Khối u xơ phát sinh từ mô liên kết sợi hay mô liên kết thưa, bao gồm những sợi của mô liên kết, chứa không nhiều những tế bào mô liên kết hình thoi và mạch quản, khối u xơ được phân biệt u xơ cứng (chắc) và u xơ mềm.
U xơ cứng (Fibroma durum) cấu trúc từ những bó sợi lớn, dầy chắc với một số lượng không lớn các tế bào, tương tự cấu trúc sẹo. U xơ mềm (Fibroma molle) cấu trúc từ mô liên kết thưa.
U xơ quan sát được ở tất cả các bộ phận của cơ thể, nơi có mô liên kết, nhưng thường gặp nhất ở da, dưới da, niêm mạc, tương mạc, màng xương; mô liên kết của tử cung, âm đạo, cạnh âm đạo Bệnh gặp ở tất cả các loài động vật, nhưng thường gặp nhất ở trâu, bò, ngựa và chó.
Theo lâm sàng: U xơ có giới hạn rõ rệt với mô bào xung quanh, chúng có bề mặt bằng phẳng hay hơi lồi lõm, cứng chắc hay tương đối mềm. Nó tiến triển chậm, không gây đau đớn và không gây hại cho cơ thể nếu nó không ngăn trở chức năng của khí quan nào đó vì vị trí phát sinh. Đôi khi khối u xơ đạt tới khối lượng lớn.
Phần lớn các trường hợp, u xơ được bọc trong bao mô liên kết lỏng - thưa, khi điều trị bằng phẫu thuật dễ bóc tách, cắt bỏ. U xơ cứng có nhiều hình dạng, rất cứng chắc (tương tự như cân), giới hạn rõ với mô bào xung quanh, thường phát triển ở những chỗ bị chấn thương, sẹo.
Tiên lượng của u xơ là thuận lợi.
Điều trị: Phẫu thuật cắt bỏ khối u.
9.5.2. U nhú (Papilloma, Polypus)
U nhú hay u dạng đầu vú là khối u lành, phát triển từ mô liên kết có biểu mô phủ nhiều lớp. Khối u nhú phát triển chậm, có hình dạng lông nhung, đầu vú, mụn cóc, khối u phẳng hay kết tảng giống cây súplơ.
U nhú phát triển hướng ra phía tự do của da và niêm mạc mà không ăn sâu vào phía trong của mô bào, điều này giúp dễ phân biệt nó với những khối u ác tính. Khi ở da, u nhú thường không gây khó chịu nào. Khi phát sinh trên niêm mạc ở những cơ quan nội tạng (thực quản, dạ dày, ruột, cổ tử cung, tử cung, bàng quang) nó thường mềm và có khuynh hướng chảy máu, biến thành dạng ác tính (Carcinoma, Fibrosarcoma), có thể gây rối loạn chức năng của cơ quan.
Tổn thương đáng kể da hay niêm mạc bởi số lượng lớn u nhú người ta gọi là bệnh u nhú (Papillomatosis). Trong những trường hợp có sự phát triển lớn trên cơ sở mô liên kết xơ gọi là u xơ - nhú (Fibropapilloma), còn những trường hợp tổn thương rộng lớn trên da gọi là bệnh u xơ - nhú (Fibropapillomatosis).
U nhú gặp ở tất cả các loài vật nuôi, thường gặp hơn cả ở trâu, bò còn non (dưới 2 năm tuổi). Chúng thường ở dạng nhiều mụn cóc với độ cứng chắc, độ lớn và hình thái khác nhau, phân bố trên khắp bề mặt của da.
Tuy nhiên, những đám u nhú thường phát sinh ở vùng: bầu vú, đầu, cổ, mặt trong đùi, hiếm khi gặp ở bụng và các phần xa của bốn chân. Trên niêm mạc, phát hiện thấy nó ở: môi, hầu, thực quản, dạ cỏ.
Ngoài ra, trên dương vật và bao quy đầu có thể có nhiều những mụn cóc nhỏ, cấu tạo từ mô bào xơ, được che phủ bằng lớp biểu mô tăng sinh - dạng Fibropapillomatois.
Ở ngựa gặp u nhú chủ yếu ở các vùng xa của bốn chân, dưới dạng viêm da sần sùi (như mụn cóc), ở ngựa non gặp ở vùng môi, mũi và tai. Ở chó và mèo, chỗ hay phát sinh u nhú nhất là niêm mạc xoang miệng và vành môi.
Nguyên nhân gây ra bệnh u nhú là virus. Điều này được chứng tỏ bằng nhiều nghiên cứu tiêm phòng thực nghiệm vacxin u nhú cho người và động vật.
Đặc tính sinh học của một số loại virus này đã được nghiên cứu tương đối đầy đủ.
Ở mỗi loại động vật bệnh u nhú và bệnh u xơ - nhú được gây ra bởi một typ virus xác định. Tuy nhiên, những mụn cóc ở vú bò có thể là nguyên nhân lây nhiễm bệnh u nhú cho người vắt sữa, khi vắt sữa bằng tay.
Ngoài ra, có dẫn liệu đã chỉ ra rằng, virus gây u nhú trên da còn có thể gây u nhú ở niêm mạc đường sinh dục, vú và bàng quang.
Virus có khả năng gây ra tổn thương tương tự sac - côm da ở ngựa được biết đến với tên gọi là u saccoit (sarcoid).
- Tiên lượng: U nhú ở tất cả các loại động vật thường có tiên lượng tốt, khi điều trị hợp lý, khối u không tái phát.
- Điều trị: Ở tất cả các loài động vật khi mắc bệnh u nhú, tiêm tĩnh mạch dung dịch novocain 1%, liều dùng: 40 - 80 ml/động vật lớn và 5 - 8 ml/động vật nhỏ, tiêm 3 - 4 lần với quãng cách 4 - 5 ngày. Thường sau 2 - 3 lần tiêm, u nhú biến mất.
Nếu có những cục u nhú to được hình thành, nên thực hiện phẫu thuật để loại bỏ chúng, sau khi đã điều trị sơ bộ bằng novocain.
Trong một số trường hợp, khi loại bỏ những mụn cóc lớn ở giai đoạn sớm của bệnh u nhú sẽ kích thích sự phát triển của những mụn còn lại và dẫn đến tái phát; vì vậy, ở giai đoạn đầu của khối u, nên bắt đầu điều trị bằng novocain.
Tiêm vào dưới da hỗn dịch mô bào chế từ những mụn cóc tự thân (2,5 - 3g mô bào, nghiền trong 15 - 20ml nước muối sinh lý, cộng với liều điều trị của một kháng sinh thích hợp) điều trị bệnh u nhú da ở trâu, bò cho kết quả tương đối tốt.
9.5.3. U mỡ (Lipoma)
Khối u được hình thành từ mô mỡ với sự có mặt của những lớp xen kẽ là mô bào liên kết sợi, có vỏ bọc thể hiện rõ. U mỡ gặp ở tất cả các loại động vật, nhưng thường gặp hơn ở chó, đôi khi khối u mỡ nặng tới 10 - 20kg hoặc lớn hơn.
Theo vị trí phát sinh phân biệt: u mỡ nông và u mỡ sâu. U mỡ nông phát sinh ở mô liên kết lỏng dưới da, thường gặp nhất. U mỡ sâu phát sinh ở dưới cân mạc, dưới niêm mạc, trong cơ, màng treo ruột, cạnh phúc mạc.
Chẩn đoán: Dựa trên những biểu hiện lâm sàng.
Điều trị: Phẫu thuật cắt bỏ.
9.6.4. U sắc tố (Melanosarcoma)
Khối u sắc tố hay còn gọi là sac - côm sắc tố thuộc u ác tính, nó có nguồn gốc từ những tế bào mang sắc tố: nguyên bào hắc tố (melanoblastoma), chất mang sắc (chromatophorum), có khả năng sản xuất ra sắc tố đen (melanin). Những sac - côm sắc tố tiên phát thường xuất hiện chỉ trong những mô bào sản xuất ra tế bào mang sắc tố ở trong mắt, da và ranh giới giữa da và niêm mạc.
Những khối u này thường gặp ở tất cả các loài vật nuôi, nhưng thường gặp hơn ở ngựa có sắc lông màu xám, hiếm khi ở chó và gia súc lớn có sừng. Ở ngựa những khối u dạng này thường phát sinh trên da; đặc biệt ở vùng gốc đuôi và gần lỗ hậu môn, cơ quan sinh dục ngoài, bầu vú, gần mắt, gần tai, vùng của những hạch lympho trước bả vai, vùng của tuyến nước bọt dưới tai. Ở những loại động vật khác, có thể thấy ở khóe mắt và trên da các vùng khác nhau của cơ thể.
Sac - côm sắc tố phân biệt với các khối u khác bằng màu tối của mình (từ màu nâu tươi đến màu đen), bằng khuynh hướng tạo thành sự di căn trong vùng và nhiều nơi xa và sự lan tỏa của quá trình bệnh sac - côm sắc tố.
Sự lan tỏa quá trình bệnh sac - côm sắc tố là đặc trưng cho tính quá ác tính của khối u. Sự di căn xảy ra theo đường máu cũng như đường lympho và diễn ra ở hầu hết tất cả các cơ quan và mô bào, điều này được phân biệt với những mô bào khỏe mạnh xung quanh bằng màu đen hay xanh lam nhạt của mình.
Vào giai đoạn đầu của bệnh thường không xảy ra rối loạn toàn thân. Tiếp theo, khi có sự phát triển mạnh của sac - côm sắc tố, quan sát được sự lở loét và sự phân hủy thối rữa của khối u dẫn đến chảy máu nhắc lại, cơ thể bị thiếu máu và suy kiệt.
Chẩn đoán: Dựa vào triệu chứng lâm sàng, nơi phát sinh, màu sắc và sự di căn.
Tiên lượng: Khi có sự di căn, tiên lượng xấu.
Điều trị: Cắt bỏ khối u sớm nhất có thể cho khả năng chữa khỏi bệnh cao.
CÂU HỎI ÔN TẬP 1. Khái niệm khối u?
2. Nguyên nhân và sinh bệnh học của khối u?
3. Phân loại khối u?
4. Đặc điểm của khối u lành tính?
5. Đặc điểm của khối u ác tính?
6. Ảnh hưởng của khối u đối với cơ thể?
7. Phương pháp chẩn đoán khối u?
8. U xơ (đặc điểm, chẩn đoán và phương pháp điều trị)?
9. U nhú (đặc điểm, chẩn đoán và phương pháp điều trị)?
10. U sắc tố (đặc điểm, chẩn đoán và phương pháp điều trị)?
Phần B
BỆNH CỦA CÁC HỆ THỐNG
Chương 10