1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bài thu hoạch diễn án hành chính hồ sơ 12 nguyễn thị tuyết

13 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 48,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỌC VIỆN TƯ PHÁP CƠ SỞ TẠI TP HỒ CHÍ MINH BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN Môn Kỹ năng cơ bản của luật sư khi tham gia giải quyết các vụ việc hành chính Mã hồ sơ LS HC12DA1 Diễn lần Ngày diễn Giáo viên hướng dẫn Vai diễn Người bị kiện Họ và tên Lớp Số báo danh TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN I TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ VIỆC 1 Những người tham gia tố tụng a Người khởi kiện Bà Nguyễn Thị Tuyết – sinh năm 1982, địa chỉ tổ 9 Phường Đông Lân, Thành phố P tỉnh G L Người đại diện theo uỷ quyền của.

Trang 1

HỌC VIỆN TƯ PHÁP

CƠ SỞ TẠI TP.HỒ CHÍ MINH

BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN

Môn : Kỹ năng cơ bản của luật sư khi tham gia giải

quyết các vụ việc hành chính

Mã hồ sơ : LS.HC12/DA1

Giáo viên hướng dẫn:

Vai diễn : Người bị kiện

Họ và tên:

Lớp:

Số báo danh:

TP Hồ Chí Minh, ngày … tháng … năm …

Trang 3

BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN

I TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ VIỆC

1 Những người tham gia tố tụng

a. Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị Tuyết – sinh năm 1982, địa chỉ tổ 9 Phường

Đông Lân, Thành phố P tỉnh G.L

- Người đại diện theo uỷ quyền của người khởi kiện: Ông Mai Anh Tuấn, địa

chỉ 33 đường Minh Khai, Thành phố P, tỉnh G.L

b. Người bị kiện : Chánh Thanh tra Sở Văn hoá, Thể thao và du lịch tỉnh G.L,

địa chỉ 06 Trần Hưng Đạo, Thành phố P, tỉnh G.L

- Người đại diên theo uỷ quyền của người bị kiện: Ông Dương Văn Thành –

Phó Chánh Thanh tra Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L

2 Tóm tắt nội dung vụ việc

Bà Nguyễn Thị Tuyết (“bà Tuyết”) là chủ Cơ sở kinh doanh Phòng trọ Hoàng

Lan theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hộ cá thể số 39A 8005684 cấp ngày 19/11/2012

Vào lúc 21 giờ 10 phút ngày 23/12/2013, Đoàn kiểm tra của Thanh tra Sở Văn

hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L (“Thanh tra Sở VH-TT & DL”) đã tiến hành kiểm

tra cơ sở kinh doanh của Bà Tuyết tại địa chỉ: Số 241, đường Lê Lai, thành phố P, tỉnh G.L và lập Biên bản vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch

số 11/BB-VPHC đối với bà Tuyết (“Biên bản 11/BB-VPHC”), biên bản này ghi nhận

là: “Tại thời điểm kiểm tra nhà trọ Hoàng Lan, phòng số 11 có ông Nguyễn Văn

Thường và bà Nguyễn Thị Lành không có Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn đang quan hệ vợ chồng (quan hệ tình dục); Phòng số 9 có ông Phan Văn và bà Nguyễn Thị Thùy không có Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn đang xem tivi; tại thời điểm kiểm tra, tại Phòng số 11 chủ Cơ sở kinh doanh Phòng trọ Hoàng Lan không vào sổ bà Nguyễn Thị Lành Kết luận: Chủ Cơ sở Phòng trọ Hoàng Lan thiếu tinh thần trách nhiệm để xảy ra hành vi vi phạm như trên” Sau khi có kết luận hành vi vi phạm, Thanh tra Sở

VH-TT & DL tạm giữ Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hộ cá thể số 39A

8005684 của Cơ sở kinh doanh Phòng trọ Hoàng Lan

Ngay ở thời điểm bị lập Biên bản vi phạm hành chính, ông Nguyễn Văn

Thường (“ông Thường”), ông Phan Văn (“ông Văn”) và bà Nguyễn Thị Thùy (“bà

Thùy”) đều có Bản tường trình Theo đó, ông Thường xác nhận có thuê phòng nghỉ tại

Phòng trọ Hoàng Lan vào ngày 23/12/2013 để ở cùng với vợ mình là bà Nguyễn Thị Lành Ông Văn và bà Thùy xác nhận có thuê Phòng số 9 tại Phòng trọ Hoàng Lan để nghỉ ngơi, hai người có mối quan hệ là đã tổ chức đám hỏi nhưng chưa làm đám cưới

vì ông ngoại mất và hiện tại bà Thùy đang mang bầu

Ngày 16/01/2014, Thanh tra Sở VH-TT & DL đã làm tờ trình số 02/TT-TTr ngày 16/01/2014 xin gia hạn thời hạn ra quyết định xử phạt hành chính, tờ trình đã được Giám đốc Sở VH-TT & DL phê duyệt

Ngày 10/3/2014, trên cơ sở Biên bản số 11, ông Trần Ngọc Minh – Chánh

Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Tỉnh G.L (“Chánh Thanh tra Sở VH-TT

& DL”) ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa,

thể thao và du lịch số 23/QĐ-XP (“Quyết định số 23”) đối với bà Tuyết, hình thức xử

phạt là phạt tiền với mức phạt là 15.000.000 đồng do có hành vi vi phạm là “thiếu tinh

thần trách nhiệm tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh có điều kiện

Trang 4

về an ninh, trật tự để tổ chức hoạt động mại dâm (Áp dụng khoản 1 Điều 25 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ)”.

Ngày 18/3/2014, Thanh tra Sở VH-TT & DL có Công văn số 02/2014/CV-TTr đính chính lại một số nội dung của Quyết định số 23

Ngày 24/3/2014, bà Tuyết có Đơn khiếu nại về việc xử phạt hành chính đến Sở VH-TT & DL

Ngày 27/3/2014, Chánh Thanh tra Sở VH-TT & DL ra Thông báo số 01/TB-TTr về việc thụ lý giải quyết khiếu nại của bà Tuyết đối với Quyết định số 23

Ngày 7/4/2014, Sở VH-TT & DL có công văn số 167/CV-VHTTDL phản hồi một số nội dung trong Đơn khiếu nại của bà Tuyết, đồng thời yêu cầu bà Tuyết chấp hành Quyết định số 23

Ngày 10/4/2014, UBND Tỉnh G.L ra công văn số 119/PHD-VP với nội dung trả lại đơn Khiếu nại của Bà Tuyết do không thuộc thẩm quyền giải quyết của Chủ tịch UBND tỉnh

Ngày 11/4/2014, bà Tuyết tiếp tục làm đơn khiếu nại gửi đến Chủ tịch UBND tỉnh G.L, Giám đốc Sở VH-TT & DL và Giám đốc Sở Công an tỉnh G.L về việc không chấp nhận công văn trả lời đơn khiếu nại của Sở VH-TT & DL

Ngày 20/04/2014, Giảm đốc Công an tỉnh G.L ra Công văn trả lại Đơn khiếu nại của Bà Tuyết ngày 11/4/2014 do không thuộc thẩm quyền

Ngày 20/4/2014, Chánh Thanh tra Sở VH-TT & DL đã ban hành Quyết định số 01/QĐ-TTr về việc giải quyết đơn khiếu nại xử phạt vi phạm hành chính (lần đầu)

Nội dung quyết định: “Giữ nguyên quyết định xử phạt vi phạm hành chính số

23/QĐ-XPHC ngày 10/3/2014”.

Ngày 02/5/2014, bà Tuyết nộp Đơn khởi kiện đến Tòa án Nhân dân tỉnh G.L

(“TAND tỉnh G.L”), yêu cầu tuyên hủy bỏ Quyết định số 23 của Chánh Thanh tra Sở

VH-TT & DL

Ngày 13/5/2014, TAND tỉnh G.L đã ban hành Thông báo thụ lý vụ án hành chính số 03/2014/TB-THC theo Đơn khởi kiện của bà Tuyết với yêu cầu: Hủy bỏ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch

số 23/QĐ-XPHC ngày 10/03/2014 của Chánh thanh tra Sở VH-TT&DL tỉnh G.L

Ngày 29/5/2014, Chánh Thanh tra Sở VH-TT & DL có Công văn số 04/2014/TTr gửi TAND tỉnh G.L trình bày tóm tắt nội dung xử lý vụ xử lý vi phạn hành chính và giải quyết đơn khiếu nại quyết định xử phạt hành chính của bà Tuyết

Ngày 10/9/2014, TAND tỉnh G.L ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2014/QĐST-XX

II NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN

1 Cơ sở pháp lý

- Luật tố tụng hành chính 2015 (“Luật TTHC”);

- Nghị quyết số 104/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội về việc thi hành

Luật Tố tụng hành chính (“Nghị quyết số 104”);

- Nghị quyết 02/2011/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành Luật tố tụng hành chính do

Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành ngày 29/7/2011(“Nghị

quyết số 02”);

- Nghị định số 71/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 Quy định thời hạn, trình tự, thủ

tục thi hành án hành chính và xử lý trách nhiệm đối với người không thi hành

bản án, Quyết định của Tòa án (“Nghị định số 71”);

- Thông tư liên tịch số 03/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC ngày 31/8/2016

Quy định việc phối hợp giữa Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân trong

Trang 5

việc thi hành quy định của Luật tố tụng hành chính (“Thông tư liên tịch số

03”);

- Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 (“Luật XLVPHC”);

- Luật khiếu nại 2011 có hiệu lực ngày 01/7/2012 (“Luật khiếu nại”).

- Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 về quy định xử phạt vi phạm

hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn

xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình (“Nghị định

số 167”);

- Nghị định 71/2009/NĐ-CP ngày 28/8/2009 về tổ chức và hoạt động của thanh

tra văn hóa, thể thao và du lịch (“Nghị định số 71”);

- Pháp lệnh phòng, chống mại dâm số 10/2003/PL-UBTVQH11 ngày 17/3/2003

(“Pháp lệnh phòng, chống mại dâm số 10/2003”).

2 Điều kiện khởi kiện

a Đối tượng khởi kiện:

Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XP ngày 10/03/2014 do Chánh thanh tra Sở VH-TT & DL ban hành

Quyết định này là quyết định hành chính cá biệt về lĩnh vực xử lý vi phạm hành chính, áp dụng đối với bà Nguyễn Thị Tuyết, do Chánh thanh tra Sở VH-TT & DL tỉnh G.L ban hành theo thẩm quyền cá nhân theo khoản 5 Điều 10 Nghị định số 71, Điều 24 và khoản 2 Điều 46 của Luật XLVPHC Do đó, quyết định này thuộc đối tượng khởi kiện hành chính theo khoản 2 Điều 3 Luật TTHC

Tuy nhiên, Luật sư đề nghị khởi kiện cả Quyết định số 01/QĐ-TTr ngày 20/4/2014 về việc giải quyết Đơn khiếu nại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số

23/QĐ-XPHC (“Quyết định số 01”) vì Quyết định số 01 ảnh hưởng trực tiếp tới

quyền lợi của bà Tuyết Nếu chỉ khởi kiện hủy bỏ Quyết định số 23 thì Quyết định số

01 vẫn còn hiệu lực là giữ nguyên nội dung của Quyết định số 23, do đó vẫn ảnh hưởng tới quyền và lợi ích của bà Tuyết

b Quyền khởi kiện:

Quyết định số 23 là quyết định xử phạt đối với bà Tuyết, quyết định này có tác động trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà Tuyết, căn cứ theo khoản 8 Điều

3, Điều 5 cũng như Điều 115 Luật TTHC, bà Tuyết là chủ thể khởi kiện và có quyền khởi kiện Quyết định số 23

c Yêu cầu khởi kiện:

- Yêu cầu Tòa án hủy toàn bộ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số

23/QĐ-XPHC ngày 10/3/2014 của Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L;

- Yêu cầu Tòa án hủy toàn bộ Quyết định số 01/QĐ-TTr ngày 20/4/2014 về việc

giải quyết đơn khiếu nại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XPHC; và

- Bồi thường thiệt hại đối với các tổn thất về doanh thu và uy tín của cơ sở kinh

doanh nhà trọ Hoàng Lan cho bà Tuyết trong khoảng thời gian bị thu giữ giấy phép kinh doanh

d Thẩm quyền của Tòa án:

Tòa án có thẩm quyền giải quyết là TAND tỉnh G.L – bà Tuyết đã khởi kiện đến đúng Tòa án có thẩm quyền với các căn cứ sau đây:

- Thẩm quyền theo loại việc: Đây là khiếu kiện quyết định hành chính (cụ thể là:

Quyết định số 23) Theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Luật TTHC, khiến kiện này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục tố tụng hành chính

Trang 6

- Thẩm quyền theo cấp: bà Tuyết khởi kiện quyết định hành chính do Chánh

Thanh tra Sở TT-VH & DL tỉnh G.L (cấp tỉnh) ban hành Do đó, thẩm quyền thuộc Tòa án nhân dân cấp tỉnh theo khoản 3 Điều 32 Luật TTHC

e Thời hiệu khởi kiện:

Ngày 17/3/2014, bà Tuyết nhận được Quyết định số 23 Bà Tuyết đã làm Đơn khiếu nại ngày 11/4/2014 và được giải quyết khiếu nại bằng Quyết định số 01 ngày 20/4/2014 Do đó, thời hiệu khởi kiện với 02 quyết định này là đến ngày 21/4/2015 Bà Tuyết làm Đơn khởi kiện vào ngày 02/5/2014, đã được Tòa thụ lý vào ngày 13/5/2014, đáp ứng điều kiện khởi kiện trong thời hạn 01 năm theo quy định tại Điều 116 Luật TTHC

III KẾ HOẠCH HỎI TẠI PHIÊN TÒA

Vấn đề cần chứng minh: Tính bất hợp pháp của Đối tượng khởi kiện – Quyết định số

23

- Về thẩm quyền : Quyết định số 23 không được ban hành bởi người có thẩm

quyền theo pháp luật hiện hành

- Về trình tự, thủ tục ban hành Quyết định số 23: Quyết định số 23 được ban

hành không đúng trình tự thủ tục:

• Biên bản số 11 ghi không đầy đủ thông tin, dùng mẫu áp dụng quy định pháp luật chưa có hiệu lực thi hành tại thời điểm xảy ra hành vi được cho là vi phạm

• Quyết định số 23 không được ban hành đúng thời hạn luật định

• Căn cứ pháp luật để ban hành Quyết định số 23 chưa có hiệu lực tại thời điểm xảy ra vi phạm, vi phạm nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam về hiệu lực hồi tố

• Nội dung của Quyết định số 23 không đầy đủ và chưa phù hợp với quy định pháp luật xử phạt vi phạm hành chính hiện hành

- Về nội dung Quyết định số 23:

• Căn cứ để xử lí vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm của bà Tuyết là không có

• Thiếu chứng cứ, căn cứ để chứng minh bà Nguyễn Thị Tuyết có hành vi thiếu tinh thần trách nhiệm tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự để tổ chức hoạt động mại dâm

1 Hỏi Người bị kiện:

Hỏi để chứng minh sự sai phạm trong trình tự, thủ tục ban hành Quyết định số 23

Hỏi về thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính:

- Đoàn thanh tra đã đến kiểm tra, phát hiện vi phạm và lập Biên bản số 11 đối với

Cơ sở kinh doanh Phòng trọ Hoàng Lan của bà Tuyết vào ngày nào?

- Ngày 10/3/2014, Chánh Thanh tra Sở VH-TT & DL ban hành Quyết định số 23

đối với bà Tuyết đúng không?

- Quyết định số 23 có phải là quyết định xử phạt vi phạm hành chính trên cơ sở

Biên bản số 11 không?

- Điều 66 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định thời hạn ra Quyết định

xử phạt vi phạm hành chính là 07 ngày kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính, trường hợp phức tạp và nghiêm trọng có thể xin gia hạn thêm nhưng tối

đa không quá 60 ngày, vậy, thời hạn từ lúc lập Biên bản số 11 đến lúc ban hành Quyết định xử phạt hành chính số 23/QĐ-XP có đúng với thời hạn luật định không?

Trang 7

Tình tiết nào trong vụ việc này được làm căn cứ để xác định Tính đặc biệt

nghiêm trọng?

Hỏi về căn cứ pháp lý áp dụng cho việc xử phạt

- Ngày xảy ra hành vi mà theo ông là vi phạm hành chính là ngày nào?

- Việc xử phạt này dựa trên căn cứ pháp lý nào?

- Vì sao trong Biên bản số 11 ông căn cứ theo Nghị định 158/2013/NĐ-CP

nhưng đến khi ra Quyết định số 13, ông lại căn cứ theo Nghị định 167/2013/NĐ-CP? Ông giải thích sao về sự không thống nhất trong áp dụng quy định pháp luật này?

- Nghị định 158/2013/NĐ-CP nêu trên có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01

năm 2014, vậy việc áp dụng nó để xử lý hành vi vi phạm hành chính ngày 23/12/2013 là đúng hay sai?

- Nghị định 167/2013/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 28/12/2013, ông dùng Nghị

định này làm căn cứ xử phạt hành vi của bà Tuyết xảy ra ngày 23/12/2013 có đúng không?

- Ông giải thích thế nào về việc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật chưa có

hiệu lực để lập Biên bản vi phạm hành chính và ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính (cụ thể là Nghị định 158/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 và Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013)?

Hỏi về giá trị pháp lý của công văn đính chính Quyết định số 23

- Ngày 18/03/2014 quý cơ quan ban hành công văn số 02/2014/CV-TTr đính

chính quyết định số 23 phải không?

- Quy định về việc giải quyết khiếu nại phải bằng quyết định và việc đính chính

một quyết định phải bằng một quyết định hoặc tương đương Việc quý cơ quan dùng công văn số 02/2014 ngày 18/03/2014 để đính chính quyết định số 23 đúng hay sai?

Hỏi để chứng minh có sự vi phạm về thẩm quyền

- Căn cứ pháp luật nào để Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch xử phạt

hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội?

- Dựa trên căn cứ pháp luật nào để Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch xử

phạt vi phạm hành chính đối với hành vi lợi dụng kinh doanh, dịch vụ để hoạt động mua dâm, bán dâm?

- Theo quy định tại Nghị định số 167 “Thanh tra Văn hóa, Thể thao và Du lịch có

thẩm quyền xử phạt theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính đối với những hành vi quy định tại Mục 4 Chương II” Vậy Điều 25 theo căn cứ xử phạt có thuộc mục 4 chương II Nghị định 167 số không?

Hỏi để chứng minh có sự sai phạm về nội dung Quyết định số 23

- Đoàn Thanh tra có kết luận Cơ sở kinh doanh Phòng trọ Hoàng Lan có hành vi

vi phạm liên quan đến hoạt động mại dâm hoặc tổ chức mại dâm tại thời điểm lập Biên bản số 11 không?

- Đoàn Thanh tra có biết được nội dung tường trình về mối quan hệ của ông

Thường và bà Lành, của ông Văn và bà Thùy Tại thời điểm lập Biên bản số 11, không? Dù đã biết nhưng vẫn quyết định xử phạt hành chính đối với cơ sở kinh doanh nhà trọ Hoàng Lan đúng hay không?

- Từ thời điểm kiểm tra, lập biên bản đến khi ban hành Quyết định số 23, ông

dựa vào căn cứ nào để chứng minh được hành vi hoạt động mại dâm tại thời

Trang 8

điểm kiểm tra cũng như hành vi “Tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở

kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự để tổ chức hoạt động mại dâm”?

- Dựa trên căn cứ nào để quy kết rằng bà Tuyết có hành vi tạo điều kiện cho

người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự để tổ chức hoạt động mại dâm?

- Biên bản 11/BB – VPHC được lập vào lúc 21 giờ 10 phút ngày 23/12/2013 ghi

nhận hành vi vi phạm hành chính là “Tại thời điểm kiểm tra Phòng trọ Hoàng

Lan Phòng số 11 có Ông Nguyễn Văn Thường và Bà Nguyễn Thị Lành không

có Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn đang quan hệ vợ chồng (quan hệ tình dục); Phòng số 9 có Ông Phan Văn và Bà Nguyễn Thị Thùy không có Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn đang ở chung phòng xem tivi; Tại thời điểm kiểm tra tại Phòng số 11 chủ Cơ sở kinh doanh Phòng trọ Hoàng Lan không vào sổ

Bà Nguyễn Thị Lành Kết luận “chủ Cơ sở kinh doanh Phòng trọ Hoàng Lan thiếu tinh thần trách nhiệm để xảy ra hành vi vi phạm như trên” đúng không?

- Quyết định số 23 xử phạt vi phạm hành chính Bà Tuyết đối với hành vi “thiếu

tinh thần trách nhiệm tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh

có điều kiện an ninh, trật tự để tổ chức hoạt động mại dâm” đúng hay không?

- Như vậy, hành vi bị xử phạt vi phạm hành chính trong quyết định và hành vi

được ghi nhận trong Biên bản vi phạm hành chính là khác nhau đúng không?

2 Hỏi Người khởi kiện:

- Bà cho biết Đoàn kiểm tra đến cơ sở kinh doanh của bà vào thời điểm nào?

- Biên bản số 11 ngày 23/12/2013 có nội dung như thế nào?

- Khi đến nhà trọ của bà, Đoàn kiểm tra có đọc quyết định kiểm tra trước khi tiến

hành kiểm tra không?

- Khi cho khách trọ thuê phòng, nhà trọ Hoàng Lan có tiến hành kiểm tra giấy tờ

nhân thân của khách hay không?

- Theo Bà, hành vi vi phạm như trong Quyết định số 23/QĐ-XP đã nêu: “thiếu

trách nhiệm tạo điều kiện cho người khác lợi dung cơ sở kinh doanh có điều kiện an ninh trật tự tổ chức hoạt động mại dâm” có đúng tại thời điểm diễn ra

sự việc hay không?

- Bà nhận được Quyết định số 23 này khi nào, bằng phương thức giao nhận nào

và cho biết nội dung xử phạt trong Quyết định này?

- Bà nhận quyết định đính chính (Công văn 02/2014/CV-TTr) vào ngày nào?

- Sau khi bị xử phạt vi phạm hành chính, bà có đồng ý với hành vi vi phạm, hình

phạt áp dụng đối với bà của Chánh Thanh tra Sở VH-TT & DL hay không?

- Phía Thanh tra Sở cho rằng đã nhiều lần yêu cầu người khởi kiện lên cơ quan

làm việc nhưng không liên lạc được Bà cho biết điều này có đúng hay không?

3 Hỏi người làm chứng – ông Thường

- Mối quan hệ giữa ông và bà Lành là gì?

- Tại sao ông và bà Lành vẫn không cung cấp giấy tờ chứng minh ông bà là vợ

chồng?

IV BẢN LUẬN CỨ

Kính thưa Hội đồng xét xử! Thưa vị đại diện Viện kiểm sát, và tất cả những người có mặt tại phiên tòa hôm nay!

Tôi là Nguyễn A – đến từ Công ty Luật TNHH A, Đoàn Luật sư thành phố Hồ Chí Minh Tôi tham gia phiên tòa này với tư cách là Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích

hợp pháp cho Người khởi kiện là Bà Nguyễn Thị Tuyết trong vụ án “Khiếu kiện yêu

cầu hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XPHC ngày 10/3/2014 của

Trang 9

Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Tỉnh G.L” với Người bị kiện là

Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Tỉnh G.L – ông Trần Ngọc Minh

Vụ án được TAND tỉnh G.L thụ lý giải quyết và đưa ra xét xử ngày hôm nay

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án cũng như diễn biến tại phiên tòa hôm nay, tôi xin trình bày một số ý kiến bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Người khởi kiện như sau:

Qua phần trình bày của Người khởi kiện, Người bị kiện và phần hỏi công khai tại phiên tòa đã thể hiện rõ nội dung của vụ Tôi xin phép không tóm tắt lại nội dung tranh chấp trong vụ án này

Người khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên hủy toàn bộ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch số 23/QĐ-XP ngày 10/3/2014 của Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Tỉnh G.L Tôi cho rằng yêu cầu nêu trên của Người khởi kiện là hoàn toàn có cơ sở chấp nhận bởi lẽ Quyết định số 23 ban hành không đúng với quy định của pháp luật cả về trình tự thủ tục, thẩm quyền, nội dung thể hiện ở các nội dung sau đây:

Đầu tiên, xét về trình tự, thủ tục ban hành Quyết định số 23:

Thứ nhất, Quyết định số 23 không được ban hành đúng thời hạn luật định:

Căn cứ theo khoản 1 Điều 66 Luật XLVPHC quy định:

“1 Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính phải ra quyết định xử

phạt vi phạm hành chính trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính Đối với vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp mà không thuộc trường hợp giải trình hoặc đối với vụ việc thuộc trường hợp giải trình theo quy định tại khoản 2

và khoản 3 Điều 61 của Luật này thì thời hạn ra quyết định xử phạt tối đa là 30 ngày, kể từ ngày lập biên bản.

Trường hợp vụ việc đặc biệt nghiêm trọng, có nhiều tình tiết phức tạp và thuộc trường hợp giải trình theo quy định tại đoạn 2 khoản 2 và khoản 3 Điều 61 của Luật này mà cần có thêm thời gian để xác minh, thu thập chứng cứ thì người có thẩm

quyền đang giải quyết vụ việc phải báo cáo thủ trưởng trực tiếp của mình bằng văn

bản để xin gia hạn; việc gia hạn phải bằng văn bản, thời hạn gia hạn không được

quá 30 ngày.”

Căn cứ vào quy định trên, có thể thấy, thời hạn tối đa để ra một quyết định xử

phạt vi phạm hành chính là 60 ngày nhưng phải thuộc “Trường hợp vụ việc đặc biệt

nghiêm trọng, có nhiều tình tiết phức tạp và thuộc trường hợp giải trình theo quy định tại mục 2 khoản 2 và khoản 3 Điều 61” Tuy nhiên, người bị kiện không thể đưa ra

giải thích tính đặc biệt nghiêm trọng, có nhiều tình tiết phức tạp trong vụ án này là như thế nào Bên cạnh đó, cho dù vụ án này thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, có

nhiều tình tiết phức tạp thì vẫn vi phạm về vấn thời gian ra quyết định xử phạt, Biên

bản số 11 được lập vào ngày 23/12/2013 và ngày ban hành Quyết định số 23 là ngày 10/3/2014, tức sau 77 ngày kể từ ngày lập Biên bản vi phạm, Quyết định xử phạt

vi phạm hành chính mới được ban hành

Đối chiếu theo quy định trên, Quyết định số 23 xử phạt vi phạm hành chính đối với bà Tuyết được ban hành quá thời hạn theo quy định pháp luật

Thứ hai, Quyết định số 23 sử dụng văn bản chưa có hiệu lực pháp luật để ra

quyết định xử lý vi phạm hành chính

Quyết định số 23 được ban hành căn cứ vào Biên bản số 11 Biên bản vi phạm hành chính được lập vào ngày 23/12/2013 nhưng Quyết định số 23 lại căn cứ vào Nghị định 167/2013/NĐ-CP có hiệu lực ngày 28/12/2013 (có hiệu lực sau ngày lập Biên bản

Trang 10

vi phạm hành chính) để ban hành Bên cạnh đó, Biên bản số 11 cũng có dựa trên căn

cứ pháp lý là Nghị định số 158 có hiệu lực vào ngày 01/01/2014 Vào thời điểm xảy ra

vi phạm, Nghị định này vẫn chưa được áp dụng để thi hành việc xử phạt vi phạm hành chính

Theo quy định tại khoản 1 Điều 73 Nghị định số 167:“đối với hành vi vi phạm

hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình xảy ra trước ngày Nghị định này có hiệu lực mà sau đó mới bị phát hiện hoặc đang xem xét, giải quyết, thì áp dụng các quy định có lợi cho cá nhân, tổ chức vi phạm”

Quyết định số 23 áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 25 Nghị định số 167 là

không có lợi cho bà Tuyết so với việc áp dụng các quy định xử lý hành vi vi phạm

hành chính tương đương tại các văn bản cũ như: Điểm đ khoản 3 Điều 14 Nghị định

số 73 hoặc khoản 2 Điều 20 Nghị định số 178 (là các quy định đã được thay thế bởi

Nghị định 167)

Như vậy việc áp dụng quy định tại Nghị định số 167 trong trường hợp này sẽ làm tăng trách nhiệm hành chính và không có lợi cho người vi phạm Điều này trái với nguyên tắc áp dụng hiệu lực hồi tố nói chung và trái với quy định nêu trên tại khoản 1 Điều 73 của Nghị định số 167 nói riêng

Thứ ba, Quyết định số 23 có nội dung không đầy đủ và không phù hợp với quy

định của pháp luật

Quyết định số 23 không xác định ngày có hiệu lực thi hành Hơn nữa, ngày giao

theo Điều 3 của Quyết định là “trong thời hạn 3 ngày” nhưng không rõ là 3 ngày kể từ

ngày nào Nếu hiểu là 3 ngày kể từ ngày ra quyết định thì quy định như vậy là trái với quy định tại Điều 70 Luật XLVPHC Vì vậy nội dung nêu trên của quyết định không phù hợp với quy định của pháp luật

Thứ tư, căn cứ để ban hành Quyết định số 23 là không phù hợp

Tại phần căn cứ của Quyết định số 23 có dẫn ra căn cứ ban hành Quyết định số

23 để xử phạt vi phạm hành chính đối với bà Tuyết là Biên bản vi phạm hành chính do

Thanh tra Sở VH-TT & DL lập hồi 21 giờ 00 phút ngày 21/12/2013 tại số 241 Lê Lai,

Thành phố P, Tỉnh G.L Nhưng ngày 21/12/2013, tại địa chỉ số 241 Lê Lai, Thành phố

P, Tỉnh G.L, bà Tuyết không hề bị lập Biên bản vi phạm hành chính nào Thực tế,

Biên bản vi phạm hành chính được lập vào lúc 21 giờ 10 phút ngày 23/12/2013.

Ngày 18/3/2014, Thanh tra Sở VH-TT & DL tỉnh G.L ban hành Công văn số 02/2014/CV-TTr để đính chính một số nội dung trong Quyết định số 23, trong đó có nội dung sai sót về căn cứ Biên bản vi phạm hành chính Tuy nhiên, vì Quyết định số

23 là quyết định hành chính mang tính quy phạm pháp luật nên không thể dùng Công văn – văn bản không mang tính quy phạm pháp luật để đính chính Do đó, Công văn

số 02/2014/CV-TTr không có giá trị pháp lý để đính chính Quyết định số 23

Do vậy, căn cứ để ban hành Quyết định số 23 là không đúng nên Quyết định số

23 không có cơ sở để được ban hành

Tiếp theo, xét về mặt thẩm quyền, Quyết định số 23 được ban hành không đúng thẩm quyền

Điều 69 Nghị định số 167 quy định: “Thanh tra Văn hóa, Thể thao và Du lịch có

thẩm quyền xử phạt theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính đối với những

hành vi quy định tại Mục 4 Chương II”

Tuy nhiên, Quyết định số 23 áp dụng căn cứ pháp lý để xử phạt vi phạm hành

chính là khoản 1 Điều 25 thuộc Mục 2, Chương II của Nghị định 167/2013/NĐ-CP

(quy định về Vi phạm hành chính về phòng, chống tệ nạn xã hội) Như vậy, hành vi vi

Ngày đăng: 11/05/2022, 23:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w