã Lâm Phú)

- Vàng sa khoáng có ở các xã Trí Nang, Yên Thắng, Lâm Phú

- Đá granit ở dãy núi Pù Rinh Đây là loại đá có độ bóng cao, độ liên kết bền vững và có trữ lượng rất lớn cho phép khai thác được trong thời gian dài Một trong số các mỏ granit đã được nghiên cứu - luận chứng kinh tế - kỹ thuật để khai thác phân bố trên diện tích khoảng 0,5 km2 với trữ lượng khoảng 660.000 m3 [22; tr 90-92]

- Đá vôi làm xi măng, vật liệu xây dựng, làm đá trang trí có ở một số

nơi trong huyện

1.1.2.4 Khí hậu

Do sự tác động của các nhân tố về vị trí địa lý, quy mô lãnh thổ, hoàn

Trang 23

và độ cao địa hình mà Lang Chánh có khí hậu nhiệt đới gió mùa với mùa đông lạnh ít mưa có sương giá, sương muối, mùa hè nóng, mưa nhiều, có gió

Số giờ nắng là 1660 - 1760 giờ và ít thay đổi theo khu vực trong huyện, nhưng lại thay đổi nhiều theo mùa: cao nhất vào tháng 7 (240 giờ), sau đó là tháng 6 (200 giờ) và ít nhất là vào tháng 2, 3 (chỉ khoảng 50 giờ)

Tổng lượng bức xạ hàng năm 100 - 120 kcal/cm2, ít biến đổi theo khu vực khác nhau của lãnh thổ, nhưng lại thay đổi nhiều theo mùa Tháng 5 có tổng xạ cao nhất (trên 12,5 kcal/cm2) và thấp nhất là các tháng 1, 2 (chỉ 6 kcal/cm2)

Cân bằng bức xạ trung bình năm là 65 - 80kcal/cm2 Sự khác biệt cân bằng bức xạ giữa các tháng rất lớn: Ví dụ tháng cao nhất đạt 9,52 kcal/cm2(tháng 5) và tháng thấp nhất chỉ đạt 2,71kcal/cm2 (tháng 1)

- Chế độ gió

Các hệ thống gió mùa tác động quanh năm tới lãnh thổ này, vào mùa đông hướng gió có thành phần thiên bắc và thiên đông chiếm ưu thế, các thành phần gió có hướng tây và nam có tần xuất rất nhỏ Các trường hợp lặng gió có tần xuất 31% Vào mùa hè, gió có thành phần nam chiếm ưu thế Tốc

độ gió trung bình năm và trung bình tháng chỉ dao động 1 - 2 m/giây và ít có

sự khác biệt giữa các tháng trong năm Tốc độ gió giảm dần từ đông nam lên tây bắc Chẳng hạn vào tháng 10 và tháng 11 tốc độ gió trung bình là 1,3 m/giây Tuy nhiên tốc độ gió cực đại ở vùng này có thể đạt tới 40 m/giây và thuộc thành phần gió thiên đông vào thời kỳ có nhiều bão và hướng gió phức tạp trong các cơn dông, lốc, xoáy [2; tr 23-25]

Trang 24

- Nhiệt độ không khí

Nhiệt độ không khí trung bình năm giao động trong khoảng 22 - 230 C

Sự khác nhau về nhiệt độ không khí giữa các vùng không lớn, trừ vùng núi cao, nhưng lại rất khác nhau theo mùa và các tháng trong năm

Vào mùa nóng (từ tháng 3 đến tháng 11), nhiệt độ đều cao hơn 200 C,

ba tháng nóng nhất là các tháng 6, tháng 7, tháng 8 đều trên 270 C, nhiệt độ trung bình tháng 7 là 27,60 C Nhiệt độ tối cao tuyệt đối ở các vùng trong lãnh thổ Lang Chánh đều giao động trong khoảng 39 - 400 C và tập trung vào tháng 5

Biên độ giao động năm của nhiệt độ là 6 - 80 C Biên độ giao động nhiệt ngày đêm cao nhất chưa tới 11,40 C vào tháng 5 và nhỏ nhất cũng chỉ đạt 4,30

Độ ẩm tuyệt đối của không khí trung bình năm là 25 mb, mùa khô là 16

21 mb và mùa mưa là 28 32 mb Độ ẩm tương đối trung bình năm là 85 87%, vào đầu thời kỳ khô hanh có thể xuống tới 45% Lượng bốc hơi trung bình năm là 640 - 900 mm Các tháng 5 tháng 6 và tháng 7 có lượng bốc hơi cao nhất và lượng bốc hơi thấp nhất là vào các tháng 1, tháng 2 và tháng 3 [13; tr 27-28]

-Những đặc điểm trên đây của khí hậu giúp cho Lang Chánh có thể tiến hành các hoạt động sản xuất và sinh hoạt quanh năm mà không bị gián đoạn

Trang 25

nền lâm nghiệp nhiệt đới, một nền nông nghiệp nhiệt đới với đặc điểm đa dạng cây trồng, vật nuôi, làm được nhiều vụ trong năm, thực hiện được các biện pháp xen canh, gối vụ, tăng vụ nhằm tăng năng suất và sản lượng trên một diện tích đất canh tác hạn chế ở một huyện miền núi cao Với số giờ năng lượng lớn, cho phép bà con có thể phơi nông, lâm sản, lắp đặt các thiết bị làm nước nóng phục vụ sinh hoạt, hay sản xuất nguồn năng lượng sạch (điện mặt trời) nhằm hạn chế sử dụng nguồn nhiên liệu từ rừng vốn đang có nguy cơ cạn kiệt và tài nguyên rừng còn có thể sử dụng nhiều các mục đích khác nhau

Tuy nhiên, nóng ẩm cao cũng làm cho sâu bệnh, dịch bệnh phát triển mạnh, nông sản khó bản quản sau khi thu hoạch Cường độ của những trận mưa nhiệt đới rất mạnh, kéo dài và tập trung thúc đẩy quá trình xói mòn, rửa trôi diễn ra rất mãnh liệt, thúc đẩy sự hình thành các trận lũ quét, lũ bùn đá, lũ ống gây thiệt hại lớn cho sinh hoạt và sản xuất Những ngày có nhiều sương

mù hạn chế tốc độ giao thông Dông tố lớn cũng gây ra nhiều thiệt hại về nhà cửa và hoa màu Mùa khô có thể gây tình trạng thiếu nước cho sản xuất và sinh hoạt, dễ gây nguy cơ cháy rừng

Bởi vậy, huyện Lang Chánh cần liên tục làm tốt công tác dự báo thời tiết, xây dựng lịch sản xuất, bối trí cơ cấu mùa vụ, cơ cấu cây trồng, vật nuôi hợp lý để tân dụng những yếu tố thuận lợi hạn chế bớt tác động tiêu cực của khí hậu

1.1.2.5 Đất đai - thổ nhưỡng

Lãnh thổ Lang Chánh có ba nhóm đá mẹ (thường gọi là đá gốc) là cơ

sở để hình thành lớp vỏ phong hóa và cùng với các nhân tố tự nhiên khác: khí hậu, sinh vật, thuỷ văn, địa hình để hình thành các loại đất khác nhau

- Nhóm đá mac ma: gồm đá gabro, granit, fooc phia rit phân bố ở khu vực các xã Trí Nang, Tam Văn, Giao An, Giao Thiện, Yên Khương và Đồng Lương

- Nhóm đá trầm tích: đá vôi, sa thạch, phiến thạch, sét phân bố ở khu vực các xã: Giao Thiện, Giao An, Yên Khương, Yên Thắng, Tân Phúc, Đồng Lương

Trang 26

- Nhóm đá biến chất có gnai, phiến thạch mica, phân bố ở khu vực xã Lâm Phú

Nhờ sự tác động tổng hợp của các nhân tố: đá mẹ, địa hình, khí hậu, sinh vật và cả sự tác động của con người mà Lang Chánh có nhiều loại đất khác nhau Theo nghiên cứu của Viện nông hóa thổ nhưỡng và Sở tài nguyên

và môi trường Thanh Hóa thì huyện Lang Chánh có 11 loại đất khác nhau và được phân thành ba nhóm: Đất phù sa ven sông, đất feralit đồi núi và đất mùn trên núi

- Nhóm đất phù sa ven sông: Tuy là huyện miền núi, nhưng dọc các

thung lũng sông Âm (sông Um), sông Cảy, sông Sạo còn có một diện tích nhỏ đất phù sa Đặc điểm của loại đất này là: tầng đất dày, thường xuyên được bổ sung một lớp phù sa vào mùa nước lũ, thành phần tầng đất không đồng nhất, phụ thuộc vào thời gian và lưu tốc của dòng chảy Đất này rất tốt cả về lý lẫn hoá tính Chúng rất thích hợp cho trồng lúa và rau màu Tuy nhiên cần chú ý

bố trí cơ cấu cây trồng tránh mùa lũ [13; tr 80-84]

- Nhóm đất feralit đồi núi: Nhóm đất này có 8 loại với đặc điểm của từng loại như sau:

+ Đất feralit màu nâu đỏ phát triển trên đá macma trung tính và bazơ phân bố ở khu vực các xã: Trí Nang, Tam Văn, Giao Thiện, Đồng Lương Loại đất này có đặc điểm tầng đất dày, đến vài mét, tỷ lệ sét cao (trên 50%) nên thành phần cơ giới nặng Tuy nhiên do cấu tượng tốt nên vẫn tơi xốp, thoáng khí Đất giàu các cation Ca++, Mg++, Fe+++, Al+++, đạm và lân tổng số cao, nghèo kali Nhưng lân dễ tiêu (P205) lại rất thấp, do lân thường kết hợp với Al và Fe ở dạng khó hoà tan: Al (PO4)3 và Fe (PO4)3

+ Đất nâu đỏ là loại đất tốt thích hợp cho việc trồng các cây công nghiệp lâu năm có rễ ăn sâu như cao su, chè, các cây lâm nghiệp Khi khai thác cần phải có các biện pháp bảo vệ cho đất như chống xói mòn, giữ ẩm cho đất, bón lân, ka li và cả đạm nếu cần thiết

Trang 27

+ Đất feralit màu đỏ vàng phát triển trên đá sét phân bố ở các xã: Tân Phúc, Giao An Loại đất này phát triển trên đá mẹ giàu sét (đá phiến sét) nên thành phần cơ giới nặng, kém tơi xốp Đất có độ dày trung bình Phẫu diện đất phân tầng rất rõ Khi mất lớp phủ rừng, đất rất dễ bị rửa trôi và bào mòn trong mùa mưa, do đó nếu không có biện pháp bảo vệ, đất sẽ bị nghèo đi nhanh chóng

+ Đất feralit màu đỏ vàng phát triển trên đá biến chất, phân bố ở khu vực xã Lâm Phú Loại đất này phát triển trên đá biến chất: gnai, philit, đá phiến mica nên độ dày khá hơn, có thể tới 2 m như trên đá phiến mica Về cơ bản tính chất của nó tương tự như đất feralit màu đỏ vàng phát triển trên đá phiến sét

+ Đất feralit đỏ vàng phát triển trên đá macma axit phân bố ở các xã Giao Thiện, xã Giao An, xã Yên Khương Địa hình đa macma axit thường có sườn dốc, đá lại giàu thạch anh khó phong hóa, nên tầng đất thường mỏng, thành phần cơ giới trung bình, lớp đất mặt thành phần cơ giới có thể nhẹ hơn

do rửa trôi Đất feralit trên đá macma axit thường nghèo mùn, lân và có phản ứng chua Do những đặc tính này mà đất dễ bị thoái hóa nhanh chóng Loại đất này bị xói mòn nghiêm trọng nên cần phải có các biện pháp bảo vệ

+ Đất feralit màu vàng nhạt phát triển trên đá cát phân bố ở các xã: Yên Khương, Yên Thắng Các đá cát (cát kết, quaczit, đá phiến silic) có tỷ lệ silic cao hơn đá macma axit, nên càng khó phong hóa hơn, tầng đất rất mỏng, thành phần cơ giới từ cát đến cát pha Đất bị rửa trôi mạnh, nên chua, nghèo,

và thường dễ khô hạn Đối với loại đất này cần đặc biệt chú ý các biện pháp bảo vệ và cung cấp nước, giữ ẩm

+ Đất feralit đỏ vàng biến đổi do trồng lúa, phân bố ở xã Lâm Phú và một số khu vực ven sông có độ dốc thấp - nhất là những nơi đã được nhân dân xây dựng hệ thống ruộng bậc thang Đây là loại đất được hình thành từ nguồn gốc ban đầu là các loại đất feralit khác nhau nhưng được sử dụng vào trồng lúa nước, cho nên thành phần đất đã thay đổi so với các loại đất feralit ban

Trang 28

đầu Nhìn chung, chúng đều ẩm, đôi chỗ có tầng đá ong với độ dày, mỏng khác nhau, trên cùng có tầng canh tác (dày 15 - 30 cm) và xuất hiện tầng đế cày

+ Đất đốc tụ ven đồi núi: Loại đất này thường phân bố tại các vùng thấp ngay chân núi, chân đồi nên thành phần của nó gần gũi với thành phần của các sườn dưới, sườn giữa và xa hơn là sườn trên của các quả đồi, núi ngay trên đó Tầng đất dày, thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến thịt nặng, đất chua, nghèo chất dinh dưỡng, hiện đang được sử dụng để trồng lúa, màu và cây công nghiệp hàng năm

+ Đất feralit xói mòn trơ sỏi đá: phân bố trên địa bàn rất rộng rãi ở nhiều vùng trên nhiều loại đá khác nhau Đặc điểm là tầng đất mỏng, nhiều nơi trơ sỏi đá Thành phần cơ giới lớp đất mặt từ thịt nhẹ đến cát pha, màu sắc lớp đất từ xám nâu đến xám sáng, thoát nước tốt, giữ nước kém, đất chua (do các ion kiềm thổ bị rửa trôi mạnh) rất nghèo mùn, nghèo chất dinh dưỡng tổng số và chất dễ tiêu Cây trồng chủ yếu là có thể các cây gỗ ưa điều kiện khô hạn [8; tr 98-102]

Trang 29

nhiên thường phát triển mạnh, đất được che phủ, ít bị rửa trôi, xói mòn, tầng mùn khá dày, màu sắc đỏ sẫm hay đỏ nâu, tầng đất dày, thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến thịt nặng, đất xốp, giữ ẩm tốt, các chất dinh dưỡng tổng số

và chất dễ tiêu đều giàu Cây trồng chủ yếu là cây lâm nghiệp, rừng gỗ, rừng tre nứa, hỗn giao, luồng Loại đất này chỉ nên sử dụng vào mục đích nông nghiệp ở mức độ hạn chế Nếu những khu vực độ dốc thấp có thể khai thác để trồng dược liệu, rau, quả có gốc xứ lạnh [13; tr 103-106]

1.1.2.6 Tài nguyên nước và hệ thống sông ngòi

Cân bằng nước của lãnh thổ Lang Chánh như sau:

- Tổng lượng nước mưa rơi xuống trung bình năm là 1,239 tỷ m3

- Tổng lượng nước bốc hơi trung bình năm là 0,478 tỷ m3.

- Tổng lượng nước sinh ra dòng chảy ngầm: 0,220 tỷ m3

- Tổng lượng nước sinh ra dòng chảy mặt: 0,542 tỷ m3

Hàng năm hệ thống sông của Lang Chánh vận chuyển trên 0,662 tỷ m3nước Gần toàn bộ là nguồn nước trên đều được sinh ra trên lãnh thổ Lang Chánh

Độ sâu lớp dòng chảy là 1290 mm, Modul dòng chảy mặt trung bình là 40,9 lit/giây/km2, lớn nhất tỉnh Chất lượng nước mặt khá tốt

Modul dòng chảy ngầm biến thiên từ 2l/s/km2 đến 20l/s/km2 Nhìn chung chất lượng nước ngầm tốt, hầu như chưa bị ô nhiễm

Nhờ lượng mưa khá lớn nên Lang Chánh có mạng lới sông suối khá dày đặc Tổng chiều dài của 3 sông chính và các nhánh của chúng gần 600

km Mật độ lưới sông biến đổi từ 0,8 tới 1,4 km/km2, trung bình là 1,1 km/km2

Trang 30

Phần lớn các sông trên địa phận Lang Chánh đều ngắn, dốc với độ dốc biến thiên từ 5,4 - 23,7%, lòng hẹp nước chảy xiết, lắm ghềnh thác, mang tiềm năng thuỷ điện lớn Hệ thống sông Âm (sông Um) có thể cho công suất lí thuyết là 30.020 kw Bình quân trên 1 km chiều dài, sông Âm (sông Um) cho 3.578 kw [8; tr 11]

Sông có nhiều nước với độ sâu dòng chảy là 1290 mm, nước chảy quanh năm, nhưng lượng nước thay đổi theo mùa Mùa kiệt nước từ tháng 12 đến đầu tháng 5 năm sau chỉ chiếm 20 - 30% tổng lượng nước, mùa lũ từ tháng 6 đến tháng 11 chiếm tới 70 - 80% tổng lượng nước và đến chậm so với sông Mã từ nửa tháng đến 1 tháng Các hệ thống sông ở Lang Chánh hàng năm vận chuyển ra biển 0,2 triệu tấn phù sa (mo đul xâm thực là 18,4 tấn/km2.) cùng nhiều phù du sinh vật và các chất khoáng hoà tan trong nước

Đáng chú ý là mạng lưới sông suối của Lang Chánh (nhất là suối nhỏ không có giá trị giao thông) đã được nhân dân xây các đập dâng nước để lấy nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt Hiện nay toàn huyện có 49 đập dâng nước,

dự kiến từ nay đến năm 2025 sẽ xây dựng thêm 18 đập dâng nước mới nữa [47]

Cả ba hệ thống sông chính trên có vị trí đặc biệt quan trọng đối với cư dân trên địa bàn Lang Chánh trong các thời kỳ lịch sử Các dòng sông này không chỉ cung cấp nguồn thủy sản phong phú mà còn cung cấp nguồn nước quan trọng cho sản xuất nông nghiệp Người Thái và người Mường ở khu vực này đã sớm biết vận dụng nguồn nước dồi dào ở những hệ thống sông này làm thủy lợi canh tác lúa nước, khai thác triệt để những bãi phù sa được bồi đắp hàng năm của các dòng sông này để canh tác các loại hoa màu, trồng dâu nuôi tằm, trồng bông dệt vải đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của đồng bào

Hồ tự nhiên: Lang Chánh rất hiếm hồ tự nhiên Tại bản Chiềng Ngày,

xã Lâm Phú có hồ Noóng Dạ, quanh năm có nước một màu xanh ngọc

Hồ nhân tạo: Toàn huyện hiện có 4 hồ loại nhỏ và loại vừa cung cấp

nước tưới cho 41,5 ha [8; tr 14]

Trang 31

Nguồn nước ngầm của Lang Chánh khá phong phú Tổng lượng dòng chảy ngầm khoảng 0,22 tỷ m3 Nước ngầm chủ yếu nằm trong lớp vỏ phong hóa và trầm tích lục địa rời bở Đệ tứ tại các thung lũng hay bồn địa Hiện nay nước ngầm chủ yếu được nhân dân khai thác để phục vụ nhu cầu sinh hoạt

Nhìn tổng quan, sông ngòi của Lang Chánh có giá trị nhiều mặt, cung cấp nước sạch cho các ngành sản xuất và sinh hoạt của nhân dân, tạo khả năng sản xuất nguồn năng lượng thuỷ điện Đồng bào các dân tộc ở Lang Chánh còn sử dụng năng lượng nước để giã gạo Sông Âm (sông Um) còn là con đường vận chuyển lâm thổ sản, là môi trường để nuôi cá bè, cá lồng và cung cấp một nguồn thuỷ sinh lớn cho con người (cá, tôm, cua, hến ) Một số bãi đất bằng ven sông còn là nơi sinh hoạt cộng đồng của dân cư Một số thác nước đẹp, mà điển hình là thác Ma Hao tạo khả năng để phát triển du lịch

1.1.2.7 Thực vật

Ở vị trí trung gian giữa các hệ thực vật Hi-ma-lay-a, Hoa Nam, Ấn Độ, Mi-an-ma, Ma-lai-xi-a, In-đô-nê-xi-a và sự tác động của chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa trên nền thổ nhưỡng và địa hình khác nhau mà Lang Chánh có hệ thực vật rất phong phú Ước lượng ban đầu có thể tới 1000 loài thực vật bậc cao Trong đó 10 họ giàu nhất xếp theo thứ tự giảm dần là: họ đậu, họ lan, họ lúa, họ cói, họ thầu dầu, họ cà phê, họ cúc, họ hoa hồng, họ húng và họ dâu tằm Số loài của 10 họ này chiếm 31% tổng số các loài của hệ thực vật và còn tới 200 loài cây thuốc tự nhiên và nhiều loài song, mây; cây lấy lá

Các loại gỗ quý của rừng Lang Chánh là: táu, giẻ, sến, trường mật, de, kháo, ngát, gội, dổi, vàng tâm, pơ mu, thông, lim, lát, nứa, tre Thực vật ngoại tầng chủ yếu là dây cóc, sống rắn, dây chạc chìu Thảm tươi gồm cỏ 3 cạnh, lá dong, thiên niên kiện, sa nhân phân bố rải rác

Ngoài hệ thực vật tự nhiên, Lang Chánh cũng có hệ thực vật hình thành

do tác động của con người Đó là hệ thống các rừng trồng (luồng, mỡ, bạch đàn, keo tai tượng) và cây trồng trong nông nghiệp, trong vườn, trong các trang trại, các khuôn viên cơ quan, công sở và ven đường giao thông

Trang 32

Hiện nay Lang Chánh có 50.632,58 ha rừng và đất lâm nghiệp và được chia ra như sau:

Diện tích có rừng là 42.862,66 ha, trong đó:

+ Rừng tự nhiên: 31.596,6 ha rừng từ nhiên (14.114,94 ha rừng phòng

hộ và 17.481,32 ha rừng sản xuất)

+ Rừng trồng: 11.266,06 ha rừng trồng (383,74 ha rừng phòng hộ và 10.882,32 ha rừng sản xuất) [47]

Rừng tự nhiên hiện nay phần lớn là rừng nghèo và rừng trung bình, diện tích rừng giàu không còn nhiều Sự thu hẹp diện tích đã kéo theo sự giảm sút trữ lượng gỗ và các loại lâm sản, sự nghèo kiệt của các loài động vật, giảm sút sự đa dạng sinh học, gia tăng quá trình xói mòn, rửa trôi, hạ thấp mực nước ngầm và những tác động môi trường khác

Việc trồng rừng ở Lang Chánh chậm hơn so với các địa phương khác trong tỉnh Những năm cuối thập kỷ 60 của thế kỷ XX, công tác trồng rừng bắt đầu được chú ý Những cây đầu tiên trồng là luồng và quế Hiện nay, rừng trồng có diện tích lớn nhất là rừng luồng

Lang Chánh được mệnh danh là “vua luồng” của Thanh Hóa và cả nước Cây luồng ở đây được thuần hóa từ luồng tự nhiên Luồng Lang Chánh nổi tiếng trăm miền, dóng luồng dài, ngọn luồng thon đều, gốc và ngọn gần bằng nhau, thân luồng dày Luồng được trồng tập trung tại các xã phía đông

và phía nam của huyện như: Tam Văn, Lâm Phú, thị trấn Lang Chánh, Đồng Lương, Tân Phúc, Giao An, Giao Thiện Những cây luồng ở Lang Chánh đã được vinh dự đưa ra trồng ở Thủ đô Hà Nội, bên lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh [6; tr 5]

Ngoài rừng luồng, Lang Chánh còn phát triển cây quế và gần đây Lang Chánh còn phát triển trồng cây keo, cây tràm

1.1.2.8 Động vật

Hệ động vật của Lang Chánh khá phong phú đa dạng, bao gồm cả động vật trên cạn lẫn động vật dưới nước, cả động vật bản địa lẫn động vật di cư

Trang 33

đến, các động vật này có giá trị nhiều mặt: Cung cấp thịt, dùng làm thuốc, làm đồ trang sức, làm cảnh và dùng để nghiên cứu khoa học

Lãnh thổ Lang Chánh có bốn quần cư động vật trên cạn chính:

- Quần cư động vật đồng ruộng và đồi thấp:

Quần cư này có các loài đặc trưng: ếch, nhái, bò sát ăn sâu bọ thường ở nước, chim thú ăn hạt Các loài đặc trưng là: ếch đồng, rắn nước, sơn ca, cu gáy, sáo mỏ ngà, chuột nhắt, chuột đồng ngoài ra có thêm thằn lằn bóng đuôi dài, nhái, cóc, thạch sùng đuôi sần, cò trắng, chèo bẻo, chào mào, chích chòe, chẫu chuộc, cóc nước [43; tr 16-19]

- Quần cư động vật ở rừng tre, nứa, luồng, vầu, giang:

Quần cư này có các loài sống ở hốc tre hay dưới đất, ít khi sống trên cây, hay trên đất, thường ăn rễ, sâu bọ Một số loài đặc trưng: ếch cây, rắn,

gà rừng, gõ kiến, chuột khuy, tắc kè, trăn đất, thằn lằn bóng đuôi dài,

- Quần cư động vật ở rừng cây bụi, trảng cỏ:

Chúng phân bố tại các khu vực rừng nghèo, đồi cỏ tranh Quần cư này thường có các loài ăn sâu bọ, chim nhỏ ăn hạt, ăn sâu, thú ăn hạt, rễ, lá, cỏ ở đất Một số loài đặc trưng là: ếch cây, rắn giun, rắn roi, cun cút, chèo bẻo, chuột chù, chuột nhắt, chuột dũi, cáo lửa, thỏ rừng, cày lon, gà rừng, gà gô, sóc bụng đỏ, lợn rừng

- Quần cư động vật ở rừng gỗ và trảng cây:

Phân bố tại các khu rừng giàu, rừng trung bình, rừng hồn giao gỗ, tre nứa Quần cư này có các loài ăn sâu bọ, ăn lá, quả cây, ăn thịt, sống trên cây, trên đất, Một số loài đặc trưng là: nhái bén Trung Quốc, thằn lằn bóng đêm, nhông xanh, trĩ, trĩ sao, cu xanh đuôi nhọn, vẹt đậu xám, cày lon, thỏ, sóc bụng xám, sóc chân vàng, gà rừng, gõ kiến, bìm bịp, cày hương, lợn rừng

Phân bố lồng ghép trong các sinh quần cư trên là rất nhiều sâu bọ có

hại: rầy nâu, sâu bướm hai chấm, sâu cuốn lá nhỏ, sâu cắn gié, bọ xít dài, bọ

trĩ, sâu đục thân ngô, sâu xám, sâu xanh, sâu đục quả đậu tương, ruồi đục thân đậu, vòi voi đục thân,vòi voi đục gốc, bọ giáp, sâu khoang

Trang 34

- Quần cư động vật nước ngọt:

Lang Chánh có khoảng gần 200 ha thủy vực nước ngọt, đấy là chưa kể các thủy vực sông Trung bình các thủy vực ở đây có độ trong 0,3 - 1,0 m, độ

pH từ 6,7 - 7,5; động vật phù du: 4 - 10.104 con/m3; thực vật phù du: 1 - 50.105 tế bào/m3; sinh vật đáy: 2 - 10g/m2 Các giống thuỷ sinh các loài cá: chép, trôi, diếc, quả, trê, rô phi, tôm càng sông, cua đồng, lươn, ếch, ốc [43;

tr 30-40]

Nguồn loại động vật đang bị giảm sút nhanh cả về trữ lượng lẫn chủng loại Nhiều loài động vật trước đây hiện không còn nữa hoặc rất hiếm gặp như: Voi, sư tử, hổ, tê giác một sừng, công, voọc, bò tót, trâu rừng, khỉ mặt

đỏ, khỉ mốc, kỳ đà, Do đó, cần có chiến luợc bảo tồn và phát triển quỹ gen

động vật

1.2 Quá trình hình thành vùng đất Lang Chánh

Lang Chánh là vùng đất phên dậu của tổ quốc, là một phần ruột thịt vô cùng quan trọng của đất nước Việt Nam trong lịch sử cũng như trong hiện tại Vùng đất Lang Chánh là một trong những địa bàn có lịch sử phát triển lâu đời, một vùng đất phát triển từ thời kỳ nguyên thủy cho đến thời kỳ văn minh, gắn liền với những dấu vết hoạt động của con người cổ xưa từ nền văn hóa Sơn Vi thời đá cũ cho đến thời kỳ đá mới và đặc biệt là thời kỳ hình thành nền văn minh dân tộc, đó là nền văn minh Đông Sơn - văn minh sông Hồng, sông Mã - nền văn minh của các vua Hùng dựng nước Sau đó cả dân tộc lại trải qua hơn một nghìn năm bắc thuộc, trọn một ngàn năm dưới chế độ nhà nước phong kiến quân chủ Việt Nam từ Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ, Lê, Nguyễn Gần một thế kỷ đấu tranh cách mạng kiên cường của nhân dân Lang Chánh dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam mà trực tiếp là Đảng

bộ huyện trong những năm qua Trong những bước thăng trầm lịch sử ấy, nhân dân các dân tộc ở Lang Chánh đã đấu tranh kiên cường và lao động sáng tạo bền bỉ, để tạo dựng mảnh đất này

Trang 35

Lang Chánh còn là một vùng đất có truyền thống lịch sử lâu đời, văn hóa phong phú, đa dạng Lang Chánh - mảnh đất kiên trung không chỉ trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ mà cả trong những thời kỳ trước đó, nhất là thời kỳ cùng Lê Lợi chống giặc Minh Lang Chánh hôm nay còn được nhắc đến như một mô hình vận động của công cuộc nông thôn mới gắn liền với chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu giống cây trồng dưới sự lãnh

đạo trực tiếp của Đảng ở địa phương

1.2.1 Quá trình hình thành làng, bản

Địa vực cư trú chủ yếu của người Mường, Thái là ven các thung lũng, chân núi đá vôi và bên các dòng suối, bố trí theo hình rẻ quạt Người Mường sống quần cư thành từng làng, bản Bản Mường truyền thống không nằm trên đường cái lớn Mỗi làng, bản của người Mường, Thái có địa vực cư trú riêng,

có phạm vi đất canh tác, đất rừng, khúc sông, khe suối riêng… thường cư trú tập trung bên những con suối, con sông hoặc ở những nơi tiếp cận với rừng rậm nhiệt đới có quần thể thực vật và động vật phong phú, ở nơi có vùng tiểu khí hậu phức tạp [2; tr 11]

Những năm gần đây, các bản, làng của người Thái, Mường trở nên đông đúc hơn, ngày càng được mở rộng Trong quần thể một hộ cư trú của người Thái, Mường có các phần: nhà ở, nhà phụ, chuồng gia súc và vườn tược xung quanh, nhà ở có kiến trúc đẹp Trước kia, trong nhà của người Thái, Mường ít đồ đạc, chỉ có nhiều dãy bồ bằng tre, mây để đựng quần áo, chăn màn Trên các cột và xà nhà có treo vài chiếc sừng thú, cây nỏ, dao… Ngày nay, đồ gia dụng phong phú, đa dạng hơn Nhà khá giả có tủ lạnh, ti vi, dàn Ka-ra-o-ke… Mặc dù có những đổi mới trong nếp sống và đồ dùng sinh hoạt, song người Thái, Mường vẫn giữ được đức tính ôn hòa, nhường nhịn, tương trợ, giúp đỡ nhau…

Sự đa dạng trong kiến trúc nhà ở và nét riêng biệt trong cuộc sống các làng, bản đồng bào các dân tộc thiểu số huyện Lang chánh đã góp phần làm nên bản sắc văn hóa dân tộc Thanh Hóa Cuộc sống dù phát triển cũng rất cần

Trang 36

lưu giữ và phát huy nét độc đáo, khác biệt của mỗi làng bản, ngôi nhà ở - nơi

cả cuộc đời con người gắn bó

1.2.2 Quá trình hình thành tộc người

Sách "Các dân tộc ít người ở Việt Nam" của Viện dân tộc học cho rằng: Tổ tiên xa xưa của người Thái ở Trung Quốc vào Việt Nam dưới 1000 năm Đầu tiên cư trú ở vùng tây bắc, đa số ở lại đó, một số tiếp tục di cư sang Lào, một nhóm di cư hẳn sang Hòa Bình, Thanh Hóa Họ biết làm nghề rừng, chăn nuôi và dệt thổ cẩm, đan lát, trồng lúa nước hình thành nên một tộc người có số lượng dân cư đông nhất huyện Lang Chánh (chiếm 54,3% dân số trong toàn huyện), thực sự trở thành dân tộc đa số có ảnh hưởng quá trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội Lang Chánh [19; tr 3]

Theo thống kê của Phòng thống kê huyện Lang Chánh: năm 2020, dân

số Lang Chánh là 9.479 người Mật độ, 353 người/km², gồm chủ yếu ba dân tộc anh em sinh sống Thái, Mường, Kinh Trong đó dân tộc Thái chiếm 54,3%, dân tộc Mường 35%, dân tộc Kinh chiếm 10,5%, các dân tộc khác chiếm 0,2% [47]

Người Thái sống ở tất cả 09 xã và một thị trấn Lang Chánh [47]

Người Kinh có mặt ở Lang Chánh khá sớm, họ giao lưu buôn bán với đồng bào dân các tộc Số lượng người Kinh tăng lên khi đảng và nhà nước ta

có chính sách di dân đồng bào miền xuôi lên miền núi phía tây xây dựng nông, lâm trường quốc doanh và các khu kinh tế mới Họ sống tập trung ở thị trấn, vùng trung tâm một bộ phận sống đan xen với đồng bào dân tộc, Thái, Mường, Kinh cùng chung sống hòa hợp, cùng chung sức phát triển Lang Chánh, thể hiện rõ ở hệ thống quần cư của các dân tộc này

Nhân dân Lang Chánh có truyền thống lịch sử lâu đời, là mảnh đất kiên trung không chỉ trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ mà cả trong thời

kì trước đó, nhất là trong thời kỳ cùng Lê Lợi với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống giặc Minh Nhiệm vụ cao cả ấy, không chỉ riêng ai nhưng riêng ở Lang Chánh thì không kể đến vai trò chủ đạo tích cực của cộng đồng người Thái

Trang 37

Các dân tộc Thái, Mường là cư dân lâu đời ở Lang Chánh, họ phân bố trải rộng và đan xen trên địa bàn huyện Tuy có nguồn gốc khác nhau, nhưng mỗi dân tộc sống ở đây đều tự hào về sự đóng góp của mình vào việc cải tạo thiên nhiên, xây dựng cuộc sống, tạo nên sự chuyển biến mọi mặt ngày càng

to lớn ở Lang Chánh Mối quan hệ cộng đồng dân tộc anh em ngày càng thắm thiết Mối quan hệ bền vững tốt đẹp ấy bao đời nay đã tạo điều kiện cho đồng bào các dân tộc cùng tồn tại và phát triển, tạo nên bản sắc văn hóa, vừa mang yếu tố chung của dân tộc Việt Nam, vừa mang yếu tố chung của dân tộc huyện Lang Chánh

1.2.3 Dòng họ

- Dòng họ của người Thái ở Lang Chánh

Người Thái gọi họ là “Chao” “Chao” bắt nguồn từ “Cháo” nghĩa là mầm hạt mới nẩy ra (như cháo tơi, cháo thúa là mầm đậu tương, đậu đũa) có nghĩa là nòi giống Người già ở Thanh Hóa khi hỏi thăm nguồn gốc của khách xem là con cháu nhà ai, thường dùng câu “Tán tộc mưa ngốp đỡ, cháo đỡ” (ngài thuộc

về tộc nào, mầm nào) [29; tr 27-30]

Họ người Thái gồm cộng đồng người theo huyết thống của dòng cha

(phú) phản ánh quan hệ phụ quyền Từ tổ chủ yếu là họ và tên, nói và viết,

theo kiểu đơn tiết Ở Việt Nam, họ người Thái mang cả tên gốc và tên phiên

âm sang tiếng Việt Chao Lo Căm chuyển thành họ Lò, họ Lô, họ Cầm, Chao Kha chuyển thành họ Hà, Chao Lộc chuyển thành họ Lục, Chao Lự chuyển thành họ Lữ, Chao bạc là Ngân Còn một số họ giữ nguyên tên chữ như họ

Vi, Lương

Các dòng họ của người Thái ở Lang Chánh

+ Họ Lò: chủ yếu ở vùng Yên Khương, Yên Thắng, Lâm Phú, Trí Nang, Tam Văn

+ Họ Hà: chủ yếu ở vùng Yên Khương, Yên Thắng, Lâm Phú, Trí Nang, Tam Văn

+ Họ Vi: chủ yếu ở vùng Yên Khương, Yên Thắng, Lâm Phú, Trí Nang, Tam Văn

Trang 38

+ Họ Ngân: chủ yếu ở vùng Yên Khương, Yên Thắng, Lâm Phú, Trí Nang + Họ Lương: chủ yếu ở vùng Yên Khương, Yên Thắng, Lâm Phú, Trí Nang, Giao Thiện, Tam Văn

+ Họ Pa: ở vùng Yên Khương

+ Họ Lữ: ở vùng Tam Văn

+ Họ Bùi: ở vùng Yên Thắng

+ Họ Hoàng: ở vùng Yên Khương, Giao Thiện

+ Họ Lang: thuộc dòng dõi lang đạo chủ yếu ở Yên Khương, Yên Thắng, Giao Thiện

Các dòng họ người Thái đông nhất là Họ Lò sau đó đến họ Hà, họ Vi,

họ Ngân tiếp theo là họ Lữ, họ Hoàng, họ Pa, họ Bùi [29; tr 71-73]

- Dòng họ của người Mường ở Lang Chánh

+ Họ Lê: ở thị trấn Lang Chánh, Tân Phúc, Đồng Lương, rải rác ở Giao

An, Giao Thiện và khu vực Thị Trấn Lang Chánh

+ Họ Phạm: ở Giao An, Giao Thiện, Đồng Lương, rải rác ở xã Tân

Phúc, thị trấn

- Dòng họ người Kinh ở Lang Chánh:

Họ Nguyễn, họ Lê, họ Mai, Họ Đỗ, Họ Trần, họ Hồ, họ Phạm, họ Diệp,

họ Phan Người Kinh sinh sống chủ yếu ở thị trấn [15; tr 75-76]

1.3 Truyền thống lịch sử - văn hóa

Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, tại Lang Chánh chưa xây dựng được cơ sở Việt Minh và tổ chức cộng sản Đồng bào các dân tộc bị thổ

ty, lang đạo kìm kẹp, đè nén, áp bức bóc lột dã man Đời sống nhân dân còn khổ cực, trình độ dân trí thấp, phần lớn đồng bào còn an phận, chấp nhận sự

nô dịch, phải phục dịch cho bọn thổ ty, lang đạo Trong khi đó, thực tế thổ ty, lang đạo còn rất mạnh và ảnh hưởng rộng trong quần chúng Nếu như quần chúng có biểu hiện chống đối sẽ bị thổ ty, lang đạo đàn áp thẳng tay Chính quyền thực dân phong kiến phần lớn còn kiểm soát các làng bản ở Lang

Trang 39

Đảng cộng sản và phong trào cách mạng trong tỉnh Nhiều vùng, đồng bào dân tộc chưa hiểu về cộng sản, về Việt Minh, về cách mạng Đầu năm 1945, thổ ty, lang đạo ra sức vơ vét thóc gạo, bắt phu, bắt lính, nhân dân các làng đã nổi dậy đấu tranh Cuộc đấu tranh của nhân dân diễn ra quyết liệt, chống đi phu, đi lính, không nộp thóc cho Nhật Bị áp bức bóc lột, nhiều thanh niên Lang Chánh phải rời bỏ quê hương đến các địa phương trong tỉnh sinh sống sau đó tham gia khởi nghĩa chính quyền ở Thọ Xuân, tham gia lực lượng vũ trang trước cách mạng và trở thành cán bộ quân sự của Đảng Như vậy tại Lang Chánh trước Cách mạng Tháng Tám 1945, Tỉnh ủy Thanh Hóa chưa xây dựng được cơ sở Việt Minh và tổ chức Đảng Đồng bào các dân tộc Lang Chánh bị áp bức, kinh tế thấp, giác ngộ cách mạng chưa cao Do vậy trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đồng bào các dân tộc Lang Chánh chưa có

đủ điều kiện khởi nghĩa giành chính quyền

Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, sau khi giành chính quyền

cách mạng từ căn cứ Thiệu Hóa về thành phố Thanh Hóa xây dựng, bảo vệ chế độ mới Cũng như các huyện miền núi, Tỉnh ủy Thanh Hóa huy động lực

lượng tự vệ huyện Thọ Xuân hành quân lên Lang Chánh kết hợp với nhân dân

Lang Chánh tiến về châu lỵ huyện Lang Chánh tuyên bố xóa bỏ chính quyền

cũ, xác lập chính quyền mới từ huyện đến làng, xã Ngày 15/2/1949, chi bộ đầu tiên ở Lang Chánh thành lập Trực thuộc đảng bộ huyện miền Tây Thanh Hóa Chi bộ gồm 4 đồng chí: Nguyễn Văn Tần (Bí thư chi bộ), Nguyễn Ngọc

Tô, Nguyễn Văn Bồng và Lương Văn Trung

Đến cuối năm 1949 huyện Lang Chánh phát triển thêm 2 chi bộ ghép của hai xã Giao An - Tân Phúc và chi bộ xã Đồng Lương Tháng 8/1950, Đảng bộ Lang Chánh thức thành lập trên cơ sở 3 chi bộ: chi bộ cơ quan huyện, chi bộ ghép của xã Giao An - Tân Phúc, chi bộ Đồng Lương Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Lang Chánh, nhân dân đoàn kết, chuẩn bị lực lượng kháng chiến, một số thổ ty, lang đạo được cơ cấu vào chính quyền các cấp trong ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời huyện Lang Chánh, Ủy ban nhân

Trang 40

dân cách mạng lâm thời tỉnh đã chỉ định chỉ một số chức vụ quan trọng trong tỉnh [10; tr 33-34]

Những ngày đầu, chính quyền mới của huyện Lang Chánh tuân thủ sự chỉ đạo của chính quyền cách mạng tỉnh, mọi hoạt động diễn ra nền nếp nghiêm túc Nhưng từ khi trung đoàn quân Tưởng Giới Thạch và bọn tay sai Quốc dân đảng kéo vào tỉnh ta chiếm đóng vị trí chiến lược trọng yếu trong thành phố Thanh Hóa, lập ấp, đòi tước vũ khí, đưa tay chân vào bộ máy chính quyền tỉnh, thổ ty, lang đạo tìm cách móc nối với bọn phản động Lợi dụng sự mềm dẻo của Đảng và chính quyền cách mạng đưa tay chân vào nắm giữ các chức vụ quan trọng Bọn cầm đầu ở thành phố Thanh Hóa đã cử tay chân lên Lang Chánh và các huyện miền núi móc nối với thổ ty, lang đạo xây dựng lực lượng chống đối cách mạng Thực hiện mệnh của quan thầy, cha con Kỳ, Tín

đã tuyển mộ 200 lính lấy danh nghĩa là dân quân du kích và ngấm ngầm xây dựng lực lượng ở căn cứ bản Lót, xã Lê Lai (Tam Văn), xây dựng căn cứ ở Hón Oi, xã Quyết Thắng để huấn luyện quân sự, bọn chúng bắt nhân dân đóng góp lương thực, thực phẩm, nuôi lực lượng vũ trang, rèn đúc, mua sắm

vũ khí, chờ ngày vùng dậy

Với lời kêu gọi của chính phủ thực hiện "tuần lễ vàng", nhân dân Lang Chánh đã đóng góp ủng hộ "quỹ độc lập" của chính phủ, hàng trăm chỉ vàng, hàng chục lạng bạc và hàng tạ đồng, nhưng đều bị cha con Kỳ, Tín, tay sai cướp đoạt, bắt trộm trâu, bò của dân, thẳng tay đàn áp những người chống đối Để giải quyết tình huống phức tạp ở khu vực miền núi nói chung, ở huyện Lang Chánh nói riêng, Tỉnh ủy đã chỉ đạo thành lập ủy ban thượng du

và lực lượng vũ trang thượng du, giao cho những lang đạo có thế lực phụ trách, cử nhiều cán bộ có năng lực, phẩm chất, am hiểu phong tục, tập quán của đồng bào làm cố vấn cho Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời các huyện miền núi Đồng thời tăng cường lực lượng trấn áp thổ ty, lang đạo Tháng 5/1946, quân đội Tưởng rút về Trung Quốc theo tinh thần hiệp ước Hoa -

Ngày đăng: 17/07/2023, 23:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w