1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dahs01 bài thu hoạch diễn án hình sự hs 01

14 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Diễn Án Vụ Án: Tạ Văn Cường Chứa Mại Dâm
Người hướng dẫn PTS. Nguyễn Văn A
Trường học Học Viện Tư Pháp
Chuyên ngành Luật hình sự
Thể loại Bài thu hoạch
Năm xuất bản 2023
Thành phố TP Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 48,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN Vụ án: Tạ Văn Cường chứa mại dâm Ngày 19062018, Tạ Văn Trường đến xin việc tại quán tẩm quất Ha Na ở khu phố Nguyễn Giáo, phường Đồng Nguyên, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh do Ngô Văn Thành làm chủ. Theo đó, đã thỏa thuận rằng Thành sẽ giao toàn bộ công việc quản lý, điều hành cơ sở kinh doanh cho Trường, Trường có trách nhiệm quản lý quán và nhân viên, thu tiền tẩm quất của khách vào buổi tối hàng ngày và Trường được trả mức lương 4.000.000 đồngtháng, không có Hợp đồng lao động. Khoảng 20 giờ 45 phút ngày 0572018, Nguyễn Văn Thọ (sinh năm 1986), Nguyễn Trần Trung (sinh năm 1987) và Nguyễn Văn Tuấn (sinh năm 1990) (cả ba đều ở thị trấn Chờ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh) đi xe taxi của Nguyễn Văn Huy (sinh năm 1983) đến quán tẩm quất Ha Na ở khu phố Nguyễn Giáo, phường Đồng Nguyên, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Tại đây, Thọ hỏi Trường về việc mua dâm, Trường trả lời có và chỉ thu tiền phòng là 150.000 đồngphòng, còn tiền nhân viên thì lên phòng thoả thuận nhưng ít nhất là 300.000 đồng. Sau đó Thọ thanh toán cho Trường 450.000 đồng tiền phòng, Trường bảo 03 người là Thọ, Trung và Tuấn lên phòng 201, 202, 203 để Trường gọi nhân viên đến bán dâm. Sau khi 03 người lên phòng, Trường gọi điện thoại cho Linh (tên thật là Phùng Thị Kim Liên) là nhân viên tại quán lên phòng 203 bán dâm cho khách. Sau đó, Trường gọi điện thoại cho người tên Bắc theo số điện thoại mà ông Thành đưa (0974.061.663) yêu cầu cho 02 nhân viên đến quán tẩm quất Ha Na. Một lúc sau có 02 nhân viên nữ đến và được Trường chỉ dẫn lên phòng 201 và 202. Tuy nhiên, sau đó chỉ có một nhân viên vào phòng 202 là Lê Thị Tâm, còn nhân viên phòng 201 đi xuống nói với Trường là đổi người, Trường gọi cho Bắc yêu cầu đổi nhân viên khác và nhân viên này đi về.

Trang 1

HỌC VIỆN TƯ PHÁP

CƠ SỞ TẠI TP.HỒ CHÍ MINH

BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN

Vụ án: Tạ Văn Cường chứa mại dâm

Môn : Kỹ năng của Luật sư trong vụ án hình sự

Mã hồ sơ : LS.HS-01

Diễn lần : 01

Ngày diễn :

Giáo viên hướng dẫn:

Họ và tên :

Số báo danh :

TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm

Trang 2

NỘI DUNG

I TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN

1 Xác định tư cách đương sự trong vụ án

a Bị cáo: Tạ Văn Trường (sinh năm 1988, hộ khẩu thường trú tại thôn Phú

Đa, xã Công Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam)

b Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

● Ngô Văn Thành (sinh năm 1984, hộ khẩu thường trú tại khu phố Nguyễn Giáo, phường Đồng Nguyên, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh)

● Ngô Thị Yến (sinh năm 1985)

● Phùng Thị Kim Liên (sinh năm 1990, hộ khẩu thường trú tại Khu 1 Xã Hương Xạ, huyện Hạ Hoà, tỉnh Phú Thọ - là nhân viên của quán)

● Lê Thị Thanh Tâm (sinh năm 1995, hộ khẩu thường trú Đội 6, Ninh Thắng, Hoa Lư, Ninh Bình)

2 Tóm tắt nội dung vụ án

Ngày 19/06/2018, Tạ Văn Trường đến xin việc tại quán tẩm quất Ha Na ở khu phố Nguyễn Giáo, phường Đồng Nguyên, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh do Ngô Văn Thành làm chủ Theo đó, đã thỏa thuận rằng Thành sẽ giao toàn bộ công việc quản lý, điều hành cơ sở kinh doanh cho Trường, Trường có trách nhiệm quản lý quán và nhân viên, thu tiền tẩm quất của khách vào buổi tối hàng ngày và Trường được trả mức lương 4.000.000 đồng/tháng, không có Hợp đồng lao động

Khoảng 20 giờ 45 phút ngày 05/7/2018, Nguyễn Văn Thọ (sinh năm 1986), Nguyễn Trần Trung (sinh năm 1987) và Nguyễn Văn Tuấn (sinh năm 1990) (cả

ba đều ở thị trấn Chờ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh) đi xe taxi của Nguyễn Văn Huy (sinh năm 1983) đến quán tẩm quất Ha Na ở khu phố Nguyễn Giáo, phường Đồng Nguyên, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Tại đây, Thọ hỏi Trường

về việc mua dâm, Trường trả lời có và chỉ thu tiền phòng là 150.000 đồng/phòng, còn tiền nhân viên thì lên phòng thoả thuận nhưng ít nhất là 300.000 đồng Sau đó Thọ thanh toán cho Trường 450.000 đồng tiền phòng, Trường bảo 03 người là Thọ, Trung và Tuấn lên phòng 201, 202, 203 để Trường gọi nhân viên đến bán dâm

Sau khi 03 người lên phòng, Trường gọi điện thoại cho Linh (tên thật là Phùng Thị Kim Liên) là nhân viên tại quán lên phòng 203 bán dâm cho khách Sau đó, Trường gọi điện thoại cho người tên Bắc theo số điện thoại mà ông Thành đưa (0974.061.663) yêu cầu cho 02 nhân viên đến quán tẩm quất Ha Na

Trang 3

Một lúc sau có 02 nhân viên nữ đến và được Trường chỉ dẫn lên phòng 201 và

202 Tuy nhiên, sau đó chỉ có một nhân viên vào phòng 202 là Lê Thị Tâm, còn nhân viên phòng 201 đi xuống nói với Trường là đổi người, Trường gọi cho Bắc yêu cầu đổi nhân viên khác và nhân viên này đi về

Khoảng 21 giờ, khi các bên đang thực hiện bán dâm thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra tỉnh Bắc Ninh bắt quả tang Vật chứng thu giữ gồm:

+ 02 bao cao su đã qua sử dụng,

+ 1.500.000 đồng là tiền bán dâm và thuê phòng, và

+ 02 điện thoại di động của Trường và Liên

Lúc bị bắt quả tang và trong suốt quá trình điều tra (từ ngày 05/7/2018 đến 17/9/2018), Tạ Văn Trường đã thành khẩn khai báo và thừa nhận có hành vi liên

hệ Bắc qua số điện thoại 0974.061.663 để điều nhân viên (Liên và Tâm) đến quán tẩm quất Ha Na bán dâm cho khách Tuy nhiên, Trường khẳng định việc thực hiện hành vi trên là theo sự phân công của chủ quán là Ngô Văn Thành (bút lục 91-113) Đối với đối tượng tên Bắc có số điện thoại là 0974061663 – theo như lời khai của Trường, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh xác định chủ thuê bao là Nguyễn Thị Nguyên (sinh năm 1990, ngụ tại khu phố 1, phường Đồng Nguyên, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh) Nguyên khai với Cơ quan điều tra rằng: Nguyên bị mất máy và sim cuối tháng 6/2018, hiện Nguyên không sử dụng số điện thoại trên và Nguyên cũng không biết Trường là ai Đồng thời, Trường cũng đã khai tại Cơ quan điều tra, Trường không biết Bắc và cả chị Nguyên là ai, địa chỉ của Bắc ở đâu Do đó, không xác định được đối tượng Bắc Mặt khác, Thành phủ nhận có chỉ đạo Trường gọi điện cho gái mại dâm đến bán dâm cho khách và khẳng định hoàn toàn không hề biết việc Trường làm (bút lục 42-45) Trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra có cho Trường và Thành đối chất lời khai tại Biên bản đối chất ngày 10/08/2018 (bút lục 48-52) Tuy nhiên,

cả hai vẫn giữ nguyên lời khai

Với những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh Bắc Ninh đề nghị truy tố và Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tiến hành truy tố Tạ Văn Trường phạm tội “Chứa mại dâm” được quy định tại điểm d Khoản 2 Điều 327 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017

(“BLHS 2015”).

II KẾ HOẠCH HỎI TẠI PHIÊN TÒA

● Tư cách tham gia xét hỏi: Luật sư bào chữa cho bị cáo Tạ Văn Trường

● Định hướng bào chữa:

- Bào chữa theo hướng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cụ thể: chuyển khung hình phạt từ khoản 2 Điều 327 BLHS xuống khoản 1 Điều 327 BLHS, áp

Trang 4

dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 và 2 Điều 51 BLHS Đi sâu vào các vấn đề sau:

1 Không phải chủ mưu;

2 Bị cáo làm theo các hướng dẫn và sự phân công của chủ quán Thành;

3 Không có hưởng lợi bất chính từ việc bán dâm;

4 Thành khẩn khai báo với cơ quan điều tra

- Làm rõ những sai phạm về thủ tục tố tụng

1 Hỏi bị cáo Tạ Văn Trường

- Bị cáo cho Hội đồng xét xử (“HĐXX”)tại quán tẩm quyết Ha Na, bị cáo làm

công việc gì?

- Khi có khách đến mua dâm tại quán, bị cáo làm những việc nào?

- Việc mua bán dâm đã diễn ra bao nhiêu lần kể từ khi bị cáo nhận việc tại quán tẩm quất Ha Na?

- Ngoài khoản tiền lương 4.000.000 đồng/tháng, bị cáo có nhận được khoản tiền nào từ việc chứa mại dâm không?

- Phùng Thị Kim Liên và Lê Thị Thanh Tâm có quan hệ như thế nào với bị cáo?

- Vào ngày thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã thu của 03 đối tượng mua dâm bao nhiêu tiền? Nguyên nhân thu số tiền đó là gì và số tiền đó sẽ được

xử lý như thế nào?

- Bị cáo đã liên hệ ai để bán dâm cho khách?

- Số điện thoại của người tên Bắc từ đâu mà bị cáo có? Bị cáo có quen biết người này không?

- Số điện thoại 0974.061.663 đã có khi bị cáo vào làm đúng không?

- Bị cáo cho biết ngày 05/7/2018 có bao nhiêu đối tượng tới gặp bị cáo để mua dâm?

- Bị cáo đã thỏa thuận thế nào đối với các khách đến mua dâm vào tối ngày 05/7/2018?

- Có bao nhiêu gái bán dâm bị lập biên bản tại thời điểm bị bắt quả tang?

- Sau khi thực hiện hành vi phạm tội và bị bắt quả tang, bị cáo cảm thấy như thế nào? Bị cáo có thấy hối hận đối với hành vi của mình hay không?

- Ở gia đình bị cáo ai làm lao động chính? Bị cáo có sống cùng cha mẹ không? Nếu có thì cha mẹ bị cáo bao nhiêu tuổi, sức khoẻ như thế nào?

2 Hỏi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phùng Thị Kim Liên

Trang 5

- Chị Liên cho HĐXX biết công việc và mức lương và thời điểm làm việc của chị ở quán tẩm quất Ha Na?

- Ai là người chỉ đạo chị bán dâm? Có phải bất kỳ người nào gọi chị lên phòng bán dâm chị cũng lên không?

- Chị có thỏa thuận gì với bị cáo Trường về việc chị bán dâm không?

- Số tiền nhận được sau khi bán dâm, chị cho bị cáo không?

- Tại thời điểm bán dâm ngày 05/7/2018, ông Thành có mặt tại quán tẩm quất

Ha Na không?

3 Hỏi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Thị Tâm

- Chị Tâm cho HĐXX biết chị có phải nhân viên của quán tẩm quất Ha Na không?

- Chị cho biết ai là người liên hệ trực tiếp với chị về việc bán dâm vào tối ngày 05/7/2018?

- Theo như lời khai của chị vào ngày 5/7/2018 (Bút lục 80), chị đã khai: vào lúc 20 giờ 30 phút ngày 05/7/2018, anh Ngáo (tên thật là Tân) vào phòng bảo tôi

là “Tít dậy đi khách”, tôi bảo “Vâng” và sau đó tôi đi ra xe máy của anh Ngáo

và anh Ngáo đưa tôi vào quán tẩm quất Ha Na Tuy nhiên, tại Biên bản ghi lời khai ngày 10/7/2018, tại bút lục 82 chị khai: Chú Hùng làm nghề lái xe ôm là người bảo tôi và đưa tôi đến quán Ha Na bán dâm cho khách và tại bút lục 83 chị khai rằng: Sự thật người chở tôi là chú Hùng, anh Tân hôm đó không đến Anh Tân có biết việc tôi đến quán tẩm quất Ha Na bán dâm cho khách hay không thì tôi không biết Chị bảo ngày 05/7/2018 anh Tâm không đến, vậy lời khai tại bút lục 80 mà chị đã khai ngày 05/7/2018 là như thế nào? Đề nghị chị xác nhận lại lời khai của mình?

- Chị Tâm cho HĐXX biết, trước đây chị có từng đến quán Ha Na bán dâm không?

- Chị có quen biết với bị cáo Trường không?

- Theo biên bản hỏi cung bị can ngày 17/8/2018 (Bút lục 109), bị cáo Trường

có khai rằng trước đêm bị bắt quả tang (5/7/2018) khoảng 2 ngày, chị Tâm có đến bán dâm tại quán Ha Na Tuy nhiên, chị lại khai rằng ngày 5/7/2018 là ngày đầu tiên chị đến quán Ha Na Đề nghị chị xác nhận lại lời khai này?

- Chị có biết ông Thành – chủ quán tẩm quất Ha Na không?

- Giữa ông Thành và vợ chồng ông Tùng, bà Nguyên có mối quan hệ gì ?

- Bà Nguyên có tên khác là Bắc phải không?

- Chị làm việc cho ai, bao gồm những công việc gì, thỏa thuận công việc bán dâm như thế nào?

- Chị cho biết Bà Nguyên liên hệ với chị qua những số điện thoại nào?

Trang 6

- Chị có thỏa thuận gì với bị cáo Trường về việc bán dâm hoặc phân chia số tiền có được từ việc bán dâm không?

- Tối hôm đó, chị Tâm đã cùng một nhân viên nữ vào quán Ha Na để bán dâm Vậy chị biết nhân viên nữ đó là ai không? Tại sao lúc đó lại đổi người?

4 Hỏi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngô Văn Thành

- Anh Thành cho HĐXX biết, Trường vào làm việc tại quán tẩm quất khi nào

và được giao việc gì?

- Anh có thường xuyên đến quán kiểm tra, đôn đốc công việc không?

- Các camera lắp đặt tại quán có hoạt động không?

- Anh có thường xuyên kiểm tra camera tại quán không?

- Anh giao nhiệm vụ gì cho cho bị cáo và việc thu tiền của khách đến quán như thế nào?

- Anh quản lý công việc và nhân viên tại cơ sở tẩm quất Ha Na như thế nào?

- Bị cáo Trường có làm tốt công việc được anh giao không?

- Trước khi bị bắt quả tang, anh có biết việc bị cáo chứa mại dâm tại cơ sở tẩm quất do anh làm chủ không?

- Anh cho HĐXX biết, SĐT 0974061663 trên bàn lễ tân là của ai?

- Từ ngày bị cáo Trường vào làm việc đến tối ngày 05/7/2018 anh có đưa bất

cứ số tiền nào cho bị cáo Trường ngoài tiền lương không? Nếu có thì nhằm mục đích gì?

III LUẬN CỨ BÀO CHỮA HOẶC BẢO VỆ

Kính thưa Hội đồng xét xử! Thưa vị đại diện Viện kiểm sát, và tất cả những người có mặt tại phiên tòa hôm nay!

Tôi là Luật sư ………, hiện công tác tại Văn phòng Luật sư A thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hồ Chí Minh Theo lời mời của Bị cáo Tạ Văn Trường, tôi có mặt tại phiên tòa ngày hôm nay với tư cách là người bào chữa cho bị cáo

bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh truy tố về tội “Chứa mại dâm” theo quy định tại điểm khoản 2 Điều 327 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017

Kính thưa Hội đồng xét xử, qua quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ án, kết quả xét hỏi tại phiên toà đồng thời vị đại diện Viện kiểm sát kết luận về vụ án, đề xuất tội danh, khung hình phạt và hình phạt đối với bị cáo Tạ Văn Trường, tôi xin trình bày quan điểm để Hội đồng xét xử, Vị đại điện Viện Kiểm Sát cân nhắc, xem xét, đánh giá đối với thủ tục tố tụng, tài liệu, chứng cứ để có quyết định thấu tình đạt lý

Trang 7

Thông qua quá trình điều tra vụ án của Cơ quan điều tra đã làm rõ được việc

bị cáo Tạ Văn Trường có hành vi chứa mại dâm và bản thân bị cáo cũng đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình Vì vậy, đối với tội danh và hành vi phạm tội của bị cáo, tôi không có ý kiến gì thêm Tuy nhiên, qua nghiên cứu hồ sơ và các tình tiết có trong vụ án và quy định pháp luật, tôi nhận thấy vụ án nêu trên có những vấn đề cần được quan tâm và làm rõ trước khi đưa ra hình phạt cuối cùng đối với trường hợp phạm tội của bị cáo Cụ thể như sau:

Thứ nhất, việc xem xét vai trò của từng người trong vụ án chưa được làm rõ

Theo như lời khai của Trường trong các Biên bản ghi lời khai, Biên bản hỏi cung bị can (bút lục 91-113) cũng như trong quá trình xét hỏi công khai tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trường đã thừa nhận đã có hành vi chỉ đạo nhân viên bán dâm cho khách theo sự chỉ đạo từ Ngô Văn Thành Cụ thể: Bị cáo Trường dùng điện thoại gọi điện cho Bắc, bị cáo không biết là ai, chỉ biết có số điện thoại là 0974.061.663 do Thành cho Trường

Để che giấu sự phát hiện của các cơ quan chức năng, hiện nay các tội phạm trên thực tế thực hiện rất nhiều thủ đoạn như núp dưới danh nghĩa kinh doanh nhà trọ, nhà hàng, khách sạn, quán cà phê, phòng hát Karaoke.v.v để hoạt động mại dâm trá hình Ngô Văn Thành là chủ cơ sở tẩm quất Ha Na, là loại hình kinh doanh dịch vụ dễ bị lợi dụng để hoạt động mại dâm Do đó, Thành hoàn toàn có khả năng, đủ điều kiện biết rõ việc có hay không có hành vi mua bán dâm tại quán

Việc Thành giao cho bị cáo Trường quản lý quán tẩm quất chỉ trong một thời gian ngắn và không kiểm tra giám sát việc hoạt động là không hợp lý, vì từ thời điểm nhận việc đến thời điểm bị phát hiện hành vi phạm tội là quá ngắn, bị cáo Trường cũng khai là do Thành chỉ đạo thực hiện hành vi chứa mại dâm

Ngoài ra, trong quá trình điều tra vụ án, Cơ quan điều tra chỉ lấy lời khai đối với Thành 02 lần tại bút lục 42-47 và đối chất 01 lần giữa Thành với bị cáo Trường tại Bút lục 48-52, chưa làm rõ được vai trò của Thành trong vụ án trên

Về đối tượng tên Bắc có số điện thoại 0971.061.663, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh xác định chủ số thuê bao là Nguyễn Thị Nguyên Theo lời khai của Nguyên tại các bút lục 60-61 thì số điện thoại 0971.061.663 đã bị mất từ cuối tháng 6/2018 và Nguyên không có sử dụng tên gọi nào khác Lời khai ghi nhận tại bút lục 58 thì Nguyên khai rằng không bảo Tâm đi bán dâm Tuy nhiên, theo nội dung lời khai của Lê Thị Tâm tại bút lục 83 thì Tâm là nhân viên bán dâm của Nguyên, hằng ngày Nguyên cho Tân (Ngáo) đến đón Tâm đi bán dâm, sau khi bán dâm Tâm sẽ thu khách 300.000đ về chia đôi với Nguyên mỗi người 150.000đ Ngoài ra, tại bút lục 80, Tâm khai rằng vào lúc 20 giờ 30 phút ngày

Trang 8

05/7/2018 thì Tân (Ngáo) vào phòng bảo Tâm “Tít dậy đi khách” Tuy nhiên, sau đó, tại Biên bản ghi lời khai ngày 10/7/2018, cụ thể bút lục 82-83, Tâm đã thay đổi lời khai, Tâm khai rằng chú Hùng và Trường gọi Tâm đến bán dâm, Tân không đến vào hôm đó Ở đây có sự mâu thuẫn lời khai giữa chị Nguyên và chị Tâm nhưng Cơ quan điều tra lại không tiến hành đối chất theo quy định tại Điều 189 BLTTHS 2015

Việc xác định vai trò của Thành, Nguyên trong vụ án có ý nghĩa quan trọng trong việc xem xét trách nhiệm hình sự của bị cáo Trường bởi lẽ hành vi phạm tội của Trường được thực hiện theo chỉ đạo của Thành, và có sự hợp tác với người tên Bắc Ngoài ra, việc điều tra kỹ càng vai trò các đối tượng này còn tránh trường hợp bỏ lọt tội phạm

Thứ hai, về tội danh bị truy tố trong Bản cáo trạng số 118/CT-VKS-P1 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh:

Tôi đồng ý với tội danh “Chứa mại dâm” mà Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã truy tố bị can Tạ Văn Trường là đúng người, đúng tội Tuy nhiên, tôi cho rằng việc Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh áp dụng tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm d khoản 2 Điều 327 BLHS để truy tố bị cáo

là chưa phù hợp Căn cứ theo quy định tại Điều 327 BLHS thì:

“Điều 327 Tội chứa mại dâm

1 Người nào chứa mại dâm, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

d) Chứa mại dâm 04 người trở lên;

…”

Căn cứ vào Mục 2 Phần I Công văn số 64/TANDTC-PC của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ký ngày 03/4/2019 thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc về hình sự, dân sự và tố tụng hành chính do Tòa án nhân dân tối cao thì:

“2 Tình tiết “chứa mại dâm 04 người trở lên” quy định tại điểm d khoản 2

Điều 327 và “đối với 02 người trở lên” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 328 của Bộ luật Hình sự được hiểu như thế nào (người bán dâm hay bao gồm cả người mua dâm)?

Theo Từ điển Tiếng Việt thì “mại” là “bán”, “mãi” là “mua” và “chứa mại dâm” là “chứa bán dâm” Như vậy, tình tiết định khung tăng nặng “chứa mại

Trang 9

dâm 04 người trở lên” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 327 và “đối với 02 người trở lên” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 328 của Bộ luật Hình sự được hiểu là đối với người bán dâm Cách hiểu này là phù hợp với các tình tiết định khung tăng nặng khác quy định tại tại Điều 327 và Điều 328 của Bộ luật Hình

sự, đồng thời cũng phù hợp với thực tiễn xử lý đối với hành vi chứa mại dâm mà

có 01 người bán dâm với 03 người mua dâm trong cùng một khoảng thời gian thì bị xử lý theo quy định tại khoản 1 của điều luật này nếu không có tình tiết định khung tăng nặng.”

Theo nội dung tại Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 5/7/2018 (tại bút lục số 28– 33) và Bản Cáo trạng số 118/CT-VKS-P1 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh ngày 18/10/2018 thì: “…Khi Trung với Liên, Thọ và Tâm đang thực hiện hành vi mua bán dâm thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh Bắc Ninh bắt quả tang, thu giữ 02 bao cao su đã qua sử dụng; tiền VNĐ: 1.500.000 đ do Tạ Văn Trường, Lê Thị Thanh Tâm và Phùng Thị Kim Liên giao nộp; 02 điện thoại di động của Trường và Liên”

Do đó, bị cáo Tạ Văn Trường không có hành vi chứa mại dâm từ 04 người trở lên theo điểm d khoản 2 Điều 327 BLHS Mà hành vi của bị cáo Trường vi phạm theo khoản 1 Điều này với mức hình phạt là từ 01 đến 05 năm tù giam

Thứ ba, về việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo:

Về nhân thân, bị cáo chưa từng có tiền án tiền sự, là lao động chính trong gia đình và cha mẹ đều đã lớn tuổi

Về hành vi phạm tội, mặc dù hành vi phạm tội của bị cáo Tạ Văn Trường đã

rõ ràng, tuy nhiên bị cáo không hưởng bất kỳ khoản lợi nào từ việc chứa mại dâm nêu trên, số tiền phòng thu được là số tiền phòng phải nộp cho chủ cơ sở Ngoài ra, tại Biên bản lấy lời khai của Phùng Thị Kiêm Liên tại bút lục số 89 thì

Liên đã khai nhận “Số tiền bán dâm trên tôi không phải chia cho ai mà tôi được

hưởng hết” và “Còn giá cả mua bán dâm thì tiền bán dâm tôi sẽ thu của khách

là 300.000đ tôi không chia cho ai, còn tiền phòng thì anh Trường sẽ thu của khách là 150.000đ” Tại 03 Biên bản lấy lời khai của Lê Thị Tâm (bút lục số

79-87) cũng không thể hiện Trường được hưởng lợi từ Lê Thị Tâm hay bất kỳ một

ai khác Như vậy giữa bị cáo và các đối tượng liên quan không hề có thỏa thuận

ăn chia từ số tiền mà các đối tượng nhận từ khách

Bên cạnh đó, trong quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi của mình, đồng thời bị cáo đã tích cực phối hợp với cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án

Trang 10

Như vậy, căn cứ vào các nội dung đã phân tích nêu trên, bị cáo Tạ Văn Trường không được hưởng bất kỳ lợi ích vật chất nào từ việc chứa mại dâm, đồng thời bị cáo không có tình tiết tăng nặng mà có 02 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điểm s và Điểm t Khoản 1 Điều 51 BLHS, cụ thể:

“Điều 51 Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

1 Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

s) Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;

t) Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án.

…”

Do đó, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 54 BLHS:

“Điều 54 Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng

1 Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này.

…”

Như vậy, trường hợp của bị cáo được hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng

Từ những phân tích nêu trên, Tôi xin khẳng định việc Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh truy tố bị cáo về tội “Chứa mại dâm” theo quy định tại điểm khoản 2 Điều 327 BLHS là không có cơ sở, hành vi của bị cáo là hành vi chứa mại dâm theo quy định tại Khoản 1 Điều 327 BLHS Đồng thời, kính đề nghị

Hội đồng xét xử xác định rõ vai trò của Ngô Văn Thành, Nguyễn Thị Nguyên

trong vụ án nhằm tránh việc để lọt tội phạm và xem xét bị cáo được áp dụng quy định về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Điểm s và Điểm t Khoản 1 Điều 51 BLHS 2015 như đã phân tích như trên, từ đó tuyên bị cáo được hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng để bị cáo

có cơ hội được bắt đầu lại cuộc sống của một công dân có ích, tuân thủ theo đúng pháp luật đồng thời thể hiện sự khoan hồng của Nhà nước và Pháp luật đối với người phạm tội

Ngày đăng: 17/06/2023, 20:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w