HỌC VIỆN TƯ PHÁP CƠ SỞ TẠI TP HỒ CHÍ MINH BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN Môn Kỹ năng cơ bản của Luật sư khi tham gia giải quyết các vụ án hình sự Mã hồ sơ LS HS 01 TẠ VĂN TRƯỜNG Diễn lần Ngày diễn Giáo viên hư.
Trang 1HỌC VIỆN TƯ PHÁP
CƠ SỞ TẠI TP.HỒ CHÍ MINH
BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN
Môn : Kỹ năng cơ bản của Luật sư khi tham gia giải quyết các vụ án hình sự.
Mã hồ sơ : LS.HS-01 TẠ VĂN TRƯỜNG
Số báo danh:
TP Hồ Chí Minh, ngày … tháng … năm ………
Trang 2
NỘI DUNG
I TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ VIỆC
Cuối tháng 6/2018, Tạ Văn Trường – sinh năm 1988, trú tại thôn Phú Đa,
xã Công Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam đến xin việc tại cơ sở tẩm quất Ha
Na (gọi tắt là quán Ha Na) thuộc khu phố Nguyễn Giáo, phường Đồng Nguyên,thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh do anh Ngô Văn Thành – sinh năm 1984 (địa chỉtại quán Ha Na) làm chủ Thành nhận Trường vào làm nhân viên của quán vàgiao Trường toàn bộ công việc quản lý, điều hành cơ sở kinh doanh của Thànhvào buổi tối hàng ngày, và hứa trả cho Trường 4.000.000 đồng/ tháng
Khoảng 20 giờ 45 phút ngày 05/7/2018, có 03 vị khách tới quán Ha Nagồm:
1 Nguyễn Văn Thọ - sinh năm 1986,
2 Nguyễn Trần Trung – sinh năm 1987,
3 Nguyễn Văn Tuấn – sinh năm 1990
Cùng ngụ tại thị trấn Chờ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh
Cả 03 người trên cùng đi xe taxi do anh Nguyễn Văn Huy – sinh năm
1983 – ngụ tại thôn Việt Vân, xã Việt Thống, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh đếnquán Ha Na Tại đây, Thọ, Trung, Tuấn vào quán gặp Trường (đang làm quản lýquán) Thọ hỏi Trường có nhân viên “tàu nhanh” không (tức hỏi có nhân viênbán dâm không), Trường trả lời là có Thọ hỏi tiếp “Cho anh 3 vé hết nhiêutiền”, Trường trả lời: “Vâng, anh lên phòng thoả thuận và đưa tiền cho nhân viênthấp nhất là 300.000 đồng, còn em chỉ thu tiền phòng là 150.000 đồng/người, 3người là 450.000 đồng” Trường lấy 500.000 đồng từ Thọ đưa và thối lại 50.000đồng Trường bảo Thọ, Trung, Tuấn lên phòng 201, 202, 203 để đợi nhân viênđến Sau đó, Trường gọi nhân viên tại quán là Phùng Thị Kim Liên – sinh năm
1990, trú tại Khu 1, xã Hương Xạ, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ vào phòng 203,Trung đưa cho Liên 500.000 đồng Tiếp theo, Trường gọi vào số điện thoại0974.061.163 (cho là số của Bắc, theo Trường khai số này do Thành cung cấp)bảo 02 nhân viên đến quán Ha Na tiếp khách
Một lúc sau, Lê Thị Thanh Tâm – sinh năm 1995, HKTT tại Đội 6, xãNinh Thắng, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình đến, Trường cho vào phòng 202,Thọ đưa cho Tâm 500.000 đồng còn Tuấn ở phòng 201 đợi nhân viên đến
Khoảng 21 giờ cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh BắcNinh đến kiểm tra thì phát hiện bắt quả tang tại phòng 203 có Trung với Liên,phòng 202 có Thọ với Tâm đang thực hiện hành vi giao cấu Vật chứng thu giữ
Trang 3
và Liên giao nộp, 02 điện thoại di động của Trường và Liên
Ngày 07/7/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh Bắc Ninh đã raQuyết định khởi tố vụ án hình sự số 31/CSĐT, khởi tố vụ án hình sự “Chứa mạidâm” xảy ra tại Nguyễn Giáo, phường Đông Xuyên, thị xã Từ Sơn, tỉnh BắcNinh
Ngày 11/7/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh Bắc Ninh đã raQuyết định khởi tố bị can số 184/CSĐT, khởi tố bị can Tạ Văn Trường về tội
“Chứa mại dâm” quy định tại khoản 2 Điều 327 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi,
bổ sung 2017), sau đây gọi tắt BLHS 2015
Ngày 17/9/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh Bắc Ninh rabản Kết luận điều tra vụ án hình sự đề nghị truy tố số 54/KLĐT-PC02, kết luậnđiều tra đối với bị can Tạ Văn Trường và chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án đến Việnkiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đề nghị truy tố bị can Tạ Văn Trường về tội
“Chứa mại dâm” quy định tại khoản 2 Điều 327 BLHS 2015
Ngày 18/10/2018, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh ra bản Cáo trạng
số 118/CT-VKS-P1, quyết định truy tố bị can Tạ Văn Trường ra trước Toà ánnhân dân thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh để xét xử về tội “Chứa mại dâm” ápdụng theo điểm d, khoản 2 Điều 327 BLHS 2015
Ngày 28/12/2018, Tòa án nhân dân thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh ban hànhQuyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 17/2018/QĐXXST-HS, thời gian mởphiên toà là 7 giờ 30 phút ngày 11/01/2019
II KẾ HOẠCH XÉT HỎI
Tư cách tham gia xét hỏi: Luật sư bào chữa cho Tạ Văn Trường.
Định hướng xét hỏi: Làm rõ bị cáo Trường không có chủ đích thực hiện
hành vi vi phạm, Trường được thuê làm công ăn lương, có sự chỉ đạo, điều hành
từ người khác
Mục đích: Giảm nhẹ hình phạt
1 Hỏi bị cáo Tạ Văn Trường:
Bị cáo Tạ Văn Trường cho Hội đồng xét xử biết:
Ngày bị cáo làm việc đầu tiên tại Ha Na là ngày nào?
Ai là người trực tiếp giao việc, hướng dẫn công việc cho bị cáo làm?
Bị cáo có biết rõ công việc mà mình được giao cụ thể là công việc gì không?
Bị cáo được thuê vào làm có ký hợp đồng lao động không, mức lương thoả thuận là bao nhiêu?
Trang 4
Ngoài khoản lương mà anh Thành thoả thuận chi trả cho bị cáo hàng tháng, anh Thành có hứa hẹn trả thêm cho bị cáo khoản tiền nào khác không?
Số tiền phòng 150.000 đồng/ người, bị cáo đưa lại cho anh Thành bao nhiêu, anh giữ lại bao nhiêu?
Anh Thành có thường tới lui trông coi quán hay gọi điện cho bị cáo nhắc nhở công việc không?
Số điện thoại 0974.061.163 ở đâu bị cáo biết mà gọi nhân viên đến quán tiếp khách?
Bị cáo làm việc cho anh Thành, nhưng tại sao có khách lại liên hệ người tên Bắc?
Ngày 05/7/2018, có 03 khách vào cơ sở với nhu cầu “mua dâm”, anh Thành có biết việc này và có phản ứng gì không?
2 Hỏi người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
2.1 Anh Ngô Văn Thành cho Hội đồng xét xử biết:
Ai là người đứng tên cơ sở kinh doanh Ha Na?
Cơ sở Ha Na có đăng kí giấy phép kinh doanh không? Đăng kí hoạt động ngành nghề gì?
Anh có thường xuyên đến cơ sở kinh doanh để giám sát, theo dõi hoạt động kinh doanh hay không?
Khi không có mặt tại cơ sở, anh giao việc cho ai và nội dung cụ thể công việc anh giao là gì?
Trước khi thuê anh Trường vào làm quản lý, ai là người trực tiếp quản
lý cơ sở nói trên?
Cơ sở kinh doanh của anh có bao nhiêu phòng và bao nhiêu nhân viên?
Quán chỉ có một mình chị Phùng Thị Kim Liên là nhân viên tẩm quất, vậy khi có nhiều khách cùng lúc thì anh bố trí như thế nào?
Anh thoả thuận trả lương cho bị cáo bao nhiêu, ngoài tiền lương, anh cótrả thêm bị cáo khoản tiền nào khác không?
Anh quản lý số lượng khách vào và thu lại tiền phòng từ bị cáo Trường như thế nào khi anh không có mặt trực tiếp tại cơ sở?
Bị cáo Trường và chị Phùng Thị Kim Liên, ai là người được thuê vào làm việc trước?
Anh có biết số điện thoại 0974.061.163 là của ai không? Anh có suy nghĩ như thế nào khi bị cáo Trường khai số điện thoại này là do anh cung cấp cho Trường và hướng dẫn Trường liên hệ khi khách có nhu cầu mua dâm?
Tối ngày 05/7/2018 Trường có thông tin với anh là quán có 3 khách, nhưng cơ sở chỉ có 01 nhân viên là Liên, anh có thắc mắc hay hướng
Trang 5dẫn anh Trường về việc sắp xếp thêm nhân viên hay không?
2.2 Chị Ngô Thị Yến cho Hội đồng xét xử biết:
Chị có quan hệ như thế nào với anh Ngô Văn Thành?
Cơ sở tẩm quất Ha Na là do anh hay chị đứng tên?
Ai là người trực tiếp quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của quán?
Việc anh Thành thuê anh Tạ Văn Trường (bị cáo Trường) làm quản lý, điều hành toàn bộ hoạt động kinh doanh các buổi tối hàng ngày, chị có biết hay không?
Anh chị quản lý lượng khách hàng ngày tại quán và thu tiền lại từ bị cáo Trường như thế nào?
Ngoài cơ sở kinh doanh trên, vợ chồng chị có quản lý, kinh doanh cơ sởnào khác nữa không?
2.3 Chị Phùng Thị Kim Liên cho Hội đồng xét xử biết:
Chị được nhận vào quán Ha Na làm việc với công việc là gì?
Anh Thành và chị có ký hợp đồng lao động không, và thoả thuận mức lương như thế nào?
Chị làm và ở tại quán hay có nơi ở riêng nào khác?
Trước khi vào làm việc tại cơ sở tẩm quất Ha Na do anh Thành làm chủ, chị đã từng làm những công việc gì?
Chị có kinh nghiệm hay được đào tạo kỹ năng xoa bóp chưa để xin việctại cơ sở tẩm quất?
Chị khai chị làm việc bán dâm tự do, vậy hành vi thực hiện bán dâm của chị, anh Thành có biết hay không?
Tối ngày 05/7/2018 khi 03 vị khách tên Thọ, Trung, Tuấn đến quán để mua dâm, có những ai có mặt ở đó?
Tính đến ngày bị bắt 05/7/2018, chị tham gia bao nhiêu lần tiếp khách tại cơ sở Ha Na?
Những lần tiếp khách mua dâm tại cơ sở, anh Thành có biết hay không?
Bị cáo Trường gọi chị lên phòng 203 tiếp khách, bị cáo nói như thế nào? Sau đó chị có phản ứng gì không?
2.4 Chị Lê Thị Thanh Tâm cho Hội đồng xét xử biết:
Chị cho biết hiện tại chị đang làm công việc gì và làm ở đâu? Ai là người quản lý trực tiếp công việc của chị?
Chị biết quán Ha Na kinh doanh hoạt động ngành nghề gì không?
Chị cho biết trước khi bị bắt ngày 05/7/2018, chị đã từng đến cơ sở Ha
Na hay không? Nếu có chị đến đây để làm gì, và ai là người gọi chị đến?
Chị đã từng gặp anh Tạ Văn Trường (tức bị cáo Trường) trước đây hay chưa?
Trang 6
Những lần chị bán dâm tại cơ sở Ha Na (nếu có) thì ai là người trực tiếpliên hệ gọi chị đến?
Tối ngày 05/7/2018 ai là người bảo gọi chị tới quán Ha Na tiếp khách?
Những lần nhận tiền từ khách mua dâm, chị có chia cho ai khác hay không và người đó là ai?
Chị có quen biết với người phụ nữ tên Bắc không?
Chị cho biết số điện thoại 0974.061.163 là của ai?
Chị có biết cơ sở Ha Na do ai làm chủ hay không?
Chị có từng liên hệ với anh Thành hay không?
III LUẬN CỨ BÀO CHỮA CHO BỊ CÁO
Định hướng bào chữa: Không đồng ý với quan điểm của Viện kiểm sát bị cáo Trường phạm vào điểm d khoản 2 Điều 327 BLHS 2015 Căn cứ quy định pháp luật, bị cáo Trường chỉ phạm vào khoản 1 của Điều 327 và có nhiều tình tiết giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo Trường được hưởng án treo.
Tôi là Luật sư ……… - Văn phòng Luật sư
……….thuộc Đoàn Luật sư ……… theo yêucầu của bị cáo Tạ Văn Trường và được sự chấp thuận của Quý toà, tôi tham giaphiên toà hôm nay với tư cách là người bào chữa cho bị cáo Tạ Văn Trường bịViện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh truy tố về tội “Chứa mại dâm” áp dụngtheo điểm d, khoản 2 Điều 327 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm
2017 (sau đây gọi tắt là “BLHS 2015”)
Thưa Hội đồng xét xử, sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, cũng như xem xétcác tình tiết đã được làm rõ trong phiên toà ngày hôm nay, đồng thời căn cứ trêncác quy định của pháp luật có liên quan, sau khi nghe quan điểm luận tội của vịđại diện Viện kiểm sát truy tố bị cáo Trường về tội “Chứa mại dâm” và đề nghị
áp dụng theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 327 BLHS 2015, tôi xin trìnhbày quan điểm bào chữa của mình như sau, kính mong Hội đồng xét xử xem xét
và chấp thuận trước khi đưa ra phán quyết đối với các bị cáo
Kính thưa Hội đồng xét xử,
Đại diện Viện kiểm sát,
Cùng toàn thể quý ông, bà có mặt trong phiên toà ngày hôm nay,
Với tư cách là luật sư bào chữa cho bị cáo Tạ Văn Trường, tôi không hoàntoàn đồng ý với Bản kết luật điều tra vụ án hình sự đề nghị truy tố số 54/KLĐT-PC02 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Ninh ngày 17/9/2018 vàCáo trạng số 118/CT-VKS-P1 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh ngày
Trang 7
18/10/2018 quyết định truy tố ra trước Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh, đề nghịxét xử bị cáo Tạ Văn Trường về “Chứa mại dâm” theo quy định tại điểm dkhoản 2 Điều 327 BLHS 2015
1 Về tội danh và khung hình phạt:
Theo quy định tại mục I.2 Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019của Tòa án nhân dân Tối cao về việc thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một
số vướng mắc về hình sự, dân sự và hành chính thì:
“2 Tình tiết “chứa mại dâm 04 người trở lên” quy định tại điểm d khoản
2 Điều 327 và “đối với 02 người trở lên” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 328 của Bộ luật Hình sự được hiếu như thế nào (người bán dâm hay bao gồm cả người mua dâm)
Theo Từ điển Tiếng Việt thì “mại” là “bán”, “mãi” là “mua” và “chứa
mại dâm” là “chứa bán dâm” Như vậy, tình tiết định khung tăng nặng “chứa
mại dâm 04 người trở lên” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 327 và “đối với
02 người trở lên” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 328 của Bộ luật Hình sự
được hiểu là đối với người bán dâm Cách hiểu này là phù hợp với các tình tiết
định khung tăng nặng khác quy định tại tại Điều 327 và Điều 328 của Bộ luật Hình sự, đồng thời cũng phù hợp với thực tiễn xử lý đối với hành vi chứa mại dâm mà có 01 người bán dâm với 03 người mua dâm trong cùng một khoảng thời gian thì bị xử lý theo quy định tại khoản 1 của điều luật này nếu không có tình tiết định khung tăng nặng.”
Thực tế cho thấy, tại thời điểm xảy ra vụ án là tối ngày 05/7/2020, Cơquan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh Bắc Ninh bắt quả tang tại phòng 202 và
203 có 02 đôi nam nữ là Trung với Liên, Thọ với Tâm đang thực hiện hành vigiao cấu quan hệ tình dục có đưa nhận tiền (Liên với Tâm bán dâm, còn Trungvới Thọ là mua dâm)
Áp dụng quy định tại mục I.2 Công văn số 64/TANDTC-PC ngày03/4/2019, vào lúc xảy ra vụ án, chỉ có Tâm và Liên thực hiện hành vi “mạidâm” (bán dâm) thể hiện trong hồ sơ vụ án tại Biên bản bắt người phạm tội quảtang (BL 28-33), Bản kết luận điều tra vụ án hình sự (BL 114-117) và Cáo trạng(BL 118-122) đều ghi nhận chỉ có hai người bán dâm Do đó, bị cáo Trường đãthực hiện hành vi “chứa mại dâm” với số lượng là hai người (Liên và Tâm), vìvậy, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đề nghị truy tố thân chủ
tôi theo tình tiết quy định tại điểm d khoản 2 Điều 327 BLHS 2015 là “Chứa mại dâm 04 người trở lên” là không phù hợp Tôi đề nghị Hội đồng xem xét
chuyển khung hình phạt từ điểm d khoản 2 Điều 327 sang khoản 1 Điều 327BLHS 2015 để phù hợp với tình tiết thực tế của vụ án
Trang 8
2 Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ
2.1 Tình tiết tăng nặng: Theo tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, bị
cáo Tạ Văn Trường không có tình tiết tăng nặng Điều này cũng đã được Cơquan điều tra – Công an tỉnh Bắc Ninh và Viện kiểm sát tỉnh Bắc Ninh thốngnhất ghi nhận tại Bản kết luận điều tra đề nghị truy tố (BL 116) và Cáo Trạng(BL 121)
2.2 Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Trường có rất nhiều tình tiết giảm nhẹ,
kính mong Hội đồng xét xử xem xét cân nhắc:
Thứ nhất, bị cáo Trường “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” (theo quy
định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS 2015)
Từ khi bị bắt, trong suốt quá trình điều tra, bị cáo Trường tích cực hợp tácvới cơ quan điều tra, khai nhận toàn bộ sự thật để nhanh chóng làm sáng tỏ nộidung vụ án Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trường cũng thể hiện rõ thái độ thànhkhẩn, hết sức ăn năn về hành vi của mình, nhận thức được hành vi sai lầm củamình và thể hiện thái độ hối hận, mong muốn có cơ hội sửa đổi Tại Bản Kếtluận điều tra (BL 116) và Cáo trạng (BL 121) của Cơ quan điều tra và Việnkiểm sát nhân dân dân tỉnh Bắc Ninh cũng thống nhất ghi nhận tình tiết này, nênviệc áp dụng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS 2015: “Người phạm tộithành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” để làm tình tiết giảm nhẹ cho bị cáoTrường là có sở và đúng quy định của pháp luật
Thứ hai, bị cáo Trường “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm
trọng” (theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS 2015)
Theo quy định tại mục I.4 Công văn số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày07/4/2017 giải đáp “Một số vấn đề nghiệp vụ”, đã giải thích tình tiết giảm nhẹtrách nhiệm hình sự “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”như sau:
“Phạm tội lần đầu là từ trước đến nay chưa phạm tội lần nào Nếu trước
đó đã phạm tội và bị kết án, nhưng đã được xóa án tích hoặc chưa bị kết án, nhưng đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa bị kết án, chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự nay bị truy cứu trách nhiệm hình sự trong cùng lần phạm tội sau, thì không được coi là phạm tội lần đầu
Phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Phạm tội gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội phạm ấy là đến 3 năm tù;
Trang 9
- Phạm tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng nhưng người phạm tội có vị trí, vai trò thứ yếu, không đáng kể trong vụ án có đồng phạm”.
Căn cứ vào các tài liệu hồ sơ vụ án, thì bị cáo Tạ Văn Trường từ trướcđến nay chưa từng phạm tội, không có tiền án tiền sự (Lý lịch bị can - BL 14-15,Trích lục tiền án, tiền sự - BL 16); và xét thấy hành vi của bị cáo Trường trong
vụ án gây nguy hại không lớn cho xã hội Tuy quy định khung hình phạt tạikhoản 1 Điều 327 “Tội chứa mại dâm” là từ 01 đến 05 năm tù, nhưng hành vi viphạm của bị cáo xuất phát từ áp lực kinh tế, lòng hiếu thảo phụng dưỡng cha mẹgià trong hoàn cảnh chưa tìm được việc, bị cáo cũng không được hưởng lợi ích
từ hành vi “chứa mại dâm” Tại Bản kết luận điều tra của Cơ quan điều tra (BL116) cũng ghi nhận tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Phạm tội lần đầuthuộc trường hợp ít nghiêm trọng” Vì các lý lẽ trên, kính mong Hội đồng xét xửxem xét đến các yếu tố để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo điểm ikhoản 1 Điều 51 BLHS 2015
Thứ ba, xét đến nguyên nhân, mục đích và hoàn cảnh dẫn đến hành vi
phạm tội của bị cáo để xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sựquy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS 2015 “các tình tiết khác là tình tiết giảmnhẹ”
Việc thực hiện hành vi phạm tội này không xuất phát từ ý chí chủ quancủa bị cáo, điều này được thể hiện qua việc: bị cáo Trường chỉ mới đến làm tại
cơ sở này chưa đầy 01 tháng (BL 49), các mối quan hệ bị cáo không quen biết aithì không thể biết được cách thức hoạt động tại cơ sở khi không có người chỉdẫn, các đối tượng như Bắc, chị Tâm… bị cáo cũng không hề quen biết
Theo lời khai nhận của bị cáo tại các Biên bản hỏi cung bị can (BL 96,98) và cũng phù hợp với lời khai của anh Thành (chủ quán) tại các Biên bản ghilời khai (BL 46), Biên bản đối chất (BL 49), thì ngoài tiền lương 4.000.000đồng/ tháng mà bị cáo được anh Thành thoả thuận, thì bị cáo Trường không thuđược khoản tiền nào từ việc thực hiện hành vi phạm tội của mình Toàn bộ sốtiền phòng thu được bị cáo đều sẽ giao lại cho chủ quán là anh Thành
Bên cạnh đó, đây là lần đầu tiên bị cáo phạm tội, trước nay bị cáo đều cần
cù làm ăn, luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ cácnghĩa vụ của công dân, gia đình làm nông, nhân thân tốt Ngoài ra, hoàn cảnhgia đình bị cáo hết sức khó khăn, áp lực về kinh tế, là lao động chính trong giađình, cha mẹ già không ai chăm sóc nếu bị cáo đi tù…
Trang 10
Do đó, tôi kính đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đây là tình tiết giảm nhẹcho bị cáo theo “các tình tiết giảm nhẹ khác” quy định tại khoản 2 Điều 51BLHS 2015
KIẾN NGHỊ:
Từ những phân tích trên đây, tôi kính đề nghị Hội đồng xét xử xem xét và
chấp thuận các yêu cầu sau:
1 Chuyển khung hình phạt từ điểm d khoản 2 Điều 327 “Chứa mại dâm 04
người trở lên” sang khoản 1 Điều 327 BLHS 2015 “Tội chứa mại dâm”
2 Áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Tạ Văn
Trường cụ thể như sau:
“Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tạiđiểm s khoản 1 Điều 51 BLHS 2015
“Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” quy định tạiđiểm i khoản 1 Điều 51 BLHS 2015
“Cả nhà đều làm nông, nhân thân tốt” để áp dụng tình tiết giảm nhẹ là
“các tình tiết khác” quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS 2015
Do các bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51BLHS 2015 và có 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS
2015 nên tôi đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định với một mức hình phạtkhông quá 03 năm tù và từ đó, cho bị cáo được hưởng án treo theo quy định tạiĐiều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Kính thưa Hội đồng xét xử, thông qua cả quá trình điều tra và biểu hiệntại phiên tòa hôm nay, thái độ thành khẩn và mong muốn có một cơ hội sửa chữalỗi lầm của bị cáo đã được thể hiện rõ Xét thấy hành vi của bị cáo có khả năng
tự cải tạo, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội Do đó,việc tuyên bị cáo hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo cũng đã đủ răn đe bịcáo, đủ tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung, đồng thời cũng thể hiện chínhsách khoan hồng của pháp luật
Chúng tôi tin rằng, phán quyết của Hội đồng xét xử hôm nay đúng quy định của pháp luật, đảm bảo đúng sự thật, khách quan của vụ án, ban hành một bản án công tâm, chính trực, khách quan.
Cám ơn Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng khác đã chú ý lắng nghe!
Trang 11
IV NHẬN XÉT PHIÊN TOÀ: Nhận xét chung: Quá trình diễn án bằng hình thức trực tuyến nên học viên không thể đưa ra nhận xét về việc bố trí phiên toà hình sự sơ thẩm theo đúng quy định tại mục 2.1 Phụ lục 01 Thông tư 01/2017/TT-TANDTC ngày 28/7/2017 của Toà án nhân dân tối cao Quy định về phòng xử án hay không Về trình tự, thủ tục phiên toà hình sự sơ thẩm được tiến hành tuân thủ đúng theo quy định Về nhận xét vai diễn, cụ thể: A Nhận xét về thủ tục, quá trình diễn ra phiên tòa ………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………