Hơn bao giờ hết, công tác quản lý di tích lịch sử-văn hóa của quận Hà Đông cần được tăng cường và nâng cao hiệu quả hoạt động để ngày càng được phát huy được giá trị di sản văn hóa truyề
Trang 1NGHIÊM THỊ THANH NGUYỆT
QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA QUẬN HÀ ĐÔNG,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC QUẢN LÝ VĂN HÓA
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS TRỊNH THỊ MINH ĐỨC
HÀ NỘI – 2011
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám hiệu, Khoa sau Đại học Trường Đại học Văn hóa Hà Nội đã nhiệt tình truyền đạt những kiến thức quý báu cho em trong suốt quá trình học tập tại lớp Cao học chuyên ngành Quản lý Văn hóa khóa 2009-2011
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến PGS.TS Trịnh Thị Minh Đức, người đã trực tiếp chỉ bảo, hướng dẫn em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận văn Thạc sĩ
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Phòng Di sản Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Hà Nội, Ban Quản lý di tích và Danh thắng Hà Nội, Phòng Văn hóa và Thông tin quận Hà Đông đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập tài liệu để hoàn thành Luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, khuyến khích tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu./
Hà Nội, ngày 15 tháng 3 năm 2012
Tác giả
Nghiêm Thị Thanh Nguyệt
Trang 3Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ -
VĂN HÓA, TỔNG QUAN VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ-VĂN
HÓA TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HÀ ĐÔNG
13
1.1 Những vấn đề lý luận đặt ra trong công tác quản lý 13
1.1.1 Nghiên cứu một số khái niệm 13
1.1.2 Cơ sở pháp lý cho công tác quản lý di tích lịch sử-văn hóa 21
1.2 Tổng quan về hệ thống di tích lịch sử-văn hóa quận
Hà Đông
26
1.2.1 Khái quát về quận Hà Đông 26 1.2.2 Lịch sử hình thành 28
1.2.3 Truyền thống lịch sử, văn hóa 29
1.3 Hệ thống di tích lịch sử-văn hóa quận Hà Đông 31
1.3.1 Số lượng di tích lịch sử-văn hóa 31
1.3.2 Phân loại di tích lịch sử-văn hóa 34
1.3.3 Hiện trạng và tình trạng kỹ thuật của các di tích lịch
sử-văn hóa trong quận Hà Đông
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH
SỬ-VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HÀ ĐÔNG 50
Trang 42.1 Cơ cấu, chức năng của hệ thống tổ chức quản lý di
tích lịch sử-văn hóa quận Hà Đông 50
2.1.1 Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Hà Nội 50
2.1.2 Phòng Văn hóa và Thông tin quận Hà Đông 51
2.1.3 Ban Văn hóa - Xã hội phường 55
2.2 Thực trạng công tác quản lý di tích lịch sử-văn hóa
trên địa bàn quận Hà Đông 57
2.2.1 Xây dựng quy hoạch, kế hoạch bảo tồn và phát huy
giá trị di tích lịch sử-văn hóa trên địa bàn quận 57
2.2.2 Tổ chức tuyên truyền, phổ biến trong nhân dân về
pháp luật bảo vệ di tích lịch sử-văn hóa 58
2.2.3 Tổ chức thực hiện các hoạt động nghiệp vụ nhằm giữ
gìn và phát huy giá trị di tích lịch sử-văn hóa 61
2.3 Nhận xét, đánh giá về công tác quản lý di tích lịch sử-
văn hóa trên địa bàn quận Hà Đông 78
2.3.1 Ưu điểm 78 2.3.2 Hạn chế 80
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU
QUẢ QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ-VĂN HÓA QUẬN
HÀ ĐÔNG TRONG THỜI GIAN TỚI
83
3.1 Phương hướng, nhiệm vụ quản lý di tích lịch sử-văn
hóa trên địa bàn thành phố Hà Nội 83
3.1.1 Phương hướng chung giai đoạn 2011-2015 84
3.1.2 Nhiệm vụ giai đoạn 2011-2015 85
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý di tích lịch sử-
văn hóa quận Hà Đông trong thời gian tới 86
Trang 53.2.2 Nhóm giải pháp tăng cường tổ chức và triển khai thực
hiện công tác quản lý và bảo tồn, phát huy các giá trị
di sản văn hóa
95
3.2.3 Nhóm giải pháp tăng cường công tác quản lý nhà
nước đối với hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di
sản văn hóa
104
3.3 Một số kiến nghị với các cơ quan chức năng cấp trên 109
3.3.1 Kiến nghị với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 109 3.3.2 Kiến nghị với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành
Trang 6DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
XHCN Xã hội chủ nghĩa
VHTT Văn hóa - Thông tin
VH&TT Văn hoá và Thông tin
VHTT&DL Văn hoá, Thể thao và Du lịch VH-XH Văn hóa - Xã hội
UBND Uỷ ban nhân dân
Trang 7DANH MỤC BẢNG, BIỂU TRONG LUẬN VĂN
TT Bảng,
1 1.1 Số lượng các DTLS-VH của quận Hà Đông
2 1.2 Số lượng các loại hình DTLS-VH trên địa bàn quận Hà
Đông
3 1.3 Số lượng các lễ hội truyền thống của từng phường trên
địa bàn quận Hà Đông
4 1.4 Số lượng các DTLS-VH được xếp hạng cấp quốc gia,
cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương của quận Hà Đông
5 2.1 Danh mục các di tích được đầu tư, tôn tạo năm 2011
6 2.2 Tổng nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước đầu tư, tu
bổ DTLS-VH quận Hà Đông giai đoạn 2009-2011
7 2.3 Tổng nguồn kinh phí huy động từ XHH đầu tư, tu bổ
DTLS-VH quận Hà Đông giai đoạn 2009-2011
8 2.4 Lịch kiểm tra di tích được tu bổ, tôn tạo năm 2011
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Di tích lịch sử-văn hóa là những di sản văn hóa quý báu của mỗi địa phương, mỗi dân tộc và của cả nhân loại Đó là những dấu vết, dấu tích còn lại của quá khứ, phản ánh những biến cố, những sự kiện lịch sử, văn hóa hay nhân vật qua các thời kỳ lịch sử Không những thế di tích lịch sử-văn hóa còn là chứng tích, là tư liệu sống để các thế hệ mai sau tìm hiểu, nghiên cứu về các thời kỳ lịch sử đó đi qua, từ đó giáo dục thế hệ trẻ truyền thống lịch sử, văn hóa của dân tộc
1.2 Nhiều năm qua, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu trong công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc ở những quy mô khác nhau Hàng loạt di tích lịch sử-văn hóa đã được xếp hạng, tu bổ, tôn tạo; rất nhiều cổ vật, di vật trong đó được bảo vệ; lễ hội truyền thống, diễn xướng, trò chơi dân gian, thuần phong, mỹ tục được lưu giữ và phát triển
Tuy nhiên, công tác bảo tồn, phát huy di sản văn hóa dân tộc cũng còn tồn tại một số hiện tượng đáng quan tâm, gây bức xúc trong xã hội Đó là tình trạng xâm hại, phá hoại di tích; lấy cắp cổ vật và đồ thờ tự trong đình, đền, chùa; hiện tượng mê tín dị đoan gia tăng; lễ hội truyền thống còn nhiều lộn xộn Tình trạng này khiến cho môi trường văn hóa, xã hội nói chung, môi trường bảo tồn di sản văn hóa nói riêng kém lành mạnh, chưa thực sự bền vững Mặc dù toàn xã hội và ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch đó có nhiều giải pháp ngăn chặn, can thiệp song đây vẫn là những thách thức cho toàn xã hội trong việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
1.3 Quận Hà Đông thuộc thành phố Hà Nội hiện nay có diện tích tự nhiên là 48,33 km2, 17 phường, 228 tổ dân phố với hơn 46.600 hộ dân, 280.000 nhân khẩu; mật độ dân số gần 4.000 người/km² Trên địa bàn quận có 520 cơ quan, trường học, đơn vị, doanh nghiệp Tốc độ đô thị hoá nhanh, hạ tầng kỹ
Trang 9thuật, hạ tầng xã hội được quan tâm đầu tư phát triển, đời sống vật chất đang trên đà phát triển, đời sống văn hoá ngày càng được nâng cao
Quận Hà Đông có 117 di tích lịch sử-văn hóa, trong đó có 78 di tích đã được xếp hạng cấp quốc gia và cấp thành phố, bao gồm: 34 đình, 24 chùa, 04 đền, 08 miếu, 01 phủ, 02 Nhà lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, 05 nhà thờ các dòng họ với những danh nhân nổi tiếng
Bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa để đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa ngày càng cao của nhân dân; nhu cầu nghiên cứu, tham quan du lịch của khách trong, ngoài nước và để tạo nền móng vững bền góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc luôn là chủ trương đúng đắn
và nhất quán của Đảng và Nhà nước ta Đặc biệt trong thời kỳ đất nước đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế thì vấn đề này càng được đề cao và là một trong nhiệm vụ cấp bách của đất nước ta trong tình hình mới hiện nay Từ tháng 8 năm 2008, Hà Đông đã trở thành một quận của thủ đô
Hà Nội Hơn bao giờ hết, công tác quản lý di tích lịch sử-văn hóa của quận Hà Đông cần được tăng cường và nâng cao hiệu quả hoạt động để ngày càng được phát huy được giá trị di sản văn hóa truyền thống trên địa bàn Quận nói riêng cũng như của thành phố Hà Nội nói chung
Là một cán bộ công tác trong ngành Văn hoá, Thể thao và Du lịch, xác định và hiểu rõ vai trò, tầm quan trọng của công tác quản lý di sản văn hoá
dân tộc trong giai đoạn mới hiện nay, tác giả đã chọn đề tài: “Quản lý di tích lịch sử-văn hoá trên địa bàn quận Hà Đông, thành phố Hà Nội” làm Luận văn
tốt nghiệp Cao học chuyên ngành Quản lý văn hoá khóa 2009-2111
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm gần đây, vấn đề nghiên cứu về các di tích lịch sử-văn hoá quận Hà Đông, thành phố Hà Nội (trước đây là thành phố Hà Đông thuộc tỉnh Hà Tây) đã được một số tác giả, nhà nghiên cứu quan tâm, giới thiệu như:
Trang 10- Sách: Địa chí Hà Tây [39] do Sở VHTT Hà Tây xuất bản năm 1999, tái bản năm 2008 Sách đã giới thiệu chung về địa lý, hành chính, dân cư, di tích lịch sử văn hoá tỉnh Hà Tây (cũ) nói chung và quận Hà Đông nói riêng
- Sách: Di tích Hà Tây [37] do Sở VHTT Hà Tây xuất bản năm 1999 Sách đã giới thiệu hơn 400 DTLS-VH của tỉnh Hà Tây, trong đó có 14 bài viết giới thiệu về 14 di tích quận Hà Đông
- Sách: Lễ hội cổ truyền Hà Tây [35] do Sở VHTT Hà Tây xuất bản năm
1995 Sách đã giới thiệu về 28 lễ hội tiêu biểu của 14 quận, huyện, thị xã thuộc tỉnh
Hà Tây, trong đó có 02 bài viết giới thiệu về Lễ hội làng Đa Sỹ (phường Kiến Hưng), Sự tích và đêm hội Hội Giã La (phường Dương Nội) của quận Hà Đông
- Các Luận văn cao học và Khoá luận đại học ngành Bảo tàng của Trường Đại học Văn hoá Hà Nội viết về di tích Các công trình này chủ yếu viết về giá trị một di tích hoặc một cụm di tích cụ thể; trong đó có một phần viết về bảo tồn
và phát huy DTLS-VH, đó cũng chính là những nội dung có liên quan đến công tác quản lý DTLS-VH
- Ngoài ra còn có sách, bài viết về lịch sử, văn hoá, danh nhân, lễ hội, di sản Hán Nôm…viết về Hà Tây và quận Hà Đông đã được xuất bản và đăng tải trên các báo, tạp chí khoa học chuyên ngành Tuy nhiên, các bài viết này chủ yếu mới chỉ tập trung giới thiệu, nghiên cứu về lịch sử, lễ hội, danh nhân hoặc một làng cổ cụ thể trên địa bàn quận, cụ thể như: Làng Văn hóa Hà Tây [36]; Đặc sản ẩm thực dân gian Hà Tây [38]; Danh nhân - danh y Hoàng Đôn Hòa [22]; Lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân thị xã Hà Đông [3];
Sơ thảo lịch sử cách mạng tháng Tám Hà Đông - Sơn Tây [4]
Từ tập hợp và phân tích trên đây, có thể khẳng định cho tới nay chưa có một công trình chuyên biệt nào nghiên cứu về công tác quản lý DTLS-VH của quận Hà Đông mặc dù tất cả các công trình của các tác giả nêu ở trên cũng đều giành một phần bài viết để đưa ra giải pháp giúp công tác quản lý DTLS-VH
Trang 11trên địa bàn quận Hà Đông ngày càng được tốt hơn
Trong quá trình triển khai đề tài: “Quản lý di tích lịch sử-văn hoá trên địa bàn quận Hà Đông, thành phố Hà Nội”, tác giả luận văn sẽ tiếp
thu, kế thừa kết quả của các tác giả đi trước, vận dụng vào một số nội dung của công trình nghiên cứu, đặc biệt là phần đánh giá về giá trị của các DTLS-
Hà Đông từ năm 2008 đến nay, từ khi có Nghị quyết của Chính phủ về việc thành lập quận Hà Đông thuộc thành phố Hà Nội
Luận văn sẽ đề xuất một số giải pháp cụ thể, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý DTLS-VH quận Hà Đông trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn tập trung giải quyết một số vấn đề sau:
- Tìm hiểu khái quát lịch sử hình thành, phát triển và hệ thống DTLS-VH quận Hà Đông
- Trình bày những vấn đề cơ bản về cơ sở khoa học và pháp lý trong công tác quản lý di sản văn hoá nói chung và quản lý DTLS-VH nói riêng
- Khảo sát, phân tích đánh giá thực trạng công tác quản lý DTLS-VH từ tháng 8 năm 2008 đến nay của quận Hà Đông
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý DTLS-VH của quận Hà Đông trong thời gian tới
Trang 124 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng
Luận văn đi sâu nghiên cứu về công tác quản lý DTLS-VH quận Hà
Đông từ tháng 8 năm 2008 đến nay
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi thời gian: từ tháng 8 năm 2008 đến nay
- Phạm vi không gian: Luận văn tập trung chủ yếu nghiên cứu tình hình
quản lý DTLS-VH của quận Hà Đông
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn sử dụng phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng; chủ
nghĩa duy vật lịch sử; các quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lê nin, các quan điểm
của Đảng và Nhà nước về quản lý DSVH dân tộc
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: quản lý văn hoá, lịch sử, bảo tàng học, xã hội học;
- Phương pháp phân tích, thống kê, tổng hợp;
- Phương pháp khảo sát điền dã: Phân tích tài liệu do tác giả thực hiện
thông qua việc xuống trực tiếp một số cơ sở DTLS-VH để điều tra về thực trạng
công tác quản lý của cấp phường; Phỏng vấn sâu đối với các chuyên gia thuộc
lĩnh vực DSVH
6 Bố cục Luận văn
Đề tài nghiên cứu “Quản lý di tích lịch sử-văn hoá trên địa bàn quận
Hà Đông, thành phố Hà Nội” ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo
Trang 13và phụ lục, luận văn được chia làm 3 chương như sau:
- Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý di tích lịch sử -văn hóa, tổng quan về di tích
lịch sử-văn hóa trên địa bàn quận Hà Đông
- Chương 2: Thực trạng công tác quản lý di tích lịch sử-văn hóa trên địa bàn
quận Hà Đông
- Chương 3: Phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý di
tích lịch sử-văn hóa trên địa bàn quận Hà Đông trong thời gian tới
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA,
TỔNG QUAN VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ-VĂN HÓA
TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HÀ ĐÔNG 1.1 Những vấn đề lý luận đặt ra trong công tác quản lý
1.1.1 Nghiên cứu một số khái niệm
1.1.1.1 Khái niệm di sản văn hóa
Theo Luật Di sản văn hóa năm 2001 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 thì DSVH bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền
từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa XHCN Việt Nam Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể
và không gian văn hóa liên quan; có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng; không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử-văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia [27]
UNESCO chia di sản văn hóa thành hai loại: DSVH vật thể và DSVH phi vật thể (physical and nonphysicalcuture) DSVH vật thể bao gồm các di tích, công trình lịch sử, đền đài, cung điện, sách cổ, mẫu vật ở bảo tàng, công
cụ sản xuất ở từng giai đoạn lịch sử, các di tích danh thắng DSVH phi vật thể bao gồm các loại hình văn học-nghệ thuật (âm nhạc, ca múa, sân khấu, ngôn ngữ, truyền thuyết, huyền thoại), các sinh hoạt và kinh nghiệm dân gian (lễ hội, nghi lễ, phong tục tập quán, y học dân tộc, nghệ thuật nấu ăn, bí quyết trong sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ)
Trang 15Như vậy, di sản văn hóa chính là thành quả của quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của các thế hệ người Việt Nam qua hàng nghìn năm lịch sử; phản ánh tiến trình phát triển, thành tựu và khả năng của chính dân tộc đó; là minh chứng sống động cho sự vận động, giao thoa và phát triển về mọi mặt của đời sống xã hội, đồng thời phản ánh những đặc trưng cơ bản để làm rõ sự khác nhau giữa dân tộc này với dân tộc khác, giữa quốc gia này với quốc gia khác trong những môi trường, cảnh quan cụ thể của không gian và thời gian
1.1.1.2 Khái niệm di tích lịch sử-văn hóa
Di tích lịch sử-văn hóa là một thành tố quan trọng cấu thành nên DSVH Khái niệm DTLS-VH được đề cập ở nhiều ngôn ngữ khác nhau và hàm nghĩa của nó cũng rất phong phú, đa dạng như: Tiếng Anh gọi là Vestige; Tiếng Pháp cũng gọi là Vestige; Tiếng Nga gọi là Pamiatnik; Tiếng Trung Quốc gọi là Cổ tích
Theo Hiến chương Venice-Italia năm 1964 thì khái niệm di tích lịch sử, văn hóa không chỉ là một công trình kiến trúc đơn chiếc mà cả khung cảnh đô thị hoặc nông thôn có chứng tích của một nền văn minh riêng biệt, một phát triển có ý nghĩa hoặc một sự kiện lịch sử Khái niệm này không chỉ áp dụng với những công trình nghệ thuật to lớn mà cả với những công trình khiêm tốn hơn vốn đã cùng với thời gian, thâu nạp được một ý nghĩa văn hóa [12]
Theo Từ điển Tiếng Việt, di tích là các loại dấu vết của quá khứ, chủ yếu là nơi cư trú và mộ táng của người xưa được khoa học nghiên cứu Theo nghĩa di tích văn hóa thì nó là di tích lịch sử - văn hóa bất động [50]
Theo giáo trình “Bảo tồn di tích lịch sử-văn hóa” của Trường Đại học
Văn hoá Hà Nội thì di tích là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó chứa đựng các giá trị điển hình lịch sử; do tập thể hoặc cá nhân con người hoạt động sáng tạo ra trong lịch sử để lại [18]
Trang 16Pháp lệnh số 14 LCT/HĐNN ngày 04 tháng 4 năm 1984 của Hội đồng
Nhà nước về “Bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử-văn hóa và danh lam thắng cảnh” thì quy định: “DTLS-VH là những công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu và tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật cũng như có giá trị về văn hóa khác hoặc có liên quan đến những sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hóa, xã hội”
Luật Di sản văn hóa năm 2001 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 thì coi DTLS-VH là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó, có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học [27]
Nghị định số 92/2002/NĐ-CP ngày 11 tháng 11 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Di sản văn hóa quy định tại Điều
14 nêu rõ: “Di tích là các di tích lịch sử, di tích kiến trúc nghệ thuật, di tích khảo cổ, danh lam thắng cảnh” [27]
Từ các quan niệm trên cho thấy, DTLS-VH là những nơi lưu giữ một bộ phận giá trị văn hóa khảo cổ, những địa điểm ghi dấu tích về dân tộc, những nơi diễn ra những sự kiện chính trị quan trọng, có ý nghĩa đối với lịch sử dân tộc, lịch sử địa phương, những địa điểm ghi dấu chiến công chống xâm lược, chống áp bức, những nơi có giá trị lưu niệm về nhân vật lịch sử, anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa, khoa học, những công trình kiến trúc nghệ thuật có giá trị Mỗi một DTLS-VH đều mang một giá trị văn hoá, lịch sử nhất định, phản ánh một chặng đường lịch sử của cộng đồng dân cư, quá trình hình thành và phát triển xã hội qua mỗi thời đại Nghị quyết Trung ương V, khoá VIII của Đảng cũng khẳng định: Văn hoá Việt Nam là thành quả hàng nghìn năm lao động, sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa văn hoá của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình [2]
Trang 17Căn cứ vào đặc điểm nội dung giá trị kiểu dáng kết cấu thì di tích được phân ra thành 04 loại hình, bao gồm:
Một là, di tích khảo cổ học gồm những địa điểm khảo cổ có giá trị nổi
bật, đánh dấu các giai đoạn phát triển của các văn hóa khảo cổ Loại hình di tích khảo cổ có thể phân chia thành các loại di tích sau đây: 1/Loại di chỉ cư trú; 2/Loại di chỉ mộ táng; 3/Loại di chỉ cư trú - mộ táng Ngoài ra, còn có thể phân chia theo thời đại khảo cổ: 1/Loại di tích/di chỉ thời đại đồ Đá; 2/Loại di tích/di chỉ thời đại đồ Đồng; 3/Loại di tích/di chỉ thời đại đồ Sắt
Hai là, loại hình di tích lịch sử bao gồm những công trình xây dựng, địa
điểm ghi dấu sự kiện, mốc lịch sử quan trọng của dân tộc, của địa phương hoặc gắn với anh hùng dân tộc, danh nhân, nhà hoạt động chính trị, văn hóa, nghệ thuật, khoa học nổi tiếng có ảnh hưởng quan trọng đối với tiến trình lịch sử của dân tộc [27] Loại hình di tích lịch sử có 03 loại di tích: 1/Loại di tích gắn với
sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước, giữ nước; 2/Loại di tích gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân đất nước; 3/Loại di tích gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng
Ba là, loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật bao gồm: công trình kiến
trúc, nghệ thuật quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu trong các giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật Việt Nam [27] Loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật có thể chia ra các loại khác nhau, cụ thể được chia làm 06 loại: 1/Các đô thị đã hình thành trong lịch sử
và các thành phần của chúng Các phế tích của các đô thị cổ, các phối hợp và tổng thể đô thị lớn thể hiện bộ mặt đô thị và các khu dân cư 2/Di tích kiến trúc cư trú, gồm các ngôi nhà ở tại thành thị và nông thôn, các cung thất, dinh thự 3/Di tích kiến trúc dân dụng như các công sở, các công trình văn hóa, các công trình phục vụ đời sống 4/Di tích kiến trúc tôn giáo (đình, chùa, đền,
Trang 18miếu, nhà thờ ), lăng tẩm cũng có thể đưa vào loại hình này 5/Di tích kiến trúc quân sự như: thành, lũy, hào 6/Di tích kiến trúc phong cảnh - phần những cảnh quan thiên nhiên có những công trình kiến trúc được lồng ghép vào các công viên, vườn hoa, khu sinh thái
Bốn là, loại hình di tích danh lam, thắng cảnh Cảnh quan thiên nhiên
đẹp hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc, nghệ thuật hoặc khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù [27] Loại hình di tích này có thể phân chia thành 02 loại: 1/Khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học
về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù hoặc khu vực thiên nhiên chứa đựng những dấu tích vật chất về các giai đoạn phát triển của của Việt Nam và thế giới 2/Cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị thẩm
mỹ tiêu biểu [27]
Mặc dù trong các văn bản (văn bản luật) phân chia DTLS-VH làm 04 loại hình, trong từng loại hình lại phân chia thành các loại di tích thuộc loại hình cụ thể, nhưng trên thực tế khi căn cứ vào các giá trị tiêu biểu chứa đựng
ở từng trường hợp cụ thể thì quá trình phân loại này cũng chỉ mang tính tương đối Trong khi tiếp cận phân loại, điều cơ bản chúng ta cần xác định được giá trị tiêu biểu của di tích để tiến hành phân loại các di tích, dù ở phạm
vi của loại hình nào
Nếu căn cứ vào giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học thẩm mỹ và cấp độ quản lý, di tích được xếp hạng và được chia thành ba loại, gồm:
Một là, di tích quốc gia đặc biệt là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu
của quốc gia do Thủ tướng Chính phủ ra quyết định xếp hạng
Hai là, di tích quốc gia là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia do Bộ
Trang 19trưởng Bộ VHTT&DL ra quyết định xếp hạng
Ba là, di tích cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là di tích có giá
trị tiêu biểu trong phạm vi địa phương do Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ra quyết định xếp hạng
Việc hiểu rõ nội hàm khái niệm di tích và các hình thức phân loại di tích có ý nghĩa quan trọng để xác định sự quan tâm của các cơ quan quản lý
di tích cho từng loại hình di tích Đây cũng là một trong những cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách và xây dựng hệ thống văn bản pháp luật trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc
1.1.1.3 Khái niệm quản lý
Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công lao động, hợp tác lao động C.Mác đã viết: Bất cứ lao động xã hội hay lao động chung nào mà tiến hành trên quy mô khá lớn đều yêu cầu có sự chỉ đạo, điều hoà giữa những hoạt động cá nhân…Một nhạc sĩ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình nhưng
một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng [30] Quản lý là một hoạt động
khách quan nảy sinh khi cần có nỗ lực tập thể để thực hiện mục tiêu chung Quản lý diễn ra ở mọi tổ chức từ phạm vi nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức
tạp Quản lý ra đời chính là nhằm đến hiệu quả nhiều hơn, năng suất cao hơn
trong công việc Với ý nghĩa thông thường, phổ biến thì “quản lý” có thể hiểu
là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng theo những mục tiêu đã định Mục tiêu quản lý là cái đích cần phải đạt tới tại một thời điểm nhất định, do chủ thể quản lý định trước Đây là căn cứ để chủ thể quản lý thực hiện các động tác quản lý cũng như lựa chọn các phương pháp quản lý thích hợp Do đó, quản lý là một quá trình tác động giữa chủ thể quản
Trang 20lý tới đối tượng quản lý, thông qua những biện pháp, phương pháp, phương tiện quản lý nhằm hoàn thiện hoá hoặc làm thay đổi tình trạng hiện hữu Quản
lý bao giờ cũng có tính mục đích, tính tổ chức và hướng tới tính hiệu quả
1.1.1.4 Khái niệm về quản lý di tích lịch sử-văn hoá
Quản lý văn hoá là một thuật ngữ mới Trong khoa học, người ta có thể tiếp cận với văn hóa hoặc riêng rẽ hoặc tổng hợp trên ba bình diện: Văn hóa với tính cách một nền văn hóa; Văn hóa với tính cách những cái/thuộc tính văn hóa; Văn hóa với tính cách những hoạt động văn hóa Ở đây, chúng ta tập
trung chỉ tập trung nghiên cứu về khái niệm quản lý hoạt động văn hóa
Hoạt động văn hóa là những quá trình thực hành của cá nhân và các thiết chế xã hội trong việc sản xuất, bảo quản, phân phối giao lưu và tiêu dùng những giá trị văn hóa tinh thần, nhằm giao lưu những tư tưởng, ý nghĩa
và những tác phẩm văn hóa của con người sinh ra và cũng chính là để hoàn thiện chất lượng sống của con người trong xã hội [30] Quản lý nhà nước về văn hóa là sự quản lý của Nhà nước đối với toàn bộ hoạt động văn hóa của quốc gia bằng quyền lực của nhà nước thông qua Hiến pháp, pháp luật và cơ chế, chính sách nhằm đảm bảo sự phát triển của nền văn hóa dân tộc
Quản lý nhà nước về văn hóa mang tính đặc thù vì: Thứ nhất, hoạt
động văn hóa là một hoạt động sáng tạo; các sản phẩm văn hóa mang giá trị lưu truyền từ đời này sang đời khác, làm phong phú cho cuộc sống con
người Về phương diện này, hoạt động đó đòi hỏi có “một khoảng trời tự do nhất định”, giúp cho sức tưởng tượng của chủ thể có “đất sống” để sáng tác Thứ hai, hoạt động văn hóa là hoạt động tư tưởng, có khả năng gây “hiệu ứng” (tốt hoặc xấu) trong xã hội Thứ ba, hoạt động văn hóa là hoạt động
kinh tế, một nguồn lực trực tiếp cho sự phát triển KT-XH
Bảo tồn và phát huy giá trị DSVH, xét cho cùng cũng là một phần của
Trang 21công tác quản lý DSVH nói chung và quản lý DTLS-VH nói riêng Theo
nghĩa thông thường trong tiếng Việt, thuật ngữ “quản lý” được hiểu là trông nom, sắp đặt công việc hoặc gìn giữ, trông nom, theo dõi Cụ thể, “quản lý”
có hai nghĩa là: Tổ chức, điều khiển hoạt động của một số đơn vị, một cơ quan; Trông coi, giữ gìn và theo dõi những hoạt động cụ thể Trường hợp quản lý DTSL-VH có thể hiểu là tổ chức, điều khiển hoạt động của cơ quan quản lý di tích ở các cấp độ khác nhau, tùy theo quy định về chức năng, nhiệm vụ cụ thể Trong lĩnh vực DTLS-VH, cơ quan quản lý di tích có trách nhiệm trông coi, giữ gìn; tổ chức các hoạt động bảo quản, tu bổ, tôn tạo di tích; tổ chức bảo vệ di tích với mục tiêu chống xuống cấp cho di tích, để di tích tồn tại lâu dài; tổ chức lập hồ sơ, xếp hạng xác định giá trị và cơ sở pháp
Phát huy cũng có thể hiểu là tập trung sự chú ý của công chúng một cách tích cực tới các mặt giá trị của DSVH [18]
Quản lý DSVH là một quá trình theo dõi, định hướng và điều tiết quá trình tồn tại và phát triển của các DSVH trên một địa bàn cụ thể nhằm bảo tồn và phát huy tốt nhất giá trị của chúng; đem lại lợi ích to lớn, nhiều mặt, lâu dài cho cộng đồng dân cư, chủ nhân của các DSVH đó [25] Quản lý
Trang 22DTLS-VH là một hoạt động nằm trong công tác quản lý DSVH Theo quan điểm khoa học phổ biến hiện nay, quản lý DSVH không chỉ đơn thuần là quản lý những giá trị vật thể mà quan trọng hơn là người làm công tác quản
lý phải biết cách “đánh thức” những giá trị văn hóa phi vật thể để có tác động
tích cực đến đời sống cộng đồng
Quản lý DTLS-VH cũng chính là sự định hướng, tạo điều kiện tổ chức, điều hành việc bảo vệ, gìn giữ các DTLS-VH, làm cho các giá trị của di tích được phát huy theo chiều hướng tích cực Các DTLS-VH cần được tôn trọng
và bảo vệ vì đây là tài sản vô giá, là tài nguyên kinh tế du lịch không bao giờ cạn kiệt nếu chúng ta biết khai thác một cách khoa học Việc bảo vệ, khai thác, sử dụng có hiệu quả những di tích có ý nghĩa quan trọng trong việc giáo dục truyền thống, phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học, tham quan du lịch, đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ và văn hóa của nhân dân Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước như đặc thù của nước ta hiện nay thì văn hóa cần được quản lý và định hướng để phục vụ cho mục tiêu phát triển KT-XH của đất nước, đồng thời bảo tồn được các giá trị của của bản sắc văn hóa dân tộc
1.1.2 Cơ sở pháp lý cho công tác quản lý di tích lịch sử -văn hóa
Dưới các triều đại phong kiến, ý thức giữ gìn, bảo quản, kiểm kê và tu
bổ di tích đã được cả chính quyền trung ương và toàn xã hội chú ý Trong các
bộ sử ký, các sách địa chí đều có các ghi chép về di tích như: đình, đền, chùa, quán, miếu, thành quách và các nhân vật lịch sử Bộ Luật Hồng Đức ban hành dưới triều vua Lê Thánh Tông có điều khoản ghi việc trừng phạt những người lấy cắp, phá huỷ tượng Phật và chuông đồng cổ Vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, người Pháp đã tiến hành điều tra, nghiên cứu về các di tích kiến trúc nghệ thuật, khảo cổ học trên đất nước ta nhưng việc ban hành các
Trang 23văn bản pháp lý để quản lý và điều hành các hoạt động có tính chất bảo vệ di tích thì hầu như chưa có
Từ sau năm 1945 và nhất là sau năm 1954, hoạt động bảo tồn di tích ở nước ta bắt đầu tiếp cận với khoa học bảo tồn hiện đại của thế giới Và cũng bắt đầu từ đây, các văn bản pháp lý từng bước được xây dựng, để làm sơ sở cho mọi hoạt động có liên quan, đặc biệt là công tác quản lý các DTLS-VH
* Sắc lệnh số 65/SL ngày 23/11/1945 về việc thành lập Đông Phương Bác Cổ học viện và Bảo tồn cổ tích trên toàn cõi Việt Nam
Ngay sau Cách mạng Tháng 8 thành công, trong lúc phải đối phó với giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm nhưng Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà vẫn không quên tới việc bảo vệ các DSVH của dân tộc Nhà nước ta chủ trương đặt toàn bộ các di tích dưới sự bảo hộ của pháp luật Chủ trương đó được thể hiện rất rõ ràng, cụ thể trong Sắc lệnh số 65/SL ngày 23 tháng 11 năm 1945 về việc thành lập Đông Phương Bác Cổ học viện
và bảo tồn cổ tích trên toàn cõi Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Nội
dung Sắc lệnh nêu rõ: “Cấm phá huỷ đình, đền, chùa, đền miếu hoặc những nơi thờ tự khác như cung điện, thành quách cùng lăng mộ đình chùa được bảo tồn” Sắc lệnh đã khẳng định quan điểm và nhận thức đúng đắn của
Chính phủ đối với vai trò và ý nghĩa quan trọng của các di tích trong công cuộc kiến thiết đất nước Tuy nhiên, cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ
đã không cho phép chúng ta mở rộng hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ di tích của đất nước trong giai đoạn này
* Nghị định số 519-TTg ngày 29/10/1957 của Thủ tướng Chính phủ quy định các luật lệ cơ bản cho hoạt động bảo tồn di tích
Đây là một văn bản pháp lý quan trọng, có giá trị nền tảng cho hoạt động bảo vệ di tích nói riêng và bảo tồn, bảo tàng nói chung Nghị định số
Trang 24519-TTg ngày 29 tháng 10 năm 1957 do Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký quy định các luật lệ cơ bản cho hoạt động bảo tồn di tích thời gian này Nghị định gồm 7 mục 12 điều trong đó mục II quy định về liệt hạng di tích; Mục III quy định về sưu tầm và khai quật; Mục IV quy định về bảo quản; Mục V quy định
về trùng tu, sửa chữa; Mục VI quy định về xuất nhập khẩu những di vật có giá trị lịch sử Như vậy, từ năm 1957 cho tới năm 1984, Nghị định số 519-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã phát huy tốt tác dụng làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động của toàn ngành, đặc biệt là hoạt động bảo vệ di tích
* Pháp lệnh số 14-LCT/HĐND ngày 04/4/1984 của Hội đồng Nhà nước bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử-văn hoá và danh lam thắng cảnh
Pháp lệnh là căn cứ pháp lý quan trọng để bảo vệ di tích trong thời kỳ đất nước vừa hoàn toàn thống nhất Đây là bước tiến lớn của ngành bảo tồn, bảo tàng nhằm thống nhất quản lý và chỉ đạo mọi hoạt động bảo vệ di tích bằng các điều luật cụ thể Nhờ có Pháp lệnh và một cơ chế quản lý mới, với
phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, đã góp phần cứu vãn sự
huỷ hoại của hàng ngàn di tích, góp phần ngăn chặn một phần những vi phạm
về đất đai liên quan đến di tích
* Hiến pháp năm 1992 nước Cộng hòa XHCN Việt Nam
Điều 34 của Hiến pháp quy định cụ thể: Nhà nước và xã hội bảo tồn, phát huy các DSVH dân tộc; chăm lo công tác bảo tồn, bảo tàng, tu bổ, tôn tạo, bảo tồn và phát huy tác dụng của các di tích lịch sử, cách mạng, các DSVH, các công trình nghệ thuật, các danh lam thắng cảnh Nghiêm cấm các hành động xâm phạm đến các di tích lịch sử, cách mạng, các công trình nghệ thuật và danh lam thắng cảnh
* Hội nghị lần thứ V của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã thông qua Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 16/7/1998:“Xây dựng và
Trang 25phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”
Nghị quyết đã khẳng định: DSVH là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng
dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa Bảo tồn và phát huy giá trị các DSVH được coi là 1 trong
10 nhiệm vụ cụ thể trong sự nghiệp xây dựng phát triển văn hóa Bản sắc dân tộc ở mỗi giai đoạn lịch sử cũng được bồi đắp thêm bởi nhiều nhân tố, những giá trị văn hóa bền vững, những tinh hoa kết đọng qua từng thời kỳ lịch sử dân tộc, thể hiện ở các DSVH bao giờ cũng là cái cốt lõi Chính với ý nghĩa
đó, Nghị quyết nhấn mạnh phải hết sức coi trọng bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng bao gồm
cả văn hóa vật thể và phi vật thể [2]
* Luật Di sản văn hóa năm 2001 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hoá năm 2009
Những nội dung cơ bản của Luật đã bám sát và đáp ứng được những nhu cầu trong cơ chế điều hành đất nước ta trong giai đoạn hiện nay là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ; toàn dân sống, học tập và làm việc theo pháp luật
Luật Di sản văn hóa ra đời đã tạo ra những cơ sở pháp lý để triển khai một loạt các hoạt động cần thiết trong việc bảo vệ và phát huy giá trị DSVH; xác định rõ quyền hạn và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân và chủ sở hữu đối với DSVH, chỉ rõ những việc được làm và không được làm, những hành vi bị nghiêm cấm, cơ chế khen thưởng, tôn vinh những người có công, xử phạt các hành vi vi phạm di tích; quy định trách nhiệm của các Bộ, ban, ngành có liên quan ở trung ương và Ủy ban nhân dân các cấp trong việc bảo tồn DSVH Những quy định của Luật Di sản văn hóa được xây dựng theo hướng cởi mở, sát với thực tiễn nhằm tạo ra hành lang pháp lý thông thoáng và môi trường thuận lợi cho việc đầu tư phát triển kinh tế của đất nước nói chung và thúc
Trang 26đẩy phát triển du lịch nói riêng, đồng thời góp phần mở rộng giao lưu văn hóa, hội nhập cộng đồng quốc tế Tuy nhiên, trong quá trình đưa Luật Di sản văn hóa áp dụng vào thực tiễn bên cạnh những mặt tích cực, cũng nảy sinh một số hạn chế như chưa xử lý thoả đáng mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển, dẫn đến tình trạng thương mại hoá di tích Một số di tích có xu hướng
bị biến dạng bởi những hoạt động thương mại, tưởng chừng như đóng góp vào ngân sách của địa phương nhưng thực chất là đang phá huỷ di tích, làm mất đi những giá trị về mặt lịch sử, văn hoá, khoa học và kiến trúc thẩm mỹ của di tích Vì vậy, năm 2009 Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2001
* Nghị định số 92/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Di sản văn hóa; Nghị định 98/2010/NĐ-CP ngày 06/11/2010 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2009
Đây là những văn bản quy phạm dưới luật nhằm hướng dẫn và cụ thể hoá những quy định trong Luật Di sản văn hóa năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2009, đặc biệt là những vấn
đề có liên quan đến công tác quản lý DTLS-VH
1.1.3 Nội dung quản lý nhà nước về di tích lịch sử-văn hóa
Pháp luật là công cụ, phương tiện để Nhà nước quản lý và điều chỉnh các mối quan hệ xã hội Pháp luật ra đời và phát triển cùng với sự ra đời của Nhà nước Trong quản lý xã hội, bất kỳ một lĩnh vực nào cũng cần đến pháp luật và quản lý DSVH không nằm ngoài quy định đó Như đã nêu ở trên, công tác quản lý DSVH là một nhiệm vụ không hề đơn giản và nhiều khi phải có những chế tài cụ thể để thực hiện
Trang 27Luật Di sản văn hóa năm 2001, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2009; các Nghị định hướng dẫn thi hành chi tiết Luật Di sản văn hóa đã cụ thể hóa đường lối, chính sách pháp luật, thể hiện tư duy đổi mới của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn cách mạng mới hiện nay Nội dung quản lý nhà nước và cơ quan quản lý nhà nước về DSVH được quy định tại Điều 54 và Điều 55 của Luật Di sản văn hóa năm 2001 được sửa đổi, bổ sung năm 2009, cụ thể như sau:
Điều 54 quy định nội dung quản lý nhà nước về DSVH, gồm:
- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị DSVH
- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hóa
- Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị DSVH, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về DSVH
- Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về DSVH
- Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa
- Tổ chức, chỉ đạo khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa
- Tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa
- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về DSVH [27]
Điều 55 quy định về cơ quan quản lý nhà nước về DSVH, gồm:
Trang 28- UBND các cấp trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình thực hiện việc quản lý nhà nước về DSVH ở địa phương theo phân cấp của Chính phủ [27]
1.2 Tổng quan về hệ thống di tích lịch sử-văn hóa quận Hà Đông
1.2.1 Khái quát về quận Hà Đông
Hà Đông là một quận nội thành của thành phố Hà Nội, cách trung tâm Hà Nội hơn 10 km về phía Tây Quận Hà Đông nằm dọc theo Quốc lộ 6, từ Hà Nội
đi Hòa Bình và trên ngã ba sông Nhuệ, sông La Khê Quận Hà Đông là nơi đặt trụ sở một số cơ quan hành chính cấp thành phố của thủ đô Hà Nội như Sở Giao thông vận tải, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn, Sở Tư pháp, Thanh tra Nhà nước thành phố, Liên minh các HTX…
- Vị trí địa lý: quận Hà Đông có phía Bắc giáp huyện Từ Liêm, huyện Hoài Đức; Phía Đông giáp huyện Thanh Trì; Phía Đông Bắc giáp quận Thanh Xuân; Phía Tây giáp các huyện Quốc Oai, Hoài Đức, Chương Mỹ; Phía Tây Nam giáp huyện Chương Mỹ; Phía Nam giáp các huyện Thanh Oai, Chương Mỹ
- Diện tích tự nhiên: 48,33 km²
- Dân số: 280.000 nhân khẩu
Trang 29Trước 2006, diện tích thị xã Hà Đông (tỉnh Hà Tây) là 16 km², dân số
là 96.000 nhân khẩu Ngày 27 tháng 12 năm 2006, Chính phủ đã ban hành
Nghị định số 155/2006/NĐ-CP thành lập thành phố Hà Đông thuộc tỉnh Hà
Tây với diện tích như cũ (16 km²), dân số là 228.715 nhân khẩu Sau khi điều
chỉnh địa giới hành chính theo Nghị định số 23/2008/NĐ-CP của Chính phủ,
thành phố Hà Đông có diện tích tự nhiên là 48,33 km² và 280.000 nhân khẩu
Quận Hà Đông hiện nay có 17 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm 17 phường:
Quang Trung, Yết Kiêu, Nguyễn Trãi, Phúc La, Vạn Phúc, Hà Cầu, Văn
Quán, Mộ Lao, La Khê, Phú La, Kiến Hưng, Yên Nghĩa, Phú Lương, Phú
Lãm, Dương Nội, Biên Giang, Đồng Mai
1.2.2 Lịch sử hình thành
Năm 1888, tỉnh Hà Đông được thành lập Tỉnh lỵ đóng ở làng Cầu Đơ,
nên lúc đó được gọi là tỉnh Cầu Đơ
Năm 1904, tỉnh Cầu Đơ đổi tên là tỉnh Hà Đông Tỉnh lỵ là thị xã
Hà Đông
Năm 1965, hai tỉnh Hà Đông và Sơn Tây được sáp nhập lại thành tỉnh
Hà Tây Thị xã Hà Đông trở thành tỉnh lỵ của tỉnh Hà Tây
Ngày 27 tháng 12 năm 1975, kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa V đã thông
qua Nghị quyết hợp nhất hai tỉnh Hà Tây và Hòa Bình thành tỉnh Hà Sơn
Bình Thị xã Hà Đông trở thành tỉnh lỵ của tỉnh Hà Sơn Bình
Ngày 29 tháng 12 năm 1978, kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa VI đã thông
qua Nghị quyết phê chuẩn việc sáp nhập một số huyện, thị xã, xã và thị trấn
của tỉnh Hà Sơn Bình và Vĩnh Phú vào thành phố Hà Nội Theo đó, thị xã Hà
Đông thuộc Hà Nội nhưng tạm giao cho tỉnh Hà Sơn Bình quản lý
Ngày 12 tháng 8 năm 1991, kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa VIII đã thông
Trang 30qua Nghị quyết chia tách tỉnh Hà Sơn Bình thành hai tỉnh: Hà Tây và Hòa Bình Theo đó, thị xã Hà Đông lại thuộc tỉnh Hà Tây, gồm 03 phường: Quang Trung, Yết Kiêu, Nguyễn Trãi và 05 xã: Kiến Hưng, Văn Khê, Văn Yên, Vạn Phúc, Hà Cầu
Ngày 23 tháng 6 năm 1994, Chính phủ quyết định thành lập phường Văn Mỗ thuộc thị xã Hà Đông trên cơ sở các thôn Văn Quán, Mộ Lao (xã Văn Yên) và phố Trần Phú của phường Yết Kiêu; phường Phúc La thuộc thị
xã Hà Đông trên cơ sở các thôn Xa La, Yên Phúc (xã Văn Yên) và các phố Nguyễn Đức Cảnh, Tô Hiến Thành, Nguyễn Công Trứ của phường Yết Kiêu Sau khi điều chỉnh, thị xã Hà Đông, gồm 05 phường: Quang Trung, Yết Kiêu, Nguyễn Trãi, Văn Mỗ, Phúc La và 04 xã: Kiến Hưng, Văn Khê, Vạn Phúc, Hà Cầu
Ngày 23 tháng 9 năm 2003, Chính phủ ban hành Nghị định số 107/2003/NĐ-CP về việc thành lập phường Vạn Phúc, phường Hà Cầu thuộc thị xã Hà Đông trên cơ sở diện tích và dân số của 2 xã Vạn Phúc và Hà Cầu; chuyển xã Yên Nghĩa thuộc huyện Hoài Đức và xã Phú Lương, xã Phú Lãm thuộc huyện Thanh Oai về thị xã Hà Đông quản lý Sau khi điều chỉnh, thị xã
Hà Đông có 12 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm 07 phường: Quang Trung, Yết Kiêu, Nguyễn Trãi, Văn Mỗ, Phúc La, Vạn Phúc, Hà Cầu và 05 xã: Kiến Hưng, Văn Khê, Yên Nghĩa, Phú Lương, Phú Lãm
Ngày 01 tháng 4 năm 2006, Chính phủ ban hành Nghị định số 01/2006/NĐ-CP về việc mở rộng thị xã Hà Đông Theo đó, chuyển toàn bộ các xã Biên Giang, Đồng Mai thuộc huyện Thanh Oai và xã Dương Nội thuộc huyện Hoài Đức về thị xã Hà Đông quản lý Sau khi điều chỉnh, thị xã
Hà Đông có 15 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm 07 phường: Quang Trung, Yết Kiêu, Nguyễn Trãi, Văn Mỗ, Phúc La, Vạn Phúc, Hà Cầu và 08
Trang 31xã: Kiến Hưng, Văn Khê, Yên Nghĩa, Phú Lương, Phú Lãm, Biên Giang, Đồng Mai, Dương Nội
Ngày 27 tháng 12 năm 2006, Chính phủ ban hành Nghị định số 155/2006/NĐ-CP thành lập thành phố Hà Đông thuộc tỉnh Hà Tây Thành phố Hà Đông gồm 15 đơn vị hành chính, gồm 07 phường: Quang Trung, Yết Kiêu, Nguyễn Trãi, Văn Mỗ, Phúc La, Vạn Phúc, Hà Cầu và 08 xã: Kiến Hưng, Văn Khê, Yên Nghĩa, Phú Lương, Phú Lãm, Biên Giang, Đồng Mai, Dương Nội
Ngày 01 tháng 3 năm 2008, Chính phủ ban hành Nghị định số 23/2008/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính thành phố Hà Đông
để thành lập các phường Văn Quán, Mộ Lao, La Khê, Phú La thuộc thành phố Hà Đông Theo đó, phường Văn Quán được thành lập trên cơ sở một phần diện tích và nhân khẩu của phường Văn Mỗ; Phường Mộ Lao được thành lập trên cơ sở diện tích và nhân khẩu còn lại của phường Văn Mỗ; Phường La Khê được thành lập trên cơ sở một phần diện tích và nhân khẩu của xã Văn Khê, xã Yên Nghĩa và phường Quang Trung; Phường Phú La được thành lập trên cơ sở diện tích và nhân khẩu còn lại của xã Văn Khê; một phần diện tích và nhân khẩu của phường Quang Trung, phường Hà Cầu; một phần diện tích và nhân khẩu của xã Phú Lãm, xã Yên Nghĩa, Phú Lương, Kiến Hưng Sau khi điều chỉnh, thành phố Hà Đông có có 17 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm 10 phường: Quang Trung, Yết Kiêu, Nguyễn Trãi, Phúc La, Vạn Phúc, Hà Cầu, Văn Quán, Mộ Lao, La Khê, Phú La và
07 xã: Kiến Hưng, Yên Nghĩa, Phú Lương, Phú Lãm, Dương Nội, Biên Giang, Đồng Mai
Ngày 29 tháng 5 năm 2008, Nghị quyết của Quốc Hội khóa XII, kỳ họp thứ III đã thông qua, theo đó từ ngày 01 tháng 8 năm 2008, cùng với toàn
Trang 32bộ tỉnh Hà Tây, thành phố Hà Đông được sáp nhập về thủ đô Hà Nội
Ngày 08 tháng 5 năm 2009, Chính phủ ban hành Nghị quyết số
19/NQ-CP về việc thành lập quận Hà Đông thuộc thành phố Hà Nội trên cơ sở toàn
bộ là 48,33 km² diện tích tự nhiên và 280.000 nhân khẩu, với 17 đơn vị hành chính trực thuộc của thành phố Hà Đông, gồm 17 phường: Quang Trung, Yết Kiêu, Nguyễn Trãi, Phúc La, Vạn Phúc, Hà Cầu, Văn Quán, Mộ Lao, La Khê, Phú La, Kiến Hưng, Yên Nghĩa, Phú Lương, Phú Lãm, Dương Nội, Biên Giang, Đồng Mai
Như vậy, Hà Đông trở thành quận có diện tích lớn thứ hai của thành phố Hà Nội, sau quận Long Biên
1.2.3 Truyền thống lịch sử, văn hóa
Hà Đông là một vùng đất có truyền thống lịch sử và văn hóa lâu đời Nơi đây có nhiều làng nghề truyền thống như: Dệt lụa Vạn Phúc, the La Khê, mộc Thượng Mạo, rèn Đa Sỹ…
Làng Vạn Phúc nằm bên dòng sông Nhuệ, trên một dải đất hình thoi Làng Vạn Phúc xưa là làng Việt cổ, có nghề dệt lụa từ lâu đời (cách đây hơn
1000 năm) Tương truyền Đức Thánh thành Hoàng làng là Bà Ả Lễ Đê Nương, người có công lập làng, dạy dân nghề canh cửi Danh tiếng của lụa Vạn Phúc - Hà Đông nổi tiếng khắp trong Nam, ngoài Bắc và cả quốc tế, đã
đi vào nhiều áng thơ, ca dao, tục ngữ, âm nhạc và điện ảnh: "The La, lụa Vạn, sồi Phùng", "Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông" Làng lụa Vạn Phúc có tiếng từ thời Lý, lụa cao cấp để tiến, cống vua
các triều đại Lý, Trần, Lê, Nguyễn, theo khách buôn sang phương Tây, Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên và một số nước Đông Nam Á qua con đường giao thương tại các cửa biển Vạn Ninh (Quảng Ninh), Hội An (Quảng Nam) Dưới triều Nguyễn, lụa Vạn Phúc thậm chí được chọn may quốc phục Trong
Trang 33hai năm 1931 và 1936, thợ dệt lụa Vạn Phúc hai lần mang sản phẩm sang dự đấu xảo ở Marseille và Paris (Pháp) Nét đặc biệt của lụa Vạn Phúc nói chung và lụa hàng vân nói riêng là ấm áp vào mùa đông và mát mẻ vào mùa
hè, mềm mại và nhẹ nhàng Hoa văn trang trí trên vải lụa tuy rất đa dạng với các mẫu Song Hạc, mẫu Thọ Đỉnh, mẫu Tứ Quý song luôn tuân theo những thủ pháp nghệ thuật truyền thống như trang trí đối xứng, đường nét không rườm rà, phức tạp mà phóng khoáng, dứt khoát Từ đó cho đến nay, lụa Vạn Phúc vẫn luôn nhận được sự đánh giá cao trên thế giới, nhất là mặt hàng lụa hàng vân Lụa Vạn Phúc đã có mặt tại nhiều Hội chợ trong và ngoài nước
như: “Hội Du lịch làng nghề truyền thống Hà Tây” các năm: 2001, 2003,
2005; “Ngày hội văn hóa Việt - Nhật” năm 2003, tổ chức tại Tookyo (Nhật Bản); Hội chợ Thương mại quốc tế EXPORT 2010 (tổ chức tại Việt Nam)…Trải qua bao thăng trầm đổi thay, lụa Vạn Phúc vẫn giữ được nguyên vẹn những giá trị cổ truyền trên từng vân lụa, thớ vải
Ngoài lụa Vạn Phúc, quận Hà Đông còn có làng La Khê nổi tiếng với sản phẩm the tiến vua với hoa văn độc đáo
Từ La Khê, theo đường Lê Trọng Tấn, qua khu đô thị Văn Phú, theo đường Phúc La, Văn Phú hoặc theo đường Quốc lộ 6 là tới làng Đa Sỹ - một làng quê hiếu học, giỏi nghề Dưới triều đại phong kiến, Đa Sỹ là làng có nhiều người đỗ đạt cao Trước đây làng có tên cổ là Huyền Khê, sau được đổi thành Đa Sỹ vì có nhiều người đỗ tiến sĩ Đa Sỹ có 11 tiến sĩ, trong số này có hai người là Trạng nguyên, một người là Lưỡng quốc Trạng nguyên
Làng Đa Sỹ còn có miếu thờ Danh y, Lương dược hầu, Lương dược linh thông cư sĩ Hoàng Đôn Hòa cùng phu nhân Ông được coi là ông Tổ thuốc nam cuối thế kỷ XVI và được tôn là Đức thánh Thành hoàng làng Ông
đã có nhiều bài thuốc nam có tác dụng bồi bổ cơ thể, những bài thuốc chăm
Trang 34sóc sức khỏe rất hiệu nghiệm như: sốt rét, ngã nước, trúng độc, tiêu chảy, sài đẹn…được sử dụng hiệu quả, đóng góp công sức to lớn vào việc bảo vệ, chăm sóc sức khỏe binh lính và nhân dân Hiệu quả của các bài thuốc nổi tiếng đến mức Cụ được vua Lê Thế Tông cử giữ chức Điều hộ lục quân, sau
đó được gia phong chức thị nội Thái y viện Thủ phiên và được nhà vua chọn làm phò mã, gả con gái là Phương Anh công chúa
Hai thế kỷ sau, các bài thuốc của cụ Hoàng Đôn Hòa đã được Trịnh Đôn Phác, lương y của làng Đa Sỹ, ở thế kỷ XVIII kế thừa và phát huy Với tài năng xuất chúng, lương y Trịnh Đôn Phác đã vận dụng sáng tạo các bài thuốc của cụ Hoàng Đôn Hòa, chữa khỏi nhiều chứng bệnh nan y cho nhân dân Ông cũng được làm Thủ phiên tại Thái y viện Trong lần đi sứ sang triều đình Mãn Thanh, ông đã chữa được bệnh nan y cho vua Càn Long và được
phong danh hiệu "Lịch thế y" Không những thế, ông có công lưu giữ, biên soạn, bổ sung cuốn sách "Hoạt nhân toát yếu" (phép cốt yếu cứu người) của
cụ Hoàng Đôn Hòa bao gồm 201 phương thuốc chữa bệnh đơn giản; kinh nghiệm ứng trị 103 phương thuốc nội khoa, 21 phương thuốc ngoại khoa, 11 phương thuốc phụ khoa, 06 bài thuốc thương khoa, 05 bài thuốc nhi khoa, 55
bài thuốc trị bệnh cho thú Ngoài ra còn kèm một thiên về "Tính mệnh khuê tăng chi bổ" (giữ gìn bồi bổ sức khỏe, tính mệnh con người, kéo dài tuổi thọ)
Đa Sỹ còn nổi tiếng bởi đức tính lao động cần cù sáng tạo, với trí tuệ, tài năng Người dân làng Đa Sỹ đã tạo nên những sản phẩm rèn nổi tiếng phục vụ đời sống nhân dân Các sản phẩm rèn của Đa Sỹ từ con dao, cái kéo đến những sản phẩm nông cụ phục vụ sản xuất nông nghiệp có mặt khắp mọi miền, được người tiêu dùng mến mộ
Quận Hà Đông còn là nơi có nhiều DTLS-VH nổi tiếng như: Đình, Chùa Văn Quán (phường Văn Quán), Đình, Chùa, Bia Bà La Khê (phường La Khê),
Trang 35Đình và chùa Mậu Lương (phường Kiến Hưng), Đình Cầu Đơ, đình và chùa Hà Trì (phường Hà Cầu), Đình và chùa La Cả (phường Dương Nội), Nhà Lưu niệm Bác Hồ tại phường Vạn Phúc và tại Văn La (phường Phú La)…
Vốn là vùng đất “tứ quý danh hương”, lại gần kinh kỳ, nên từ xưa đến
nay, vùng đất Hà Đông luôn xuất hiện nhiều bậc hiền tài, đỗ đạt đại khoa trong thời phong kiến hoặc nổi tiếng là nhà văn, nhà thơ, nhà khoa học, nhà quân sự lỗi lạc thời hiện Có thể kể ra đây một vài nhân vật tiêu biểu như: Hoàng Đôn Hòa, Trịnh Đôn Phác, Bạch Thái Bưởi, Lê Trọng Tấn, Nguyễn Văn Hiệu, Hồ Phương, Xuân Quỳnh, Ngô Duy Viên, Nguyễn Duy Nghi, Lê Đăng Cử, Trần Khắc Minh, Hoàng Du…
1.3 Hệ thống di tích lịch sử-văn hóa quận Hà Đông
1.3.1 Số lượng di tích lịch sử-văn hóa
Căn cứ vào văn bản báo cáo tình hình bảo tồn, phát huy giá trị các DSVH do phòng VH&TT tổng hợp ngày 14 tháng 12 năm 2009 thì quận Hà Đông hiện có 117 di tích, bao gồm: 42 Đình, 35 Chùa, 06 Đền, 18 Miếu, 03 Phủ, 03 Quán, 03 Nhà Lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, 05 Nhà thờ dòng họ nổi tiếng, 02 Di tích cách mạng Trong tổng số 117 DTLS-VH trên địa bàn quận Hà Đông, đã có 78 di tích đã được xếp hạng DTLS-VH cấp thành phố
và cấp quốc gia Ngoài ra, trên địa bàn quận còn có 09 nhà thờ công giáo, 01 nhà nguyện phục vụ cho các tín đồ của đạo Công giáo
Ngoài những di tích đã liệt kê trên đây, quận Hà Đông còn có 02 địa điểm Lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người về thăm nói chuyện với Tỉnh ủy Hà Đông và thăm cán bộ, học viên Học viện An ninh nhân dân; 01 nhà Lưu niệm cố đại tướng Lê Trọng Tấn, phường Yên Nghĩa và 04 địa điểm
là di tích cách mạng kháng chiến gồm: 1/Nhà cụ Tư Thủy tại tổ dân phố Hồng Phong, phường Vạn Phúc, là cơ sở cách mạng của xứ ủy Bắc Kỳ;
Trang 362/Nhà cụ Nguyễn Phúc Khánh, tổ dân phố Hồng Phong, phường Vạn Phúc, là nơi thành lập Đảng Bộ tỉnh Hà Đông tháng 11 năm 1938; 3/Đình làng Vạn Phúc, nơi diễn ra cuộc đấu tranh chống sưu cao thuế nặng năm 1937; 4/Số nhà 90, phố Lê Lợi, nơi Tỉnh ủy Hà Đông họp bàn kế hoạch khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Đông
Theo thống kê của phòng VH&TT quận Hà Đông, số lượng các
DTLS-VH được phân bố trên địa bàn các phường như sau:
Biểu 1.1: Số lượng các DTLS-VH của quận Hà Đông
TT Tên phường Số lượng
5 Kiến Hưng 10 02 Đình, 03 Chùa, 03 Miếu, 01 Nhà thờ dòng
họ, 01 Bia căm thù (di tích cách mạng)
6 Phú La 05 02 Đình, 02 Chùa, 01 Nhà Lưu niệm Bác Hồ
01 tượng đài ghi công (di tích cách mạng)
10 Dương Nội 05 02 Đình, 02 Chùa, 01 Miếu
11 Văn Quán 04 01 Đình, 02 Chùa, 01 Miếu
12 Hà Cầu 06 02 Đình, 02 Chùa, 02 Miếu
13 Phú Lương 25 06 Đình, 05 Chùa 04 Đền, 04 Miếu, 03 Phủ,
01 Quán, 02 Nhà thờ dòng họ
Trang 37TT Tên phường Số lượng
di tích Chi tiết các loại hình DTLS-VH
14 Yên Nghĩa 09 04 Đình, 05 Chùa
15 Quang Trung 0
16 Nguyễn Trãi 0
Tổng cộng 117
Nguồn: Phòng VH&TT quận cung cấp năm 2011
Biểu tổng hợp trên đây cho thấy có 03/17 phường thuộc quận Hà Đông không có DTLS-VH, đó là các phường: Quang Trung, Nguyễn Trãi, Yết Kiêu
1.3.2 Phân loại di tích lịch sử-văn hóa
Luật Di sản văn hóa năm 2001 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định:
để trở thành DTLS-VH phải có một trong các tiêu chí sau đây: 1/Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu của quốc gia hoặc của địa phương; 2/Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia, của địa phương trong các thời kỳ lịch sử; 3/Địa điểm khảo cổ
có giá trị tiêu biểu; 4/Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển kiến trúc nghệ thuật [27]
Đối chiếu với các tiêu chí đã được nêu ra trong Luật Di sản văn hóa, trong 117 di tích của quận Hà Đông có thể phân chia 02 loại hình di tích: Loại hình di tích lịch sử và Loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật
Theo thống kê của phòng VH&TT quận Hà Đông, từng loại hình có thể phân chia thành các loại di tích cụ thể như sau
Trang 38Biểu 1.2: Số lượng các loại hình DTLS-VH trên địa bàn quận Hà Đông
Nguồn: Phòng VH&TT quận cung cấp năm 2011
Từ việc phân loại các DTLS-VH nêu ra trên đây, có một số vấn đề cơ bản
cần quan tâm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quản lý các loại DSVH vật thể:
Một là, theo Luật Di sản văn hóa, DTLS-VH không chỉ là những công
trình xây dựng, địa điểm, mà còn bao gồm các loại hình di vật, cổ vật, bảo vật
quốc gia thuộc công trình, địa điểm ấy Vì vậy, trong các loại hình di tích, đặc
biệt là di tích kiến trúc nghệ thuật, kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng, ở các di tích
này còn bảo lưu trong nội thất nhiều di vật, cổ vật quý như: chuông đồng, bia
đá, tượng thờ, đồ thờ, sắc phong…Đó là những tài sản quý giá, trong quá trình
quản lý di tích cần phải quan tâm Trên thực tế ở nhiều di tích, do sơ xuất trong
bảo vệ và quản lý nên đã dẫn đến tình trạng bị mất cổ vật quý
Hai là, các DTLS-VH là các cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng Đây là các
DSVH vật thể luôn có những giá trị văn hóa phi vật thể tồn tại ở trung tâm Cụ
thể hơn, ở các di tích kiến trúc này thường có tổ chức lễ hội, các nghi lễ tôn
giáo, tín ngưỡng Đó là một nét sinh hoạt văn hóa tâm linh của cộng đồng Vì
vậy trong quá trình quản lý di tích, chúng ta cần chú ý đến việc phối hợp với các
cơ quan chức năng và cộng đồng để việc tổ chức lễ hội được tốt
Trang 39Theo thống kê năm 2010 của phòng VH&TT, quận Hà Đông hiện có 47 lễ
hội truyền thống, mỗi lễ hội lại có một nét văn hóa đặc sắc riêng đại diện cho mỗi
vùng, phục vụ tốt cho nhu cầu tâm linh, tham quan giải trí và nghiên cứu của nhiều
tầng lớp nhân dân trong và ngoài nước 47 lễ hội truyền thống đó được tổ chức ở
14/17 phường của quận Hà Đông; có 03 phường: Yết Kiêu, Quang Trung và
Nguyễn Trãi, do không có di tích tôn giáo, tín ngưỡng nên không có lễ hội truyền
thống tại các phường này (xem Biểu 3.1, phụ lục luận văn)
Biểu 1.3: Số lượng Lễ hội truyền thống của từng phường trên địa bàn
Trang 40Ba là, vấn đề sở hữu DTLS-VH Hiện nay trên địa bàn quận Hà Đông có
các di tích thuộc quyền sử hữu của các dòng họ như: Di tích nhà thờ họ Đặng (phường Phú Lương), nhà thờ-văn chỉ tiến sĩ Hoàng Trình Thanh (phường Kiến Hưng), nhà thờ danh nhân họ Dương (phường Phú Lương), nhà thờ Ngô Duy Viên (phường La Khê), nhà thờ Nguyễn Xuân Huyên (phường Đồng Mai) Theo thống kê, hiện nay toàn quận Hà Đông có 05 nhà thờ các dòng họ nổi tiếng, cả 05 nhà thờ này đều đã được xếp hạng cấp thành phố Đây là các công trình kiến trúc được xây dựng bằng kinh phí của các dòng họ, vì vậy chúng thuộc sở hữu của các dòng họ Trong công tác quản lý DTLS-VH, mặc dù các di tích nhà thờ dòng họ đã được nhà nước xếp hạng cấp thành phố, đã trở thành DSVH vật thể Tuy nhiên, trong quá trình quản lý vẫn cần có những chính sách
và biện pháp quản lý phù hợp Điều cơ bản ở đây là mọi hoạt động bảo tồn và khai thác phát huy giá trị của di tích ở dạng này cần phải có sự đồng thuận của chủ sở hữu và cơ quan quản lý di tích Điều đó sẽ càng tăng thêm thuận lợi cho quá trình bảo tồn di tích đặc biệt là sự đóng góp về nguồn lực cho việc bảo vệ, bảo quản, tu bổ, chống xuống cấp cho di tích
1.3.3 Hiện trạng và tình trạng kỹ thuật các di tích lịch sử-văn hóa trong quận Hà Đông
Hệ thống DTLS-VH của quận Hà Đông được hình thành, phát triển, tồn tại cho tới nay đã trải qua nhiều thế kỷ Những công trình kiến trúc nghệ thuật
có niên đại sớm nhất vào thế kỷ XVII, XVIII, XIX và đầu thế kỷ XX Do những tác động của các yếu tố tự nhiên, ở nước ta tình trạng nắng, mưa, độ ẩm, bão gió…đã có những tác động không nhỏ đến tình trạng của các kết cấu kiến trúc
và các loại vật liệu kiến trúc, đặc biệt là loại chất liệu gỗ Mặt khác các loại vật liệu xây dựng kiến trúc cũng tự nó bị xuống cấp theo thời gian Vì vậy trong quá trình nghiên cứu hiện trạng và tình trạng kỹ thuật của các DTLS-VH quận Hà Đông, tác giả luận văn phân chia làm 04 loại:
* Di tích xuống cấp trầm trọng, đã bị hư hỏng tới 70-80%