. KHÁI NIỆM Chấn thương là tổng hợp những biến đổi hình thái, rối loạn chức năng, xuất hiện trong mô bào, cơ quan của động vật do nhân tố gây chấn thương tác động. Chấn thương gây ra những biến đổi hình thái, rối loạn chức năng rõ rệt (rách da, dập cơ, giãn dây chằng, đứt mạch máu, gẫy xương,…) được gọi là tổn thương. Dưới tác động của các nhân tố gây chấn thương, sự toàn vẹn và chức năng của da, cơ, mạch máu, mạch lympho, thần kinh có thể bị hủy hoại. Cơ thể đáp ứng lại các kích thích đó bằng phản ứng thích ứng phòng vệ tại cục bộ hay toàn thân. Nguyên nhân gây chấn thương đa số là ngoại sinh, bao gồm các tác động của môi trường bên ngoài. Những yếu tố hữu ích, khi tác động quá ngưỡng thích nghi của con vật cũng gây ra chấn thương. Ví dụ: Ánh sáng và nhiệt độ là những nhân tố rất cần thiết cho sự sống của gia súc nhưng ánh nắng quá mạnh có thể gây cảm nắng, cháy nắng; nhiệt độ quá cao có thể gây cảm nóng, bỏng. Nguyên nhân gây chấn thương nội sinh xuất hiện ngay trong cơ thể người và động vật, do những rối loạn trao đổi chất, tuần hoàn máu, phản ứng miễn dịch và sự vôi hóa. Nhóm này ít gặp hơn và khó xác định. Có 5 nhân tố gây chấn thương cơ bản: cơ giới, vật lý, hóa học, sinh học và thần kinh stress. Dưới sự tác động của những nhân tố này, cơ thể sẽ xuất hiện chấn thương hay tổn thương tương ứng. Hậu quả của những chấn thương gây ra bởi những nguyên nhân có cùng cường độ và thời gian tác động phụ thuộc vào: Đặc điểm giải phẫu, chức năng của mô bào và cơ quan chịu tác động, những biến đổi bệnh lý trong cơ quan đó, trạng thái chức năng của hệ thống thần kinh vào thời điểm tác động của nguyên nhân gây chấn thương, phản ứng loài của động vật chịu tác động. 2 Nguyên nhân gây chấn thương còn có nguồn gốc nội sinh như: Rối loạn trao đổi vitamin, muối khoáng và những chất khác, rối loạn tuần hoàn máu, rối loạn phản ứng miễn dịch sinh học, sự tự nhiễm độc và những rối loạn bên trong khác của cơ thể. 1.2. PHÂN LOẠI Căn cứ vào bản chất của nhân tố gây chấn thương chia ra:
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
VŨ NHƯ QUÁN | SỬ THANH LONG | NGUYỄN HOÀI NAM Đồng chủ biên: VŨ NHƯ QUÁN | SỬ THANH LONG
GIÁO TRÌNH
BỆNH NGOẠI KHOA THÚ Y
NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2019
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Chưa ai đưa ra một định nghĩa hay khái niệm nào chính xác về Bệnh ngoại khoa thú y, nhưng tựu chung có thể hiểu: Bệnh ngoại khoa thú y bao gồm những bệnh mà hiệu quả phòng trị đạt được tốt nhất bằng thủ thuật (hay phẫu thuật) ngoại khoa, nghĩa
là những bệnh mà hiệu quả phòng trị nó đạt được tốt nhất bằng phương pháp dùng tay hoặc dụng cụ tác động vào cơ quan hay mô bào của động vật kết hợp việc dùng thuốc
và vật liệu điều trị căn bệnh học, sinh bệnh học khác
Với quan điểm nêu trên, Bệnh ngoại khoa thú y có nhiệm vụ nghiên cứu tất cả các dạng chấn thương (cơ giới, sinh học, lý học, hóa học, thần kinh - stress, tổn thương do ngoại vật trong cơ thể) và một số quá trình bệnh lý khác (Hoại tử, hoại thư, loét, lỗ rò, hernia, khối u); ngoài ra, nó còn đề cập đến quá trình bệnh lý ở một số cơ quan hệ thống (xương, khớp, móng, da, cơ, thần kinh, mạch quản và các giác quan)
Những nguyên nhân gây ra sự xuất hiện các chấn thương và phản ứng của cơ thể với chấn thương, xem xét những nét đặc biệt thuộc phản ứng loài của động vật, nghiên cứu những phương pháp điều trị căn bệnh học và sinh bệnh học đối với các chấn thương
là những nội dung trước tiên môn học này cần phải làm sáng tỏ
Bệnh ngoại khoa thú y làm rõ những điều kiện, những nguyên nhân gây ra quá trình bệnh lý ngoại khoa (hoại tử, hoại thư, loét, lỗ rò, hernia, khối u) và những cơ chế phát triển của nó, những biểu hiện lâm sàng, tính quy luật của sự tiến triển và những nét đặc biệt của những quá trình bệnh lý nêu trên Soạn thảo, giới thiệu những nguyên tắc chung và những phương pháp nhận biết bệnh, những kết cục có thể của bệnh và những nguyên tắc phòng và điều trị các quá trình bệnh lý đó
Nguyên nhân, sinh bệnh học, triệu chứng và phương pháp phòng - trị những quá trình bệnh lý ngoại khoa xảy ra ở các cơ quan: xương, khớp, móng, da, cơ, thần kinh, mạch quản và các giác quan của động vật cũng là những nội dung quan trọng của môn học
Để tiến hành phòng và điều trị các bệnh ngoại khoa có hiệu quả, bác sỹ thú y cần nắm vững sinh bệnh học của bệnh, những phương pháp chẩn đoán thường quy, biết điều khiển những phản ứng thích ứng phòng vệ của cơ thể Người học ngoại khoa cần có sự khéo léo, tỷ mỉ để thực hiện kỹ thuật ngoại khoa, điều này phải luyện tập thường xuyên
và lâu dài Ngoại khoa thú y hiện nay thường kết hợp những thủ thuật ngoại khoa với hóa liệu pháp, sử dụng những chế phẩm sinh học và vật lý trị liệu Phẫu thuật ngoại khoa phức tạp được chỉ định trong những trường hợp khi nó có hiệu quả kinh tế nhất, ngoại trừ những phẫu thuật nhằm mục đích nhân đạo
Là môn học chuyên ngành bắt buộc dành cho sinh viên chuyên ngành thú y, môn học Bệnh ngoại khoa thú y có quan hệ mật thiết với những môn học khác của chương trình đào tạo bác sỹ thú y như: Giải phẫu, Mô học, Hóa sinh, Sinh lý, Giải phẫu bệnh,
Trang 4Chẩn đoán, Dược lý, Vi sinh vật học, Ký sinh trùng học, Sản khoa; Vì vậy, muốn có kiến thức đầy đủ về Bệnh ngoại khoa thú y, người học cần phải nắm vững các môn học
cơ sở và chuyên môn trong chương trình đào tạo đã đặt ra
Giáo trình được chia làm 2 phần: Phần A là “Những quá trình bệnh lý chung”, gồm 9 chương, Phần B là “Bệnh của các hệ thống”, gồm 7 chương
TS Vũ Như Quán biên soạn các chương: Chấn thương; Nhiễm trùng ngoại khoa; Tổn thương cơ giới hở; Tổn thương cơ giới kín; Tổn thương do ngoại vật trong cơ thể; Hoại tử, Hoại thư, Loét, Lỗ rò; Bệnh của cơ
TS Sử Thanh Long biên soạn các chương: Tổn thương vật lý và hóa học, Hernia, Khối u, Bệnh của da
TS Nguyễn Hoài Nam biên soạn các chương: Bệnh của móng, Bệnh của mạch quản, Bệnh của thần kinh, Bệnh của các giác quan
TS Nguyễn Hoài Nam và TS Sử Thanh Long cùng biên soạn chương: Bệnh của xương - khớp
So với giáo trình Bệnh ngoại khoa gia súc trước đây, cuốn giáo trình Bệnh ngoại khoa thú y này được bổ sung thêm nhiều kiến thức Có nhiều nội dung nhỏ trong giáo trình cũ được phát triển thành các chương trong giáo trình mới như các chương: Đại cương về chấn thương, tổn thương cơ giới hở, tổn thương cơ giới kín, tổn thương do ngoại vật trong cơ thể, bệnh của da, bệnh của xương - khớp, bệnh của móng Cuốn giáo trình mới này cũng cung cấp thêm những nội dung chưa được trình bày trong cuốn giáo trình cũ như: bệnh ở tai, bệnh ở mũi, bệnh ở xoang miệng
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong khi biên soạn nhưng không thể tránh khỏi các thiếu sót, mong nhận được sự góp ý của đồng nghiệp Xin chân thành cám ơn!
Tập thể tác giả
Trang 5MỤC LỤC
Phần A NHỮNG QUÁ TRÌNH BỆNH LÝ CHUNG 1
Chương 1 ĐẠI CƯƠNG VỀ CHẤN THƯƠNG 1
1.1 KHÁI NIỆM 1
1.2 PHÂN LOẠI 2
1.2.1 Chấn thương cơ giới 2
1.2.2 Chấn thương vật lý 3
1.2.3 Chấn thương hóa học 3
1.2.4 Chấn thương sinh học 3
1.2.5 Chấn thương thần kinh - stress 4
1.3 ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤN THƯƠNG ĐẾN CƠ THỂ 4
1.4 PHẢN ỨNG CỦA CƠ THỂ VỚI CHẤN THƯƠNG 8
1.4.1 Phản ứng của toàn thân đối với chấn thương 8
1.4.2 Phản ứng cục bộ đối với chấn thương 12
1.4.3 Biểu hiện lâm sàng của viêm vô trùng 22
1.4.4 Nguyên tắc điều trị viêm 25
1.4.5 Phương pháp điều trị viêm 26
Chương 2 NHIỄM TRÙNG NGOẠI KHOA 42
2.1 KHÁI NIỆM 42
2.2 PHÂN LOẠI 42
2.2.1 Nhiễm trùng ngoại khoa hiếu khí 42
2.2.2 Nhiễm trùng ngoại khoa yếm khí 42
2.2.3 Nhiễm trùng ngoại khoa thối rữa 43
2.2.4 Nhiễm trùng ngoại khoa đặc biệt 43
2.3 NHỮNG CƠ CHẾ NGĂN CẢN SỰ PHỔ BIẾN TÁC NHÂN GÂY NHIỄM TRÙNG 43
2.4 NHỮNG ĐIỀU KIỆN THÚC ĐẨY NHIỄM TRÙNG NGOẠI KHOA PHÁT TRIỂN 44
2.5 NHỮNG NGUYÊN TẮC ĐỀ PHÒNG NHIỄM TRÙNG NGOẠI KHOA 45
2.6 NHIỄM TRÙNG NGOẠI KHOA HIẾU KHÍ 45
2.6.1 Nguyên nhân 45
2.6.2 Sinh bệnh học và triệu chứng 45
2.6.3 Điều trị 46
2.6.4 Một số trường hợp nhiễm trùng ngoại khoa hiếu khí 51
Trang 62.7 NHIỄM TRÙNG NGOẠI KHOA YẾM KHÍ 58
2.7.1 Nguyên nhân 59
2.7.2 Triệu chứng 59
2.7.3 Chẩn đoán - Điều trị 61
2.8 NHIỄM TRÙNG NGOẠI KHOA THỐI RỮA 62
2.8.1 Căn bệnh học 62
2.8.2 Sinh bệnh học 62
2.8.3 Triệu chứng, tiên lượng và điều trị 63
2.9 NHIỄM TRÙNG HUYẾT (NHIỄM TRÙNG NGOẠI KHOA TOÀN THÂN) 63
2.9.1 Khái niệm 63
2.9.2 Phân loại 64
2.10 SỬ DỤNG KHÁNG SINH TRONG NHIỄM TRÙNG NGOẠI KHOA 69
2.10.1 Sử dụng kháng sinh tại cục bộ 70
2.10.2 Sử dụng kháng sinh đối với toàn thân 70
2.10.3 Đề phòng xuất hiện sự kháng kháng sinh của vi khuẩn 71
2.10.4 Tác dụng phụ và biến chứng khi điều trị bằng kháng sinh 72
2.11 TĂNG CƯỜNG SỨC ĐỀ KHÁNG CỦA CƠ THỂ 73
CÂU HỎI ÔN TẬP 73
Chương 3 TỔN THƯƠNG CƠ GIỚI HỞ (VẾT THƯƠNG) 75
3.1 KHÁI NIỆM 75
3.2 TRIỆU CHỨNG CỦA VẾT THƯƠNG 76
3.2.1 Chảy máu 76
3.2.2 Đau 77
3.2.3 Độ hở vết thương 78
3.2.4 Rối loạn chức năng 78
3.3 CÁC DẠNG VẾT THƯƠNG 79
3.3.1 Vết thương đâm 79
3.3.2 Vết thương cắt 80
3.3.3 Vết thương chém 80
3.3.4 Vết thương đụng dập 80
3.3.5 Vết thương đứt 81
3.3.6 Vết thương ép giập 81
3.3.7 Vết thương cắn 82
3.3.8 Vết thương hỏa khí 82
3.3.9 Vết thương độc 83
3.3.10 Vết thương hỗn hợp 83
3.4 QUÁ TRÌNH LÀNH VẾT THƯƠNG 84
3.4.1 Lành vết thương thời kỳ I (Lành tiên phát) 84
Trang 73.4.2 Lành vết thương thời kỳ II (Lành thứ phát) 85
3.4.3 Lành vết thương dưới vảy 86
3.5 NGUYÊN NHÂN VẾT THƯƠNG LÂU LÀNH 86
3.6 KIỂM TRA ĐỘNG VẬT BỊ THƯƠNG 87
3.6.1 Kiểm tra bên ngoài vết thương 87
3.6.2 Kiểm tra bên trong vết thương 88
3.6.3 Kiểm tra dịch vết thương 89
3.6.4 Kiểm tra mô bào 89
3.6.5 Kiểm tra sự tái sinh 90
3.7 ĐIỀU TRỊ ĐỘNG VẬT BỊ THƯƠNG 90
3.7.1 Can thiệp ban đầu cho động vật bị thương (Sơ cứu vết thương) 90
3.7.2 Điều trị cục bộ vết thương mới 92
3.7.3 Điều trị cục bộ vết thương nhiễm trùng 96
3.7.4 Điều trị cục bộ vết thương lành dưới vảy 99
3.7.5 Điều trị toàn thân đối với động vật bị thương 99
CÂU HỎI ÔN TẬP 100
Chương 4 TỔN THƯƠNG CƠ GIỚI KÍN 102
4.1 DẬP THƯƠNG 102
4.1.1 Triệu chứng 102
4.1.2 Tiên lượng và điều trị 104
4.2 U MÁU 104
4.2.1 Sinh bệnh học 105
4.2.3 Tiên lượng và điều trị 106
4.3 U LYMPHO 107
4.3.1 Sinh bệnh học 107
4.3.2 Triệu chứng 107
4.3.3 Tiên lượng và điều trị 108
4.4 GIÃN 109
4.5 VỠ 109
4.6 CHẤN ĐỘNG 109
4.7 ĐÈ ÉP 110
CÂU HỎI ÔN TẬP 110
Chương 5 TỔN THƯƠNG DO NGOẠI VẬT TRONG CƠ THỂ 111
5.1 SINH BỆNH HỌC VÀ TRIỆU CHỨNG 111
5.2 ĐIỀU TRỊ VÀ DỰ PHÒNG 113
CÂU HỎI ÔN TẬP 114
Trang 8Chương 6 TỔN THƯƠNG VẬT LÝ VÀ HÓA HỌC 115
6.1 BỎNG DO NHIỆT ĐỘ CAO (BỎNG NHIỆT) 115
6.1.1 Phân loại 115
6.1.2 Sinh bệnh học 117
6.1.3 Triệu chứng 118
6.1.4 Tiên lượng 119
6.1.5 Điều trị 119
6.2 TỔN THƯƠNG DO LẠNH 122
6.2.1 Viêm da ẩm lạnh 123
6.2.2 Bỏng lạnh 123
6.3 ĐIỆN GIẬT 129
6.4 BỎNG HÓA HỌC 131
6.5 BỎNG NHIỆT - HÓA 132
CÂU HỎI ÔN TẬP 133
Chương 7 HOẠI TỬ, HOẠI THƯ, LOÉT, LỖ RÒ 134
7.1 HOẠI TỬ 134
7.1.1 Khái niệm 134
7.1.2 Nguyên nhân 134
7.1.3 Sinh bệnh học 134
7.1.4 Phân loại 135
7.2 HOẠI THƯ 136
7.2.1 Khái niệm 136
7.2.2 Nguyên nhân 136
7.2.3 Phân loại 136
7.3 LOÉT 139
7.3.1 Nguyên nhân 139
7.3.2 Sinh bệnh học 139
7.3.3 Phân loại 141
7.3.4 Triệu chứng 141
7.3.5 Điều trị 142
7.4 LỖ RÒ 142
7.4.1 Nguyên nhân 143
7.4.2 Sinh bệnh học 143
7.4.3 Triệu chứng 144
7.4.4 Chẩn đoán 144
7.4.5 Tiên lượng và điều trị 145
7.4.6 Một số trường hợp lỗ rò thường gặp ở vật nuôi 146
CÂU HỎI ÔN TẬP 148
Trang 9Chương 8 HERNIA (THOÁT VỊ) 149
8.1 KHÁI NIỆM 149
8.2 PHÂN LOẠI 150
8.3 MỘT SỐ HERNIA THƯỜNG GẶP 151
8.3.1 Hernia rốn 151
8.3.2 Hernia thành bụng 153
8.3.4 Hernia đùi 158
8.3.5 Hernia đáy chậu 159
CÂU HỎI ÔN TẬP 160
Chương 9 KHỐI U 161
9.1 NGUYÊN NHÂN VÀ SINH BỆNH HỌC 161
9.1.1 Học thuyết loạn phát triển (Học thuyết Kongeima) 161
9.1.2 Học thuyết kích thích (Học thuyết Virkhov) 162
9.1.3 Học thuyết ký sinh trùng 162
9.1.4 Học thuyết virus 163
9.1.5 Học thuyết hormone 163
9.1.6 Học thuyết đa căn (Học thuyết đa dạng nguyên nhân) 163
9.2 PHÂN LOẠI KHỐI U 164
9.2.1 Căn cứ theo nguồn gốc mô bào phát sinh 164
9.2.2 Căn cứ theo đặc tính phát triển và tiến triển lâm sàng 165
9.3 ẢNH HƯỞNG CỦA KHỐI U ĐẾN CƠ THỂ 166
9.4 CHẨN ĐOÁN 167
9.5 MỘT SỐ KHỐI U THƯỜNG GẶP Ở ĐỘNG VẬT 170
9.5.1 U xơ 170
9.5.2 U nhú 170
9.5.3 U mỡ 171
9.6.4 U sắc tố 172
CÂU HỎI ÔN TẬP 172
Phần B BỆNH CỦA CÁC HỆ THỐNG 174
Chương 10 BỆNH CỦA XƯƠNG, KHỚP 174
10.1 BỆNH CỦA XƯƠNG 174
10.1.1 Viêm màng xương 174
10.1.2 Viêm tủy xương và viêm hoại tử mảng xương 174
10.1.3 Gẫy xương 176
10.2 BỆNH CỦA KHỚP 181
10.2.1 Trật khớp 182
Trang 1010.2.2 Viêm bao khớp và viêm bao hoạt dịch 186
10.2.3 Viêm khớp thoái hóa 190
10.2.4 Cứng khớp do gân co rút 193
CÂU HỎI ÔN TẬP 195
Chương 11 BỆNH CỦA MÓNG 196
11.1 CẤU TRÚC NGOÀI VÀ CHỨC NĂNG CÁC VÙNG CỦA MÓNG 196
11.1.1 Thành móng 197
11.1.2 Đế móng 197
11.1.3 Đường trắng của móng 197
11.1.4 Gót móng 197
11.1.5 Bề mặt chịu lực của móng 197
11.2 CẤU TRÚC BÊN TRONG MÓNG VÀ BÀN CHÂN 198
11.2.1 Các xương ở bàn chân và ngón chân 198
11.2.2 Các cơ và dây chằng 198
11.2.3 Hệ thống mạch máu ở bàn chân và ngón chân của bò 199
11.2.4 Hệ thống thần kinh ở bàn chân bò 201
11.3 MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI SỰ MẮC BỆNH Ở MÓNG 201
11.3.1 Chuồng trại 201
11.3.2 Đường đi 202
11.3.3 Sân chơi, bãi chăn thả 202
11.3.4 Bể ngâm chân 203
11.3.5 Thức ăn 203
11.3.6 Gọt sửa móng 204
11.4 THIỆT HẠI DO BỆNH Ở MÓNG GÂY RA 205
11.5 CÁC BỆNH Ở MÓNG 206
11.5.1 Viêm da móng hạt cơm 207
11.5.2 Viêm da kẽ móng 209
11.5.3 Thối móng 210
11.5.4 Mòn gót móng 213
11.5.5 Móng mọc quá dài 214
11.5.6 Đế móng quá mỏng 214
11.5.7 Vẹo mũi móng 215
11.5.8 U xơ kẽ móng 216
11.5.9 Bệnh ở đường trắng 216
11.5.10 Loét đế móng 218
11.5.11 Loét đầu móng 220
11.5.12 Xuất huyết trong đế móng 221
11.5.13 Nẻ móng 223
CÂU HỎI ÔN TẬP 225
Trang 11Chương 12 BỆNH CỦA DA 226
12.1 VIÊM NANG LÔNG 226
12.1.1 Nguyên nhân 226
12.1.2 Triệu chứng 226
12.1.3 Chẩn đoán 226
12.1.4 Ðiều trị 226
12.1.5 Phòng bệnh 227
12.2 MỤN 227
12.2.1 Nguyên nhân 227
12.2.2 Sinh bệnh học 227
12.2.3 Triệu chứng 228
12.2.4 Chẩn đoán 228
12.2.5 Điều trị 229
12.3 CỤM MỤN 230
12.3.1 Sinh bệnh học 230
12.3.2 Triệu chứng 230
12.3.3 Điều trị 230
12.4 ECZEMA 231
12.4.1 Nguyên nhân 231
12.4.2 Sinh bệnh học 231
12.4.3 Triệu chứng 232
12.4.4 Tiên lượng 234
12.4.5 Điều trị 234
12.5 VIÊM DA 237
12.5.1 Viêm da chấn thương 237
12.5.2 Viêm da mủ 239
12.5.3 Viêm da do thuốc 239
12.5.4 Viêm da gần vết thương 240
12.5.5 Viêm da hạt cơm 241
12.6 MỤC DA DO NẰM LÂU MỘT TƯ THẾ 243
12.6.1 Triệu chứng 243
12.6.2 Điều trị và dự phòng 243
CÂU HỎI ÔN TẬP 244
Chương 13 BỆNH CỦA CƠ 245
13.1 VIÊM CƠ CHẤN THƯƠNG 245
13.1.1 Sinh bệnh học 245
13.1.2 Triệu chứng 245
13.1.3 Tiên lượng và điều trị 246
Trang 1213.2 VIÊM CƠ MỦ 246
13.2.1 Nguyên nhân 246
13.2.2 Sinh bệnh học 246
13.2.3 Triệu chứng 246
13.2.4 Tiên lượng và điều trị 247
13.3 VIÊM CƠ DẠNG THẤP 247
13.3.1 Nguyên nhân 247
13.3.2 Sinh bệnh học 247
13.3.3 Triệu chứng 248
13.3.4 Tiên lượng và điều trị 248
13.4 VIÊM CƠ FIBRIN 249
13.4.1 Nguyên nhân 249
13.4.2 Triệu chứng 250
13.4.3 Điều trị 250
13.5 VIÊM CƠ CỐT HÓA 250
13.5.1 Nguyên nhân 250
13.5.2 Sinh bệnh học 250
13.5.3 Triệu chứng 250
13.5.4 Tiên lượng 251
13.5.5 Điều trị 251
13.6 VỠ CƠ 251
13.6.1 Nguyên nhân 251
13.6.2 Sinh bệnh học 251
13.6.3 Triệu chứng 251
13.6.4 Điều trị 252
13.6.5 Phòng bệnh 252
13.7 TEO CƠ 252
13.7.1 Sinh bệnh học 252
13.7.2 Triệu chứng 253
13.7.3 Điều trị 253
CÂU HỎI ÔN TẬP 253
Chương 14 BỆNH CỦA MẠCH QUẢN 254
14.1 BỆNH CỦA MẠCH MÁU 254
14.1.1 Chảy máu trong 254
14.1.2 Ung thư tế bào nội mạc thành mạch máu 256
14.1.3 Phình động mạch 261
14.1.4 Viêm tĩnh mạch 263
Trang 1314.2 BỆNH CỦA MẠCH VÀ HẠCH LYMPHO 264
14.2.1 Viêm mạch lympho 264
14.2.2 Viêm hạch lympho 265
CÂU HỎI ÔN TẬP 266
Chương 15 BỆNH CỦA THẦN KINH 267
15.1 CHẤN THƯƠNG THẦN KINH 267
15.1.1 Chấn thương thần kinh trung ương 267
15.1.2 Chấn thương dây thần kinh ngoại biên 270
15.1.3 Chẩn đoán 270
15.1.4 Ðiều trị 270
15.2 THẦN KINH BỊ CHÈN ÉP 271
15.2.1 Nguyên nhân 271
15.2.2 Triệu chứng 271
15.2.3 Chẩn đoán và điều trị 271
15.3 TÊ LIỆT THẦN KINH 272
15.3.1 Tê liệt thần kinh mặt 272
15.3.2 Tê liệt đám rối thần kinh chi trước 273
15.3.3 Tê liệt dây thần kinh trên vai 274
15.3.4 Liệt dây thần kinh tọa 274
CÂU HỎI ÔN TẬP 276
Chương 16 BỆNH CỦA CÁC GIÁC QUAN 277
16.1 BỆNH CỦA TAI 277
16.1.1 Cấu tạo tai động vật 277
16.1.2 Hoại tử chỏm tai 278
16.1.3 Viêm tai ngoài 279
16.1.4 Viêm tai giữa 282
16.2 BỆNH CỦA MẮT 283
16.2.1 Cấu tạo mắt động vật 283
16.2.2 U lympho ở mắt 286
16.2.3 Viêm hốc mắt 288
16.2.4 Dị tật cầu mắt 289
16.2.5 Khối u vùng mí mắt 291
16.2.6 Viêm kết mạc 293
16.2.7 Viêm giác mạc 294
16.2.8 Đục thủy tinh thể 296
16.2.9 Bệnh của mắt do thiếu vitamin A 297
Trang 1416.3 BỆNH Ở XOANG MIỆNG 298
16.3.1 Giải phẫu xoang miệng của một số động vật 298
16.3.2 Dị tật về số lượng, màu sắc và mòn răng 302
16.3.3 Loạn dưỡng răng 304
16.3.4 Sâu răng 305
16.3.5 Viêm tủy răng 307
16.3.6 Viêm lợi 308
16.3.7 Viêm miệng 310
16.3.8 Một số loại khối u trong xoang miệng của gia súc 311
16.3.9 Bệnh ở các hạch amidan 314
16.4 BỆNH CỦA MŨI 315
16.4.1 Cấu tạo giải phẫu mũi động vật 315
16.4.2 Viêm mũi ở chó, mèo 316
16.4.3 Viêm xoang vùng đầu mặt ở chó do nấm Aspergillus fumigates 318
16.4.4 Viêm xoang trán ở bò 320
16.4.5 Tắc đường hô hấp trên 322
16.4.6 Viêm mũi dị ứng 324
CÂU HỎI ÔN TÂP 326
TÀI LIỆU THAM KHẢO 327
Trang 15Phần A NHỮNG QUÁ TRÌNH BỆNH LÝ CHUNG
Chương 1
ĐẠI CƯƠNG VỀ CHẤN THƯƠNG
Bệnh ngoại khoa nghiên cứu tất cả các dạng chấn thương Chương này giới thiệu khái quát: Khái niệm về chấn thương, các dạng chấn thương và hệ chấn thương, Ảnh hưởng của chấn thương đối với cơ thể, Phản ứng của cơ thể đối với chấn thương Trọng tâm của chương này người học cần nắm vững: Phản ứng của cơ thể đối với chấn thương, đặc biệt hai phản ứng sốc và viêm
1.1 KHÁI NIỆM
Chấn thương là tổng hợp những biến đổi hình thái, rối loạn chức năng, xuất hiện trong mô bào, cơ quan của động vật do nhân tố gây chấn thương tác động Chấn thương gây ra những biến đổi hình thái, rối loạn chức năng rõ rệt (rách da, dập cơ, giãn dây chằng, đứt mạch máu, gẫy xương,…) được gọi là tổn thương
Dưới tác động của các nhân tố gây chấn thương, sự toàn vẹn và chức năng của da,
cơ, mạch máu, mạch lympho, thần kinh có thể bị hủy hoại Cơ thể đáp ứng lại các kích thích đó bằng phản ứng thích ứng - phòng vệ tại cục bộ hay toàn thân
Nguyên nhân gây chấn thương đa số là ngoại sinh, bao gồm các tác động của môi trường bên ngoài Những yếu tố hữu ích, khi tác động quá ngưỡng thích nghi của con vật cũng gây ra chấn thương Ví dụ: Ánh sáng và nhiệt độ là những nhân tố rất cần thiết cho sự sống của gia súc nhưng ánh nắng quá mạnh có thể gây cảm nắng, cháy nắng; nhiệt độ quá cao có thể gây cảm nóng, bỏng
Nguyên nhân gây chấn thương nội sinh xuất hiện ngay trong cơ thể người và động vật, do những rối loạn trao đổi chất, tuần hoàn máu, phản ứng miễn dịch và sự vôi hóa Nhóm này ít gặp hơn và khó xác định
Có 5 nhân tố gây chấn thương cơ bản: cơ giới, vật lý, hóa học, sinh học và thần kinh - stress Dưới sự tác động của những nhân tố này, cơ thể sẽ xuất hiện chấn thương hay tổn thương tương ứng
Hậu quả của những chấn thương gây ra bởi những nguyên nhân có cùng cường độ
và thời gian tác động phụ thuộc vào: Đặc điểm giải phẫu, chức năng của mô bào và cơ quan chịu tác động, những biến đổi bệnh lý trong cơ quan đó, trạng thái chức năng của
hệ thống thần kinh vào thời điểm tác động của nguyên nhân gây chấn thương, phản ứng loài của động vật chịu tác động
Trang 16Nguyên nhân gây chấn thương còn có nguồn gốc nội sinh như: Rối loạn trao đổi vitamin, muối khoáng và những chất khác, rối loạn tuần hoàn máu, rối loạn phản ứng miễn dịch sinh học, sự tự nhiễm độc và những rối loạn bên trong khác của cơ thể
1.2 PHÂN LOẠI
- Căn cứ vào bản chất của nhân tố gây chấn thương chia ra:
1.2.1 Chấn thương cơ giới
Chấn thương cơ giới do sự tác động của lực cơ giới vào cơ thể động vật với mức
độ tổn thương mô bào và cơ quan khác nhau Động vật bị đánh đập bằng gậy gộc, bị đâm chém bằng dao búa, bị các vật thể nặng (gạch, đá, gỗ) rơi vào, động vật húc, đá nhau hay tự ngã đều có thể bị chấn thương cơ giới
Chấn thương cơ giới có thể trở lên trầm trọng hơn do thiếu hụt vitamin, muối khoáng trong thức ăn, sự rối loạn trao đổi chất, chế độ vận động thường xuyên không đầy đủ, kiệt sức So với động vật trưởng thành, chấn thương cơ giới thường nặng hơn ở động vật non và động vật già
Mô và cơ quan của các loài, cá thể có sức đề kháng khác nhau với chấn thương Gân - dây chằng ở ngựa và chó có tính đàn hồi và bền vững lớn đối với sự kéo căng Da của chúng đàn hồi và linh hoạt hơn so với da của loài nhai lại, đặc biệt, so với lợn Xương ngựa và chó cứng hơn nhưng dễ gãy hơn so với xương trâu, bò, cừu và lợn Lực cơ giới có thể tác động ở dạng: ép, kéo căng, xoắn vặn, uốn cong Mức độ tổn thương mô bào của cơ thể phụ thuộc vào hướng và góc của lực tác động, vận tốc của chuyển động, độ lớn và trọng lượng riêng của vật gây thương tích, cấu trúc giải phẫu và trạng thái chức năng của cơ quan bị tổn thương Ví dụ: Sự căng cơ hoặc một vài vị trí của khớp làm tăng thêm chấn thương và tạo điều kiện xuất hiện gẫy xương, trật khớp, đứt dây chằng Dạ dày chứa đầy thức ăn, ruột đầy phân, bàng quang đầy nước tiểu có thể bị vỡ do các cú đá vào sườn; tổn thương sẽ nhỏ hơn nếu chúng trống rỗng vào thời điểm vật gây chấn thương tác động Ở động vật có chửa, nguy cơ gẫy xương cao hơn do chứng Nhuyễn
xương (Osteomalacia), cơ cũng dễ bị đứt hơn do suy kiệt và luôn bị kéo căng
Những chấn thương cơ giới còn được phân thành các dạng khác nhau: Chấn thương bất ngờ, phẫu thuật, sinh đẻ, kín hay hở, trực tiếp hay gián tiếp, đơn độc hay hỗn hợp Tổn thương cơ giới trực tiếp xuất hiện tại chỗ tiếp xúc của lực cơ giới gây chấn thương Tổn thương cơ giới gián tiếp xảy ra không ở chỗ tiếp xúc với vật gây thương tích như: Trật khớp xương bả vai - cánh tay vào thời điểm tiếp đất của động vật rơi từ trên cao xuống
Khi chấn thương cơ giới chỉ gây ra những thay đổi phân tử trong cơ quan hay mô bào gọi là Chấn động hay Đụng dập Ví dụ: Chấn động gây ra do ảnh hưởng của sóng nổ Tất cả các phần của não bộ và những cơ quan có cấu trúc nhu mô dễ bị tổn thương hơn các mô bào khác Xương có tính bền vững nhất đối với chấn thương cơ giới và các chấn thương khác
Trang 17Tổn thương cơ giới kín có đặc trưng là da và niêm mạc còn nguyên vẹn, bao gồm:
dập thương hay đụng dập (contusion), kéo căng (distorsio), đứt các mô mềm và cơ quan
có cấu trúc nhu mô, trật khớp, gẫy xương Da có tính đàn hồi và bền vững lớn; vì thế, tính liên tục giải phẫu của da có thể được bảo tồn ngay cả khi gặp những chấn thương nặng, mặc dù khi đó cơ quan và mô bào nằm dưới da bị kéo căng, đứt, đè ép, ép dập, xương bị gãy hay vỡ vụn
Tổn thương cơ giới hở hay vết thương có đặc trưng là rách da hay niêm mạc, các
mô mềm, cơ quan nội tạng, xương có thể bị tổn thương ở các mức độ khác nhau Trên thực tế, tổn thương cơ giới hở gặp nhiều hơn tổn thương cơ giới kín, nó sẽ trầm trọng hơn nếu chấn thương nhắc lại Quá trình bệnh lý của tổn thương cơ giới hở cũng nặng
nề hơn, thường bị nhiễm bẩn và vi khuẩn gây bệnh Tổn thương cơ giới hở bao gồm các loại vết thương, trật khớp và gẫy xương hở
1.2.2 Chấn thương vật lý
Những yếu tố vật lý gây ra chấn thương vật lý: chấn thương nhiệt, chấn thương điện, chấn thương phóng xạ
Chấn thương nhiệt gặp ít hơn chấn thương cơ giới, có thể do nhiệt độ quá cao
(bỏng - combustio) hay nhiệt độ quá thấp (băng giá - congelatio)
Chấn thương điện xảy ra do dòng điện (điện kỹ thuật, sét) đi qua cơ thể
Chấn thương phóng xạ gây ra bởi năng lượng bức xạ và phóng xạ ion hóa Chấn thương này được phân biệt với những chấn thương nêu trên ở chỗ: Phần lớn các trường hợp động vật không có phản ứng tự vệ tức thì và không nhận thức được một cách trực tiếp, trừ khi cơ thể bị tác động bởi một liều lượng cực cao
1.2.3 Chấn thương hóa học
Chấn thương hóa học là do sự tác động đến mô bào bởi các axit, chất kiềm, muối của kim loại nặng, chất độc hóa học và một vài chất hóa học sử dụng để phòng - trị ký sinh trùng, côn trùng hút máu Trong những chất hóa học, số này gây ra tổn thương cục
bộ (các axit, kiềm); số khác như phốt pho, chất độc hóa học được hấp thu qua da và
niêm mạc, có tác động độc hại đến toàn cơ thể
Trang 18Tác động của độc tố có nguồn gốc thực vật: Vật nuôi ăn phải thực vật có độc (lá
ngón, nấm độc, lá trúc đào, lá sắn,…), thức ăn gây dị ứng, thức ăn đã thiu ôi
1.2.5 Chấn thương thần kinh - stress
Chấn thương thần kinh - stress xuất hiện dưới sự tác động của kỹ thuật chăn nuôi công nghiệp không hoàn hảo, không đáp ứng được đầy đủ nhu cầu sinh lý và sự thích nghi của động vật Đầu tiên, chấn thương này gây ra những rối loạn chức năng, sau đó
là những tổn thương phản ứng do của tế bào, mô bào, cơ quan và hệ thống, biểu hiện bằng quá trình bệnh lý tiến triển nặng hay nhẹ
Chấn thương thần kinh - stress có thể do tác động mạnh hay kéo dài của âm thanh (chấn thương âm học), ánh sáng (chấn thương quang học), sự mất yên tĩnh nghiêm trọng của động vật liên quan đến kỹ thuật chăn nuôi và công tác thú y (chu chuyển đàn, xuất - nhập, phòng, trị bệnh và những công việc khác), tiếng ồn của kỹ thuật công nghiệp, vận chuyển động vật và những nhân tố khác gây ra sự tái kích thích hệ thống thần kinh ở động vật
- Căn cứ vào mức độ và thời gian tác động, chấn thương loại này được chia ra:
Chấn thương cấp tính xảy ra do tác động mạnh với thời gian ngắn (chấn thương
cơ giới, bỏng do nhiệt độ cao, điện giật,…)
Chấn thương mạn tính xảy ra do tác động yếu với thời gian kéo dài (chấn thương thần kinh - stress, ngộ độc mạn tính,…)
- Ngoài ra còn phân biệt:
Chấn thương trực tiếp: Tại chỗ tác động của nhân tố gây chấn thương
Chấn thương gián tiếp: Tổn thương xuất hiện cách xa chỗ tiếp xúc của nhân tố gây chấn thương (đứt dây chằng, trật khớp và những bệnh lý khác xảy ra khi nhảy vượt chướng ngại vật hay rơi từ trên cao xuống)
Chấn thương đơn: Chỉ có 1 cơ quan hay bộ phận bị chấn thương
Chấn thương hỗn hợp: Cùng một thời điểm chịu tác động của 2 hay nhiều nhân tố gây chấn thương, trong những trường hợp này, cơ thể xuất hiện những tổn thương nặng
nề hơn, đôi khi kết thúc bằng cái chết của động vật
Đa chấn thương: Nhiều cơ quan bộ phận bị chấn thương
1.3 ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤN THƯƠNG ĐẾN CƠ THỂ
Vào thời điểm tác động hay ngay sau khi tác động mạnh của các yếu tố gây chấn thương gia súc có thể bị trụy mạch, sốc, liệt nhẹ, bại liệt thậm chí là chết đột ngột Chấn thương có thể gây ra sự khuyết thiếu mô bào trên cơ thể động vật phát sinh nguy cơ phát triển nhiễm trùng cục bộ hay toàn thân Khi tổn thương vùng rộng lớn, đặc biệt tổn thương kín, có thể phát sinh sự nhiễm độc chấn thương gây ra bởi sự hấp thu các sản phẩm phân hủy mô bào chết bởi các men
Trang 19Trên nền chấn thương, đôi khi phát triển rối loạn dinh dưỡng làm xấu đi hay kìm hãm hoàn toàn sự tái sinh của mô bào Trong những tổn thương lớn và hoại thư (một lượng lớn mô bào bị chết), ngay cả khi đã liền sẹo, những sẹo lớn làm suy giảm hay mất hoàn toàn chức năng của cơ quan và những phần nguyên vẹn của cơ thể (bại liệt, mất chức năng của những tuyến)
Những tổn thương còn có thể làm giảm năng suất vật nuôi và chất lượng sản phẩm, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của bào thai, hoặc biến chứng nhiễm trùng dẫn đến cái chết của động vật
Những tác động của chấn thương cơ giới:
Chấn thương cơ giới thường gặp nhất ở động vật Phụ thuộc vào lực tác động, trong mô bào xuất hiện mức độ tổn thương khác nhau, bắt đầu từ sự rối loạn tuần hoàn máu và lympho, dập cơ, đứt cân mạc và dây chằng, vỡ cơ quan nội tạng đến vỡ vụn xương Lực tác động càng mạnh, càng kéo dài thì mức độ tổn thương càng nặng nề Khi một phần cơ thể bị xoắn vặn, đầu tiên tổ chức bị kéo căng, sau đó đứt dây chằng, cơ, cân mạc, khi xoắn vặn kéo dài dẫn đến trật khớp xương và đứt mạch máu, mạch lympho, dây thần kinh trong khớp Nhờ có khả năng đàn hồi đặc biệt, da trong vùng xoắn vặn khi đó bị mỏng ra nhưng vẫn bảo tồn được tính liên tục của mình Trong hàng loạt những tổn thương như thế, chảy máu hầu như không quan sát được, ngay cả khi các mạch máu với kích thước đáng kể bị xoắn đứt, bởi vì, khi mạch quản bị xoắn vặn thì trước tiên nội mạch quản bị phá vỡ và lấp đầy bên trong lòng của nó, sau đó cuộn lại như cái nút, màng giữa và màng ngoài bị kéo giãn ra, xoắn lại có dạng hình nón rồi mới đứt rời, vì vậy các cấu trúc đó có thể lấp đầy lòng mạch nên có tác dụng ngăn chặn chảy máu
Khi lực cơ giới tác động đến cơ thể ở dạng sóng không khí (sức ép của vụ nổ) da
và niêm mạc thường không bị phá hủy, tổ chức bên dưới vùng tổn thương thường rất đáng kể, đôi khi lan tràn tất cả các cơ quan Phụ thuộc vào lực tác động của sóng không khí, những tế bào bị chấn động phân tử hay hoàn toàn bị hủy hoại, đôi khi các cấu trúc nhu mô bị vỡ từng phần hay hoàn toàn, cơ có thể bị tách ra, xương có thể bị gẫy
Chấn thương hỏa khí gây ra bởi năng lượng động lực va đập Các vật gây chấn thương có khả năng xuyên qua cơ thể động vật trong vòng 0,0001 - 0,001 giây, đồng thời gây ra sự hủy hoại nặng nề của cơ thể trên đường đi của nó Những chấn thương khác xuất hiện do tác động va đập của năng lượng động lực nhỏ, về cơ chế tác động đến
mô bào của cơ thể giống với cơ chế va đập của chấn thương hỏa khí
Cơ chế của chấn thương va đập có thể được diễn giải như sau:
Khi có tác động của sóng va đập đến bề mặt của cơ thể, sức ép lớn lập tức xuất hiện Cùng với nó là sự tác động ngay lập tức của vật gây chấn thương (gạch, đá, gậy gộc) hay đâm xuyên (đầu đạn, mảnh bom) vào mô bào và năng lượng động lực của chúng cũng được truyền đi đồng thời Áp lực sinh ra được truyền đi ở dạng sóng va đập tới mô bào, từ bề mặt đi sâu vào bên trong (lực va đập thẳng) và ra các phía (lực va đập bên) Từ đó, dao động dạng sóng được sinh ra, lan truyền với lực và tốc độ lớn theo trục dọc của vật gây chấn thương, đồng thời với lực và tốc độ nhỏ hơn ra các phía
Trang 20Sau khi tác động đến mô bào, vật gây thương tích mất dần năng lượng động lực Chuyển động dạng sóng được truyền cho các mô bào tạo thành một hình nón mà đáy của nó là mặt áp sát với chỗ tác động của vật gây thương tích Trong giới hạn của hình nón này, mô bào bị xáo trộn và ép giập từng phần
Trong vết thương hỏa khí, vận tốc lan tỏa của sóng va đập vào mô bào ước chừng bằng với tốc độ lan tỏa của âm thanh (343m/giây) Sau khi xuyên vào mô bào, vật gây thương tích (ví dụ viên đạn) gặp phải sự đề kháng của mô bào, sóng va đập bị đẩy ra các phía theo trục dọc đường đi của vật gây thương tích, do đó, phía sau vật gây thương tích hình thành xoang xung động hình nón nhất thời
Những phần của mô bào tạo nên thành của ống vết thương dao động một cách có nhịp điệu, làm tăng hay giảm kích thước của xoang vết thương Kích thước của xoang xung động là khác nhau, phụ thuộc vào độ chắc và tính đàn hồi của mô bào hình thành nên nó Sức đề kháng của đa số mô bào ở động vật (ngoại trừ xương và sụn) gần với sức
đề kháng của nước, vì nước chiếm phần lớn thể tích tế bào Chính vì thế, tác động va đập vào chúng tuân theo luật thủy động lực học của Paskal, theo đó thì sức ép vào dịch lỏng, chứa đựng trong bình kín được truyền ra tất cả các phía với một lực như nhau Những mô bào có sức đề kháng lớn hơn thì sức ép lên chúng khi bị chấn thương có lực (năng lượng động lực) bị giảm đi
Mức độ đề kháng của mô bào với chấn thương va đập được xác định bằng một loạt tính chất của nó, trong đó, độ chắc chiếm vị trí đầu tiên, tiếp theo là độ nhầy, tính đàn hồi, tính thấm nước, cấu trúc giải phẫu và mô học Những tính chất liệt kê trên đảm bảo cho mô bào khả năng giảm chấn động Sức đề kháng tối đa đối với năng lượng động lực va đập là những mô bào chắc (thực sự là những mô bào không bị ép lại), những cơ quan có cấu trúc xoang với vỏ bọc chắc chắn và chất chứa bên trong là dạng bán dịch (não bộ, được bảo vệ bởi hộp sọ)
Mô bào kém chắc và đàn hồi tốt thì sức đề kháng của chúng bị giảm Mô liên kết thưa và phổi có sức đề kháng thấp nhất Sức đề kháng của không khí khoảng thấp hơn
800 lần so với dịch lỏng, vì vậy, khi nằm trong các phế nang không khí đã làm giảm đáng kể sức đề kháng của phổi với chấn thương
Năng lượng phá hủy trong vết thương hỏa khí phụ thuộc vào: Khối lượng của vật gây thương tích, vận tốc của nó khi bắn ra và trạng thái sinh lý của mô bào Khối lượng, tốc độ của vật bắn ra càng lớn thì tác động hủy hoại mô bào càng nhiều Khối lượng và tốc độ bắn ra (của đầu đạn, mảnh bom) khi tác động va chạm đến mô bào có ý nghĩa rất lớn đối với mức độ tổn thương hỏa khí Với năng lượng động lực của va đập bình thường (không phải hỏa khí), khi vận tốc của vật gây thương tích không lớn thì chỉ khối lượng của nó là có ý nghĩa lớn
Mức độ nặng nề của sự hủy hoại khi bị thương còn phụ thuộc vào sự giảm chấn động, nghĩa là sự tiêu hao năng lượng động lực trong 1 đơn vị thời gian của viên đạn hay vật gây thương tích khác xuyên vào mô bào Mức độ tiêu hao năng lượng của vật gây thương tích tỷ lệ thuận với cường độ hủy hoại Nếu tốc độ ban đầu của viên đạn bắn
Trang 21ra khi đi vào mô bào là 1.000 m/giây, còn khi đi ra khỏi ống vết thương giảm xuống 500m/giây thì sự hủy hoại sẽ ít hơn so với khi bị tổn thương cũng bởi viên đạn như thế
mà vận tốc ban đầu của nó là 800 m/giây nhưng hoàn toàn mất tốc độ của mình khi đi qua mô bào, điều đó có thể làm nổ tung mô bào
Những thay đổi hình thái học xuất hiện trong cơ thể dưới ảnh hưởng của chấn thương va đập được gây ra bởi tác động của va đập thẳng và va đập bên Trong chấn thương hỏa khí, tác động gây tổn thương cho mô bào còn liên quan tới sự chống lại hay sức kháng cự của mô bào Bản chất cơ chế của sự chống lại liên quan với tác động của sóng va đập vào mô bào rắn chắc Khả năng lách qua của đầu đạn càng lớn thì sự phân tán năng lượng động lực càng yếu và ngược lại Vì vậy, năng lượng động lực của sự va đập thẳng hay va đập bên ở trong mối quan hệ ngược với nhau Lực của sự va đập bên được tăng lên khi độ chắc và tính nhầy của mô bào bị đâm thủng tăng lên Trong những điều kiện như thế, vật gây chấn thương mất năng lượng động lực vì nó truyền nguyên vẹn năng lượng động lực cho mô bào Những mô bào này diễn ra sự chuyển động nhịp điệu (chấn động phân tử) xuất hiện do sóng va đập bên và sóng kháng cự
Sự va đập bên thể hiện nhiều hơn ở mô bào dịch lỏng và không bị ép lại, tỉ lệ nghịch với mức độ đàn hồi của mô bào Trong những mô bào của cơ thể sự va đập bên được thể hiện ở dạng hiệu ứng nổ hay chấn động
Hiệu ứng nổ quan sát được chỉ ở trong vết thương hỏa khí và là dấu hiệu thể hiện
tối đa của sự va đập bên và sức kháng cự Khi đó tất cả khả năng xuyên qua của vật gây chấn thương không còn, nghĩa là năng lượng động lực của nó được trở về năng lượng của sóng va đập Năng lượng này (được tính bằng hàng trăm kilogram - met) ngay lập tức tác động đến mô bào Hiệu ứng nổ quan sát được nhiều nhất ở những cơ quan rỗng lấp đầy đến giới hạn chất chứa dạng dịch Trong mô cơ, hiệu ứng nổ xuất hiện khi có sự căng thẳng đột ngột của chúng Hiệu ứng nổ còn quan sát được khi những xương ngắn
bị tổn thương hỏa khí, chúng thường bị vỡ ra những mảnh nhỏ
Chấn động: Sự xáo trộn của mô bào tạo thành xoang vết thương xung động nhất thời do tác động của năng lượng sóng va đập gọi là chấn động (commotio) Chấn động
thường thể hiện mạnh hơn trong sọ não và xương sống, thể hiện yếu hơn ở trong cơ Tổn thương chấn động phân bố xung quanh vùng tác động thẳng của chấn thương va đập, tuy nhiên, đôi khi ở cả những cơ quan lân cận
Va đập thẳng, phụ thuộc vào độ lớn năng lượng động lực của vật gây chấn thương, có thể dẫn đến sự tách ra, vỡ ra, ép giập và nghiền nát những mô bào nằm trên đường đi của nó Vết thương xuất hiện trong đó luôn có dấu hiệu của sự dập thương ở mức độ nhiều hay ít
Những cấu trúc đàn hồi như da, mạch quản trong chấn thương va đập bị kéo căng
và lồi ra theo hướng của lực tác động Nếu lực tác động vượt quá sức đề kháng vật lý và sinh lý của tổ chức thì chúng sẽ bị vỡ, đứt ra Nhu mô của các cơ quan trong vùng của
va đập thẳng sẽ bị hủy hoại, còn những cấu trúc sợi (màng, cân mạc, mô liên kết) bị đứt hay dãn ra Phụ thuộc vào trạng thái của mô bào và cơ quan mà sự tổn thương của
Trang 22chúng sẽ rất khác nhau Những cấu trúc mô bào ít đàn hồi bị kéo căng (ví dụ: Dây thần kinh, sợi collagen bị kéo dài ra) Những cơ ngắn và cấu trúc nhu mô bị đứt và ép giập Những cấu trúc đàn hồi bị kéo căng (mạch quản, sợi chun) chịu được sức kéo đáng kể
và thường không bị đứt Dưới tác động của sóng va đập cân mạc và mô liên kết thưa có thể bị tách rời
Tác động cơ giới của những vật nhọn đặc trưng bằng sự tách ra của da, niêm mạc,
mô mềm và những cơ quan nằm dưới nó, trong đó, vùng tổn thương trực tiếp thường nhỏ hơn so với sự tác động bởi những vật tù, và không có vùng chấn động phân tử
1.4 PHẢN ỨNG CỦA CƠ THỂ VỚI CHẤN THƯƠNG
Khi cơ thể bị chấn thương, lập tức các lực lượng thích ứng phòng vệ được huy động, nhằm lập lại trật tự, duy trì sự hằng định của nội mô Tùy tính chất, mức độ của chấn thương mà cơ thể có những phản ứng khác nhau từ nhẹ đến nặng, từ đơn giản đến phức tạp, từ cục bộ đến toàn thân
1.4.1 Phản ứng của toàn thân đối với chấn thương
Phản ứng của toàn thân đối với chấn thương xuất hiện trong những trường hợp: Khi có lực tác động đáng kể của nhân tố gây chấn thương; khi tổn thương da với vùng rộng lớn (bỏng do nhiệt độ cao, đóng băng - do nhiệt độ môi trường quá lạnh); khi có sự hủy hoại mô mềm, xương - đặc biệt khi kết hợp tổn thương dây thần kinh và mạch máu lớn; khi có vết thương ở cơ quan nội tạng; khi bị tổn thương hở lồng ngực; khi các cơ quan nội tạng bị lòi ra ngoài vết thương ở xoang bụng; khi stress thần kinh với cường độ đáng kể hay bởi thời gian tác động kéo dài của những nhân tố là nguyên nhân gây ra stress Phản ứng toàn thân với chấn thương trong các trường hợp đều liên quan với phản ứng tại cục bộ
1.4.1.1 Trụy (Collapses)
Tim bất ngờ suy yếu, trương lực mạch quản giảm tức thì, gây ra sự giảm huyết áp động mạch đột ngột và tất cả các chức năng của hoạt động sống được gọi là Trụy hay Đột quỵ
Nguyên nhân xuất hiện trụy là do những tổn thương với sự chảy máu nhiều và đau
đớn mạnh Đôi khi, trụy là hậu quả của sự trúng độc cấp tính bởi những chất do sự phân hủy mô bào gây ra, hay do stress thần kinh (quá sợ hãi) và sự căng thẳng quá mức của cơ
Triệu chứng lâm sàng: Toàn thân suy yếu đột ngột, con vật nằm xuống; mạch
chậm - yếu - chỉ, hô hấp chậm và nông; niêm mạc nhợt nhạt, chuyển màu xanh, tím; thân nhiệt và phản ứng với những kích thích bên ngoài giảm, chân lạnh, cơ thể uể oải
Điều trị: Loại bỏ những nguyên nhân gây suy tim, áp dụng những biện pháp làm
bình thường hóa chức năng Khi bị chảy máu thì thắt garô, đặt tampon, thắt mạch quản
bị đứt bằng chỉ, tiêm tĩnh mạch bằng canxi clorid Để lấp đầy mạch quản, tăng huyết áp
Trang 23động mạch và cải thiện hoạt động của tim có thể tiêm tĩnh mạch bằng nước muối sinh lý kết hợp với glucose và vitamin C Tiếp máu phù hợp hay tiêm tĩnh mạch các dung dịch thay thế máu (polygliukin, reopolygliukin, hydrolyzat casein, gemodez, aminopeptid,…) cho kết quả tốt Trong những trường hợp nhiễm độc, tiêm tĩnh mạch dung dịch 40% hecxamethylentetramin với cafein natribenzoat Để kích thích hoạt động của tim và cải thiện tuần hoàn máu ngoại vi, tiêm dưới da cafein natribenzoat, dầu camphora, hay tiêm tĩnh mạch huyết thanh với camphora 2 lần/ngày (động vật nhỏ:
25 - 30ml, động vật lớn: 250 - 300ml) Đồng thời với việc sử dụng các loại thuốc nêu trên, cần xoa bóp cho động vật bằng rơm rạ khô, sưởi ấm bệnh súc bằng túi chườm, lò
sưởi hay những dụng cụ tạo nhiệt độ khác, sau đó ủ ấm cho chúng
1.4.1.2 Sốc (Shock)
a Khái niệm
Sốc là trạng thái toàn thân nặng nề của động vật, gây ra bởi những kích thích dữ dội với thời gian ngắn hay những kích thích yếu hơn nhưng kéo dài, dẫn đến sự ức chế sâu của hệ thống thần kinh trung ương và tất cả những chức năng khác của cơ thể
Khái niệm về sốc (theo tiếng Anh: shock là cú đánh, chấn động) đã được Bác sĩ người Pháp Le Dran đưa ra vào đầu thế kỷ XVIII, ông đã miêu tả những triệu chứng cơ bản của nó N.I Pirogov lần đầu tiên giới thiệu về sinh bệnh học của sốc và đề ra những biện pháp dự phòng, điều trị Sau ông, một số lượng lớn các lý thuyết cũng đã được giới thiệu; tuy nhiên, chưa hoàn toàn làm rõ sinh bệnh học của sốc
b Phân loại
- Căn cứ vào nguyên nhân, sốc được phân biệt: Sốc chấn thương xảy ra sau những chấn thương cơ giới bất ngờ, bỏng và những chấn thương khác Sốc phẫu thuật xuất
hiện trong hoặc sau phẫu thuật ngoại khoa, sản khoa được tiến hành có gây mê, gây tê
không đầy đủ hay không gây mê, gây tê Sốc truyền máu do máu được truyền không phù hợp, làm tan máu hay đông máu Sốc quá mẫn là kết quả cảm nhiễm sơ bộ của động
vật bởi protein lạ, độc tố của vi khuẩn và các hóa dược trị liệu khác
Trong các loại kể trên, sốc chấn thương hay gặp nhất
- Căn cứ vào thời gian xuất hiện có: Sốc nguyên phát (tiên phát) xuất hiện vào
thời điểm tác động của chấn thương hay trực tiếp ngay sau nó và kéo dài 1 vài phút đến
1 vài giờ Sốc thứ phát biểu hiện sau 1 vài giờ đến 1 vài ngày sau chấn thương, phẫu
thuật ngoại khoa, can thiệp sản khoa, do nhiễm độc hoặc chấn thương bổ sung hay gia tăng sự đau đớn sau khi các thuốc gây mê, gây tê ngừng tác động
Sốc nguyên phát đôi khi tiến triển theo 3 pha Pha thứ nhất là pha sốc cương đặc trưng bằng kích thích đột ngột, pha thứ 2 là âm ỉ (trơ lỳ) biểu hiện bằng ức chế sâu, pha thứ 3 là tê liệt dẫn đến kết cục là cái chết
Sốc chấn thương gặp ở chó, mèo, ngựa và lợn, đôi khi gặp ở gia súc có sừng Ở những động vật có hệ thống thần kinh dễ bị kích thích, sốc xuất hiện nhiều hơn; vì vậy, chỉ định gây mê, gây tê khi phẫu thuật những động vật này là bắt buộc
Trang 24c Căn bệnh học
Sốc có thể xuất hiện khi: Tổn thương vùng rộng lớn của mô mềm kết hợp với gãy xương; kẹt những dây thần kinh lớn; căng thẳng quá mức màng treo ruột khi thực hiện phẫu thuật ở các cơ quan trong xoang bụng; tràn khí màng phổi khi bị thương ở lồng ngực; đỡ đẻ thô bạo; bỏng do nhiệt độ cao - mức độ II, III, IV; chèn ép dây thần kinh quá chặt với thời gian kéo dài khi thắt garô ở chân bằng dây chun; đứt các cơ quan;
Sự phát triển của sốc có khả năng gây ra bởi: Động vật bị stress, hệ thống thần kinh bị tái kích thích trước đó, nhiễm trùng mủ kéo dài kèm theo hiện tượng hấp thu
mủ, mắc bệnh nặng trước khi bị chấn thương, nhiễm lạnh hay quá nóng, suy dinh dưỡng, chấn thương bổ sung, xương bị gẫy không được xử lý, cố định tốt, can thiệp điều trị thô bạo (chỉnh nắn khi gẫy xương, trật khớp, kiểm tra vết thương,…), mất nhiều máu, thừa hay thiếu vitamin A và B1, quá sợ hãi khi bị chấn thương
Động vật mới sinh mẫn cảm với sốc Sự kết hợp những nguyên nhân gây sốc với tác động tiếp theo của cảm giác đau đớn hay độc tố làm tăng rối loạn phản xạ thần kinh
và làm sốc nặng nề thêm Tổng hợp những kích thích nguyên phát và tiếp theo đối với những trung tâm thần kinh dẫn đến sốc thứ phát Dạng nặng của sốc nguyên phát hay thứ phát có thể kết thúc bằng cái chết
d Triệu chứng
- Pha sốc cương: Sốc cương phát triển tức thì ngay sau khi tổn thương và kéo dài
một vài giây đến một vài phút Nó thể hiện bằng sự hưng phấn đột ngột và mãnh liệt của bệnh súc Động vật phát ra tiếng kêu lớn, vùng vẫy, cố thoát khỏi sự cố định, mắt mở to, đồng tử và lỗ mũi dãn rộng, nhịp thở nhanh hơn, mạch nhanh, huyết áp tăng, vã mồ hôi
Ở dạng nhẹ, con vật tự vượt qua được sốc cương
- Pha sốc trơ lỳ: Trong trường hợp trung bình và đặc biệt ở dạng nặng, sốc cương
chuyển sang sốc trơ lỳ (âm ỷ) Pha này đặc trưng bằng sự ức chế đột ngột, giảm các phản xạ, trong khi đó tri giác vẫn được bảo tồn Tất cả các chức năng của cơ thể bị giảm thấp Hệ cơ trong trạng thái uể oải, động vật ngã hay nằm xuống bất động, không có phản ứng với các kích thích đau đớn, nhưng thính giác còn phản ứng yếu ớt Hô hấp nông và thưa, niêm mạc nhợt nhạt, mạch yếu và nhanh, huyết áp tụt Thân nhiệt giảm
1 - 2C Phân và nước tiểu bài tiết một cách tự do Máu dần đặc lại, khối lượng huyết tương giảm, số lượng hồng cầu trong 1 đơn vị thể tích máu tăng lên Chức năng của thận giảm, xuất hiện thiểu niệu và có khi vô niệu Tất cả trạng thái và chức năng khác của cơ thể cũng bị thay đổi
- Pha sốc tê liệt: Trong tiến trình thuận lợi và điều trị kịp thời, pha sốc trơ lỳ kết
thúc bằng sự hồi phục của động vật Những trường hợp nặng hơn dẫn đến pha sốc tê liệt
do sự suy kiệt các trung khu thần kinh và liệt trung ương Ở pha này, thân nhiệt giảm tới
2 - 3C, huyết áp tụt xuống rất thấp, mạch rất yếu Phản xạ và các phản ứng khác của động vật đối với kích thích bên ngoài không còn
Trang 25e Điều trị
Cần phải sử dụng các biện pháp điều trị tổng hợp hướng tới: Cắt bỏ nguồn gốc của các kích thích đau và bình thường hóa chức năng của hệ thống thần kinh, khôi phục
động lực máu, chống lại tình trạng nhiễm độc máu và rối loạn trao đổi chất
Trong pha sốc cương, cần loại bỏ nguyên nhân của những kích thích (chấn thương, phẫu thuật), cải thiện hoạt động của hệ thống tim mạch bằng cách tiêm cafein natribenzoat, camphora Đồng thời, ngăn cản sự phát triển của các kích thích lan tỏa vào
hệ thống thần kinh trung ương bằng cách ngừng tạm thời phẫu thuật và cẩn thận gây tê cục bộ vùng tổn thương
Trong trường hợp sổ ruột lúc bị thương, cần phải rửa ruột thật sạch bằng các dung dịch sát trùng, lần cuối cùng rửa bằng nước muối sinh lý, đưa ruột vào trong xoang bụng, khâu phúc mạc lại cẩn thận Tiếp theo, đưa vào xoang bụng dung dịch novocain 0,25% kết hợp với một loại kháng sinh nào đó (kanamycin, gentamycin,…) và đặt dẫn lưu ống, sau đó khâu vết thương lại
Để ngăn cản và cắt sốc khi gẫy xương, tiêm vào vùng có xương gẫy novocain
2 - 3% pha trong cồn etylic 30% Giải phóng dây thần kinh bị kẹt bởi các mỏm xương gẫy, sau đó băng cố định lại
Sau khi đã thực hiện các can thiệp nêu trên, tiêm tĩnh mạch cho động vật dung dịch natri bromua 10% (động vật lớn 100 - 150ml, động vật nhỏ 15 - 20ml) và liều cafein natribenzoat thích hợp
Tiếp theo, tiêm chậm vào tĩnh mạch dung dịch chống sốc Thành phần dung dịch chống sốc gồm: Novocain 0,125 - 200ml; promedol 2% - 1ml; dimedrol 2% - 1ml; prednisolon - 30ml; rictomycin - 1 triệu UI Tiêm tĩnh mạch với liều 1 - 1,5 ml/kgTT Cuối lúc tiêm phải sưởi ấm cho động vật
Truyền máu cùng loài: Động vật lớn 1.500 - 2.000ml, động vật nhỏ 50 - 100ml
Để cắt các cơn co thắt mạch quản xuất hiện khi bị sốc, tiêm tĩnh mạch phenlotamin (động vật lớn 0,03g, động vật nhỏ 0,001g), hòa tan vào trong 1ml nước cất
Nếu chảy máu từ những động mạch nhỏ khi sốc phẫu thuật, tiêm dưới da dung dịch ephedrin 5% (động vật lớn 5 - 8ml, động vật nhỏ 0,1 - 0,2ml)
g Dự phòng sốc
Không để xảy ra những chấn thương cơ giới và những chấn thương khác, cắt sự cảm ứng của cơ thể bằng thuốc mê, tê trước khi phẫu thuật hay sau khi bị một tổn thương nặng ngẫu nhiên Cầm máu sớm khi tổn thương có chảy nhiều máu Loại bỏ vật gây thương tích, mô bào chết, mẩu xương vỡ đè ép dây thần kinh Cố định các đầu xương gẫy Đóng cẩn thận vết thương ở xoang ngực Loại bỏ sự nhiễm độc có nguồn
gốc chấn thương hay nguồn gốc khác
Trang 261.4.2 Phản ứng cục bộ đối với chấn thương
1.4.2.1 Viêm (Inflammatio)
a Khái niệm
Viêm là phản ứng thích ứng phòng vệ của cơ thể động vật bậc cao nhằm đáp trả các tổn thương gây ra dưới tác động của các nhân tố gây chấn thương: cơ giới, vật lý, hóa học và sinh vật học
Viêm là cơ sở sinh bệnh học của nhiều bệnh khác nhau, ngoại trừ những bệnh về
di truyền và trao đổi chất Vì vậy, việc xem xét từ góc độ lâm sàng, sinh học của quá trình viêm, các pha và các giai đoạn phát triển của nó cho phép nắm vững, hiểu rõ ràng hơn cơ sở sinh bệnh học của những bệnh ngoại khoa và những bệnh khác
Khi phản ứng viêm xảy ra trong cơ thể, nó mang tính hai mặt: tốt và xấu Một mặt
là phản ứng thích ứng phòng vệ của cơ thể để chống lại những yếu tố bất lợi của môi trường bên ngoài, đó là mặt tốt Nhờ đó mà cơ thể động vật có thể đối phó được những tác động có hại từ môi trường bên ngoài và cả những nhân tố có hại xuất hiện trong cơ thể của chúng Mặt khác, trong quá trình viêm xảy ra hàng loạt những biến đổi lý, hóa, sinh là trở ngại lớn cho cơ thể, đó chính là mặt xấu
Viêm thực chất là phản ứng của toàn thân nhưng thường biểu hiện chính tại cục
bộ Viêm ở mức độ nặng hay nhẹ, tiến triển tốt hay xấu liên quan tới tính chất, cường
độ, thời gian kích thích của nguyên nhân gây viêm, nhưng quan trọng hơn cả là năng lực phản ứng của cơ thể - đặc biệt là trạng thái chức năng của hệ thần kinh trung ương Trong cùng một hoàn cảnh, cùng một nguyên nhân tác động, cùng một mức độ kích thích, nhưng với cơ thể này có phản ứng viêm nặng, còn với cơ thể khác viêm nhẹ hơn hoặc hoàn toàn không có biểu hiện viêm
có nhiều hồng cầu gọi là viêm xuất huyết Tinh dầu thông và một số chất hóa học khác
có thể gây ra viêm mủ vô trùng
+ Viêm nhiễm trùng xuất hiện khi có sự xâm nhập vào mô bào động vật những tác nhân gây bệnh là vi sinh vật, diễn ra chủ yếu là cấp tính và nặng hơn viêm vô trùng Trong một vài loại nhiễm trùng và tổn thương nấm, nó tiến triển á cấp tính và mạn tính Nhiễm trùng vi khuẩn hiếu khí gây ra viêm hóa mủ là đặc trưng Dưới tác động của những vi khuẩn yếm khí tùy tiện thì phát triển viêm thối rữa Nhiễm trùng yếm khí gây
ra viêm hoại thư sinh hơi hay nhiễm trùng đặc biệt như uốn ván
- Căn cứ theo thời gian tiến triển của ổ viêm, chia ra: viêm quá cấp tính, viêm cấp
tính, viêm á cấp tính và viêm mạn tính
Trang 27+ Viêm quá cấp tính: Quá trình viêm xảy ra rất nhanh, từ một vài giờ đến một vài ngày, với các phản ứng mãnh liệt Thể viêm này thường do những kích thích quá mạnh gây ra Con bệnh có thể chết khi chưa có các triệu chứng rõ rệt
+ Viêm cấp tính: Quá trình viêm tiến triển từ một vài ngày đến một vài tuần Các triệu chứng viêm thể hiện điển hình (sưng, nóng, đỏ, đau và trở ngại cơ năng) Tại cục
bộ, phản ứng sung huyết và phù viêm thể hiện mạnh Nhiều tế bào tự do xâm nhập vào
ổ viêm, trong đó chiếm ưu thế là bạch cầu đa nhân trung tính Toàn thân có những rối loạn điều hòa thân nhiệt (sốt cao), rối loạn thần kinh (hưng phấn hoặc ức chế), rối loạn hoạt động tim mạch, hô hấp, tiêu hóa Thể viêm này nếu được điều trị tích cực sẽ có kết cục thuận lợi Ngược lại có thể chuyển thành viêm á cấp tính, hoặc quá trình viêm kéo dài hơn nữa (mạn tính)
+ Viêm á cấp tính: Quá trình viêm tiến triển chậm, thời gian kéo dài 2 - 3 tuần Những phản ứng sung huyết và phù viêm xảy ra yếu hơn Thành phần tế bào đi vào ổ viêm cũng thay đổi, ngoài bạch cầu đa nhân trung tính còn có các tế bào đơn nhân (lympho bào, tương bào, đại thực bào), đôi khi thể hiện phản ứng bù của cơ thể (tạo xơ
và sinh huyết quản) Ở thể viêm này, nếu sức đề kháng của cơ thể mạnh lên thì quá trình viêm có thể chuyển thành cấp tính, điều trị thuận lợi hơn; nếu sức đề kháng của cơ thể yếu đi, viêm chuyển thành mạn tính, điều trị khó khăn hơn
+ Viêm mạn tính: Quá trình viêm diễn ra chậm, thời gian kéo dài từ 3 tuần trở lên,
có khi hàng tháng, hàng năm Các triệu chứng viêm thể hiện không điển hình hoặc không đầy đủ, khi thì biểu hiện rõ ràng, khi thì mờ nhạt Phản ứng sung huyết, phù viêm
và sự hủy hoại mô bào xảy ra yếu ớt, chủ yếu là sự tăng sinh mô bào Thành phần tế bào
tự do không phải là bạch cầu đa nhân trung tính mà là tế bào đơn nhân chiếm ưu thế (lympho bào, tương bào, đại thực bào) Thể viêm này gặp trong những trường hợp có sự cân bằng giữa sức đề kháng của cơ thể và yếu tố gây bệnh, cũng có khi là do ngoại vật hay mô bào bị hoại tử - hóa mủ tồn tại lâu trong cơ quan nào đó mà không bị tiêu hủy
- Căn cứ vào cường độ biểu hiện của những quá trình xảy ra trong ổ viêm: Viêm
là quá trình thích ứng phòng vệ hai pha thống nhất, gồm hai hợp phần cơ bản liên quan với nhau: hủy hoại và hồi phục tái sinh Nó có thể xảy ra với ưu thế của hiện tượng loạn dưỡng thần kinh (hủy hoại), hay thích ứng bù (hồi phục) Trên cơ sở đó, phân biệt: Viêm bình thường, viêm tăng cảm ứng và viêm giảm cảm ứng
+ Viêm bình thường đặc trưng bằng phản ứng đáp trả tương đương của cơ thể đối với những tác động gây tổn thương: cơ giới, vật lý, hóa học hay sinh vật học Dưới tác động của nó xảy ra sự trung hòa, kìm hãm hay tiêu diệt hoàn toàn những nhân tố có hại, bài tiết, tiêu tan hay cô lập (nang hóa) các ngoại vật rơi vào mô bào của động vật Loại viêm này thường hồi phục tốt
Ở thể viêm này, những hiện tượng tái sinh chiếm ưu thế, còn những hiện tượng hủy hoại như hóa lỏng những mô bào chết bởi những men thường không mạnh Hàng rào hạt và tế bào hoàn chỉnh (thành thục) hình thành một cách có giá trị sinh học, hệ men hoạt động giới hạn trong vùng mô bào tổn thương Sự viêm mủ bình thường chứng
Trang 28tỏ sự kìm hãm nhân tố gây nhiễm trùng và hình thành áp xe lành tính Quá trình viêm này, như thường lệ không đòi hỏi những can thiệp điều trị phức tạp
+ Viêm tăng cảm ứng xuất hiện khi chức năng thích ứng dinh dưỡng của hệ thống thần kinh bị hủy hoại, khi cơ thể ở trạng thái quá mẫn và khi có một khối lượng lớn mô bào chết, nó thường xuất hiện trong viêm nhiễm trùng và tiến triển quá cấp tính Trong
ổ viêm, những hiện tượng rối loạn (quá trình hoại tử, phân hủy mô bào) chiếm ưu thế so với hồi phục tái sinh Viêm tăng cảm ứng cùng với các nhân tố có hại còn kéo theo hoại
tử mô bào rộng lớn, cản trở hình thành hàng rào hạt, làm cho hàng rào này không đủ giá trị về mặt sinh học Do đó, những sản phẩm độc của sự phân hủy mô bào, vi khuẩn và độc tố được hấp thu vào máu, lympho, dẫn đến nhiễm độc nặng nề và phát tán mầm bệnh Điều này kèm theo sự đau đớn và phù nề nghiêm trọng, nhiễm axit cục bộ
Những kích thích quá mạnh xuất phát từ ổ viêm gây tái kích thích các trung tâm thần kinh, làm xấu đi sự dinh dưỡng và vai trò bảo vệ của quá trình viêm, tạo điều kiện phát triển những hiện tượng loạn dưỡng thần kinh Do đó, những quá trình hoại tử, thoái hóa tiếp tục phát sinh ở các mô bào không tổn thương và tiến triển nhanh chóng Để điều trị, cần cắt các kích thích mạnh, loại bỏ mô bào chết, đảm bảo dòng chảy tự do cho dịch rỉ và kìm hãm tác nhân nhiễm trùng để tạo điều kiện bình thường hoá sự dinh dưỡng, loại bỏ hiện tượng loạn dưỡng thần kinh để bình thường hóa quá trình viêm + Viêm giảm cảm ứng: Thể viêm này đặc trưng bằng phản ứng yếu của cơ thể so với tác động gây hại của nhân tố gây tổn thương Phản ứng viêm này có thể xảy ra do sự suy kiệt lực lượng phòng vệ của cơ thể do những bệnh trước đó, sự quá sức sinh lý, đói hay hệ thần kinh cao cấp bị suy kiệt Sự thiếu hụt hay không có phản ứng viêm tạo khả năng phát triển nhiễm trùng tăng tiến; đôi khi tiến triển nặng nề, phát tán nhanh
Thể viêm này thường gặp trong nhiễm trùng yếm khí và trong tổn thương phóng
xạ ion hóa Khi điều trị cần phải bình thường hóa phản ứng viêm bằng con đường nâng cao sức đề kháng của cơ thể, đồng thời sử dụng các biện pháp hướng tới kìm hãm và thanh toán nhân tố gây chấn thương
c Những pha của viêm
Tiến triển 2 pha là đặc trưng của viêm, mỗi pha có những thay đổi lâm sàng, hình thái và lý - hóa - sinh cục bộ xác định
- Pha thứ nhất được tiến triển trên nền thấm nước (hydrat hóa) và đặc trưng bằng
những hiện tượng hủy hoại, thể hiện rõ nhất trong viêm nhiễm trùng Sự điều khiển dinh dưỡng từ các trung tâm thần kinh càng bị rối loạn bao nhiêu thì những quá trình hủy hoại loạn dưỡng thần kinh trong vùng viêm càng thể hiện mạnh bấy nhiêu Điều đó dẫn đến sự rối loạn tuần hoàn máu và lympho, giảm trương lực mạch, dịch rỉ viêm nhiều, sự thấm nhiễm tế bào, sự thực bào, sự tiêu mô bào và những rối loạn lý - hóa - sinh
Những vấn đề nêu trên, trong thể viêm bình thường hướng tới sự khu trú, trung hòa, kìm hãm và thanh toán nhân tố gây nhiễm trùng và những nhân tố gây bệnh khác,
sự tiêu hủy những mô bào không có khả năng sống bởi men và hình thành hàng rào hạt
có giá trị về mặt sinh học
Trang 29Trong quá trình viêm tăng cảm ứng, những hiện tượng miêu tả trên có đặc điểm
dữ dội, ác liệt ảnh hưởng đến dinh dưỡng của mô bào khỏe mạnh giáp biên, do đó, làm ảnh hưởng xấu đến tuần hoàn máu, phản ứng thực bào giảm thấp, hàng rào tế bào hình thành chậm hay bị kìm hãm tạo điều kiện cho tác nhân nhiễm trùng lan tỏa và mở rộng vùng hoại tử tiên phát
Trong viêm vô trùng, pha đầu tiên được đặc trưng bằng sự rối loạn dinh dưỡng, rối loạn tuần hoàn máu và lympho thể hiện ít hơn Trong thể viêm này, mức độ nhiễm axit tế bào thường nhẹ và cơ thể có thể tự điều chỉnh quá trình tiêu hủy mô bào bởi các các men Quá trình hủy hoại mô bào ở mức vừa phải và sự hồi phục tái sinh chiếm ưu thế so với sự hủy hoại Pha này của viêm vô trùng khác với viêm nhiễm trùng, nó chuyển sang pha thứ hai một cách tương đối nhanh
Những nét đặc biệt của loài ở pha thứ nhất của viêm:
Ở ngựa và chó, trong viêm vô trùng, thanh dịch chiếm ưu thế, còn trong viêm nhiễm trùng thì dịch rỉ viêm là thanh dịch - mủ với sự phân giải protein thể hiện rõ (phân hủy mô bào chết)
Ở gia súc có sừng, cừu và lợn, viêm vô trùng thường có dịch rỉ viêm là thanh dịch
- fibrin, còn trong viêm nhiễm trùng, dịch rỉ viêm là fibrin - mủ Mô bào chết được giữ lại trong ổ viêm mủ với thời gian lâu hơn, dẫn đến xương mục hóa mô bào chết, còn quá trình phân hủy mủ - men thì thể hiện yếu hơn; do đó, mô bào chết có thể nảy mầm mô liên kết và nang hóa
Ở động vật gặm nhấm và chim, dịch rỉ fibrin chiếm ưu thế mạnh, có sự biến đổi những cục fibrin thành khối fibrin - mô bào Trong tổn thương hở, nó biến thành vảy Cuối cùng, các tổ chức vảy biến đổi và có đặc điểm như xương bị mục Các phản ứng viêm được giới hạn và hình thành hàng rào hạt trong vùng tổ chức giống như xương mục này
Việc lựa chọn thuốc và điều trị khi viêm mủ cần được tiến hành dựa trên đặc điểm khác nhau ở các loài như đã trình bày ở trên
- Pha thứ hai của quá trình viêm có đặc trưng là quá trình tái sinh tiến triển trên
nền mất nước của vùng viêm Trong pha này, sự rào hóa được hình thành và dẫn đến giới hạn hoàn toàn của vùng tổn thương hay ổ nhiễm trùng
Cơ thể có thể đồng thời hấp thu và bài tiết các sản phẩm của sự tan rã mô bào và của các vật lạ như vi khuẩn Sau đó, quá trình tái sinh bắt đầu diễn ra trên nền giảm triệu chứng lâm sàng của viêm, sự bình thường hóa của các chức năng và của những biến đổi
lý - hóa - sinh xuất hiện trong pha đầu tiên của viêm
Dần dần, dinh dưỡng và trao đổi chất được hồi phục, tuần hoàn máu và lympho tốt hơn, khối lượng những sản phẩm axit không no ít đi, sự nhiễm axit giảm xuống, phản ứng đại thực bào chiếm ưu thế Những tế bào biểu mô và những thành phần của
mô liên kết phát triển với khối lượng lớn vào ổ viêm; vì vậy, trong vùng viêm xuất hiện
sự tăng sinh ở mức độ nhiều hay ít
Trang 30d Những giai đoạn của viêm
Mỗi pha của quá trình viêm bao gồm những giai đoạn liên quan và ảnh hưởng lẫn nhau Việc chia quá trình viêm thống nhất ra các pha, các giai đoạn tới mức độ rõ ràng chỉ là ước lệ Tuy nhiên, nó có căn cứ bởi tính cần thiết của thực tiễn: Khi tiến hành điều trị cần nắm được những nét đặc biệt về lâm sàng và sinh bệnh học đặc trưng đối với mỗi pha của quá trình viêm
Pha đầu tiên của quá trình viêm vô trùng cấp tính bao gồm 2 giai đoạn: Phù viêm, Thấm nhiễm tế bào và thực bào, giai đoạn Thấm nhiễm tế bào và thực bào đôi khi thể hiện yếu ớt Trong viêm mủ cấp tính, 2 giai đoạn nói trên thể hiện rõ rệt và liên hệ chặt chẽ với giai đoạn rào hóa (áp xe hóa)
Pha thứ hai của viêm vô trùng cũng thể hiện 2 giai đoạn: Làm sạch sinh học (Tiêu hút - hấp thu) và Tái sinh - sẹo hóa Pha thứ 2 của viêm nhiễm mủ cấp tính bao gồm 3 giai đoạn: Áp xe chín và tiếp theo cũng là Làm sạch sinh học và Tái sinh - sẹo hóa Những giai đoạn kể trên được thể hiện rõ trong viêm nhiễm trùng mủ cấp tính, chúng được mô tả dưới đây:
- Giai đoạn phù viêm
Giai đoạn này được thể hiện bằng nhiệt độ cục bộ tăng cao Trong viêm mủ cấp tính thân nhiệt cũng có thể tăng Động vật đau, trong ổ viêm có sự thấm nhiễm thanh dịch của mô bào Khi ấn đầu ngón tay vào dễ tạo thành vết lõm Vết lõm hồi phục tương đối nhanh chóng sau khi không ấn tay nữa
Giai đoạn này bao gồm: Sự cố định, hóa nước, trung hòa và kìm hãm tác nhân gây hại (tác nhân nhiễm trùng) bởi men và kháng thể có trong dịch rỉ viêm Những thay đổi
lý - hóa - sinh đầu tiên xuất hiện trong giai đoạn này không bền vững Sự điều khiển dinh dưỡng và thể dịch của quá trình viêm không có sự chuyển biến sinh bệnh học đột ngột Những hormon của tuyến yên (somatotropin - kích tố sinh dưỡng, thyreotropin - kích giáp trạng) và hormon của vỏ tuyến thượng thận (cortisol)) bắt đầu được hấp thu vào máu Số lượng và hoạt tính của acetylcholin, adrenalin, histamin, độc tố bạch cầu menkin và những chất hoạt động sinh lý khác trong vùng viêm tăng cao, số lượng bạch cầu trong máu lưu thông cũng tăng cao
Những biến đổi lý - hóa - sinh quan sát được trong vùng viêm mang tính khả hồi, bởi vì, trong cơ thể không xuất hiện những sự rối loạn sâu sắc về dinh dưỡng, về tuần hoàn máu và lympho cũng như về trao đổi chất và nhiễm axit bất bù cục bộ Nếu không
áp dụng kịp thời những biện pháp để kìm hãm tác nhân nhiễm trùng, để bình thường hóa sự rối loạn chuyển hóa thì giai đoạn này sẽ dẫn đến giai đoạn tiếp theo
- Giai đoạn Thấm nhiễm tế bào và thực bào
Giai đoạn này có đặc điểm là tiếp tục sự cố định, trung hòa nhân tố có hại và kìm hãm chúng cùng với sự hình thành hàng rào tế bào đầu tiên Trên lâm sàng, giai đoạn này thể hiện bằng sự thấm nhiễm tế bào rõ rệt của mô bào cục bộ, sự lèn chặt vùng trung tâm của ổ viêm Khi chúng ta ấn đầu ngón tay vào khó tạo thành vết lõm và sự hồi
Trang 31phục của vết lõm tạo thành cũng chậm hơn Toàn thân bị ức chế, nhiệt độ cục bộ và toàn thân tăng cao một cách đáng kể Khi đó, trong ổ viêm phát triển sự thực bào tích cực,
tiêu thực khuẩn (phagolysis) và tăng cường sự hoạt động của men; xuất hiện triệu chứng
sốt hấp thu mủ, gây ra bởi sự hấp thu các sản phẩm độc vào máu
Cân bằng toan kiềm bị rối loạn, sự nhiễm axit cục bộ tăng cao và bắt đầu có đặc điểm mất bù Đồng thời, áp suất thẩm thấu cũng tăng lên, đạt tới 19 atm và hơn nữa (bình thường 7,5 atm), mối tương quan của những chất điện giải cũng thay đổi (khối lượng kali tăng lên) Những chất có hoạt tính sinh học được tích lũy với khối lượng lớn chủ yếu là axit nucleic, histamin, leicotoxin, necrosin
Trong ổ viêm, những sản phẩm độc có nguồn gốc mô bào và vi khuẩn được tạo thành Vì vậy, trong trung tâm của ổ viêm những hiện tượng loạn dưỡng thần kinh được
mở rộng, còn ở ranh giới của những mô bào không tổn thương thì hàng rào tế bào tiên phát được hình thành, quá trình thực bào cũng phát triển Sự chuyển động của bạch cầu hướng tới cơ chất chết và vi khuẩn chỉ có thể được thực hiện khi có mặt các chất điện giải Sự đẳng trương sẽ kìm hãm hay làm ngừng hoàn toàn sự chuyển động của chúng Phản ứng thực bào được hoạt hóa trong sự axit hóa vừa phải của môi trường mô bào và
bị kìm hãm hay ngừng hẳn khi quá nhiễm axit thể hiện rõ
Những biến đổi lý - hóa - sinh miêu tả trên và những loạn dưỡng thần kinh diễn ra trong giai đoạn này có tính bền vững ít hay nhiều; vì vậy, chúng có tính khó khả hồi hay không khả hồi dưới tác động của những chất điều trị căn bệnh học và sinh bệnh học (novocain, kháng sinh, )
- Giai đoạn Rào hóa (Áp xe hóa)
Giai đoạn này có đặc trưng lâm sàng là gia tăng sự lè chặt, đôi khi sưng phồng hình bán cầu với những phần mềm (nơi những bọc mủ nhỏ hình thành), phản ứng đau tăng và xuất hiện sốt hấp thu mủ Giai đoạn này chủ yếu hướng tới cố định, kìm hãm và tiêu diệt vi khuẩn, tăng cường sự phân hủy những mô bào tổn thương nhờ men và sự tạo thành mô hạt Tuy nhiên, trong tiến triển tăng cảm ứng của viêm, sự hình thành hàng rào tế bào và hạt bị cản trở, sự phân giải bởi men trầm trọng hơn ở mô bào tổn thương
và ở cả các mô bào khỏe bao quanh ổ viêm Do đó, nhiễm trùng dễ “vỡ” vào những mô bào khỏe mạnh và hình thành những ổ nhiễm trùng thứ phát Trong những trường hợp như thế, quá trình nhiễm trùng cục bộ có đặc điểm của phlegmone
Tiếp theo, hệ thống điều khiển thần kinh - thể dịch bị xấu đi, gây ra rối loạn dinh dưỡng, rối loạn tuần hoàn máu - lympho cục bộ; đặc biệt, tại trung tâm của ổ viêm, máu hoàn toàn không được cung cấp, sự nhiễm axit có đặc điểm mất bù Do đó, những thành phần mô bào ở trung tâm ổ viêm thường bị chết Ngoài ra, tại đó hình thành điều kiện thuận lợi cho sự biến đổi bởi men những mô bào và tác nhân nhiễm trùng bị chết thành trạng thái lỏng - dịch mủ Ở xung quanh vùng bị phù, tuần hoàn máu được tăng cường
và rối loạn trao đổi chất ít hơn nên biến đổi lý - hóa - sinh ở mức độ vừa phải, tình trạng nhiễm axit ở mức bù được (pH: 6,7 - 6,9), thực bào được hoạt hóa và hàng rào hạt được hình thành trên cơ sở của hàng rào tế bào
Trang 32Theo mức độ hóa nước của mô bào chết, những ổ mủ nhỏ được hợp lại, dần dần thành xoang mủ lớn; trong đó hàng rào hạt có giá trị sinh học được hình thành
- Giai đoạn áp xe chín: Trong giai đoạn này, những mô bào chết được hóa nước hoàn toàn hoặc hầu như hoàn toàn, xoang mủ và hàng rào hạt được hình thành, nhân tố nhiễm trùng bị kìm hãm Ở những áp xe nông, những triệu chứng lâm sàng cơ bản của giai đoạn này là sưng phồng hình bán cầu, khi ấn tay vào thấy “ba động”, những dấu hiệu của sốt hấp thu mủ giảm đáng kể, tình trạng sức khỏe của động vật bắt đầu tốt hơn
Ở giai đoạn này, phương pháp điều trị cơ bản là mở ổ mủ
- Giai đoạn Làm sạch sinh học (Tiêu hút - hấp thu): Áp xe chín thường vỡ ra ngoài, những ổ áp xe sâu nằm gần những xoang giải phẫu (xoang ngực, xoang bụng, xoang khớp) có thể vỡ mủ vào các xoang này và gây ra những biến chứng nặng nề Áp
xe hình thành ở những khí quan rỗng (thực quản, dạ dày, ruột,…) thường vỡ vào lòng khí quan (kết cục thuận lợi) Những ổ mủ nhỏ có thể được hấp thu hay nang hóa
- Giai đoạn Tái sinh - sẹo hóa: Giai đoạn này đặc trưng bằng sự lấp đầy xoang mủ bằng mô liên kết, rồi biến thành sẹo Vùng hoại tử, xoang mủ hay phlegmone càng rộng thì sẹo càng được hình thành lớn hơn Trong vùng trung tâm, sẹo lèn chặt cứng hơn, còn
ở những vùng ngoại vi nó dần dần xốp hơn; tuy nhiên, quá trình xốp hóa ở những sẹo lớn là không hoàn toàn Vì vậy, những sẹo lớn đôi khi gây khó khăn do cản trở hoặc làm rối loạn hoàn toàn chức năng của cơ quan tương ứng Để ngăn cản sự phát triển của những sẹo lớn, làm xốp và bé chúng lại cần thiết phải áp dụng các biện pháp vận động
điều độ, những liệu pháp nóng, mô liệu pháp, chất gây sốt (pirogenal) và những chất
1.4.2.2 Phù (Oedema)
Phù chấn thương xuất hiện khi có những tổn thương của mô bào, mạch quản, mạch lympho, thần kinh, xương, khớp xuất hiện nhiều hay ít trực tiếp ngay sau khi bị tác động của những chấn thương cơ giới, nhiệt độ vào cơ thể; trên nền đó phù chấn thương xuất hiện Theo mức độ phát triển pha thứ nhất của phản ứng viêm, những đám thấm nhiễm tế bào được hình thành, chúng phân biệt với nhau bởi thành phần tế bào và những triệu chứng lâm sàng Vào pha thứ hai của viêm, những hiện tượng tăng sinh thể hiện rõ rệt Mỗi triệu chứng lâm sàng đã được liệt kê của phản ứng viêm có ý nghĩa quan trọng trong chẩn đoán và tiên lượng bệnh
a Phù chấn thương
Những mô bào thấm đẫm dịch thẩm xuất dẫn đến sự trương nở các thể colloid của
mô bào bị tổn thương Ở những mô bào bị tổn thương, tính thấm của màng mô bào tăng
Trang 33lên, các mao quản giãn rộng, tăng tính hút nước (của các thể colloid) và sự thủy phân
mô bào chết dưới tác động của những men thủy phân nội bào Điều đó làm tăng áp suất thẩm thấu, làm một lượng lớn dịch từ máu đi vào mô bào, đè ép tất cả lưới mao quản và gây ra thiếu máu Trên nền đó, phù chấn thương tăng cường, bắt đầu thể hiện rõ 10 - 15 phút sau chấn thương và có thể đạt tới những kích thước đáng kể Ở ngựa và chó, phù chấn thương hình thành nhanh hơn và lớn hơn so với ở gia súc có sừng, thể hiện rõ hơn
ở những nơi có nhiều mô liên kết thưa
Mô bào bị tổn thương mạnh hơn thì phù càng nặng hơn Theo mức độ, sự phát triển của phù chấn thương có thể lan tỏa đến tận những mô bào không bị tổn thương Theo thành phần, dịch phù tương tự dịch thẩm xuất, nó không tự đông được và có phản ứng kiềm, chứa đựng protein không quá 3%, mối tương quan giữa albumin và globulin
là 2,5/2, tỷ trọng dao động từ 1,007 - 1,003
- Những biểu hiện lâm sàng: Phù chấn thương đặc trưng bằng sự sưng lan tỏa dạng bột nhão, ranh giới với mô bào khỏe mạnh không rõ rệt, khi ấn ngón tay vào dễ dàng tạo thành vết lõm, sau 2 - 3 phút mới bằng phẳng trở lại Nhiệt độ của da trong vùng phù thấp hơn một chút so với phần da khỏe mạnh lân cận, thân nhiệt không tăng hay tăng không đáng kể Da của những vùng không sắc tố có sắc thái xanh nhợt Khi có
sự xâm nhập của vi khuẩn vào vùng phù viêm sẽ phát triển quá trình viêm mủ cục bộ
- Điều trị: Bôi cồn iod 5% vào vùng phù chấn thương, phong bế thần kinh bằng novocain kết hợp với hydrocortizon và kháng sinh Băng ép vừa phải bằng băng vô trùng lạnh với dung dịch axit boric 2%, tiếp tục tưới dung dịch đó vào chỗ băng sau mỗi 1,5 - 2 giờ, trong vòng 12 - 24 giờ đầu sau chấn thương Sau đó sử dụng liệu pháp nóng: Đắp những miếng gạc nóng, chườm túi đựng cát nóng, đắp lá cây ngải cứu sao nóng Nếu không có biểu hiện nhiễm trùng, tiến hành xoa bóp với mỡ có tác dụng hấp thu hay các chế phẩm kích thích tiêu viêm
b Phù do thần kinh
Dạng phù này thường xuất hiện do liệt chân, đôi khi sau khi phẫu thuật thần kinh; triệu chứng lâm sàng tương tự như phù chấn thương, mang đặc điểm cứng chắc Theo mức độ của sự hồi phục tính dẫn truyền thần kinh, hiện tượng phù dần được hấp thu Điều trị phù thần kinh phải đạt tới sự hồi phục tính dẫn truyền thần kinh bị rối loạn
c Phù lạnh hay phù ứ đọng
Phù lạnh xuất hiện do dòng chảy của máu và lympho bị khó khăn, thường do sự hoạt động yếu của tim - mạch, bệnh thận, nửa sau của thời gian mang thai, thiếu vận động, rối loạn trao đổi protid và muối khoáng, sự chèn ép tĩnh mạch và mạch lympho bởi những sẹo lớn, viêm nghẽn tĩnh mạch cổ và những tĩnh mạch lớn khác Phù ứ đọng
có dạng bột nhão, lạnh và không đau, thường ở những phần xa của chân, vùng dưới ngực, dưới bụng và những cơ quan sinh dục Trong tiến triển mạn tính của phù ứ đọng
và những phù khác, những thành phần mô liên kết tăng sinh rồi biến mô liên kết thưa thành sẹo có thể dẫn đến tình trạng da voi
Trang 34d Phù viêm
Sự thấm đẫm thanh dịch của mô bào được phát triển trên nền sung huyết chủ động; đặc trưng bằng sự sưng phồng sợi chun, sợi collagen và tế bào của mô bào bị tổn thương Phù viêm vô trùng và phù viêm nhiễm trùng có sự khác biệt
Trong phù viêm vô trùng, dịch rỉ viêm chủ yếu là thanh dịch, trong suốt, màu vàng nhạt, phản ứng axit, hàm lượng protid 3 - 6%, albumin gần 3%; đôi khi chứa đựng
số lượng lớn bạch cầu và hồng cầu và sợi fibrin, có tỷ trọng trung bình 1,022 Phù mạn tính có thêm các nguyên bào xơ Trong dịch rỉ của phù viêm nhiễm trùng, ngoài bạch cầu, hồng cầu còn có vi khuẩn Phù viêm vô trùng thường có giới hạn còn phù viêm nhiễm trùng có tính lan tỏa
Triệu chứng lâm sàng: Các triệu chứng đau đớn, sưng dạng bột nhão nhiều hay ít,
nhiệt độ cục bộ tăng cao xuất hiện trong phù viêm vô trùng Trong phù viêm nhiễm trùng đau đớn dữ dội, nhiệt độ cục bộ và toàn thân tăng, căng thẳng nhiều hơn; phải ấn mạnh ngón tay vào mới tạo thành hố và lâu hồi phục hơn sơn so với phù viêm vô trùng
g Phù sa xuống
Dạng phù này thường xuất hiện ở các chân, rất ít khi ở các phần khác của cơ thể
Nó được phân biệt với phù bên ở chỗ: đau rất ít, tính bột nhão lớn hơn và lan tỏa xuống dưới từ chỗ chính, đôi khi từ ổ nhiễm trùng
1.4.2.3 Đám thấm nhiễm (Inphiltratus)
Đám thấm nhiễm viêm là sự tích tụ tế bào do giãn mạch trên nền của phù viêm trong vùng cư trú của vi sinh vật, ký sinh trùng, những ngoại vật và sau tác động của những chất hóa học Các đám thấm nhiễm được phân biệt: bạch cầu nhân phân đốt, tế bào lympho, bạch cầu ái toan, nguyên bào xơ Chúng được đặc trưng bằng sự lèn chặt ở vùng trung tâm của phù viêm Phần lớn trong số chúng, khi ấn vào thì có phản ứng đau;
hố khi ấn vào chỗ thấm nhiễm được tạo thành với lực ép lớn hơn so với phù và hồi phục chậm hơn do khi ấn vào thì dịch rỉ và cả tế bào thấm nhiễm bị đẩy ra, các dịch rỉ và tế bào thấm nhiễm chuyển về vị trí cũ một cách rất chậm chạp
- Đám thấm nhiễm bạch cầu nhân đốt: Đám thấm nhiễm dạng này xuất hiện khi có
mặt những mô bào chết, phát triển nhiễm trùng mủ và sự xâm nhập của ngoại vật Nó gắn liền với sự đấu tranh tích cực của cơ thể với sự nhiễm trùng bằng quá trình xương mục
hóa (sequestratio) những mô bào chết Đám thấm nhiễm này chủ yếu là bạch cầu trung
Trang 35tính nhân phân đốt; hình thành khá nhanh và đau nhiều, nhiệt độ cục bộ và thân nhiệt đều tăng Tại đám thấm nhiễm có thể hình thành viêm nang lông cấp tính, mụn nhọt, áp xe hay phlegmone Khi kìm hãm nhân tố gây nhiễm trùng, loại bỏ những mô bào chết, vật lạ hay những tác nhân kích thích khác thì đám thấm nhiễm sẽ được hấp thu đi
- Đám thấm nhiễm tế bào lympho: Đám thấm nhiễm này chủ yếu chứa tế bào
lympho nhỏ và bạch cầu trung tính nhân đốt, thường gặp ở gia súc có sừng và lợn khi viêm cấp tính, á cấp tính và mạn tính Ở ngựa và chó chỉ gặp trong những quá trình viêm mạn tính Tính đau, nhiệt độ cục bộ và toàn thân tăng ít; còn độ chắc thường lớn hơn so với đám thấm nhiễm bạch cầu trung tính phân đốt
- Đám thấm nhiễm bạch cầu ái toan: Đám thấm nhiễm xảy ra khi ký sinh trùng
xâm nhập vào mô bào và trong trạng thái cơ thể đang dị ứng Khi có mặt ký sinh trùng trong mô bào, đám thấm nhiễm chủ yếu là bạch cầu ái toan Ấn tay vào vùng thấm nhiễm thấy chắc và đau ít Trong những trường hợp phản ứng viêm tăng cảm ứng, đám thấm nhiễm bạch cầu ái toan kết hợp với bạch cầu nhân phân đốt Về mặt triệu chứng lâm sàng, đám thấm nhiễm dạng này giống với thấm nhiễm bạch cầu nhân phân đốt
- Đám thấm nhiễm nguyên bào xơ: Đám thấm nhiễm dạng này xuất hiện trong giai
đoạn tái sinh của vết thương hay những quá trình nhiễm trùng mủ cấp tính và khi có những ngoại vật rơi vào mô bào (chỉ khâu, dị chất, vật liệu tổng hợp và những vật khác) Đám thấm nhiễm này bao gồm số lượng lớn nguyên bào xơ, đại thực bào, ít tế bào có nguồn gốc giãn mạch Dạng thấm nhiễm này có thể được chẩn đoán bằng các xét nghiệm; lấy mẫu bằng cách áp lam kính vào vết thương hay ổ hoại tử - mủ (sau khi đã được rửa sạch) ở giai đoạn hạt hóa, nhuộm giem sa, kiểm tra bằng kính hiển vi quang học
- Điều trị các đám thấm nhiễm: Loại bỏ nguyên nhân gây bệnh, sử dụng băng cồn
thấm hút, liệu pháp nóng, phong bế thần kinh bằng novocain kết hợp với kháng sinh, tiêm tĩnh mạch novocin 0,25% và những biện pháp khác Không xoa bóp khi thấm nhiễm bạch cầu vì có thể gây ra sự lan tỏa nhiễm trùng
1.4.2.4 Tăng sản viêm (Prolipheratio)
Tăng sản viêm hay nốt chai - sần là hiện tượng trong mô bào cơ bản tích lũy khối lượng lớn nguyên bào xơ, lympho bào cùng với sự sinh sản tiếp theo của mô liên kết Nguyên nhân gây ra sự phát triển của tăng sản viêm là: Tác động kéo dài của các yếu tố
cơ giới và các yếu tố khác (đè ép, cọ sát, kéo căng, ngâm nước,…), vật lạ trong mô bào (mẩu gỗ, vật bằng kim loại hay nguyên liệu khác, đặc biệt đường khâu bằng chỉ caprôn), tiến triển mạn tính của nhiễm trùng mủ và nhiễm nấm, sự hoại tử hay sinh mủ kéo dài,
sự xâm nhập của ấu trùng một vài loài giun sán vào mô bào, rối loạn tuần hoàn máu và lympho và hàng loạt những nguyên nhân khác gây ra tiến triển mạn tính của viêm Tăng sản viêm thường phát triển trên nền phù Ban đầu, giữa các tế bào tích lũy những thành phần nguyên bào xơ của mô liên kết; sau đó chúng biến thành những sợi collagen và sợi chun, xuyên vào mô cơ bản; tiếp theo, tại đám thấm nhiễm, mô sẹo được hình thành Hiện tượng tăng sản thể hiện nhiều hơn ở gia súc có sừng và lợn
Trang 36Đám tăng sản đặc trưng rõ rệt bằng sự sưng chắc có giới hạn; khi ấn vào chúng cảm nhận được sự đề kháng chắc nịch của mô bào, không tạo thành hố khi ấn ngón tay vào; phản ứng đau và nhiệt độ cục bộ ở giới hạn bình thường; da trên vùng đám thấm nhiễm hầu như không chuyển động do thoái hóa sẹo của mô liên kết dưới da Những đám thấm nhiễm rộng lớn cản trở sự tái sinh và biểu bì hóa vết thương; đám tăng sản trong vùng khớp, cơ và gân sẽ làm rối loạn vận động; đám tăng sản trong cơ quan có cấu trúc nhu mô và các tuyến làm giảm đáng kể hay hoàn toàn loại bỏ chức năng của chúng Những đám tăng sản rất khó thích hợp với sự phát triển ngược lại và hấp thu, đặc biệt trong trường hợp phát triển mô sẹo
- Điều trị: Sử dụng các loại mỡ tiêu viêm, liệu pháp nóng (tốt nhất là sử dụng paraffin nóng chảy), đốt bằng nhiệt độ cao, sử dụng liệu pháp pirogenal (làm tăng thân nhiệt) hay điều trị bằng siêu âm
1.4.3 Biểu hiện lâm sàng của viêm vô trùng
a Viêm thanh dịch cấp tính
Thể viêm này đặc trưng bằng nhiều dịch rỉ viêm, những biểu hiện yếu ớt của thương tổn, sự thực bào không đáng kể và ưu thế của những quá trình tái sinh - bù Nó xuất hiện sau khi bị chấn thương cơ giới hay hóa học vừa phải, bị nhiễm lạnh hay những nguyên nhân khác Trên nền của sung huyết chủ động làm cho dòng chảy của máu bị chậm lại, giãn và tăng cao tính thấm các mao quản dẫn đến sự tiết một phần dịch của máu vào mô bào tổn thương hay xoang giải phẫu
Khi tích lũy ở trong các mô mềm, thanh dịch gây phù viêm dạng bột nhão; còn khi tích ở trong các xoang giải phẫu có khả năng lấp đầy chúng Khi ấn lần lượt các ngón tay của cả 2 bàn tay (sờ nắn bằng 2 tay) vào những xoang được lấp đầy thanh dịch cảm nhận được sự di chuyển của dịch từ những ngón tay của bàn tay này sang những ngón tay của bàn tay khác
Tính đau và nhiệt độ cục bộ của thể viêm này tăng cao không đáng kể, rối loạn chức năng của cơ quan ở mức độ vừa phải, nhịp tim và nhịp thở tăng không đáng kể, thân nhiệt và các chỉ tiêu sinh lý khác hầu như không thay đổi
Giữ cho bệnh súc ở trạng thái yên tĩnh, điều trị phù hợp sẽ tạo điều kiện cho sự hấp thu thanh dịch và hồi phục những rối loạn về hình thái và chức năng Tác động nhắc lại của những nhân tố gây chấn thương làm kéo dài quá trình viêm và đi đến tiến triển mạn tính
b Viêm thanh dịch mạn tính
Viêm thanh dịch mạn tính đặc trưng bằng hiện tượng dịch rỉ và tăng sinh khi tổn thương yếu Hiện tượng tăng sinh phát triển trong viêm thanh dịch khi liền sẹo tạo điều kiện hình thành mô liên kết, sau đó biến thành sẹo gây ra sự chèn ép mạch máu, mạch lympho và sự rối loạn dòng chảy của máu, lympho dẫn đến hiện tượng ứ đọng Mô bào
bị phù, trong xoang giải phẫu tích đầy thanh dịch, theo tính chất nó gần giống với dịch
Trang 37phù Có thể dễ dàng xác định những mô bào bị ứ đọng dịch rỉ bằng phương pháp quan sát và sờ nắn
Do phù và tăng sinh làm cho tính chuyển động của da trong vùng viêm bị suy giảm, còn trong những mô bào nằm sâu hơn (ví dụ: cơ), bằng phương pháp sờ nắn xác định được sự dầy lên lan tỏa hay dạng hạch Phản ứng đau trong viêm thanh dịch mạn tính thể hiện yếu hay không có; mức độ rối loạn chức năng phụ thuộc vào đặc điểm giải phẫu và sinh lý của cơ quan bị viêm
Do sự tăng sinh tương đối bền vững và đôi khi với số lượng lớn của những mô fibrin trong vùng viêm nên sự hồi phục hoàn toàn hình thái và chức năng của cơ quan bị tổn thương không phải bao giờ cũng đạt được bằng các phương pháp điều trị
c Viêm thanh dịch - fibrin cấp tính
Thể viêm này xuất hiện khi có tác động tương đối mạnh của những nhân tố gây chấn thương làm tăng tính thấm thành mạch và sự thoát mạch của fibrinogen Fibrinogen sẽ biến thành các sợi fibrin trong các mô bào và xoang giải phẫu Các sợi fibrin trong các xoang khi ở trạng thái yên tĩnh sẽ lắng xuống đáy; vì vậy, khi sờ nắn phần trên của những xoang như thế xác định được dấu hiệu sóng động, còn ở phần dưới của xoang là dạng bột nhão và tiếng lạo xạo thể hiện với mức độ vừa phải Sau những vận động chủ động hay bị động, dạng bột nhão và tiếng lạo xạo ở trong khớp và bao gân biến mất nhưng xuất hiện hiện tượng sóng động Để cho bệnh súc được yên tĩnh sẽ tạo điều kiện hồi phục những dấu hiệu nêu trên; những sợi fibrin sẽ được hấp thu một cách chậm chạp hay mô bào hóa biến thành các mẩu collagen
Trong viêm thanh dịch - fibrin cấp tính, những triệu chứng lâm sàng thể hiện mạnh hơn trong viêm thanh dịch Tạo sự yên tĩnh cho con bệnh và điều trị kịp thời thường có khả năng bình phục; trong những trường hợp bị bỏ mặc, quá trình viêm tiến triển mạn tính
d Viêm thanh dịch - fibrin mạn tính
Theo triệu chứng lâm sàng và những biến đổi bệnh lý, khó phân biệt được với viêm thanh dịch mạn tính Một trong số các đặc điểm của thể viêm này là ổ viêm chắc lại - xơ cứng dạng hạch nếu ở mô mềm; còn ở trong các xoang, những sợi fibrin biến thành những cục collagen chắc như hạt gạo Những cục collagen này đôi khi bị canxi hóa và lưu lại suốt cuộc đời trong những xoang khớp; khi ở giữa các bề mặt sụn khớp
nó gây ra sự đau đớn mạnh và tổn thương sụn khớp làm cho vật nuôi què ngắt quãng, phản ứng viêm trở nên trầm trọng và quá trình viêm bị kéo dài
e Viêm fibrin cấp tính
Thể viêm này xảy ra do tổn thương cơ giới nhiều hơn do tổn thương hóa học, nhiệt độ và tổn thương nhiễm trùng các niêm mạc, tương mạc, bao khớp, bao gân, bao hoạt dịch (bursa) Phụ thuộc vào nguyên nhân, viêm fibrin cấp tính có thể là vô trùng hay nhiễm trùng; trong trường hợp bị nhiễm trùng, tất cả các quá trình viêm đều tiến triển nặng nề hơn
Trang 38Những nét đặc thù của viêm fibrin là tính thấm mao quản cao Vì vậy, dịch rỉ viêm chứa đựng khối lượng những thành phần hữu hình của máu lớn hơn đáng kể so với những thể viêm giới thiệu trên; ngoài ra, trong dịch rỉ viêm còn có nhiều protid và fibrinogen Bản chất của những thay đổi sinh bệnh học xuất hiện trong viêm fibrin cấp tính là: Dưới tác động của trombokinaza và những men khác, fibrinogen (đã đi vào mô bào và các xoang) biến thành các sợi, lưới fibrin bao phủ dầy đặc bề mặt của các màng
và tích lũy một lượng lớn trong mô bào, đặc biệt cạnh các mao quản và các mạch quản nhỏ Rất nhanh chóng, xung quanh chúng hình thành bao fibrin dầy chắc, xâm lấn mao quản và những mạch máu nhỏ, dường như bịt kín chúng, gây cản trở quá trình thoát ra của dịch thể từ mạch máu Đồng thời, fibrin được tích lũy với khối lượng lớn trên thành của những xoang giải phẫu và niêm mạc, có thể tạo thành từng tấm, cản trở sự tiết bình thường những dịch tương ứng vào trong xoang Bằng cách đó, ngay sau khởi đầu của viêm fibrin, khối lượng dịch bình thường và thanh dịch chứa trong các khớp, bao gân, xoang ngực, xoang bụng, bắt đầu bị giảm Chính vì vậy, mô bào viêm fibrin thường
có đặc điểm bị khô (viêm phổi khô, viêm khớp khô) Những lưới và những tấm fibrin che phủ thành của các xoang, sau đó được mô bào hóa và biến thành những sợi, chỉ, dây hay lông nhung mô liên kết; vì vậy, khi màng ngực hay màng bụng bị viêm fibrin thì chúng bị dính chặt với các cơ quan nội tạng, màng hoạt dịch của khớp gắn liền với mỏm khớp của xương, các bao gân thì dính với gân
Trong viêm fibrin, những triệu chứng lâm sàng được thể hiện rõ rệt Nhiệt độ cục
bộ và phản ứng đau tăng cao, cơ quan tổn thương bị rối loạn chức năng tương đối nghiêm trọng Ví dụ: Khi viêm fibrin màng hoạt dịch của khớp, bệnh súc què tương đối nặng, chúng chỉ di chuyển từng bước một Phân biệt với viêm thanh dịch và thanh dịch - fibrin, mức độ sưng trong viêm fibrin thể hiện yếu, không làm thay đổi chu vi của khớp
và bao gân, khi vận động chủ động hay bị động nghe được tiếng lạo xạo rõ trong khớp
và bao gân bị viêm, tiếng lạo xạo và tiếng cọ phế mạc khi viêm fibrin màng phổi
Khi viêm fibrin nhiễm trùng, triệu chứng lâm sàng gần giống mô tả trên: Thân nhiệt cao, đôi khi có dịch mủ (viêm fibrin - mủ) hay tạo thành những mảng trắng che phủ niêm mạc và kết mạc mắt trong trường hợp viêm kết mạc
Cần lưu ý, khi viêm fibrin cấp tính vô trùng phải ngăn cản sự mô bào hóa của fibrin và tạo khả năng cho cơ thể hấp thu nó bằng cách tăng cường những quá trình tiêu fibrin Với mục đích này, sau khi hiện tượng viêm cấp tính giảm, phải cho bệnh súc vận động (ban đầu là bị động, sau là chủ động) cùng với sử dụng những liệu pháp điều trị (tiêm heparin và những men phân hủy protein vào xoang) Khi viêm fibrin nhiễm trùng, phải điều trị chống nhiễm khuẩn đặc hiệu
f Viêm fibrin mạn tính
Viêm fibrin mạn tính trong xoang ngực, bụng có đặc trưng là tạo ra những điểm nối giữa màng bụng, màng ngực với những cơ quan chứa đựng trong xoang bụng và xoang ngực Khi tổn thương khớp và bao gân xuất hiện sự vận động chậm chạp, kết thúc bằng
sự cứng khớp hay co cứng gân Tiên lượng trong các trường hợp này là không tốt
Trang 391.4.4 Nguyên tắc điều trị viêm
1.4.4.1 Nguyên tắc điều trị các quá trình viêm
Nguyên tắc điều trị các quá trình viêm bao gồm: Loại trừ những nguyên nhân gây viêm, tạo điều kiện bình thường hóa phản ứng viêm hay loại bỏ nó
Để làm được điều đó cần phải:
Loại trừ ảnh hưởng của những nhân tố gây bệnh đến cơ thể
Đảm bảo sự yên tĩnh cho cơ quan bị tổn thương và ngăn cản sự tái kích thích hệ thống thần kinh hay cắt bỏ những tái kích thích đã xuất hiện
Tạo điều kiện thuận lợi nhất về nuôi dưỡng và chăm sóc động vật ốm, đảm bảo khẩu phần ăn cân bằng, giầu các loại vitamin
Bình thường hóa quá trình viêm có thể đạt được khi tác động đến cơ thể bệnh súc bằng thuốc và những phương pháp điều trị căn bệnh học và sinh bệnh học; nên kết hợp các phương pháp điều trị trên để đạt được kết quả tốt hơn
- Điều trị căn bệnh học: Điều trị căn bệnh học làm giảm thấp hay loại bỏ những
nhân tố gây chấn thương (trong đó bao gồm vi khuẩn, virus) bằng cách dùng thuốc kết hợp với phương pháp vật lý học, hóa học và sinh học Tuy nhiên, các liệu pháp điều trị không hoàn toàn đưa cơ thể thoát khỏi trạng thái bệnh lý và đảm bảo sự bình phục Trong những trường hợp như thế, phải thực hiện điều trị căn bệnh học trên nền của điều trị sinh bệnh học
- Điều trị sinh bệnh học: Trong sinh bệnh học của bệnh, khi nhân tố gây bệnh bị
kìm hãm, quá trình hồi phục tái sinh chiếm ưu thế thì sự bình phục của bệnh súc bắt đầu Điều trị sinh bệnh học hướng tới bình thường hóa những chức năng bị rối loạn của
cơ thể, kích thích cơ chế tự vệ, sự thích nghi và tái sinh
Các phương pháp điều trị sinh bệnh học bao gồm: Phong bế thần kinh bằng novocain, tiêm tĩnh mạch dung dịch novocain loãng, sử dụng thuốc an thần, hormon, liệu pháp phản xạ (châm cứu, đốt bằng nhiệt độ cao, laze), liệu pháp an thần, mô liệu pháp, vật lý trị liệu (xoa bóp, tăng nhiệt, giảm nhiệt, quang liệu pháp, điện liệu pháp, từ trường, siêu âm và những yếu tố vật lý khác), liệu pháp gây sốt, liệu pháp nội tiết và các thuốc điều trị không đặc hiệu khác
Như thế, hiệu quả chống lại sự sinh bệnh là cơ sở của điều trị sinh bệnh học, hiệu quả này xuất hiện do sự tác động đến cơ thể động vật bậc cao bằng những nhân tố lý - hóa - sinh kết hợp với khẩu phần ăn cân bằng có giá trị, nuôi dưỡng - chăm sóc phù hợp,
đi bộ điều độ và khai thác đúng đắn
1.4.4.2 Nguyên tắc điều trị viêm vô trùng
Nguyên tắc điều trị viêm vô trùng bao gồm: Loại trừ những nhân tố gây chấn
thương, làm ngừng sự chảy máu và dịch lympho, ngừng sự tiết dịch vào mô bào và các xoang giải phẫu, đảm bảo sự yên tĩnh cho cơ quan hay những phần cơ thể bị tổn thương,
Trang 40sử dụng các chất và các phương pháp làm tiêu biến đám tụ máu, dịch lympho, mô bào chết, dịch rỉ; sử dụng những chất cải thiện sự hồi phục - tái sinh những chức năng đã bị rối loạn
Khi viêm vô trùng cấp tính: Trong vòng 12 - 24 giờ đầu tiên sau chấn thương, sử
dụng phương pháp giảm nhiệt độ cục bộ (thuốc rửa có tính se đã được làm lạnh, tưới ethyl chlorid và các chất làm giảm nhiệt độ cục bộ khác) kết hợp với băng ép vừa phải Bằng cách đó có thể ngăn cản sự chảy máu, sự tiết dịch vào mô bào và giảm sự đau đớn, bình thường hóa phản ứng viêm Thay thế cho phương pháp làm giảm thể nhiệt, vào những giờ đầu tiên sau chấn thương và những thời gian tiếp theo, dùng phong bế thần kinh bằng novocain kết hợp với hydrococtizon là hợp lý
Từ ngày thứ 2 phải sử dụng những liệu pháp ấm (băng tẩm cồn, đắp vải gạc nóng, đèn sollux, đèn hồng ngoại, đắp lá ngải cứu sao nóng)
Vào ngày thứ 3 - 4 khi phản ứng đau đã giảm bớt, chỉ định liệu pháp ấm (nước nóng, paraffin nóng chảy,…) Kết hợp liệu pháp ấm với xoa bóp theo hướng từ ngoại vi
về trung tâm cho kết quả khả quan hơn Liệu pháp ấm và xoa bóp sẽ cải thiện tuần hoàn máu và tạo khả năng hấp thu đám máu tụ, dịch rỉ viêm và những sản phẩm phân hủy mô bào chết bởi men
Khi viêm vô trùng á cấp tính và mạn tính: Phương pháp điều trị hướng tới giảm
hiện tượng tạo fibrin, giảm tăng sinh, giảm xơ cứng mô bào và ngăn sẹo hóa rộng lớn Để đạt được điều này, sử dụng những chất và phương pháp làm tăng quá trình viêm, cải thiện tuần hoàn máu và lympho, tạo khả năng phân giải protein, hấp thu mầm tăng sinh và làm xốp sẹo của mô liên kết Với mục đích này, sử dụng bôi thuốc mỡ tiêu viêm kết hợp với xoa bóp, huyễn dịch tiêu viêm kết hợp với liệu pháp ấm, mô liệu pháp (cấy những mô bào bảo tồn của: dịch hoàn, nhãn cầu, dạ cỏ, lá lách,…); tiêm dưới da những chất gây sốt như tinh dầu thông với dầu ôliu (tỷ lệ 1:1), methyl salixylate và những chất kích thích khác
Có hiệu quả hơn cả là sử dụng siêu âm tác động vào vùng tăng sinh hay sẹo hóa
1.4.4.3 Nguyên tắc điều trị viêm mủ cấp tính
Điều trị viêm mủ cấp tính cần tính đến giai đoạn phát triển của viêm, bình thường hóa quá trình viêm bằng những thuốc điều trị căn bệnh học và sinh bệnh học, cố định và kìm hãm sự khởi đầu của nhiễm trùng Điều trị hướng tới sự hình thành hàng rào hạt và
tế bào có giá trị; ngăn cản sự hoại tử và mưng mủ lan rộng; trung hòa và đưa ra khỏi cơ thể những sản phẩm phân hủy mô bào và độc tố của vi khuẩn; giải thoát kịp thời
và có thể hoàn toàn dịch rỉ từ ổ hoại tử - mủ ra môi trường bên ngoài; tạo điều kiện thuận lợi nhất để tái sinh và ngăn cản sự hình thành những sẹo lớn trong vùng ổ hoại