HỌC VIỆN TƯ PHÁP CƠ SỞ TẠI TP HỒ CHÍ MINH BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN Môn Kỹ năng cơ bản của luật sư khi tham gia giải quyết các vụ việc hành chính Hồ sơ LS HC15 Diễn lần 01 Ngày diễn Giáo viên hướng dẫn Họ và tên Sinh ngày Lớp Số báo danh TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN I TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ VIỆC 1 Những người tham gia tố tụng a Người khởi kiện ông Bùi Quang Hải – sinh năm 1971 và bà Đặng Thị Kim – sinh năm 1981 Cùng địa chỉ 17981 Trần Phú, Phường 5, thành phố A, tỉnh H Người đ.
Trang 1HỌC VIỆN TƯ PHÁP
CƠ SỞ TẠI TP.HỒ CHÍ MINH
BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN
Môn : Kỹ năng cơ bản của luật sư khi tham gia giải quyết
các vụ việc hành chính
Diễn lần : 01
Giáo viên hướng dẫn:
Họ và tên : Sinh ngày :
Số báo danh :
TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm
Trang 3BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN
I TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ VIỆC
1 Những người tham gia tố tụng
a. Người khởi kiện: ông Bùi Quang Hải – sinh năm 1971 và bà Đặng Thị Kim –
sinh năm 1981
Cùng địa chỉ: 179/8/1 Trần Phú, Phường 5, thành phố A, tỉnh H
Người đại diện theo uỷ quyền của người khởi kiện: ông Trần Quốc Chinh – sinh năm 1965; địa chỉ 64/1A Nguyễn Hới, phường Nguyễn An Ninh, thành phố A
b. Người bị kiện: Ủy ban nhân dân thành phố A; địa chỉ: 89 Lý Thường Kiệt,
Phường 1, thành phố A, tỉnh H
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: ông Nguyễn Thế Khang – chuyên viên phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố A
2 Tóm tắt nội dung vụ việc
Ngày 14/6/2016, ông Hải đã nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (“GCNQSDĐ”) tại bộ phận tiếp nhận và giao trả kết quả thuộc Ủy ban nhân dân Thành phố A (“UBND Tp.A”) cho phần diện tích 156,7 m2 đất của căn nhà số 179/8/1 Trần Phú, phường 5,
Thành phố A
Nguồn gốc của tống số diện tích đất 156,7 m2, gồm 2 phần:
1 Phần diện tích 102 m2 (hiện là nhà chính của ông Hải) đã được UBND Tp.A cấp GCNQSDĐ số BM625400 ngày 11/01/2013 thuộc tờ bản đồ
số 09, thửa đất số 351 đứng tên ông Hải và bà Kim
2 Phần diện tích 54,7 m2 còn lại phía biển (hiện nay là dãy phòng trọ): Trước đây là sàn phơi cá do ông Bùi Xuân Mĩ cất sàn từ trước 1993 Đến
1998, ông Mĩ xây kè đổ đất và tiếp tục làm nơi phơi cá Năm 2000, ông
Mĩ xây phòng trọ trên đất để cho thuê Năm 2002, ông Mĩ lập giấy tay bán toàn bộ nhà đất này cho con trai là ông Hải và bà Kim tiếp tục sử dụng đến nay, không ai tranh chấp
Ngày 07/9/2016, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố A (“Chi nhánh VPĐK Tp.A”) ra Thông báo số 2728/TB-CNVPĐK (“Thông báo số 2728”)
trả hồ sơ đăng ký cấp GCNQSDĐ với lý do: Hồ sơ không đủ điều kiện cấp GCN theo Khoản 5, Điều 19 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP Cụ thể: Theo quy hoạch phê duyệt tại Quyết định số 1400/QĐ-UBND thì phần đất này nằm ngoài ranh giới quy hoạch được duyệt nên không xác định được chức năng sử dụng đất Và theo bản đồ quy hoạch sử dụng đất đên năm 2020 TP.A được UBND tỉnh H phê duyệt theo Quyết định số 653/QĐ-UBND thì thuộc đất biển Như vậy, mục đích sử dụng đất của Ông (bà) là không phù hợp quy hoạch
Ông Hải sau đó khởi kiện Thông báo số 2728 tại Tòa án nhân dân Thành phố A
(“TAND Tp.A”) Ngày 09/12/2017, TAND Tp.A đã ra bản án sơ thẩm Ngày 05/4/2018, Tòa án nhân dân tỉnh H (“TAND tỉnh H”) ra Bản án phúc thẩm số
Trang 404/2018/HC-PT, tuyên xử: (i) chấp nhận đơn khởi kiện của ông Hải và bà Kim; (ii)
buộc Chi nhánh VPĐK Tp.A tiếp nhận lại hồ sơ cấp GCNQSDĐ và giải quyết các thủ
tục tiếp theo theo quy định của pháp luật
Ngày 20/4/2018, ông Hải nộp lại bộ hồ sơ đề nghị cấp GCNQSDĐ tại UBND Tp.A, biên nhận hồ sơ số 2018.086.08648 với ngày hẹn trả kết quả là 06/6/2018.Tới ngày hẹn vẫn chưa thấy kết quả, thông báo gì nên ông Hải đã làm đơn đề nghị gửi đến Chi nhánh VPĐK Tp.A yêu cầu giải trình về nguyên nhân chậm giải quyết hồ sơ đề nghị cấp GCNQSDĐ
Ngày 6/6/2018, Sở TN&MT tỉnh H đã có Văn bản số 2847/STNMT-CCQLĐĐ
đề nghị Tổng cục Quản lý Đất đai hướng dẫn giải quyết về việc cấp GCNQSDĐ theo
Văn bản số 1133/UBND-TNMT ngày 09/3/2018 (“Văn bản số 1133”) của UBND
Tp.A đã gửi Văn đến Sở TN&MT về việc hướng dẫn cấp GCNQSDĐ trong trường hợp lấn, chiếm “sông, biển”
Ngày 14/8/2018, Chi nhánh VPĐK Tp A đã gửi Công văn số 4171/CNVPĐK-ĐKCG trả lời đơn đề nghị từ ông Hải, giải trình rằng: ngày 02/7/2018, Chi nhánh VPĐK Tp.A đã có phiếu chuyển số 3187/PC-CNVPĐK chuyển hồ sơ đề nghị cấp
GCNQSDĐ của ông Hải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường (“TN&MT”) để báo
cáo UBND Tp.A xem xét, cho ý kiến giải quyết hồ sơ được đề cập trong Văn bản số
1133 Tuy nhiên, đến nay UBND Tp.A chưa có văn bản chỉ đạo giải quyết cụ thể
Ngày 24/8/2018, ông Hải đã gửi Đơn khiếu nại đến Chủ tịch UBND Tp.A và TN&MT Tp.A về việc chậm giải quyết hồ sơ cấp GCNQSDĐ
Ngày 07/01/2019, Ông Hải tiếp tục gửi Đơn khiếu nại nhằm khiếu nại UBND Tp.A đã chậm giải quyết hồ sơ cấp Giấy chứng nhận theo Bản án phúc thẩm số 04/2018/HC-PT
Ngày 30/1/2019, UBND Tp.A gửi Văn bản số 504/UBND-TNMT (“Văn bản
số 504”) về việc tạm trả hồ sơ đăng ký, cấp GCNQSDĐ tại phường 5, thành phố A.
UBND Tp.A cho rằng diện tích đất 54,7 m2 có nguồn gốc do lấn, chiếm sông hoặc biển và hiện nay không có quy định giải quyết việc cấp GCNQSDĐ đối với trường hợp này UBND Tp.A đã gửi Văn bản số 1133 để xin ý kiến hướng dẫn giải quyết từ
Sở TN&MT Ngày 06/6/2018, Sở TN&MT đã gửi Văn bản số
2847/STNMT-CCQLĐĐ (“Văn bản số 2847”) xem xét, hướng dẫn giải quyết Trong khi chờ ý kiến
hướng dẫn, UBND Tp.A thông báo về việc tạm trả hồ sơ cấp GCNQSDĐ
Ngày 18/03/2019, UBND Tp.A có Văn bản số 1126/UBND-TNMT giải quyết
Đơn khiếu nại của ông Hải đề ngày 07/01/2019 (“Văn bản số 1126”) Theo đó,
UBND Tp.A vẫn giữ nguyên Văn bản số 504 vì đây là vấn đề vướng mắt pháp lý cần xin hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Ngày 04/4/2019, ông Hải và bà Kim khởi kiện đến TAND tỉnh H, yêu cầu: (i) tuyên hủy Văn bản số 504 và Văn bản số 1126; (ii) buộc UBND Tp.A tiếp nhận lại và giải quyết hồ sơ cấp GCNQSDĐ diện tích 54,7 m2 thuộc thửa đất số 164 tờ bản đồ số
09 (năm 2000), phường 5, thành phố A theo quy định pháp luật
Ngày 18/4/2019, TAND tỉnh H ra Thông báo thụ lý vụ án hành chính sơ thẩm
số 47/2019/TLST-HC ngày 18/4/2019
Trang 5Ngày 27/9/2019, Phòng Tài nguyên và Môi trường dự thảo văn bản nêu quan điểm của UBND Tp.A đối với vụ Bùi Quang Hải khởi kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai của UBND Tp.A số 4275/TNMT-GQĐT rằng: Việc ban hành 2 Văn bản số 504 và Văn bản số 1126 và chưa thực hiện việc cấp GCN là do chưa có quy định cụ thể của pháp luật về đất đai đối với trường hợp cấp GCNQSDĐ có nguồn gốc do lấn chiếm “sông hoặc biển”, tuy nhiên, việc ban hành 2 văn bản này là có cơ sở thực tiễn và phù hợp với quy định của pháp luật
Ngày 21/10/2019, TAND tỉnh H ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử
II NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN
1 Cơ sở pháp lý
- Luật tố tụng hành chính 2015 (“Luật TTHC 2015”);
- Luật đất đai 2013;
- Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất
đai ngày 15/5/2014 (“Nghị định số 43”);
- Nghị định 01/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết
thi hành Luật đất đai ngày 06/01/2017 (“Nghị định số 01”);
- Thông tư số 75/2015/TT-BTNMT quy định kỹ thuật về cơ sở dữ liệu đất đai
ngày 28/12/2015 (“Thông tư số 75”);
- Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT quy định về hồ sơ địa chính ngày 19/5/2014
(“Thông tư số 24”);
- Thông tư 33/2017/TT-BTNMT quy định chi tiết nghị định số
01/2017/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2017 của chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành luật đất đai và sửa đổi, bổ sung một số điều của
các thông tư hướng dẫn thi hành luật đất đai (“Thông tư số 33”);
- Luật khiếu nại 2011
2 Điều kiện khởi kiện
a Đối tượng khởi kiện: Văn bản số 504 và Văn bản số 1126 (Theo đơn khởi kiện
của ông Hải, bà Kim)
Tuy nhiên, Luật sư đề nghị khởi kiện hành vi từ chối thực hiện thủ tục thông qua việc “tạm trả hồ sơ” của UBND Tp.A - cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 2 Điều 105 Luật đất đai 2013 Dựa trên căn cứ sau:
Ngày 07/01/2019, ông Hải đã làm Đơn khiếu nại UBND Tp.A về hành vi chậm giải quyết hồ sơ cấp GCNQSDĐ theo Bản án phúc thẩm số 04/2018 UBND Tp.A đã
có Văn bản số 1126 giải quyết yêu cầu khiếu nại Theo đó, với yêu cầu hủy Văn bản số
1126 thì khi hành vi hành chính bị Tòa án tuyên trái pháp luật, thì Tòa án cũng sẽ tuyên hủy Văn bản số 1126 (điểm c khoản 2 Điều 193 Luật TTHC 2015) Việc tuyên hủy Văn bản số 504 không thực hiện được mục đích giải quyết vấn đề để bảo đảm quyền lợi tốt nhất cho vợ chồng ông Hải, bà Kim Bởi lẽ, dù Văn bản số 504 này bị tuyên hủy thì UBND Tp.A vẫn sẽ có thể tiếp tục hành vi vi phạm bằng việc trì hoãn không thực hiện thủ tục cấp GCNQSDĐ cho vợ chồng ông Hải, bà Kim Do vậy, có
Trang 6thể thấy rằng, quyền lợi của ông Hải và bà Kim bị ảnh hưởng bởi hành vi hành chính trái pháp luật chứ không phải bởi quyết định hành chính
b Quyền khởi kiện:
Hành vi từ chối thực hiện thủ tục thông qua “tạm trả hồ sơ” của UBND Tp.A đã tác động trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Hải và bà Kim Căn cứ theo khoản 8 Điều 3, Điều 5 cũng như Điều 115 Luật TTHC 2015, ông Hải và bà Kim là chủ thể khởi kiện và có quyền khởi kiện hành vi hành chính trái pháp luật này
c Yêu cầu khởi kiện:
- Yêu cầu Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện
- Yêu cầu Tòa án tuyên bố hành vi hành chính từ chối thực hiện thủ tục thông
qua việc “tạm trả hồ sơ” của UBND Tp.A là trái pháp luật
- Yêu cầu Tòa án hủy toàn bộ quyết định giải quyết khiếu nại có liên quan là Văn
bản số 1126
- Yêu cầu Tòa án buộc UBND Tp.A chấm dứt hành vi trái pháp luật, đồng thời,
tiếp nhận lại và giải quyết hồ sơ cấp Giấy chứng nhận đối với diện tích 54,7m2 thuộc thửa đất số 164, tờ bản đồ số 09 (bản đồ năm 2000) phường 5, thành phố
A theo quy định pháp luật; và
- Đề nghị Tòa án kiến nghị xem xét năng lực, trách nhiệm của UBND Tp.A về
việc không thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của mình
d Thẩm quyền tòa án: Tòa án có thẩm quyền giải quyết là TAND tỉnh H Ông Hải
và bà Kim đã khởi kiện đến đúng Tòa án có thẩm quyền, bởi:
Thẩm quyền theo loại việc: Căn cứ vào hành vi từ chối thực hiện thủ tục thông
qua việc “tạm trả hồ sơ cấp giấy chứng nhận” của UBND Tp.A xác định đây là khiếu kiện hành vi hành chính và thuộc quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục tố tụng hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Luật TTHC 2015
Thẩm quyền theo cấp: ông Hải và bà Kim khởi kiện hành vi hành chính do
UBND Tp.A (cấp huyện) ban hành Căn cứ khoản 4 Điều 32 Luật TTHC 2015, thẩm quyền thuộc TAND cấp huyện
e Thời hiệu khởi kiện:
Theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật TTHC 2015, thời hiện khởi
kiện là “01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc” Trong hồ sơ vụ án không có văn bản
xác định ngày ông Hải nhận được hai văn bản 504 và 1126 nhưng có thể xác định được ngày 4/4/2019 ông Hải và bà Kim khởi kiện vụ án hành chính đến TAND tỉnh H vẫn còn trong thời hiệu khởi kiện vì:
+ Ngày 30/1/2019 UBND Thành phố A bàn hành Văn bản số 504, thời hạn cuối
để khởi kiện đối với văn bản này là 30/1/2020
+ Ngày 18/3/2019 UBND thành phố A ban hành Văn bản số 1126, thời hạn cuối để khởi kiện đối với văn bản này là 18/3/2020
III KẾ HOẠCH HỎI TẠI PHIÊN TÒA (BẢO VỆ CHO NGƯỜI KHỞI
KIỆN):
Trang 7Vấn đề cần chứng minh: Tính bất hợp pháp của Đối tượng khởi kiện – Hành vi từ
chối thực hiện thủ tục thông qua việc “tạm trả hồ sơ” đăng ký, cấp GCNQSDĐ
Có đầy đủ căn cứ pháp lý để cấp GCNQSDĐ với đất đối với phần diện tích đất 54,7 m2 của vợ chồng ông Hải, bà Kim, cụ thể:
a UBND Tp.A đã có hành vi giải quyết thủ tục hành chính chậm so với thời hạn
luật định
b. Việc ban hành Văn bản số 504 và Văn bản số 1126 không phù hợp với quy định
của pháp luật cả về hình thức và nội dung
1 Hỏi Người bị kiện
- Khi thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ông Hải và bà Kim, UBND TP A có xác nhận lại nguồn gốc đất nêu trên hay không?
- Quá trình đó diễn ra như thế nào?
- Ông cho biết như thế nào gọi là đất lấn, chiếm “sông hoặc biển”?
- UBND TP A căn cứ vào đâu để kết luận phần đất này của ông Hải và bà Kim
là đất lấn biển?
- Phần diện tích đất 54,7 m2 trước đây là sàn phơi cá do ông Bùi Xuân Mĩ cất sàn
từ trước năm 1993 Đến năm 2000 ông Mĩ xây phòng trọ trên đất để cho thuê đúng không?
- Theo như trích bản đồ QHSDĐ phường 5 (phê duyệt theo Quyết định số 1352)
thì thửa đất số 164, tờ 9 được ký hiệu là “ODT” tức loại đất ở tại đô thị đúng
không?
- Theo Quyết định số 1352 thì phần thửa đất này phù hợp với quy hoạch đất ở đô
thị đúng không?
- Hiện tại phần diện tích đất 54,7 m2 này không có bất kỳ tranh chấp nào phải
không?
- Ông dựa trên căn cứ pháp lý để từ chối thực hiện hồ sơ đăng ký, cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất của vợ chồng ông Hải bà Kim?
- Dựa trên cơ sở pháp lý hay quy trình giải quyết thủ tục hành chính nội bộ nào
để quy định về việc “tạm trả hồ sơ”?
- Theo giấy tiếp nhận và hẹn trả kết quả hồ sơ số 2018.08648 (cụ thể ngày nhận
hồ sơ là ngày 20/4/2018 và trả kết quả là 06/06/2018) có đúng không?
- Ông cho biết thời gian thực hiện thủ tục cấp GCNQSDĐ là bao lâu theo quy
định Theo quy định của pháp luật?
- Vậy tính đến thời điểm ngày 30/01/2019, UBND Tp.A có văn bản số 504 thông
báo về việc tạm trả hồ sơ cấp giấy chứng nhận có còn trong thời hạn 30 ngày theo luật định không?
- Văn bản số 1126 là văn bản giải quyết khiếu nại của chủ tịch UBND Tp.A với
ông Hải phải không?
- Căn cứ để ông ban hành Văn bản số 1126 là gì?
- Theo quy định tại Luật khiếu nại 2011 thì thời hạn giải quyết khiếu nại tối đa là
45 ngày kể từ thời điểm thụ lý đúng không?
Trang 8- Thời điểm thụ lý Đơn khiếu nại của ông Hải, bà Kim đề ngày 07/01/2019 là
thời điểm nào?
- Đến ngày 18/3/2019 Chủ tịch UBND Tp.A mới ban hành Văn bản giải quyết
khiếu nại số 1126, thời điểm này còn trong thời hạn luật định không?
- Cả 02 Văn bản số 504 và Văn bản số 1126 đề do Phó chủ tịch ký thay Chủ tịch
UBND Tp.A, vậy có văn bản giao quyền, văn bản ủy quyền của Chủ tịch UBND Tp.A cho Phó chủ tịch hay không?
- Việc Phó chủ tịch ký Văn bản số 504 là ký thay cho cá nhân Chủ tịch UBND
Tp.A hay thay mặt UBND Tp.A?
2 Hỏi người khởi kiện
- Ông Hải cho biết nguồn gốc của phần diện tích đất tại 179/8/1 Trần Phú,
Phường 5, TP A của vợ chồng ông từ đâu mà có?
- Ba của ông – ông Mĩ đã xây dựng công trình trên phần đất tăng thêm 54,7 m2
từ khi nào?
- Ông bà có giấy tờ chứng minh giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất
giữa vợ chồng ông và ông Mĩ không?
- Ông ở ổn định trên phần đất này từ thời điểm nào?
- Phần đất 54,7 m2 này kể từ thời điểm gia đình ông sinh sống đến thời điểm hiện
tại có xảy ra bất kỳ tranh chấp nào không?
- Trước khi ông bà thực hiện thủ tục cấp GCNQSDĐ, cơ quan có thẩm quyền của
TP A có thông báo cho ông bà về việc ông bà đang ở trên đất lấn chiếm biển không?
- Ông bà có đóng thuế đầy đủ đối với phần đất này không?
- Ông khiếu nại đến Chủ tịch UBND Tp.A bao nhiêu lần?
- Đơn khiếu nại gần nhất ông gửi là thời gian nào? Ông vui lòng xác định thời
gian cụ thể
- Ông có nhận được thông báo thụ lý đơn khiếu nại không? Nếu có thì đó là ngày
tháng năm nào?
- Việc trả hồ sơ nhiều lần của UBND TP A có gây thiệt hại nào cho gia đình ông
bà không?
IV BẢN LUẬN CỨ
Kính thưa Hội đồng xét xử! Thưa vị đại diện Viện kiểm sát, các vị luật sư đồng nghiệp và toàn thể quý vị có mặt trong phiên tòa hôm nay!
Tôi là Nguyễn A – đến từ Công ty Luật TNHH A, Đoàn Luật sư thành phố Hồ Chí Minh Theo yêu cầu của người khởi kiện và được sự cho phép của HĐXX, tôi có mặt tại phiên tòa hôm nay với tư cách là luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Ông Bùi Quang Hải và Bà Đặng Thị Kim – Người khởi kiện trong vụ án hành chính số
47/2019/TLST-HC ngày 18/4/2019 về việc khởi kiện “Quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai”.
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án cũng như diễn biến tại phiên tòa hôm nay, tôi cho rằng yêu cầu khởi kiện của thân chủ tôi là hoàn toàn có căn cứ và hợp pháp bởi các lý do sau:
Trang 9Thứ nhất, có đủ cơ sở để thực hiện hành vi hành chính – thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất đối với diện tích đất 156,7 m2 của ông Hải, bà Kim
Khi UBND Tp.A nhận được hồ sơ thông qua Phiếu chuyển từ Chi nhánh VPĐK, UBND Tp.A không thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất đối với phần diện tích 156,7 m2 mà cho rằng phần diện tích đất 54,7 m2 mà ông Hải xin cấp Giấy chứng nhận là đất có nguồn gốc do lấn, chiếm “sông hoặc biển” Thêm vào đó, Luật đất đai 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành luật không quy định việc giải quyết cấp GCNQSDĐ trong trường hợp này Do đó, UBND Tp.A đã có Văn bản số 1133 đề nghị Sở TN&MT đề nghị hướng dẫn, giải đáp vướng mắc trong việc áp dụng quy định pháp luật Trong thời gian chờ ý kiến hướng dẫn, UBND Tp.A tạm trả hồ sơ cấp Giấy chứng nhận của ông Hải (thông qua Văn bản 504) thay vì giải quyết hồ sơ cấp Giấy chứng nhận cho ông Hải ngay từ đầu là không phù hợp với quy định pháp luật Bởi lẽ:
(1) Phần diện tích đất 54,7 m2 không có nguồn gốc do lấn chiếm “sông hoặc biển”:
Căn cứ vào Danh sách công khai kết quả kiểm tra hồ sơ đăng ký, Cấp giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất tại
phường 5, Tp.A, tỉnh H số 104/TB-UBND ngày 21/6/2016 (“Danh sách công khai”)
và Xác nhận của UBND Phường 5 (“UBND P.5”) về nguồn gốc, quá trình sử dụng
nhà, đất của ông Bùi Quang Hải, bà Đặng Thị Kim ngụ tại 179/8/1 Trần Phú, phường
5, thành phố A thì:
“Phần diện tích đất 54,7 m2 trước đây là sàn phơi cá do ông Bùi Xuân Mĩ cất sàn từ trước năm 1993 Đến năm 1998 ông Mĩ xây kè đổ đất và tiếp tục làm nơi phơi
cá Đến năm 2000 ông Mĩ xây phòng trọ trên đất để cho thuê Đến năm 2002 ông Mĩ lập giấy tay bán toàn bộ nhà đất này cho vợ chồng con trai là ông Bùi Quang Hải, bà Đặng Thị Kim tiếp tục sử dụng cho thuê cho đến nay, không ai tranh chấp Tại bản
đồ địa chính năm 2000, được phê duyệt năm 2002 thì phần diện tích 54,7 m2 thuộc một phần thửa đất số 164, tờ bản đồ số 09 do ông Bùi Xuân Mĩ đứng tên đăng ký, diện tích nguyên thửa 156,7m2.”
Căn cứ vào Trích bản đồ QHSDĐ phường 5 (phê duyệt theo Quyết định số
1352/QĐ-UBND (“Quyết định số 1352”) về việc phê duyệt quy hoạch sử dụng đất
chi tiết đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất chi tiết 05 năm kỳ đầu (2011-2015) của
16 phường và xã phát triển đô thị S thành phố A tỉnh H ngày 27/6/2014) thì thửa đất số
164, tờ 9 được ký hiệu là “ODT” tức loại đất ở tại đô thị (căn cứ theo Mục 1.19 Phụ
lục 1 cấu trúc và kiểu thông tin của cơ sở dữ liệu đất đai ban hành kèm theo Thông tư
số 75)
Ngoài ra, UBND Tp.A chỉ nêu ra vấn đề nhưng không hề đưa ra được bất cứ chứng cứ nào, cũng như cơ sở pháp lý để chứng minh phần diện tích 54,7 m2 là đất lấn biển
Do đó, phần diện tích đất 54,7 m2 không có nguồn gốc do lấn chiếm “sông hoặc biển” Việc UBND Tp.A xác định sự kiện pháp lý không chính xác đã dẫn đến
Trang 10việc thực hiện hành vi hành chính “tạm trả hồ sơ” đăng ký, cấp giấy chứng nhận không phù hợp với quy định pháp luật
(2) Việc ông Hải, bà Kim yêu cầu cấp GCNQSDĐ đối với phần diện tích 54,7 m2 là phù hợp quy định Điều 24a Nghị định số 43 được bổ sung bởi mục 20 Điều 2 Nghị định số 01
“Điều 24a Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với diện tích đất tăng thêm so với giấy tờ về quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất
Trường hợp đo đạc lại mà diện tích thửa đất thực tế nhiều hơn diện tích ghi trên Giấy chứng nhận đã cấp hoặc giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 100 của Luật đất đai, Điều 18 của Nghị định này và ranh giới thửa đất thực tế có thay đổi
so với ranh giới thửa đất tại thời điểm có Giấy chứng nhận hoặc giấy tờ về quyền sử dụng đất thì việc xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với diện tích đất tăng thêm được thực hiện như sau:
…
3 Trường hợp diện tích đất tăng thêm không có giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 100 của Luật đất đai, Điều 18 của Nghị định này thì thực hiện như sau:
a) Trường hợp người sử dụng đất không vi phạm pháp luật về đất đai thì việc xem xét xử lý và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với diện tích đất tăng thêm thực hiện theo quy định tại
Điều 20 của Nghị định này;
đ) Thủ tục cấp Giấy chứng nhận đối với toàn bộ diện tích thửa đất thực hiện
theo quy định tại Điều 70 của Nghị định này nếu thửa đất gốc có giấy tờ về quyền sử
dụng đất theo quy định tại Điều 100 của Luật đất đai, Điều 18 của Nghị định này,”
Theo đó, hiện tại diện tích thửa đất thực tế là 156,7 m2, nhiều hơn diện tích đất được cấp trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BM625400 của ông Hải, bà Kim chỉ là 102 m2 trong trường hợp đo đạc lại Phần diện tích đất đã tăng 54,7 m2 theo bản đồ địa chính 2002 Hiện tại ranh giới thửa đất thực tế là 156,7 m2 chứ không phải 102 m2, có thay đổi so với ranh giới thửa đất tại thời điểm có Giấy chứng nhận số BM625400
Phần diện tích 54,7 m2 là phần diện tích đất tăng thêm không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật đất đai 2013, Điều 18 Nghị định số 43 Ngoài ra, việc sử dụng đất này không vi phạm quy định của pháp luật Do đó, phần đất tăng thêm này sẽ được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất dựa trên căn cứ tại điểm a khoản 2 Điều 20 Nghị định số 43 Trong vụ án này, ông Hải và bà Kim đang sử dụng phần đất tăng thêm (54,7 m2) có xây dựng nhà trọ cho thuê từ năm 2000 (do ông Mĩ xây) căn cứ dựa trên Giấy xác nhận của UBND P.5 và Phiếu lấy ý kiến khu dân cư ngày 21/6/2016 đã được ủy ban nhân dân cấp xã (UBND P.5) xác nhận là (i) đất không có tranh chấp; (ii) phù hợp với quy hoạch căn