LỜI CẢM ƠN Được sự phân công của tổ bộ môn Lịch sử, khoa Khoa học xã hội, trường Đại học Hồng Đức và sự đồng ý của cô giáo hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Thị Thúy, tôi đã thực hiện đề tài “Lịch
Trang 1Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Thúy
THANH HÓA, NĂM 2019
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này không trùng lặp với các khóa luận, luận văn, luận án và các công trình nghiên cứu đã công bố
Người cam đoan
Lê Thị Luyên
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Được sự phân công của tổ bộ môn Lịch sử, khoa Khoa học xã hội, trường Đại học Hồng Đức và sự đồng ý của cô giáo hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Thị Thúy, tôi đã thực hiện đề tài “Lịch sử văn hóa vùng đất Vĩnh Thành (Vĩnh Lộc, Thanh Hóa)”
Để hoàn thành chương trình cao học và thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý rất nhiệt tình của các thầy cô trường Đại học Hồng Đức cùng các tập thể, cá nhân khác
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ giảng dạy khoa Khoa học Xã hội - trường Đại học Hồng Đức đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của UBND xã Vĩnh Thành, Thư viện tỉnh Thanh Hóa, thư viện huyện Vĩnh Lộc, Ban Quản lý Di tích và Danh thắng Thanh Hóa đã tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình thu thập tài liệu nghiên cứu Tôi cũng xin cảm ơn gia tộc, các thôn trong xã Vĩnh Thành đã cung cấp tư liệu và giúp đỡ tôi trong quá trình đi thực tế tại địa phương
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Thị Thúy, người đã tận tình giúp đỡ, trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình làm luận văn
Mặc dù tôi đã cố gắng hoàn thiện luận văn bằng tất cả sự nhiệt tình và năng lực của mình, tuy nhiên sẽ không thể tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô cùng bạn bè, đồng nghiệp
Thanh Hóa, tháng 12 năm 2019
Tác giả
Lê Thị Luyên
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích, đối tượng, nhiệm vụ và giới hạn phạm vi nghiên cứu 5
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 6
5 Đóng góp của luận văn 8
6 Bố cục luận văn 9
CHƯƠNG 1 VÀI NÉT VỀ VÙNG ĐẤT VĨNH THÀNH 10
1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và hệ thống giao thông 10
1.1.1 Vị trí địa lý 10
1.1.2 Điều kiện tự nhiên 12
1.1.3 Hệ thống giao thông 15
1.2 Vùng đất Vĩnh Thành trước cách mạng tháng Tám 1945 15
1.2.1 Vùng đất Vĩnh Thành trước thế kỉ XIX 15
1.2.2 Vùng đất Vĩnh Thành từ thế kỉ XIX đến cách mạng tháng Tám 1945 22
1.3 Vùng đất Vĩnh Thành từ sau cách mạng tháng Tám 1945 đến nay 26
1.3.1 Vùng đất Vĩnh Thành từ sau cách mạng tháng Tám 1945 đến năm 1954 26
1.3.2 Vùng đất Vĩnh Thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước (1954-1975) 28
1.3.3 Vùng đất Vĩnh Thành từ năm 1975 đến nay 30
Tiểu kết chương 1 36
CHƯƠNG 2 DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ VÙNG ĐẤT VĨNH THÀNH 38
Trang 52.1 Đình làng và đền thờ 38
2.1.1 Cụm di tích đình-đền Hà Lương 38
2.1.2 Đền thờ Trần Khát Chân 43
2.2 Chùa và nhà thờ 51
2.2.1 Chùa Phúc Long 51
2.2.2 Chùa Hà Lương 55
2.2.3 Nhà thờ giáo xứ Nhân Lộ 56
2.3 Các di tích liên quan đến việc xây thành dời đô 57
2.3.1 Di tích La Thành 57
2.3.2 Đàn Tế Nam Giao 59
2.4 Thực trạng và giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị 62
2.4.1 Thực trạng 62
2.4.2 Giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị 64
Tiểu kết chương 2 68
CHƯƠNG 3 DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ VÙNG ĐẤT VĨNH THÀNH 70
3.1.Phong tục- tập quán, tôn giáo-tín ngưỡng 71
3.1.1 Phong tục -tập quán 71
3.1.2.Tôn giáo - tín ngưỡng 78
3.2 Lễ hội truyền thống 85
3.2.1 Lê hội đền Trần Khát Chân 86
3.2.2 Lễ hội đua thuyền 97
3.3 Làng nghề thủ công truyền thống 99
3.4 Thực trạng và giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị 104
3.4.1 Thực trạng 104
3.4.2 Giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị 106
Tiểu kết chương 3 108
KẾT LUẬN 110
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 114
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Trong lịch sử hình thành và phát triển, làng xã luôn được xem là
“cội nguồn” của văn hóa dân tộc Làng- xã :“đóng một vai trò hết sức đặc biệt
đối với lịch sử đất nước nói chung và đối với cuộc sống con người Việt Nam nói riêng” [ 33, tr8] Vì vậy, văn hóa hóa làng xã Việt Nam từ lâu là mối quan
tâm lớn của xã hội và của các nhà sử học trong và ngoài nước
Di sản văn hóa làng Việt là sản phẩm của lịch sử và trong quá trình tồn tại, phát triển luôn thu thập vào nó những dấu ấn thay đổi của đất nước Do
đó, việc nghiên cứu văn hóa làng xã Việt Nam là yêu cầu, nhiệm vụ quan trọng, góp phần làm sáng tỏ không chỉ lịch sử dân tộc- địa phương mà còn có thể góp phần lý giải cuộc sống hiện tại và cả vấn đề tương lai của đất nước 1.2 Huyện Vĩnh Lộc (Thanh Hóa) là vùng đất Địa linh- Nhân kiệt, nơi sản sinh ra nhiều danh nhân trong lịch sử dân tộc Thời Trần, vùng đất này là thái ấp của Lê Tần- một danh tướng trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông- Nguyên lần thứ nhất (1258) Đây cũng là vùng đất kinh đô của đất nước (Tây Đô), đất phát tích của chú Trịnh và các danh tướng như Trần Khát Chân, Trịnh Khả, Hoàng Đình Ái, Tống Duy Tân và dấu ấn lịch sử còn
để lại trên vùng đất này là kho tàng di sản văn hóa đặc sắc Trong đó, đặc biệt
là Thành nhà Hồ/ Tây Đô đã trở thành di sản văn hóa của nhân loại Truyền thống lịch sử - văn hóa của huyện Vĩnh Lộc đã được hun đúc nên nhiều vùng đất nổi tiếng Một trong số đó, đáng lưu ý là vùng đất Vĩnh Thành (Vĩnh Lộc, Thanh Hóa)- quê hương của danh tướng Trần Khát Chân
1.3 Nằm trong không gian văn hóa Tây Đô, vùng đất Vĩnh Thành là nơi hội tụ, bảo tồn được nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể phong phú, đa dạng Tiêu biểu là cụm di tích đình- đền- chùa Hà Lương, đền thờ Trần Khát Chân, nhà thờ giáo xứ Nhân Lộ, lễ hội đền Trần Khát Chân, lễ hội đua thuyền
Trang 8Hàng trăm năm qua, không gian văn hóa Tây Đô nói chung và vùng đất Vĩnh Thành nói riêng đã được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu trên nhiều phương diện Nhưng đến nay, vẫn còn nhiều vấn đề về lịch sử, văn hóa còn đang để ngỏ và cần được tiếp tục nghiên cứu sâu hơn với những tư liệu mới
Vì thế, việc tìm hiểu lịch sử văn hóa vùng đất Vĩnh Thành trở thành một nhiệm vụ bức thiết Nghiên cứu sâu và toàn diện các giá trị văn hóa trên vùng đất này một mặt góp phần bảo tồn, phát huy những giá trị truyền thống vốn
có, đồng thời còn là những luận cứ khoa học để xây dựng nông thôn mới trong thời kỳ hội nhập toàn cầu Mặt khác, tìm hiểu lịch sử văn hóa vùng đất Vĩnh Thành còn góp phần khám phá các ẩn số của Thành nhà Hồ và không gian văn hóa Tây Đô
1.4 Là một người hiện đang sinh sống và công tác trên quê hương Vĩnh Lộc, tự hào hơn là một giáo viên lịch sử nên tôi cũng có nhiều cơ hội để tìm hiểu về những di tích lịch sử - văn hóa ở vùng đất Vĩnh Thành Hơn nữa, thông qua những tài liệu mới sưu tầm và được sự hướng dẫn, giúp đỡ của các
thầy, cô trường Đại học Hồng Đức, tôi chọn vấn đề Lịch sử văn hóa vùng đất
Vĩnh Thành (Vĩnh Lộc, Thanh Hóa) làm đề tài luận văn Thạc sỹ lịch sử
giá trị của di sản văn hóa trên vùng đất Vĩnh Thành Qua đó, còn phục vụ thiết thực cho việc dạy học lịch sử-văn hóa địa phương và giáo dục truyền thống lịch sử- văn hóa của quê hương, đất nước
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến huyện Vĩnh Lộc, trong đó có vùng đất Vĩnh Thành nói riêng với những góc độ và cách
tiếp cận khác nhau
- Đầu thế kỷ XIX, có thể xem công trình khảo cứu sớm nhất về vùng
đất Vĩnh Lộc nói chung và Vĩnh Thành nói riêng là cuốn sách chữ Hán Thanh
Hóa tỉnh Vĩnh Lộc huyện chí của Lưu Công Đạo [15] Tác giả sách đã dành
Trang 9nhiều trang khảo cứu các vấn đề về vùng đất và danh thắng trong đó phần viết
về con người, lịch sử, núi sông có nói đến vùng đất tổng Cao Mật (gồm có Cao Mật, Hà Lương, Nhân Lộ thuộc xã Vĩnh Thành ngày nay)
Thanh Hóa là một tỉnh đã nghiên cứu, biên soạn bộ Địa chí tỉnh, Địa chí huyện, lịch sử Đảng bộ huyện, xã, lịch sử các xã, các ngành, các tập sách
về danh nhân, tên làng xã và các loại sách khảo sát các vùng văn hóa Trong các loại sách khảo cứu về tỉnh Thanh Hóa này có nhiều cuốn đã đề cập đến vùng đất Vĩnh Thành dưới những cách tiếp cận và mức độ khác nhau
Bộ sách Lịch sử Thanh Hóa tập 1 - Thời tiền sử và sơ sử (5 tập) [8] viết
về lịch sử Thanh Hóa từ những buổi đầu hình thành và phát triển, trong đó vùng đất Vĩnh Lộc nói chung và Vĩnh Thành nói riêng được xác định là vùng đất cổ, với sự hình thành của các làng Việt cổ ven bờ sông Mã, với nền văn minh Đông Sơn cách ngày nay 2000 - 2500 năm
Tên làng xã ở Thanh Hóa (tập 1) [6] do Ban nghiên cứu và Biên soạn
lịch sử Thanh Hóa biên soạn đã giới thiệu về 15 xã của huyện Vĩnh Lộc trong
đó có xã Vĩnh Thành Tuy nhiên các tác giả mới dừng lại ở việc thống kê tên gọi của các làng xã nên quá trình hình thành vùng đất Vĩnh Thành chưa được quan tâm
Cuốn Di tích và danh thắng Thanh Hóa [9], là công trình nghiên cứu
trực tiếp đến một số công trình di tích lịch sử - danh thắng, làng nghề cụ thể tại Vĩnh Thành, phục vụ cho công tác quản lý, bảo vệ di tích danh thắng tại địa phương Đây là các tài liệu khảo cứu đơn lẻ từng di tích ở dạng số liệu thống kê, chưa có sự đánh giá, kết luận và đưa ra các phương án bảo tồn
Quyển Lịch sử Đảng bộ huyện Vĩnh Lộc (1930-2010) [2], là công trình
nghiên cứu chuyên sâu về lịch sử Đảng của huyện Vĩnh Lộc, trong đó phần nào
đã phản ánh được truyền thống yêu nước, vùng đất lịch sử cách mạng của huyện Vĩnh Lộc nói chung, trong đó có xã Vĩnh Thành
Trang 10Đáng lưu ý là PGS.TS Nguyễn Thị Thúy đã có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về không gian văn hóa Tây Đô và các làng cổ khu vực thành nhà Hồ trong đó có làng thuộc vùng đất Vĩnh Thành và các di tích, lễ hội có
liên quan tiêu biểu như: Thành Tây Đô và vùng đất Vĩnh Lộc (Thanh Hoá) từ
cuối thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XIX, (Luận án Tiến sỹ Lịch sử 2009) [45],
chuyên khảo Thành Tây Đô - Di sản văn hóa thế giới [47], Báo cáo tổng kết
đề tài khoa học cấp tỉnh 2014 Thực trạng và giải pháp bảo tồn làng cổ khu vực
Thành Nhà Hồ [48] (chủ nhiệm đề tài), là những công trình nghiên cứu
chuyên sâu những biến đổi về địa danh của vùng đất Vĩnh Lộc, về kinh thành Tây Đô và các làng cổ khu vực di sản thế giới Thành nhà Hồ
Cuốn Lịch sử xã Vĩnh Thành [18] của Đảng ủy, UBND xã Vĩnh Thành
biên soạn đã khái quát về vùng đất Vĩnh Thành trên các phương diện như vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, quá trình hình thành phát triển làng xã, truyền thống văn hóa lịch sử, danh nhân, các di tích lịch sử Tuy nhiên, tác phẩm mới chỉ dừng ở dạng khảo tả bước đầu một số giá trị tiêu biểu, chưa đi sâu nghiên cứu tổng thể, đánh giá các giá trị lịch sử, văn hóa và đưa ra các phương án đề xuất bảo tồn
Luận văn thạc sĩ Trần Khát Chân với vùng đất Hà Lương (Vĩnh Thành,
Vĩnh Lộc, Thanh Hóa) [22], của tác giả Nguyễn Thị Hương, chuyên ngành lịch sử Việt Nam, Trường Đại học Hồng Đức cũng đã tập trung nghiên cứu về vùng đất này dưới góc độ về nhân vật Trần Khát Chân, ảnh hưởng của ông với vùng đất Hà Lương Tuy nhiên, tác giả mới chỉ đề cập đến những di tích,
lễ hội riêng của làng Hà Lương chứ chưa đi sâu nghiên cứu và hệ thống đầy
đủ, toàn diện về lịch sử và văn hóa truyền thống của vùng đất Vĩnh Thành
Nhìn trên tổng thể, đã có nhiều công trình nghiên cứu, giới thiệu về vùng đất Vĩnh Thành nhưng vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về lịch sử-văn hóa của vùng đất này Tuy nhiên, ở mỗi công trình nghiên cứu, các tác giả chỉ mới chỉ nêu lên khía cạnh mà mình tiếp cận và quan tâm Vì vậy, luận
Trang 11văn này chúng tôi bổ sung thêm tài liệu để tìm hiểu sâu hơn, toàn diện hơn, làm sáng tỏ thêm một số vấn đề về vùng đất Vĩnh Thành như các di tích, lễ hội, sinh hoạt văn hóa truyền thống một cách tổng thể, có hệ thống nhằm đóng góp vào công tác bảo tồn và phát huy giá trị của không gian di sản văn hóa thế giới Thành Nhà Hồ
3 Mục đích, đối tƣợng, nhiệm vụ và giới hạn phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu toàn diện quá trình phát sinh, phát triển và giá trị các
di sản văn hóa vật thể và phi vật thể vùng đất Vĩnh Thành Từ đánh giá thực trạng di sản văn hóa trên vùng đất này, từ đó đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị của văn hóa của vùng đất Vĩnh Thành
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vùng đất Vĩnh Thành (bao gồm lịch sử hình thành vùng đất,các giá trị lịch sử văn hóa vật thể, phi vật thể)
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn nhằm giải quyết các vấn đề sau:
Từ những hiểu biết tổng quan về vùng đất Vĩnh Thành có thể nhận thức
và xác định vị trí và vị thế của vùng đất này trong dòng chảy lịch sử - văn hóa dân tộc
Hệ thống các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể còn hiện hữu trên vùng đất Vĩnh Thành để tái hiện lại vùng đất cổ và có cái nhìn sâu sắc hơn về những giá trị văn hóa của vùng đất này
Làm nổi bật những đặc điểm riêng trong lịch sử hình thành của vùng đất Vĩnh Thành so với các vùng đất khác ở xứ Thanh Từ đó, đánh giá đúng vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của vùng đất Vĩnh Thành đối với kinh thành Tây Đô nói riêng và di sản văn hóa thế giới Thành nhà Hồ nói chung
Trang 123.4 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Về nội dung nghiên cứu của đề tài là quá trình hình thành, phát triển và các giá trị lịch sử-văn hóa của vùng đất Vĩnh Thành
Về thời gian của đề tài tập trung vào những vấn đề văn hóa của vùng đất Vĩnh Thành, vùng đất này là kinh đô đất nước thời nhà Hồ (cuối thế kỷ XIV, đầu thế kỷ XV) và sự phát triển của vùng đất này trong dòng chảy lịch
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tài liệu
Luận văn sử dụng nhiều nguồn tài liệu khác nhau, trong đó chủ yếu là các nguồn tài liệu thành văn, tài liệu vật chất, tài liệu văn hóa dân gian và tài liệu thực địa do cá nhân và đồng nghiệp giúp đỡ sưu tầm, thu thập trong quá trình khảo cứu
Nguồn tài liệu thành văn bao gồm các bộ sử gốc như Đại Việt sử ký
toàn thư của Ngô Sĩ Liên, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn, Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, là các tác phẩm viết về việc xây dựng kinh đô
Tây Đô của Hồ Quý Ly và mô tả, đánh giá về vị trí địa lý, địa hình của vùng
đất Vĩnh Lộc Các lý lịch khoa học di tích như: Lý lịch cụm di tích
chùa-đền-đình làng Hà Lương, xã Vĩnh Thành, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa”, Lý lịch di tích lịch sử văn hóa và kiến trúc nghệ thuật đền thờ Trần Khát Chân- thôn Cao Mật, xã Vĩnh Thành, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa,
Trang 13Tài liệu vật chất gồm các di vật lịch sử trong các đền, chùa, nhà thờ, di tích lịch sử,
Nguồn tài liệu về văn hóa dân gian chủ yếu là các loại truyền thuyết, chuyện kể dân gian như chuyện về Trần Khát Chân hóa thánh
Tài liệu điền dã thực địa: Để hoàn thành luận văn này, ngoài việc sử dụng, tham khảo các nguồn tài liệu trên, tác giả luận văn còn trực tiếp tiến hành điền dã tại thực địa để thu thập, sưu tầm, thẩm định thêm một số tài liệu
có liên quan đến đề tài Đồng thời chúng tôi đã tiếp xúc, gặp gỡ và trao đổi trực tiếp với các cụ cao niên trong các làng, các dòng họ lớn, để bổ sung thêm nguồn tư liệu
Các nguồn tài liệu trên hiện được lưu giữ tại Văn phòng UBND xã Vĩnh Thành, Phòng văn hóa-thông tin huyện Vĩnh Lộc, Trung tâm Bảo tồn Di sản thành Nhà Hồ, Trung tâm Bảo tồn di sản văn hóa tỉnh Thanh Hóa, thư viện Trường Đại học Hồng Đức, thư viện huyện Vĩnh Lộc, thư viện Tổng hợp tỉnh Thanh Hóa,
4.2 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
*Cơ sở phương pháp luận
Đề tài sử dụng, quán triệt các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, của Đảng cộng sản Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh về sử học, văn hóa học Nắm vững các quan điểm này nhằm đảm bảo tính trung thực, khách quan trong nghiên cứu lịch sử
*Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu lịch sử được sử dụng chủ yếu trong luận văn Bên cạnh nghiên cứu lịch đại để tái hiện lịch sử, một số nội dung nghiên cứu còn được so sánh đồng đại Đồng thời, còn sử dụng phương pháp nghiên cứu chuyên ngành như: Khảo cổ học, Dân tộc học, Văn hóa học
Luân văn sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành như khu vực học Từ kết quả nghiên cứu của các ngành Khảo cổ học, Dân tộc học, Văn hóa
Trang 14học, Địa lý học để có cái nhìn toàn diện về lịch sử một vùng đất, một nhân vật lịch sử trong mối quan hệ tương tác giữa điều kiện tự nhiên, môi trường xã hội và hoàn cảnh lịch sử
- Phương pháp thu thập, phân tích và giám định tư liệu: Nghiên cứu các tài liệu lịch sử, dân tộc học, văn hóa, văn học dân gian, kiến trúc, tài liệu Hán Nôm liên quan đến các làng thuộc vùng đất Vĩnh Thành và khu vực phụ cận
- Điều tra điền dã: Điều tra điền dã thu thập tư liệu, kiểm chứng và bổ sung thiếu hụt kết quả điều tra Kết hợp so sánh với kết quả điều tra, điều tra điền dã thực trạng di sản văn hóa vật thể, phi vật thể ở vùng đất xã Vĩnh Thành
Sử dụng phương pháp phỏng vấn các bậc cao niên, các nhà quản lý văn hóa địa phương, kết hợp thu thập tài liệu; đối chiếu so sánh, kết hợp lý luận và thực tiễn; đề xuất các giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị các di sản
5 Đóng góp của luận văn
Cung cấp những tư liệu về lịch sử hình thành, phát triển của vùng đất Vĩnh Thành để có cái nhìn tổng quan về vùng đất lịch sử này Trên cơ sở nguồn tư liệu khảo sát, tổng hợp giúp địa phương sử dụng để viết lịch sử-văn hóa làng, xã
Cùng với kết quả khảo sát các giá trị lịch sử, văn hóa, nhận thức về thực trạng và đề xuất các giải pháp quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản khu vực Vĩnh Thành còn có ý nghĩa góp phần làm rõ về vai trò, mối quan hệ của vùng đất Vĩnh Thành đối với kinh đô Tây Đô ở cuối thế kỷ XIV đầu thế
kỷ XV, đặc biệt đối với di sản thế giới Thành nhà Hồ ngày nay
Luận văn góp phần giáo dục lòng tự hào dân tộc và tình cảm trân
trọng, giữ gìn những giá trị lịch sử, văn hóa của quê hương đất nước Luận văn còn là tài liệu tham khảo cho sinh viên học tập và giáo viên giảng dạy lịch sử-văn hóa địa phương, góp phần hiểu biết về các di tích, danh thắng, lễ hội
và con người xứ Thanh nói chung và vùng đất Tây Đô nói riêng.Ngoài ra, còn
Trang 15là tài liệu cho việc hướng dẫn thực tế tham quan du lịch tại các điểm di tích lịch sử văn hóa ở Vĩnh Thành trong không gian văn hóa Thành nhà Hồ
6 Bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, Nội dung luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1 Vài nét về vùng đất Vĩnh Thành
Chương 2 Di sản văn hóa vật thể
Chương 3 Di sản văn hóa phi vật thể
Trang 16Huyện Vĩnh Lộc hình thành và phát triển gắn liền với lịch sử dân tộc
Đầu thế kỉ XIX, sách Thanh Hóa tỉnh, Vĩnh Lộc huyện chí của Lưu Công Đạo
viết về huyện như sau:
Thời Bắc thuộc, nhà Hán đặt vùng đất Vĩnh Lộc ngày nay thuộc huyện Tư Phố, quận Cửu Chân Năm 589, nhà Tùy thống nhất Trung Quốc và tiến hành cải cách hành chính, đổi Cửu Chân thành Ái Châu và lập huyện Nhật Nam gồm địa bàn các huyện Vĩnh Lộc, Thạch Thành, Hà Trung ngày nay Thời nhà Đường, địa giới hành chính có nhiều thay đổi nhưng huyện Nhật Nam thuộc Ái Châu vẫn giữ nguyên Đến thời Lý – Trần trên địa bàn Vĩnh Lộc ngày nay được thành lập một huyện mới với tên gọi Vĩnh Ninh
Trang 17thuộc phủ (lộ, trấn) Thanh Hóa Về địa giới; huyện Vĩnh Ninh bao gồm cả một số xã ở Tây Nam huyện Hà Trung ngày nay [15; tr 25] Trải qua các tên gọi khác nhau: Từ Vĩnh Ninh, Vĩnh Phúc đến thời Tây Sơn đổi thành Vĩnh Lộc như ngày nay và thuộc phủ Thiệu Thiên Năm Minh Mệnh thứ 16 (1835) lấy đất 4 huyện Vĩnh Lộc, Cẩm Thủy, Quảng Địa, Thạch Thành để lập ra phủ Quảng Hóa Sở lỵ Quảng Hóa đặt tại Vĩnh Lộc thuộc xã Biện Hạ, sau đó chuyển về xã Nhân Lộ Đến thời Tự Đức, phủ Quảng Hóa được mở rộng thêm châu Quan Hóa Nhưng về sau chỉ còn lại 4 huyện cũ là Vĩnh Lộc, Thạch Thành, Cẩm Thủy và thêm huyện Yên Định
Từ Cách mạng tháng Tám 1945 đến nay, huyện Vĩnh Lộc tiếp tục có sự thay đổi tên gọi và địa giới hành chính Tháng 8-1977, thực hiện quyết định của Hội đồng Chính phủ, hai huyện Vĩnh Lộc và Thạch Thành hợp nhất thành huyện Vĩnh Thạch Đến tháng 9-1982, sau 5 năm sát nhập, hai huyện lại tách
Xã Vĩnh Thành cách thành phố Thanh Hóa 45km về phía Tây Bắc theo Quốc lộ 45, cách Quốc lộ 1A (Đò Lèn) 28km về phía Bắc theo Quốc lộ 217, cách huyện lỵ Cẩm Thủy 33km về phía Nam Từ Vĩnh Thành theo Quốc lộ 45 lên Kim Tân (Thạch Thành) rồi ra thị xã Bỉm Sơn đi Hà Nội chỉ có 147km
Về phía Tây Bắc, từ Vĩnh Thành theo Quốc lộ 217 đi Cẩm Thủy, Bá Thước, Quan Sơn sang nước bạn Lào dễ dàng
Theo bản đồ số 364 của xã, Vĩnh Thành nằm trong hai mảnh
Trang 18úng Cầu Mư, nơi giáp danh với xã Vĩnh Long); điểm cực Nam ở vĩ độ 200
02
Xã Vĩnh Thành có vị trí địa lý khá đặc biệt: đây là vùng đất nằm giữa hai con sông Mã và sông Bưởi, thuộc trung tâm huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa Vĩnh Thành có thời kỳ đặt lỵ sở huyện và có gần 100 năm là phủ lỵ Quảng Hóa Từ trung tâm xã đến cửa Nam Thành nhà Hồ chỉ trên 2km và địa bàn Vĩnh Thành nằm trong phạm vi thành Đại La, tức thành ngoài đắp bằng đất của Thành nhà Hồ
Về ranh giới, phía Bắc xã Vĩnh Thành giáp với xã Vĩnh Tiến, Vĩnh Long; phía Nam giáp xã Vĩnh Ninh, Vĩnh Khang; phía Đông giáp thị trấn Vĩnh Lộc và các xã Vĩnh Hòa, Vĩnh Phúc; phía Tây giáp xã Quý Lộc (huyện Yên Định) [18; tr15]
Có thể nói, xã Vĩnh Thành là một vùng đất có phong cảnh đẹp, có núi,
có sông, đồng bằng, sơn thủy hữu tình Mặt khác, đây còn là vùng chuyển tiếp giữa miền núi và đồng bằng, giữa miền xuôi và miền ngược nên Vĩnh Thành
có diện mạo riêng biệt Làng xóm nơi đây vừa có đặc điểm chung của làng quê nông nghiệp miền núi, nhưng cũng có nét riêng biệt của làng quê đồng
bằng sông Mã
1.1.2 Điều kiện tự nhiên
Vùng đất Vĩnh Thành nằm trong khu vực đồng bằng sông Mã nhưng cảnh quan tự nhiên nơi đây tương đối phức hợp Các cuộc kiến tạo địa chất, tạo sông, tạo núi của tự nhiên đã tạo cho vùng đất này những dạng địa hình phong phú như: có đồng ruộng, có sông, có núi Chảy qua địa phận xã là hai con sông: sông Mã và sông Bưởi Đây là nguồn cung cấp nước tưới tiêu chủ yếu cho đồng ruộng và tạo nên những cánh đồng phù sa màu mỡ Đây là điều kiện thuận lợi, quan trọng bậc nhất để ngành nông nghiệp phát triển mạnh và
đủ sức chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt nắng lắm, mưa nhiều và thực
Trang 19hiện thâm canh tăng vụ.Theo số liệu thống kê: “đất phù sa được bồi đắp hằng
năm khoảng 70ha, chiếm 15,98% tổng diện tích, loại này tập trung ở khu vực ven sông Bưởi, Đất phù sa cổ với diện tích khoảng 220 ha chiếm tỷ lệ 50,23% tổng diện tích, ”[18; tr17] Nhìn chung đây là vùng đất phù sa và
phù sa cổ phù hợp đối với cây lương thực và nhiều loại cây trồng khác nhau
Sông Mã còn có tên là Lỗ Giang, sông Cái là con sông lớn nhất tỉnh, bắt nguồn từ thượng nguồn vùng Pu Va (Điện Biên) ở độ cao 800 - 1.000m, chảy qua Sầm Nưa nước Lào rồi vào tỉnh Thanh Hóa Sông Mã dài 512km, trong đó phần chảy qua Thanh Hóa là 242km, riêng xã Vĩnh Thành có 3km
sông Mã chảy qua Sách Thanh Hóa Tỉnh, Vĩnh lộc huyện chí chép:
Sông Mã bắt nguồn từ Ai Lao (Lào) hợp với các khe suối Thanh Khuê, Tàng Lang cuồn cuộn mà tới…sông chảy qua động Diệu Sơn (núi Màu) nhập vào huyện giới Vĩnh Lộc, kéo về núi An Tôn (Yên Tôn) đến xã Nhân Lộ Phía trên bờ có đồn Nhân Lộ, đồn
ấy có đường rẽ thông bốn bên [15; tr 50]
Sông Bưởi còn có tên sông Bảo, sông Bái là một nhánh chính của sông Mã Sông Bưởi bắt nguồn từ Tân Lạc (Hòa Bình) dài 130km, trong đó
có 2km chảy qua xã Vĩnh Thành
Sông Mã, sông Bưởi đem lại nhiều nguồn lợi cho huyện Vĩnh Lộc nói chung và cho xã Vĩnh Thành nói riêng Những nguồn lợi chính đó là các dòng sông đã bồi đắp phù sa màu mỡ cho đồng ruộng bãi bờ Theo những người cao tuổi hiện nay kể lại trước đây làng Nhân Lộ có cánh bãi sông Mã chạy suốt từ đầu làng đến cuối làng, vừa dài, vừa rộng gieo trồng được nhiều vụ Khi đó mỗi đinh (hàng trai tráng trong làng) được chia một phần bãi, cho thu hoạch tới 2 tạ ngô bắp một vụ Các dòng sông là đường giao thông quan trọng khi chưa có đường bộ và nguồn nước vô tận là tài nguyên quý giá cho con người sinh sống và sản xuất Dòng sông cho nguồn lợi khai thác thủy sản và vật liệu xây dựng Những bến nước, con đò, thuyền bè ngược xuôi, giọng hò
Trang 20sông Mã và các hoạt động văn hóa, hội hè, tế lễ, thi bơi thuyền trên dòng sông đã ghi dấu Vĩnh Thành ấn truyền thống lịch sử-văn hóa của vùng đất Vĩnh Thành
Tuy nhiên, sông Mã và sông Bưởi cũng gây cho con người nhiều khó khăn trong sản xuất và cuộc sống Những năm có mưa lớn kéo dài hoặc dồn dập đã làm nước sông lên cao và ngập úng đồng ruộng, làm cho bờ sông sói
lở thiệt hại đến mùa màng, thiệt hại nhà cửa, đất đai, đe dọa đến tính mạng và tài sản của nhân dân Trận lụt năm Đinh Mão (1927) nước sông Mã dâng cao tràn qua đê ngập hết xóm làng, đồng ruộng, nhân dân các làng phải tạm lánh núi Đún Các thế hệ cư dân Vĩnh Thành nói riêng và huyện Vĩnh Lộc nói chung đã bỏ nhiều công sức làm nên công trình đê sông Mã, sông Bưởi Rồi hằng năm công việc phòng chống lũ lụt, bảo vệ đê điều luôn được sẵn sàng
Đê sông Mã thuộc địa bàn xã Vĩnh Thành là đoạn đê bị dòng nước làm sạt lở mạnh Mấy năm gần đây, Nhà nước đầu tư kinh phí lớn cho việc làm kè, lát
đá mái đê đoạn đê này Riêng năm 2004 và năm 2005 đã đầu tư 7 tỉ đồng để
bỏ các mũi kè và lát mái đê
Ngoài hai dòng sông đã đi vào lịch sử, cảnh quan tự nhiên nơi đây còn
có vẻ đẹp hùng vĩ của núi Đún, núi Kiện, núi Công Các núi ở Vĩnh Thành không cao lắm, đỉnh núi Đún cao nhất cũng chỉ có 79m, đỉnh núi Kiện cao 49m, đỉnh núi Công cao 25m so với mực nước biển
Cùng với hệ thống đồi núi, sông Mã và sông Bưởi chảy qua địa phận Vĩnh Thành có cảnh quan đẹp thơ mộng, trên bến dưới thuyền tạo cho vùng đất một như bức tranh sơn thủy hữu tình
Núi non, sông ngòi là những yếu tố thuận lợi được tự nhiên ban tặng cho vùng đất Vĩnh Thành Đó không chỉ là niềm tự hào cho nhân dân nơi đây
về các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, mà còn là yếu tố tác động trực tiếp đến đời sống kinh tế, sinh hoạt, giao thông của người dân Vĩnh Thành
Trang 211.1.3 Hệ thống giao thông
Với vị trí đắc địa, cận thị thị trấn Vĩnh Lộc và có sông Mã, sông Bưởi chảy qua, vùng đất Vĩnh Thành nằm trong hệ thống giao thông thủy-bộ thuận lợi Nơi đây vốn là phủ lỵ Quảng Hóa nên hệ thống giao thông cũng được hình thành tương đối sớm
Về đường bộ, Vĩnh Thành nằm trên những tuyến đường bộ quan trọng,
đó là quốc lộ 45 và quốc lộ 217 Quốc lộ 45 và quốc lộ 217 chạy qua nối liền giữa các vùng miền trong huyện và trong tỉnh rất thuận tiện để thông thương trao đổi sản phẩm hàng hóa
Về đường thủy thì có sông Mã, sông Bưởi chảy qua địa phận các làng trong xã Trong lịch sử thì tuyến đường thủy này có vai trò rất quan trọng trong việc giao thương giữa miền xuôi và miền ngược của Xứ Thanh
Như vậy, với vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên ưu đãi đã tạo cho vùng đất Vĩnh Thành có vị thế rất thuận lợi, có núi, có sông, có ruộng đồng, nương bãi phì nhiêu, giao thông thuận tiện, trên bến dưới thuyền Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi còn gặp không ít những khó khăn trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa xây dựng quê hương Vĩnh Thành giàu mạnh
Có thể khẳng định rằng từ xưa tới nay, Vĩnh Thành là mảnh đất có rất nhiều điều kiện thuận lợi cho cư dân đến làm ăn sinh sống Mảnh đất này đã nuôi dưỡng bao lớp người khôn lớn, trưởng thành và có người đã đi định cư ở các tỉnh thành trong cả ở nước ngoài để công tác, học tập và làm
ăn Và cũng chính từ đã đây hình thành nên truyền thống tốt đẹp của vùng đất như: truyền thống hiếu học, truyền thống chống ngoại xâm bất khuất, cần cù trong lao động,
1.2 Vùng đất Vĩnh Thành trước cách mạng tháng Tám 1945
1.2.1 Vùng đất Vĩnh Thành trước thế kỉ XIX
Theo các tài liệu, trong lịch sử vùng đất Vĩnh Thành luôn thuộc huyện
Vĩnh Lộc Căn cứ vào tài liệu địa chất, đặc biệt là tài liệu qua các đợt khai
Trang 22quật khảo cổ tại vùng đất Vĩnh Lộc và Thành nhà Hồ có thể nhận ra quá trình khai phá, lập làng ở vùng đất Vĩnh Thành Hiện nay, Vĩnh Thành gồm có các làng: Quảng Nhân, Nhân Lộ, Cao Mật, Hà Lương, Phụng Công và làng Mới bên núi Đún Làng Phụng Công ngày trước thuộc xã Vĩnh Hòa, từ năm 1970 chuyển về Vĩnh Thành và làng Mới bên núi Đún được thành lập và lập làng từ năm 1981, với trên 30 dòng họ gồm: Lữ, Lê, Trần, Trịnh, Nguyễn, Ngô, Phạm, Hồ, Hoàng, Bùi, Hà, Trương, Dương, Mai, Lâm, Ninh, Mạch, Đỗ, Đặng, Vũ, Bạch, Phan, Đinh, Chu, Lương, Khương, Chung, Lưu, Tống, Yến, Khổng, Tạ, Trong đó, chỉ có họ Lữ là duy nhất một dòng, hiện tại có 150 gia đình Còn lại các dòng họ Trần, Lê, Trịnh, Phạm, Ngô, Nguyễn, mỗi họ có
từ hai đến nhiều dòng họ khác nhau, được phân biệt bằng chữ lót như Trịnh Văn, Trịnh Đình, Trần Đăng, Trần Ngọc, nhưng cũng có họ trùng cả họ và chữ lót mà vẫn là hai họ khác nhau, cũng có dòng họ hiện nay có một vài gia đình như họ Chung, họ Lâm (gốc Trung Quốc), họ Khương, họ Bạch,
Vào năm 1934, tình cờ một nông dân ở làng Phụng Công đi làm đồng nhặt được một hiện vật bằng gốm Một người Pháp lúc bấy giờ cho biết rõ đây là đồ vật cổ nên đã tổ chức đào tìm kiếm Địa điểm người Pháp tổ chức đào được gọi là Cộm Rùa, nằm trên bến Phà Công (thuộc làng Phụng Công,
xã Vĩnh Thành) Từ năm 1935 đến năm 1839, OLov Jan sé -nhà khảo cổ học Thụy Điển theo lời mời của trường Viễn Đông Bác Cổ (Pháp) đã ba lần khai quật di tích Đông Sơn và điều tra thu thập đồ đồng ở nhiều nơi khác như Phà Công (Thanh Hóa) Di tích khảo cổ Phà Công nằm ngay bên bờ sông Bưởi thuộc khu vực ngã ba sông (gần cửa sông Bưởi nhập vào sông Mã) là di tích
có vị trí quan trọng Di tích Phà Công có mối liên hệ với các di tích văn hóa Đông Sơn khác ở hạ lưu sông Mã và những dấu vết văn hóa vật chất này đã khẳng định chủ nhân di tích này đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa Đông
Sơn ở khu vực sông Mã Sách Lịch sử Thanh Hóa (tập 1) cho biết: “Di tích
văn hóa Phà Công là một di chỉ khảo cổ học thuộc di tích văn hóa Đông Sơn
ở Thanh Hóa Qua tìm hiểu những hiện vật phát hiện được của di chỉ Phà
Trang 23Công, ta biết được người Việt cổ đã định cư ở đây trên 2.000 năm, vào thuở các vua Hùng dựng nước” [8; tr 54]
Di tích phà Công có niên đại khoảng 2300 năm, điều này chứng tỏ địa bàn xã Vĩnh Thành nói riêng và Vĩnh Lộc nói chung đã có con người cư trú từ thời các vua Hùng dựng nước Những cư dân ở đây nằm trong bộ Cửu Chân-
là một trong 15 bộ của nước Văn Lang
Ngoài chứng tích khảo cổ học, xét về mặt vị trí địa lý, vùng đất Vĩnh Thành rất thuận lợi để cư dân sinh sống Bên bờ sông Mã, sông Bưởi là địa bàn sinh sống và canh tác của người Việt cổ Theo nghiên cứu của các nhà sử học, vào đầu công nguyên từ Giao Chỉ vào Cửu Chân mới chỉ có một con đường bộ duy nhất , đó là đường “Thượng đạo” từ Rịa (Nho Quan- Ninh Bình) qua Phố Cát (Thạch Thành), xuống Vĩnh Lộc qua sông Mã đến Đan Nê (Yên Thọ- Yên Định) rồi qua huyện Như Xuân vào Nghệ An Như vậy, đất Vĩnh Thành từ rất sớm ngoài đường sông ra đã có đường bộ đi qua vào Nam
ra Bắc Đây là cơ sở để có cái nhìn tổng quan về xã Vĩnh Thành trong thời kỳ nước Văn Lang và kỷ nguyên văn minh Đông Sơn
Sau thời Văn Lang – Âu Lạc đến thời Bắc thuộc, vùng đất Vĩnh Thành nói riêng và Vĩnh Lộc nói chung có nhiều biến đổi Về mặt vị trí địa lí:
“Huyện ở phía Tây nước Việt, thuộc đất Châu Ái, quận Cửu Chân, lộ Thanh
Hóa Thời nhà Hán là quận Cửu Chân, thời nhà Lương là Ái Châu, thời nhà
Đường cũng mang tên như vậy” [15; tr 25] Về mặt lịch sử, đây là thời kỳ dân
tộc Việt bị các thế lực phương Bắc đô hộ trong thời gian gần một nghìn năm Các thế lực phong kiến phương Bắc từ nhà Hán đến nhà Đường đã thi hành chính sách cai trị tàn bạo, cưỡng bức, đồng hóa văn hóa với dã tâm sát nhập nước Âu Lạc thành một quận của phương Bắc Trong thời kì Bắc thuộc, sự bành trướng của văn hóa Hán đã để lại dấu vết ở nhiều nơi, sự tàn bạo của bọn thống trị đã làm cuộc sống của người dân Việt cùng cực Cư dân vùng đất Vĩnh Thành cũng không thoát khỏi cảnh này Chính vì vậy, nhiều cuộc khởi nghĩa ở
Trang 24Ái Châu ( Thanh Hóa ngày nay) đã nổ ra chống lại quân xâm lược, trong đó tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu năm 248 chống lại giặc Ngô
Đến thời kì phong kiến độc lập, cuối thế kỷ XIV, Đại Việt lâm vào
khủng hoảng Cuộc khủng hoảng thời cuối Trần:“không còn là một cuộc
khủng hoảng cung đình mà là cuộc khủng hoảng sâu sắc và toàn diện, đòi hỏi phải thay đổi toàn bộ mô hình xã hội” [47, tr 55] Với nhãn quan của con
người có học vấn, năng nổ, có đầu óc canh tân, Hồ Quý Ly nhận thức rõ các thế lực quý tộc nhà Trần sẽ chống lại và tìm mọi cách loại trừ ông Trong khi trong nước vương triều Trần suy yếu thì ở phía Bắc, Trung Hoa dưới quyền quản lí của nhà Minh đang bước vào giai đoạn phát triển, có ý đồ mở rộng lãnh thổ xuống phía Nam Để đối phó với họa xâm lược từ phương Bắc, bảo
vệ nền độc lập của dân tộc và bảo toàn sự nghiệp canh tân đất nước, Hồ Quý
Ly đã quyết định “rất táo bạo có ý nghĩa sống còn với vương triều và bản
thân ông là chuyển dời kinh đô” [47, tr 56] Về điều này, sách Đại Việt sử kí toàn thư chép: “Năm Đinh Sửu, mùa xuân tháng Giêng (1397) sai Lại bộ Thượng thư kiêm Thái sử lệnh Đỗ Tỉnh đi xem đất đo đạc động An Tôn, phủ Thanh Hóa đắp thành, đào hào lập nhà Tông Miếu, dựng đàn xã tắc, mở đường phố, có ý muốn dời kinh đô đến đó, tháng 3 thì công việc hoàn tất”
[17, tr191] Đó là Thành An Tôn còn gọi là Thành Tây Giai, Thành nhà Hồ Ngày 28 tháng 2 năm Canh Thìn (1400), Hồ Quý Ly lên ngôi vua lấy Thành
An Tôn làm kinh đô mới gọi là Tây Đô Đất Vĩnh Thành ngày nay thuộc vùng đất kinh đô của nhà Hồ
Việc dời đô từ Thăng Long vào An Tôn đã tạo ra bước ngoặt về sự biến đổi đối với vùng đất Vĩnh Thành nói riêng và Vĩnh Lộc nói chung Thời gian
tồn tại với tư cách là kinh đô không dài (1398 – 1407) nhưng “từ một miền
quê, vùng đất An Tôn đã trở thành kinh đô đất nước (Tây Đô) Khi trở thành kinh đô đất nước, vùng đất Tây Đô từ một làng quê đã dần trở thành một đô thị, một trung tâm của trấn Thanh Đô” [46; tr 19] Trước khi thành Tây Đô
Trang 25được xây dựng, dân cư vùng này rất thưa thớt Để xây dựng và phục vụ nhu
cầu kinh đô mới của Hồ Quý Ly thì: “một số làng mới lại được hình thành và
phát triển Đây là các làng được hình thành từ ba nguồn: di dân trong vùng, dân từ nơi khác đến định cư và lực lượng vốn là binh lính thường trực của triều đình” [48; tr 36]
Xét ở góc độ địa – chính trị thì sự kiện xây thành Tây Đô chính là bước ngoặt làm thay đổi diện mạo vùng đất này Sự biến chuyển vùng đất Tây Đô không chỉ diễn ra trong thời điểm là kinh đô của đất nước cuối triều Trần và
của nhà Hồ, mà còn là khởi đầu cho những chuyển biến sau đó Sách Thanh
Hóa tỉnh Vĩnh Lộc huyện chí chép:
Huyện Vĩnh Lộc từ thời Trần về trước là huyện Vĩnh Ninh; Thời thuộc Minh cũng theo tên cũ, đặt thuộc phủ Thanh Hóa Đời vua Lê thánh Tông, đặt huyện Vĩnh Ninh thuộc phủ Thiệu Thiên Đầu đời Lê Trung Hưng, vì tránh tên húy của vua Lê Trang Tông (Duy Ninh, đổi gọi là huyện Vĩnh Phúc Thời Tây Sơn, kiêng chữ Phúc chỉ họ Nguyễn Phúc của các chúa Nguyễn, đổi là Vĩnh Lộc
huyện [15; tr 193]
Lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất Vĩnh Lộc nói chung và Vĩnh Thành nói riêng gắn liền với sự hình hình và phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc như truyền thống chống ngoại xâm giữ gìn độc lập, truyền thống lao động cần cù, sáng tạo, truyền thống hiếu học,
Tiêu biểu về truyền thống chống ngoại xâm bất khuất, Vĩnh Thành là quê hương của danh tướng Trần Khát Chân
Từ lúc còn trẻ, Trần Khát Chân đã chuyên tâm học văn, luyện võ Năm
19 tuổi đã có trình độ văn võ kiêm toàn, được triều đình phong làm tướng quân chỉ huy đội quân Long Tiệp Thời gian này triều Trần đã lâm vào giai
Trang 26đoạn suy vi, những cuộc chiến tranh triền miên và khốc liệt đối với các lân bang, đặc biệt là đối với Chiêm Thành đã làm cho tiềm lực quốc gia ngày càng kiệt quệ Vua Chiêm Thành là Chế Bồng Nga, nhiều phen đem quân ra cướp phá nước Đại Việt (1371, 1377 và 1378) Chế Bồng Nga kéo quân vào kinh đô Thăng Long cướp phá và thiêu trụi cả kinh thành, buộc vua tôi nhà Trần phải bỏ chạy tán loạn.Tình trạng lúc bấy giờ là hễ tướng nào bị sai ra trận cũng kể như hết hy vọng sống sót trở về
Đến năm Kỷ Tỵ (1389), quân Chiêm Thành do đích thân Chế Bồng Nga chỉ huy lại kéo ra đánh phá nước ta Thượng hoàng Trần Nghệ Tông và vua Trần Thuận Tông sai tướng Trần Khát Chân chỉ huy đội quân Long Tiệp
đi đánh giặc Trần Khát Chân khảng khái vâng mệnh, lạy tạ để xuất quân Thượng hoàng Trần Nghệ Tông khóc mà tiễn đưa Tháng Giêng năm Canh Ngọ (1390), Chế Bồng Nga dẫn 100 chiến thuyền đến dò xét cách bài binh bố trận của quân ta ở Hải Triều Nhân có tên tiểu thần là Ba Lậu Kê bị Chế Bồng Nga trách phạt, sợ bị giết đã sang hàng quân ta, tiết lộ cho Trần Khát Chân biết dấu hiệu đặc biệt của thuyền chở Chế Bồng Nga là chiếc thuyền sơn màu lục (màu xanh) Theo tin đó Trần Khát Chân đã bố trí tập trung và ra lệnh tất
cả các cây súng (hỏa súng) nhất tề nhả đạn, bắn trúng thuyền chở Chế Bồng Nga xuyên suốt ván thuyền làm cho Chế Bồng Nga trúng đạn chết tại trận Trần Khát Chân sai quân chém đầu Chế Bồng Nga, đem về triều dâng lên Thượng hoàng và vua Trần Thuận Tông Thượng Hoàng vui mừng nói: “Ta với Bồng Nga cầm cự với nhau đã lâu, ngày nay mới được thấy mặt, khác gì Hán Cao Tổ thấy đầu Hạng Vũ, thiên hạ yên rồi.”
Chiến thắng của Trần Khát Chân khiến cho quân Chiêm Thành phải ngưng các cuộc tấn công vào nước Đại Việt Sau khi lập được chiến công to lớn này, Trần Khát Chân được phong làm Long Tiệp, Phụng Thần nội vệ Thượng tướng quân, tước Vũ Tiết Quan Nội hầu, còn được cấp cho 2 tổng Đông Thành, Nguyễn Xá và xã Kẻ Mơ để làm thái ấp
Trang 27Điều đáng tiếc xảy ra vào năm Kỷ Mảo (1399), Trần Khát Chân đã cùng với nhiều tướng lĩnh và quan lại lập mưu để giết Hồ Quý Ly khi vào dự hội thề tại Đốn Sơn (Thanh Hóa) Tuy nhiên, do công việc bị bại lộ, Trần Khát Chân cùng với 370 người bị Hồ Quý Ly giết hại Sự kiện này lúc đó Trần Khát Chân mới 29 tuổi Lúc sắp bị hành hình, ông phẫn uất hét to ba tiếng vang dội cả vùng Đốn Sơn Đời sau có nhiều thơ văn ca ngợi tiết nghĩa của ông
Nhân dân Vĩnh Thành nói riêng và cả nước nói chung với truyền thống
“uống nước nhớ nguồn” đã lập đền thờ danh tướng Trần Khát Chân ở nhiều nơi như: làng Phương Nhai (Vĩnh Tiến, Vĩnh Lộc) và núi Đốn Sơn (Vĩnh Thành, Vĩnh Lộc) Ở 3 tổng Cao Mật, Bình Bút, Nam Cai có tới 29 làng đều thờ phụng Trần Khát Chân Ở kinh đô Thăng Long nhân dân vùng Kẻ Mơ cũng lập bàn thờ, tạc tượng để ghi nhớ công đức của ông Cùng với Thanh Hóa, hiện nay ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và nhiều tỉnh thành đều có những khu phố, con đường mang tên Trần Khát Chân
Bên cạnh truyền thống chống ngoại xâm, truyền thống hiếu học của vùng đất Vĩnh Thành cũng được thể hiện rõ nét trong thời kì phong kiến độc lập Tiêu biểu có Lưu Hưng Hiếu (1456-?), người xã Lương Hà huyện Vĩnh Ninh (nay thuộc xã Vĩnh Thành, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa) Ông đỗ bảng nhãn khoa thi năm 1481, thời vua Lê Thánh Tông, làm quan Thượng thư kiêm Đông các Đại học sĩ, Chưởng Hàn lâm viện sự và từng được cử đi sứ
Ngày xưa, ở Vĩnh Thành có nhiều thầy đồ mở lớp dạy con em trong làng và cả học trò hàng tổng cùng đến học Ở làng Hà Lương có thầy đồ Tuân (Bùi Khắc Tuân), ông Bát Bút (Bùi Văn Thư) Làng Cao Mật có ông đồ Năng (Ngô Bá Năng), ông đồ Thiệu (Ngô Xuân Lộc), ông đồ Cơ (Hồ Cơ), ông đồ Phổ (Nguyễn Đức Phổ), ông đồ Bùi Đình Đạt Làng Quảng Nhân có ông đồ Phượng (Trương Song Nghĩa) Từ đây, người dân Vĩnh Thành thường rất tự hào về tính hiếu học đã thành một truyền thống lâu đời của vùng đất này
Trang 281.2.2 Vùng đất Vĩnh Thành từ thế kỉ XIX đến cách mạng tháng Tám 1945
Thời Nguyễn, vùng đất Vĩnh Thành vẫn thuộc huyện Vĩnh Lộc như tên
gọi từ thời kì Tây Sơn [15; tr 193] Theo Lịch sử xã Vĩnh Thành cho biết:
Trải qua các triều đại phong kiến, đến triều Nguyễn, vào năm Minh Mạng thứ 16 (1835) , lấy đất 4 huyện Vĩnh Lộc, Cẩm Thủy, Quảng Địa (Một phần của huyện Thạch Thành ngày nay), Thạch Thành lập ra phủ Quảng Hóa Sở lỵ Quảng Hóa đặt tại Vĩnh Lộc, nằm ở xã Biện Hạ (nay thuộc xã Vĩnh Minh), sau đó chuyển về xã Nhân Lộ (nay thuộc xã Vĩnh Thành) Năm Canh tuất (1850), Tự Đức thứ 3 cho dồn bớt các phủ, huyện, châu ở Nghệ An, Thanh Hóa
và Quảng Yên Hai huyện Quảng Tế, Thạch Thành giao về phủ Quảng Hóa kiêm lý Huyện Cẩm Thủy và châu Quan Hóa hiệp làm huyện Cẩm Thủy nhưng cũng thuộc về phủ Quảng Hóa Nhưng về sau phủ Quảng Hóa chỉ còn lại 4 huyện cũ là Vĩnh Lộc, Thạch Thành, Cẩm Thủy và thêm huyện Yên Định [18; tr 24]
Về lỵ sở Nhân Lộ, sách Đại Nam nhất thống chí cho biết:
Sở lỵ phủ Quảng Hóa (ở xã Nhân Lộ) là thành đất, chu vi 80 trượng linh, mở 2 cửa hào rộng 2 trượng Cơ sở phủ lỵ Quảng Hóa cũng như các phủ lỵ khác được nhà nước quy định thống nhất, có công đường là nơi xét xử và làm việc, có nhà cho nha lại và thuộc lệ ở,
có nhà giam và nhà cho lính lệ trực ngày đêm [39; tr 35]
Cụ Đặng Hy Trứ, bậc đại nho thời Tự Đức là nhà văn hóa lớn cuối thế
kỉ XIX, năm Mậu Ngọ (1858) cụ được sung chức Nhiếp biện ấn vụ phủ Quảng Hóa (làm công việc của chức tri phủ) Khi vừa mới đến nhậm chức,
ngồi trong công đường, cụ Đặng Huy Trứ đã ghi chép: “phía Bắc phủ có chợ
gọi là chợ Cao Mật, hàng tháng họp mồng 2, 7, 12, 17, 22, 27 Đó là 1 cái chợ đông đúc, sản vật từ miền núi đến miền biển, từ Bắc vào Nam tới Tôi đến
nhậm chức mới được 3 ngày” [15, tr 26]
Trang 29Thời Nguyễn, tổ chức hành chính từ huyện xuống cơ sở gồm có: huyện, tổng, xã, thôn, trang Huyện Vĩnh Lộc lúc bấy giờ được chia thành 7 tổng đó là: tổng Biện Thượng, tổng Hoàng Xá, tổng Ngọ Xá, tổng Cao Mật, tổng Nam Cai, tổng Sóc Sơn và tổng Bình Bút Các xã, thôn Cao Mật, Phụng Công, Hà
Lương, Nhân Lộ vào tổng Cao Mật Theo Thanh Hóa tỉnh Vĩnh Lộc huyện chí
thì: “tổng Cao Mật lúc đó gồm các xã: xã Cao Mật, xã Hà Lương, xã Thổ
Sơn, xã Phú Sơn, xã Phương Nhai, xã Hoa Nhai, xã Tây Nhai, xã Mỹ Tuyền,
An Tôn Thượng, An Tôn Hạ, xã Nhân Lộ, xã Phụng Công” [15; tr 31]
Vĩnh Lộc nói chung, Vĩnh Thành nói riêng nằm bên tả ngạn sông Mã, có
hệ thống đường giao thông thủy, bộ thuận lợi, có bến đò dọc, đò ngang, đất đai phì nhiêu màu mỡ nên đất Vĩnh Thành có thời gian dài là lỵ sở của huyện Vĩnh Lộc và lỵ sở của phủ Quảng Hóa Vì vậy, dân cư từ các miền trong cả nước lần lượt tìm về mảnh đất Nhân Lộ, Cao Mật, Hà Lương làm ăn buôn bán, sản xuất, kinh doanh Chợ Cao Mật (còn gọi là chợ Giáng)- một chợ lớn trong tỉnh, là nơi mua bán, trao đổi hàng hóa đông đúc cộng với phố Giáng nằm dọc theo bờ sông Mã, trên bến dưới thuyền ngày đêm nhộn nhịp, trở thành trung tâm buôn bán lớn của tỉnh Hàng hóa giao lưu gồm nông sản, lâm sản, hải sản và tạp hóa công nghiệp phẩm giữa phố Giáng, chợ Cao Mật với các huyện lân cận, với tỉnh lỵ và với cả Nam Định, Hà Nội, Hải Phòng Buôn bán ở đây thuận lợi và phát triển, dân vùng Quảng Hóa lưu truyền những vần
ca dao truyền lại đến ngày nay:
Hỡi cô mà thắt lưng xanh
Có về phủ Quảng với anh thì về Phủ Quảng buôn bán trăm nghề
Có sông tắm mát, có nghề buôn cau
Phố Giáng nổi tiếng với những cửa hiệu buôn bán lớn của người Hoa hiệu Đông Mỹ, Thuận Phát, Tấn Hưng, Phúc Thái, Thành Lợi, Nguyễn Trọng Bích, chuyên buôn bán hàng bách hóa, nông sản và kim khí Ngoài ra còn có chi nhánh công ty rượu Nam Đồng Ích-chủ chi nhánh là người địa phương
Trang 30Là lỵ sở của phủ Quảng Hóa nên nơi đây có nhà dây thép (Bưu điện) có điện thoại, gửi được bưu kiện và chuyển tiền, có chi nhánh Nông phố hợp tác,
có đồn Sơn Phòng (còn gọi là nhà Đoan) đứng đầu là một quan Tây làm nhiệm vụ kiểm soát chặt chẽ đường sông, đường bộ những mặt hàng nhà nước thực dân độc quyền quản lí đó là rượu, muối, thuốc phiện
Về đời sống văn hóa, nơi đây có trường tiểu học Pháp-Việt Quảng Hóa,
có rạp hát tuồng, rạp đèn chiếu (xi nê câm), có sân vận động và đội bóng đá Phong Vân của huyện
Thời kỳ thuộc Pháp, chúng dùng mọi thủ đoạn áp bức bóc lột, đàn áp nhân dân ta rất dã man nên đời sống của người dân Vĩnh Thành cũng như mọi tầng lớp nhân dân trong cả nước đều chìm trong cảnh nô lệ và mất nước Sản xuất nông nghiệp lạc hậu, năng suất thấp, 80% ruộng đất nằm trong tay các gia đình địa chủ, phú nông Chế độ phu phen tạp dịch cũng rất nặng nề, sưu cao thuế nặng đè lên đầu người dân làm cho đời sống nhân dân bị bần cùng Nhiều người phải trốn đi biệt xứ, trai tráng trong làng đi đồn điền làm cu ly Nhiều gia đình phải chia lìa, ly tán
Ngay trong thời Pháp thuộc, truyền thống tốt đẹp của cư dân Vĩnh Thành vẫn được giữ vững, bất chấp những ý đồ nô dịch của chủ nghĩa thực dân
Về truyền thống hiếu học, truyền thống hiếu học, trong bản Hương ước
xã Nhân Lộ do Lý trưởng Bùi Đình Giáng thừa sao năm Bảo Đại thứ 10 (1935) ở chương thứ tám về giáo dục được quy định ba điều như sau:
“Điều thứ 29: Nếu ngân sách làng được dồi dào thời mỗi năm sẽ trích một món tiền mua sách vở giấy bút cấp cho học trò nghèo
“Điều thứ 30: Tư gia đều được nuôi thầy dạy học, nhưng phải có giấp phép quan trên và phải dạy theo chương trình Nhà nước
“Điều thứ 31: Những người đang tòng học trường công dù đến tuổi việc quan cũng được trừ tạp dịch tư ích
Trang 31Những ngày đầu tháng 8 năm 1945, không khí cách mạng sục sôi trong cả nước Nhân dân Vĩnh Thành cùng với nhân dân trong huyện và tỉnh Thanh Hóa nổi dậy giành chính quyền Ngày 13 - 8 - 1945, Tỉnh ủy Thanh Hóa đã tổ chức Hội nghị mở rộng tại Mao Xá để quyết định những chủ trương, biện pháp khẩn cấp, sẵn sàng phát động nhân dân nổi dậy giành chính quyền
Thực hiện quyết định của Hội nghị Mao Xá, tại Vĩnh Lộc “Ủy ban
khởi nghĩa huyện” được thành lập gồm 5 người do đồng chí Đặng Văn Hỷ
làm Chủ tịch Các tiểu ban khởi nghĩa ở các tổng cũng được thành lập Các đội tự vệ khẩn trương được tập trung, chuẩn bị vũ khí chờ lệnh
Sáng sớm ngày 19-8-1945, băng cở, khẩu hiệu, truyền đơn tung bay khắp các đường chạy qua huyện lị Lực lượng tự vệ bố trí sẵn sàng ở cổng Huyện đường, tiến công tước vũ khí và bắt tri huyện nộp con dấu và hồ sơ
Trước khí thế tiến công mạnh mẽ của lực lượng tự vệ, được nhân dân hết lòng ủng hộ, thế lực phản động, chính quyền phong kiến ở Vĩnh Lộc đã nhanh chóng bị đè bẹp Đến 9h sáng ngày 19-8-1945, cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Vĩnh Lộc hoàn toàn thắng lợi Một cuộc mít tinh quần chúng được tổ chức ngay tại huyện đường Ủy ban khởi nghĩa tuyên bố thủ tiêu chính quyền của chế độ cũ, thành lập chính quyền cách mạng, công bố chính sách của Việt Minh
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Vĩnh Lộc là thắng lợi của ý chí độc lập tự chủ, tự lực, tự cường của nhân dân nơi đây Thắng lợi này đã đưa người dân Vĩnh Lộc chung và vùng đất Vĩnh Thành nói riêng từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ quê hương, làm chủ vận mệnh của mình
Trang 321.3 Vùng đất Vĩnh Thành từ sau cách mạng tháng Tám 1945 đến nay
1.3.1 Vùng đất Vĩnh Thành từ sau cách mạng tháng Tám 1945 đến năm 1954
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời Cùng với cả nước, các đơn vị hành chính cũ trên địa bàn huyện Vĩnh Lộc được thay đổi: bỏ đơn vị tổng, lập đơn vị hành chính xã Các làng Quảng Nhân, Nhân Lộ, Cao Mật, Hà Lương nhập vào một xã lấy tên là
xã Đại Đồng Làng Phụng Công lúc bấy giờ thuộc xã Vĩnh Hòa
Ngày 18 tháng 11 năm 1945, Tỉnh ủy Thanh Hóa đã mở hội nghị bàn biện pháp thực hiện 6 điều cần làm ngay của Chủ tịch Hồ Chí Minh đó là phát động toàn dân tham gia sản xuất; chống nạn mù chữ; tổ chức tuyển cử với chế
độ phổ thông đầu phiếu; bài trừ những thói hư tật xấu của chế độ cũ để lại; bỏ các thứ thuế vô nhân đạo và tuyệt đối cấm hút thuốc phiện; tự do tín ngưỡng Dưới sự lãnh đạo chỉ đạo của Mặt trận Việt Minh và Ủy ban nhân dân lâm thời các làng Cao Mật, Nhân Lộ, Hà Lương, Quảng Lương đã chỉ đạo điều hành những vấn đề cấp bách ở địa phương như ổn định tình hình, tổ chức lại đội ngũ dân quân và phát triển các đoàn thể cứu quốc, sản xuất cứu đói, xóa nạn mù chữ trong nhân dân
Từ sau ngày toàn quốc kháng chiến, Ủy ban kháng chiến các cấp được thành lập Lúc bấy giờ xã Đại Đồng có thêm Uỷ ban kháng chiến do ông Bùi Đình Giới làm Chủ tịch Đến cuối năm 1947, Ủy ban kháng chiến được sát nhập với Ủy ban hành chính thành Ủy ban kháng chiến - hành chính xã Đại Đồng do ông Nguyễn Đình Đởn (Nguyễn Đình Điển) làm Chủ tịch
Đứng trước yêu cầu nhiệm vụ cách mạng và tình hình thực tế ở địa phương, cũng như số lượng Đảng viên hiện có Ngày 14 tháng 12 năm 1947, Huyện ủy Vĩnh Lộc đã ra Quyết định thành lập Chi bộ Đảng xã Đại Đồng
Năm 1949, xã Đại Đồng được đổi tên thành Vĩnh Thành Địa danh xã Vĩnh Thành có tên từ đó đến nay
Trang 33Trải qua năm tháng, do dân số tăng, dân cư đông đúc các làng ngày càng mở rộng Theo yêu cầu nhiệm vụ của từng giai đoạn lịch sử, để phù hợp với công tác quản lý địa bàn dân cư, phù hợp với điều kiện xây dựng hợp tác
xã nông nghiệp bậc thấp Năm 1953, khi đội giảm tô về xã, xã Vĩnh Thành khi đó được chia tới 15 xóm, như làng Nhân Lộ có các xóm: Thành Tài, Thành Lộc, Thành Đạt, Thành Tiến, Thành Cát, Thành Vinh, Thành Tín Năm
1955 cải cách ruộng đất, các làng ở Vĩnh Thành lại phân chia lại gọi tên các xóm như sau: xóm Thành Nhân thuộc làng Quảng Nhân, xóm Thành Trung, xóm Thành Vinh thuộc làng Nhân Lộ, xóm Thành Long, xóm Thành Công thuộc làng Cao Mật, xóm Thành Khang thuộc làng Hà Lương
Thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ về
ổn định, khôi phục và phát triển hệ thống trường học phổ thông trong cả nước Năm học 1948 - 1949, hầu hết các xã trong huyện đều có trường Tiểu học và trường Tiểu học Vĩnh Lộc được đổi tên thành Trường Tiểu học xã Vĩnh Thành và thầy giáo Tôn Thúc Phán được cử làm Hiệu trưởng Đến năm học 1953 - 1954, Trường Tiểu học Vĩnh Thành đã có 8 lớp (mỗi lớp 30 đến
40 học sinh)
Cuộc kháng chiến trường kì đầy hi sinh gian khổ của nhân dân ta chống thực dân Pháp xâm lược đã kết thúc thắng lợi năm 1954 Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam có phần đóng góp của cán bộ, đảng viên và nhân dân xã Vĩnh Thành Trong 9 năm kháng chiến
chống thực dân Pháp, xã Vĩnh Thành đã có “146 người vào bộ đội, 3 người
vào lực lượng thanh niên xung phong, 600 lượt người tham gia đi dân công đi hoả tuyến (có người đi 2,3 đợt)”[18; tr152] Toàn xã có 24 người là những
người con ưu tú của quê hương, là liệt sĩ đã ngã xuống trên các chiến trường khi đang chiến đấu và phục vụ chiến đấu, có 8 thương binh đã để lại một phần xương máu của mình ngoài mặt trận Nhân dân Vĩnh Thành ở hậu phương vừa tích cực tăng gia sản xuất, buôn bán kinh doanh, vừa xây dựng hậu
Trang 34phương và đã đóng góp của cải cho kháng chiến “Vàng: 290,7 đồng cân;
Đồng: 618kg; Mua công trái quốc gia: 44000kg thóc; Mua công phiếu kháng chiến: 179.400 đồng; Quỹ nghĩa thương: 8.560kg thóc” [18; tr152] Góp phần
cùng nhân dân cả nước hoàn thành sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, chấm dứt sự đô hộ của thực dân Pháp hơn 80 năm, xóa bỏ vĩnh viễn chế độ đế quốc phong kiến
1.3.2 Vùng đất Vĩnh Thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước (1954-1975)
Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (7 - 5 - 1954) của nhân dân Việt Nam, ngày 20 tháng 7 năm 1954, Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình trên bán đảo Đông Dương được kí kết Miền Bắc Việt Nam hoàn toàn giải phóng bước vào thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội Miền Nam tạm thời chịu sự kiểm soát, thống trị của Mỹ - Diệm Trong bối cảnh đó, nhân dân vùng đất Vĩnh Thành cùng với nhân dân huyện Vĩnh Lộc và tỉnh Thanh Hóa tiếp tục phát huy truyền thống cần cù lao động, sáng tạo, truyền thống chống giặc ngoại xâm bất khuất đã cùng với miền Bắc bước vào thời kì tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa và đặc biệt chú trọng nghĩa vụ hậu phương đối với tiền tuyến lớn miền Nam và đạt được nhiều thành tựu to lớn
Bằng nhiều hình thức tuyên truyền, vận động phù hợp, cuộc đấu tranh chống địch cưỡng ép giáo dân di cư vào Nam ở xã Vĩnh Thành đã giành thắng lợi Đa số đồng bào có đạo đã ở lại quê hương yên tâm phấn khởi lao động sản xuất, buôn bán, xây dựng cuộc sống mới Ngày ngày tiếng chuông nhà thờ vẫn ngân vang, bà con giáo dân xứ Nhân Lộ sớm tối vào nhà thờ cầu nguyện, một lòng tin theo Đảng, kính chúa, yêu nước
Trên địa bàn Thanh Hóa nói chung và ở huyện Vĩnh Lộc nói riêng, sau Tết Ất Mùi (1955), nạn đói đã xảy ra gay gắt Đảng bộ và các đoàn thể xã Vĩnh Thành đã phát động nhân dân đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm, giúp đỡ nhau trong lúc hoạn nạn Ngoài việc chăm sóc lúa nhân dân đã tích
Trang 35cực khai hoang đất đồi núi, cồn bãi trồng các loại rau màu ngắn ngày để chống đói Tháng 5 năm 1955, xã Vĩnh Thành tiến hành cải cách ruộng đất và
là điểm chỉ đạo của huyện Sau thời gian 3 tháng, đã tịch thu, trưng thu và trưng mua 100 mẫu ruộng, hàng chục căn nhà, cùng các đồ dùng trong gia đình, trâu bò và công cụ sản xuất của địa chủ chia cho bần cố nông, dân nghèo Thắng lợi lớn nhất của cải cách ruộng đất ở Vĩnh Thành là đã đánh đổ được giai cấp bóc lột, thực hiện khẩu hiệu “Người cày có ruộng” Nhân dân trong xã phấn khởi hăng hái bước vào xây dựng cuộc sống mới
Năm 1956, xã Vĩnh Thành thực hiện cải cách giáo dục lần thứ hai Hệ thống giáo dục tăng lên 10 năm (4 năm cấp I, 3 năm cấp II, 3 năm cấp III) Đến năm 1961, Trường phổ thông cấp 3 Vĩnh Lộc ra đời Các trường phổ thông cấp 2, cấp 3 Vĩnh Lộc đều nằm trong địa bàn xã Vĩnh Thành nên rất thuận lợi cho con em trong xã Vĩnh Thành thi vào học tại các trường cấp 2 và học lên cấp 3 Tháng 8 năm 1964, trường phổ thông cấp 2 Vĩnh Thành được thành lập, do thầy giáo Phạm Hồng Thái quê ở Nga Sơn, cư trú tại xã Vĩnh Phúc làm Hiệu trưởng Năm học 1964 - 1965 là năm học đầu tiên của Trường phổ thông cấp 2 Vĩnh Thành, nhà trường có 5 lớp từ lớp 5 đến lớp 7 với tổng
số học sinh là 208 em và 11 cán bộ, giáo viên
Năm 1959, Luật nghĩa vụ quân sự của Nhà nước ra đời, đợt tuyển quân đầu tiên thực hiện theo luật ở huyện Vĩnh Lộc được tổ chức tại đình làng Hà Lương (Vĩnh Thành) Toàn huyện có 135 người đi nghĩa vụ quân sự đợt này, đạt 100% chỉ tiêu trên giao Trong các đợt tuyển quân, Vĩnh Thành đều đảm bảo và vượt chỉ tiêu được giao
Thực hiện Nghị quyết của Trung ương Đảng, tháng 11 năm 1960, Đảng
bộ xã Vĩnh Thành được thành lập
Năm 1965 sau những thất bại nặng nề, liên tiếp ở chiến trường miền Nam,
đế quốc Mỹ mở rộng quy mô chiến tranh bằng không quân và hải quân đánh phá trên toàn miền Bắc Xã Vĩnh Thành cùng với các địa phương trong huyện hưởng
Trang 36ứng mạnh mẽ phong trào thi đua chống Mỹ, cứu nước, với quyết tâm “Tay cày, tay súng, bám ruộng đồng để sản xuất và chiến đấu”, xác định nhiệm vụ chiến đấu và phục vụ chiến đấu là trọng tâm, sản xuất là quan trọng
Thực hiện nhiệm vụ chi viện sức người cho tiền tuyến, trong 11 năm (1965 - 1975) Vĩnh Thành có 556 thanh niên, trong đó có 18 nữ vào bộ đội, chiếm tỷ lệ 12% dân số Nhiều thanh niên đang học cấp 3 cũng tạm “xếp bút nghiên” lên đường đánh giặc Toàn xã có 16 gia đình có 3 - 4 người con nhập ngũ, tham gia chiến đấu Tiêu biểu như gia đình ông bà Lê Thế Diệc và Đỗ Thị Thơm ( Nhân Lộ ), bản thân ông là đảng viên, là bộ đội chống thực dân Pháp, ông bà sinh được 5 người con (4 trai, 1 gái), con trai thứ ba đi thanh niên xung phong từ năm 1959 Bốn người con còn lại đều vào bộ đội trực tiếp tham gia chiến đấu, trong đó có 2 người là liệt sĩ
Tháng 6 năm 1971, Vĩnh Thành đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhất về thành tích tòng quân chi viện Năm 1973
xã Vĩnh Thành lại được Bộ tư lệnh Quân khu 3 tặng cờ thi đua xã hoàn thành xuất sắc nhất nhiệm vụ tuyển quân
Cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược của nhân dân ta đã giành được thắng lợi vẻ vang bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, miền Nam hoàn toàn giải phóng (30 tháng 4 năm 1975) Đảng bộ và nhân dân Vĩnh Thành rất vinh dự và tự hào đã luôn luôn hoàn thành nhiệm vụ chi viện sức người, sức của cho cuộc kháng chiến, góp phần làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc Việt Nam anh hùng
1.3.3 Vùng đất Vĩnh Thành từ năm 1975 đến nay
Cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ kết thúc thắng lợi, mở ra một kỉ nguyên mới, kỉ nguyên hòa bình, độc lập thống nhất Tổ quốc cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội Đảng bộ và nhân dân xã Vĩnh Thành lại hăng hái tiến quân vào thời kì mới, với quyết tâm mới bằng sức mạnh của truyền thống lao động miệt mài và tình yêu quê hương, đất nước sâu sắc
Trang 37* Khôi phục và phát triển kinh tế (1975-1985)
Đứng trước yêu cầu mới, Đảng bộ xã Vĩnh Thành lãnh đạo nhân dân nhanh chóng khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh
tế, thực hiện thắng lợi kế hoạch nhà nước 5 năm lần thứ hai (1976-1980) và
kế hoạch nhà nước 5 năm lần thứ ba (1980-1985) Nhiệm vụ trọng tâm là tập trung đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp toàn diện, nhất là lương thực và thực phẩm Đẩy mạnh sản xuất hàng xuất khẩu và phát triển sản xuất hàng tiêu dùng
Qua quá trình tấn công quyết liệt vào mặt trận lương thực bằng những biện pháp thủy lợi, phân bón, giống thời vụ cây trồng, nên năng suất lúa Vĩnh Thành tăng lên rõ rệt Năm 1980, năng suất lúa cả năm của xã đạt 2,8 tấn/ 1ha Bình quân lương thực đầu người trong năm đã đạt 250kg đến 290kg
Ngày 13 tháng 1 năm 1981, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị
số 100/TW (gọi tắt là khoán 100) Chỉ thị 100 đã tạo ra không khí hồ hởi phấn khởi trong nông thôn Xã viên bước đầu làm chủ ruộng đất nhận khoán của mình đã tích cực chủ động đầu tư thâm canh, đồng thời lại có phong trào thi đua “Gia đình nông dân tập thể sản xuất giỏi” đã thu hút đông đảo hội viên tham gia và đã mang lại hiệu quả cao
Từ năm 1975 đến năm 1985, hằng năm Vĩnh Thành đã làm nghĩa vụ lương thực cho nhà nước từ 200 đến 300 tấn thóc.Nhiều vụ Vĩnh Thành đã làm với số lượng cao và nhập kho nhanh gọn như vụ mùa năm 1983 đã hoàn thành nghĩa vụ huy động hơn 157 tấn vào lúc 16h ngày 26 tháng 11 năm 1983
là đơn vị dẫn đầu toàn huyện
Các ngành nghề phụ trong HTX nông nghiệp được phát triển.Thời kì này chủ trương Nhà nước xét cấp giấy phép kinh doanh cho nhân dân, nhiều
hộ xã viên được cấp giấy phép kinh doanh sản xuất các mặt hàng bánh kẹo, chè lam, miến dong và dịch vụ các loại, buôn bán nhỏ tại địa phương, nên thu nhập được tăng thêm
Trang 38Đời sống kinh tế ổn định, giáo dục, y tế, văn hóa cũng có bước chuyển mới Năm 1976, Trường phổ thông cấp 2 xây dựng phòng đọc sách mang tên Nguyễn Tất Thành và hoạt động tốt Phòng đọc sách Nguyễn Tất Thành được tỉnh và Trung ương biểu dương khen ngợi Thực hiện chủ trương của ngành giáo dục, năm học 1978-1979, trường cấp 1 và trường cấp 2 của xã hợp nhất mang tên Trường phổ thông cơ sở Vĩnh Thành Năm 1983, xã khánh thành 18 phòng học bán kiên cố cho trường phổ thông cơ sở Năm học 1982-1983, Trường phổ thông cơ sở Vĩnh Thành được phong đơn vị là cờ đầu của ngành giáo dục tỉnh Thanh Hóa
Đứng trước yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thời kì 1975-1985, biên chế dân quân Vĩnh Thành có từ 800 đến 850 người Xã xây dựng đơn vị dân quân chiến đấu với con số 35 đến 40 người và lực lượng dự
bị động viên
Chặng đường 10 năm (1975-1985) cùng cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, Đảng bộ và nhân dân Vĩnh Thành đã đoàn kết, nhất trí vượt qua những khó khăn, từng bước phấn đấu đạt được những thành tích to lớn, đánh dấu bước phát triển mới trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Đó cũng là tiền đề để nhân dân Vĩnh Thành vững tin vào sự lãnh đạo của Đảng, phát huy thế mạnh để vươn lên thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới
* Trong công cuộc đổi mới từ năm 1986 đến nay
Tháng 10 năm 1986, Đại hội Đảng bộ huyện Vĩnh Lộc lần thứ XVIII
đã quyết định phương hướng phát triển kinh tế-xã hội trong thời kì đổi mới
Trên bước đường thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện, bằng sự đoàn kết, nỗ lực và tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của các cấp bộ Đảng, Vĩnh Thành đã đạt được thành tựu to lớn, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực
Về hành chính, từ năm 1989, Nhà nước ban hành quy định quy mô thôn làng, bản và các trưởng thôn, trưởng làng, trưởng bản, gọi chung là trưởng
Trang 39thôn, được hưởng chế độ phụ cấp hàng tháng Xã Vĩnh Thành được chia thành 8 thôn như ngày nay Thôn 1 thuộc địa bàn Quảng Nhân và một phần địa bàn làng Nhân Lộ, thôn 2 thuộc địa bàn làng Nhân Lộ, thôn 3 và thôn 4 thuộc địa bàn làng Cao Mật, thôn 5 một phần thuộc địa bàn làng Cao Mật và một phần làng Hà Lương, thôn 6 thuộc địa bàn làng Hà Lương, thôn 7 thuộc địa bàn làng Phụng Công và thôn 8 thuộc địa bàn làng mới bên núi Đún
Về kinh tế, thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12/1986), đặc biệt là nghị quyết 10- NQ/TW về cơ chế quản lý nông nghiệp, huyện ủy Vĩnh Lộc đã có nghị quyết cụ thể hóa nghị quyết 10 trên địa bàn huyện Năm 1993, xã đã hoàn thành giao ruộng đất lâu dài cho các hộ nông dân, các hộ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Trong chuyển đổi cây trồng, Vĩnh Thành đã bỏ cây thuốc lá từ đầu những năm 1990 vì sản xuất thuốc không đem lại kinh tế cao Các loại giống lúa, ngô có năng suất
cao được tiến hành gieo cấy: “Năng suất lúa năm 1989 mới đạt 31,8 tạ/ha,
đến năm 2000 đã đạt 48 tạ/ha và năm 2005 lên 55 tạ/ha Bình quân lương thực đầu người năm 1996 là 320 kg, năm 2005 là 450 kg, năm 2014 là 550 kg” [3;Tr7]
Cùng với trồng trọt, chăn nuôi bò, lợn cũng được xác định là nguồn thu nhập chính của người dân Vĩnh Thành Chính vì vậy mà đàn gia súc, gia cầm
phát triển ổn định và tăng dần “ Năm 1996, đàn trâu bò của xã Vĩnh Thành
có 294 con và năm 2005 tăng lên 700 con Đàn lợn năm 1996 có trên 2.258 con thì năm 2005 đã lên tới gần 3.650 con”[3;Tr8]
Vốn là vùng đất kinh đô cũ (Tây Đô) và nằm ở ven sông Mã, nên Vĩnh Thành đã trở thành trung tâm buôn bán của huyện Hiện nay toàn xã có khoảng gần 529 hộ chủ yếu là ở hai bên quốc lộ 45 làm các nghề tiểu thủ công nghiệp và buôn bán như cơ khí, xay sát, nề, mộc, làm đậu phụ, bán hàng
ăn, sửa chữa xe đạp, xe máy, kinh doanh buôn bán các loại dịch vụ vừa và nhỏ góp phần tăng thêm thu nhập đáng kể…Các hoạt động này đã cung cấp các mặt hàng thiết yếu phục vụ cho nhân dân trong làng và các vùng lân cận
Trang 40Công tác giáo dục và y tế cũng được phát triển Là địa phương vốn giàu lòng yêu nước, có truyền thống học hành thi cử đỗ đạt cao nên những năm đổi mới giáo dục Vĩnh Thành có những bước tiến mới, cao hơn, vững chắc hơn Vĩnh Thành là đơn vị đi đầu tổ chức Đại hội giáo dục cấp xã và thành lập Hội khuyến học từ xã đến các thôn, các dòng họ, đi đầu trong phổ cập giáo dục Tiểu học, phổ cập giáo dục Trung học cơ sở Trường lớp, trang thiết bị phục
vụ cho giảng dạy và học tập được đảm bảo và hiện đại hóa Trường học các cấp của xã liên tục đạt danh hiệu trường tiên tiến và tiên tiến xuất sắc cấp tỉnh Trường mầm non Vĩnh Thành được công nhận là một trong những đơn
vị lá cờ đầu ngành học Mầm non của Tỉnh và năm học 2003-2004 đạt chuẩn Quốc gia giai đoạn 2001-2010 Trường Tiểu học Vĩnh Thành được chọn thí điểm của Tỉnh về mô hình trung tâm chất lượng cao bậc Tiểu học và nhà trường đã đạt 3 tiêu chuẩn do Bộ giáo dục đề ra đó là công tác quản lí, đội ngũ giáo viên và hiệu quả đào tạo Năm 1998, Trường Tiểu học Vĩnh Thành được công nhận trường chuẩn Quốc gia giai đoạn 1996-2000 Năm 1996, được tặng Huân chương lao động hạng Ba và năm 2003 được tặng Huân chương lao động Hạng Nhì Trường Trung học cơ sở Vĩnh Thành được công nhận trường chuẩn Quốc gia giai đoạn 2001-2010 và được tặng Huân chương lao động hạng Ba năm học 2003-2004 Với những thành tích xuất sắc trong giáo dục và đào tạo, xã Vĩnh Thành đã được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen về thành tích xuất sắc xây dựng trường chuẩn Quốc gia ở cả 3 cấp học
Công tác chăm sóc sức khỏe cho người dân trong xã luôn đảm bảo thường xuyên và kịp thời Hằng năm, Vĩnh Thành thực hiện đầy đủ và có chất lượng cao trong việc thực hiện chương trình y tế Quốc gia như tiêm chủng mở rộng, uống vắc xin phòng bệnh cho trẻ em và bà mẹ mang thai, Đến cuối năm 2014, 100% số hộ gia đình đã có các công trình nhà tiêu, giếng nước, nhà tắm hợp vệ sinh, 95% số hộ đã sử dụng nước sạch trong sinh hoạt hàng ngày Năm 2005, xã được công nhận chuẩn Quốc gia về y tế