1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Bài Giảng Bệnh Ngoại Khoa Thú Y

69 5,4K 13

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiết 1: Đề phòng nhiễm trùng khi phẫu thuật
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Ngoại Khoa Thú Y
Thể loại Bài Giảng
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 519,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mọi người cần tài liệu có thể vào thêm link web của mình để tải nhéhttps://sites.google.com/site/thachvanmanh/Cần hỗ trợ gì thêm liên hệ Mạnh Tel : 0983.912.823Cảm ơn mọi người

Trang 1

TIẾT 1:

ĐỀ PHÒNG NHIỄM TRÙNG KHI PHẪU THUẬT

Trong phẫu thuật ngoại khoa nhiễm trùng vết mổ là một trong những nguyênnhân quan trọng nhất dẫn đến phẫu thuật thất bại Ðể tránh nhiễm trùng vết mổ,trong quá trình chuẩn bị phẫu thuật, tiến hành phẫu thuật và chăm sóc, hộ lý sauphẫu thuật, chúng ta phải làm tốt các công việc sau đây:

I Chuẩn bị địa điểm phẫu thuật

- Bãi mổ cần đáp ứng các yêu cầu sau:

+ Tuyệt đối không được sử dụng những nơi nghi nhiễm vi khuẩn có nha bàolàm nơi phẫu thuật như nền chuồng trại trước đây đã có vật nuôi chết, nơi xử lý các

ổ nhiễm trùng hay mổ khám xác chết, nơi chôn xác hay chất thải của các vật nuôi

đã chết vì các bệnh nhiệt thán, uốn ván, ung khí thán…

+ Chọn nơi tương đối bằng phẳng và có diện tích đủ rộng để thực hiện phẫuthuật như một khoảng sân, một đám đất trống, một bãi cỏ…

+ Bãi mổ phải có đầy đủ ánh sáng, tránh được nắng, mưa, gió

+ Trước khi phẫu thuật cần dọn sạch gạch, đá, cành cây, dây thép, đinh gaihay các vật cứng khác để tránh gây sát thương cho người và vật nuôi

+ Để khử trùng và hạn chế cát, bụi bay lên, có thể phun lên mặt nền bằngmột số dung dịch sát trùng như formalin 4%, cloramin T 0,5%, thuốc tím 0,1%

II Chuẩn bị động vật phẫu thuật

Trang 2

1 Kiểm tra chung

- Trước tiên kiểm tra hoạt động của các hệ tuần hoàn, hô hấp đây là hai hệnhất thiết phải kiểm tra trước khi phẫu thuật Ngoài ra có thể kiểm tra các chứcnăng của gan, thận… Xác định được các quá trình bệnh lý trong cơ thể giúp ta đềphòng được các tai biến có thể xảy ra, liên quan đến việc: cố định, gây mê, gây tê

và chính cuộc phẫu thuật đó

- Nếu hiện tại gia súc không đủ sức khoẻ để chịu đựng cuộc phẫu thuật thìphải chăm sóc, nuôi dưỡng tốt để tăng sức đề kháng rồi mới thực hiện phẫu thuật

- Kiểm tra xem gia súc có thai không, nếu có thì phải thận trọng trong phẫuthuật, không gây mê sâu

- Kiểm tra các ổ nhiễm trùng trên cơ thể

- Kiểm tra tình trạng vệ sinh chung của vật nuôi, phải tắm rửa toàn thân haycục bộ cho vật nuôi phẫu thuật Những chỗ có nhiều nếp nhăn, nếp gấp, khe, kẽnhư cổ, yếm, nách, bẹn, bàn, ngón… cần được kỳ cọ, rửa sạch bằng bàn chải, xàphòng và nước sạch

2 Xử lý vùng phẫu thuật trên cơ thể động vật

2.1 Xử lý đối với da vùng phẫu thuật

- Cắt, cạo lông vùng phẫu thuật, vùng lông cắt phải lớn hơn 2-3 lần vùngphẫu thuật

- Rửa sạch da vùng phẫu thuật bằng xà phòng và nước sạch

- Lau khô bằng vải gạc hay khăn sạch vô trùng

- Sát trùng bằng cồn Iod 5% Sát trùng hai lần, một lần trước lúc gây tê vàmột lần trước khi phẫu thuật

Cách sát trùng: Ðối với những phẫu thuật thực hiện ở vùng tổ chức lành thì

sát trùng từ trong ra ngoài Với vùng nhiễm trùng thì sát trùng ngược lại tức là từngoài vào trong Ðối với vùng bàn ngón, sau khi đã rửa sạch thì ngâm vào dungdịch sát trùng 15 phút

Trang 3

- Dùng tấm choàng bằng vải, cao su có khoét lỗ đã xử lý vô trùng đắp lênvùng phẫu thuật để ngăn cách với các vùng xung quanh bảo vệ vùng phẫu thuật.

2.2 Xử lý đối với niêm mạc vùng phẫu thuật

Ðối với niêm mạc thì dùng thuốc sát trùng với nồng độ thấp hơn

- Với niêm mạc mắt, miệng, mũi rửa chúng bằng rivanol 0,1%, cresol 2%,còn da xung quanh nó bôi cồn iod 3%

- Thụt rửa âm đạo bằng dung dịch acid lactic 1%, rivanol 0,1%, cresol 2%,thuốc tím 0,1%, còn da xung quanh vùng âm hộ thì bôi cồn iod 3%

- Thụt rửa trực tràng bằng dung dịch thuốc tím 0,1%, cresol 2%, da xungquanh hậu môn bôi cồn iod 3%

III Tiệt trùng dụng cụ và nguyên liệu dùng trong phẫu thuật

1 Phương pháp luộc

- Dùng nồi chuyên dụng hoặc gia dụng, đảm bảo sạch sẽ, vô trùng

- Nước dùng để luộc tốt nhất là nước cất, nếu không phải sử dụng nước mưa,nước lọc

- Khi tiệt trụng phải đun sôi nước 3 phút, sau đó cho dụng cụ phẫu thuật đãtháo từng chi tiết vào đun sôi thêm 30 phút

- Vớt ra cho vào khay vô trùng, phủ vải gạc vô trùng lên

Riêng dụng cụ bằng thủy tinh: tháo rời, bỏ vào nồi luộc khi nước còn lạnh.

 Phương pháp này vừa đơn giản, dễ thực hiện, rẻ tiền lại cho hiệu quả tốt

2 Phương pháp hấp ướt thường

- Có thể dùng phương pháp hấp hơi ở áp suất thường để xử lý dụng cụ, hìnhthức như đồ sôi

- Dùng xoong nhôm hay tráng men có thành đứng và cao, có nắp đậy kín Đổnước vào xoong, đạt 1/3 dung tích của nó, phía trên đặt khay đục lỗ đựng dụng cụ,đậy vung, đun sôi nước Hơi nước sôi đi qua dụng cụ để phía trên, hiệu quả tiệttrùng tốt

- Thời gian xử lý kéo dài 30’ kể từ khi nước sôi

Trang 4

3 Phương pháp đốt bằng cồn

Cho dụng cụ vào khay, đổ cồn vào rồi đốt trong vòng 5 phút

 Phương pháp này có ưu điểm là nhanh, tiệt trùng tốt nhưng chỉ tiến hànhđược với các dụng cụ không cháy và cũng làm cho dụng cụ chóng bị hư hỏng

4 Phương pháp hấp ướt cao áp

Dùng nồi hấp cao áp autochlave Ưu điểm của phương pháp này là có thểnâng nhiệt độ hấp lên trên 1000C, do dùng nhiệt độ cao từ hơi nước để tiệt trùngnên có thể tiệt trùng được cho hầu hết các dụng cụ, nguyên liệu dùng trong phẫuthuật Nếu hấp ở áp xuất 1,5atm, nhiệt độ đạt tới 126,80C thì duy trì thời gian xử lý

30 phút, nếu ở 2atm, nhiệt độ đạt tới 132,90C thì duy trì thời gian xử lý 20 phút

5 Phương pháp sấy khô

Dùng tủ sấy, tác nhân tiệt trùng là nhiệt độ cao từ không khí bị đốt nóng.Dùng để tiệt trùng các dụng cụ bằng thủy tinh, sành sứ, bông vải sợi, các dụng cụ

có nguồn gốc nguyên liệu khác, trừ dụng cụ bằng nhựa mềm  Để tiệt trùng dụng

cụ, duy trì ở nhiệt độ 1200C với thời gian là 30’ Chỉ đưa dụng cụ vào sấy khichúng đã được rửa sạch, lau khô

6 Phương pháp là

Hiện nay chúng ta hay sử dụng bàn là điện Mặt bàn là đang hoạt động nóngtới 1500C, các vi sinh vật nằm dưới đó đều bị thiêu cháy Người ta dùng bàn là đểtiệt trùng một số dụng cụ có nguồn gốc nguyên liệu từ sợi bông tự nhiên (quần áobảo hộ, mũ, khẩu trang, tấm choàng, vải gạc…) Khi sử dụng di chuyền bàn là trênkhắp bề mặt của đồ vật vài lần

7 Phương pháp hơ lửa

Một số dụng cụ to lớn kềnh càng như mặt bàn, khay, cưa… không tiệt trùngđược bằng các phương pháp trên, chúng ta dùng biện pháp hơ lửa Tẩm cồn trên

700C trên những cục bông hay vải có nguồn gốc là sợi bông tự nhiên rồi châm lửađốt, ngọn lửa cháy bùng lên như ngọn đuốc, hơ ngọn lửa đó trên khắp bề mặt của

Trang 5

vật cần xử lý Tương tự như phương pháp là, cần hơ qua lại một số lần tại một vị trínhất định mới đảm bảo khả năng tiệt trùng.

8 Phương pháp ngâm trong dung dịch sát trùng

Phương pháp này được áp dụng để xử lý các loại chỉ khâu tự tiêu (catgut).Chỉ tự tiêu có nguồn gốc nguyên liệu là protein động vật, vì thế các phương pháptrên không đáp ứng được Người ta ngâm những cuộn chỉ tự tiêu trong dung dịchformalin 4% với thời gian là 72 giờ

IV Tiêu độc tay người phẫu thuật

- Cắt móng tay, dũa cho bằng

- Rửa bằng nước xà phòng, tốt nhất là rửa tay dưới vòi nước chảy

- Ngâm tay trong cồn-amoniac 5%, cồn có tác dụng diệt khuẩn, amoniac làmtrương nở các tế bào biểu bì trên da tay, làm cho thuốc sát trùng tác dụng tốt hơn

- Sát trùng bằng cồn 700, không sát trùng bằng cồn 900 vì cồn 900 làm đông vóncác phân tử protein trên lớp biểu bì tạo thành một lớp bảo vệ, chống lại không chocồn, thuốc sát trùng ngấm vào sâu hơn, do đó sẽ làm giảm khả năng sát trùng

- Nếu có điều kiện thì đeo găng tay phẫu thuật

 Sau khi đã xử lý xong, phẫu thuật viên không được đụng chạm vào bất cứmột vật gì trước khi tiến hành phẫu thuật

Trang 6

-TIẾT 2:

PHƯƠNG PHÁP GÂY MÊ TOÀN THÂN CHO GIA SÚC

I Định nghĩa gây mê, mê

- Gây mê là dùng thuốc đưa con vật vào tình trạng mất toàn bộ nhận thức,

mất cảm giác đau, ức chế các phản xạ nội tạng, giãn cơ và cần ngủ

- Mê là sự mất cảm giác và ý thức tạo bởi các thuốc mê khác nhau, gồm bốn hợp

thành là không đau, giãn cơ, mất ý thức và quên

II Mụch đích

- Làm cho con vật không đau trong quá trình phẫu thuật

- Làm cho con vật không giãy giụa trong khi tiến hành phẫu thuật:

 Máu dễ cầm hơn, không ảnh hưởng tới vết thương của gia súc

 Người phẫu thuật yên tâm tiến hành công việc của mình, rút ngắnthời gian phẫu thuật

III Phân loại

1 Căn cứ vào mức độ mê người ta chia ra: mê nông và mê sâu.

- Mê nông: là dùng lượng thuốc mê ít hơn, thời gian mê diễn ra ngắn hơn(khoảng 30-45 phút), cho phép thực hiện những phẫu thuật nhỏ với thời gian tươngđương

- Mê sâu: là dùng lượng thuốc mê nhiều hơn, thời gian mê kéo dài hơn (từ90-120 phút và lâu hơn nữa), đủ thời gian cho việc thực hiện các phẫu thuật phứctạp, mất nhiều thời gian

2 Căn cứ vào đường cho thuốc, người ta chia ra: gây mê khí dung và gây mê không khí dung.

- Gây mê khí dung: là dùng thuốc mê dạng nước dễ bay hơi (cloroform, etherethylic, halothan…), hoặc các thuốc mê dạng khí (nitơ oxít, xiclopropan…) đưavào cơ thể bằng đường hô hấp

- Gây mê không phải khí dung: là dùng các loại thuốc mê như: Rượu etylic,cloral hydrat, natri thiopetal, ketamin, zoletil… đưa vào cơ thể vật nuôi bằng các

Trang 7

đường khác nhau trừ đường hô hấp Phổ biến hơn cả là tiêm vào tĩnh mạch, ngoài

ra còn đưa vào cơ thể vật nuôi bằng con đường uống, tiêm dưới da, tiêm bắp thịt,tiêm phúc mạc, thụt trực tràng…

3 Căn cứ vào số lượng thuốc mê sử dụng, người ta chia ra: gây mê đơn và gây

mê hỗn hợp

- Gây mê đơn: là chỉ sử dụng một loại thuốc gây mê

- Gây mê hỗn hợp: là sử dụng từ 2 loại thuốc mê trở lên

IV Yêu cầu của thuốc mê

Thuốc gây mê tốt, lý tưởng phải đạt được các yêu cầu sau đây:

- Thuốc có tác động ngay khi ở nồng độ thấp

- Liều gây mê cách xa liều trúng độc

- Giai đoạn hưng phấn ngắn hoặc không có

- Không ảnh hưởng có hại đến hệ thống tuần hoàn, hô hấp, trao đổi chất vàcác cơ quan có cấu trúc nhu mô

- Không có tác động kích ứng đến mô bào

- Sử dụng đơn giản, dễ khống chế liều lượng

- Nhanh chóng thoát mê

- Có tính kinh tế

- Bền vững khi bảo quản và không bắt cháy

Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có loại thuốc nào thỏa mãn đầy đủ các yêu cầu trên.

V Những điểm cần chú ý khi gây mê

1 Trước khi gây mê

- Kiểm tra thật cẩn thận vật nuôi trước khi gây mê, không gây mê khi độngvật mắc bệnh tim mạch Không gây mê sâu khi: vật nuôi sốt cao, rối loạn chứcnăng hô hấp, gan, thận, vật nuôi quá già yếu, kiệt sức, có chửa ở giai đoạn cuối

- Bắt vật nuôi nhịn ăn 18-24 giờ, cho uống nước đầy đủ

Trang 8

- Gây mê cho vật nuôi lớn, nhất là đối với động vật có sừng thường rất khókhăn và nguy hiểm, vì vậy chỉ gây mê khi thật cần thiết.

- Tiên lượng phẫu thuật có kết cục không thuận lợi, có khả năng giết mổ vậtnuôi thì không nên sử dụng thuốc mê tồn dư mùi trong thịt như: cloroform, ether…

- Sử dụng thuốc tiền mê trước 15-20 phút

2 Trong khi gây mê

- Sử dụng thuốc mê đúng phương pháp

- Chọn liều thuốc mê cho thích hợp (thường vật nuôi béo, khỏe, ăn no khó

mê hơn so với vật nuôi gầy yếu, đói ăn, vật nuôi già, non)

- Tiến hành gây mê ở những nơi ấm áp, kín gió

- Khi đưa thuốc mê vào cơ thể bằng đường tĩnh mạch phải chậm, vừa tiêmvừa quan sát, khi tiêm được 1/3 liều nên dừng lại, nếu gia súc không có những biểuhiện xấu mới tiếp tục tiêm tiếp

- Gây mê ở tư thế đứng phải theo dõi biểu hiện của vật nuôi, giúp đỡ con vậtnằm xuống nhẹ nhàng khi chuyển sang giai đoạn mê

- Trong khi thực hiện phẫu thuật vẫn phải có người theo dõi biểu hiện củacon vật, nếu có biểu hiện khác thường, không tuân theo quá trình mê cần được xử

lý kịp thời

- Đang phẫu thuật vật nuôi đã tỉnh có thể cho thêm thuốc mê, nhưng khôngđược quá 2/3 liều đã dùng ban đầu

3 Sau khi mê

- Phẫu thuật xong, nhanh chóng giải thoát vật nuôi khỏi sự cố định, đỡ nóđứng dậy, đưa về chỗ ở an toàn Thường xuyên có người theo dõi cho đến khi convật tỉnh hẳn

- Không ép con vật ăn khi chưa nuốt được thức ăn

- Bổ xung năng lượng, tăng cường hồi phục sức khỏe bằng truyền glucose5%, nước muối sinh lý, lactat ringer… Sử dụng các loại vitamin A,C, B1,B12…

Trang 9

- Dùng thuốc trợ tim (cafein 20%, adrenalin 0,1%), kích thích hô hấp bằngcho thở dưỡng khí hay ngửi amoniac (tẩm amoniac vào cục bông rồi để cách mũicon vật 5-10 cm)

VI Phương pháp gây mê vật nuôi

1 Gây mê cho ngựa

- Ngựa có hệ thần kinh tương đối linh hoạt, khả năng chịu đau kém, vì vậykhi thực hiện phẫu thuật ở ngựa nên chỉ định gây mê

- Thuốc tiền mê dùng cho ngựa là atropin sulfat 1%, liều lượng: 1-2ml/100kg

TT Tiêm dưới da trước khi dùng thuốc mê 15-20 phút

1.1 Gây mê bằng cloral hydrat

Cloral hydrat có thể đưa vào cơ thể bằng nhiều cách: tiêm tĩnh mạch, chouống, thụt trực tràng

+ Gây mê dạ dày:

Để tránh kích thích của thuốc vào niêm mạc dạ dày, pha thuốc trong nướcngọt, hồ tinh bột thành nồng độ 5%, cho uống qua ống thông thực quản

+ Gây mê trực tràng:

Tương tự như cho uống, phải pha thuốc trong các dung môi bảo vệ niêm mạctrực tràng, đạt nồng độ không quá 5% Thụt vào trực tràng sau khi đã giải thoát hếtphân, khi rút ống thông ra phải nhẹ nhàng, đồng thời kích thích cho cơ vòng hậumôn khép kín lại

1.2 Gây mê bằng rompun

Rompun là thuốc mê dang nước, hãng Bayer của C.H Liên bang Đức sản xuất

Trang 10

- Rompun 5ml/100kg TT, tiêm dưới da hay tiêm bắp đạt được mức độ mênông, có thể phẫu thuật vật nuôi ở tư thế đứng.

- Rompun 4ml/100kg TT, tiêm dưới da hay tiêm bắp Cloral hydrat 8g/100kg

TT, tiêm tĩnh mạch Thời gian mê có thể đạt tới 1,5 giờ

- Rompun 5ml/100kg TT, tiêm dưới da hay tiêm bắp Natri thiopental 0,8g/100kg TT, tiêm tĩnh mạch (không được lọt ra ngoài) Thời gian mê có thể đạttới 1,5 giờ

0,6-2 Gây mê cho loài nhai lại

Thuốc tiền mê dùng cho loài nhai lại là atropin sulfat 1%

Liều 1-2ml/100kg TT, tiêm dưới da trước khi dùng thuốc mê 15-20 phút

2.1 Gây mê bằng cồn etylic

Cồn etylic 96% (loại tinh khiết), liều 30-40ml/100kg TT Dùng glucose 5%hay nước muối sinh lý, hạ thấp cồn xuống còn 30-40%, tiêm chậm vào tĩnh mạch

 Chỉ đạt mức độ chếnh choáng, thực hiện được các thủ thuật chỉnh xương khớp

2.2 Gây mê bằng cloral hydrat

Dùng phương pháp tiêm tĩnh mạch, liều dùng 10g/100kg TT, cách pha thuốc vàtiêm giống như ngựa Ở ngựa cho kết quả tốt nhưng loài nhai lại không chắc chắn

2.3 Gây mê kết hợp bằng cồn etylic và cloral hydrat.

Dùng cồn etylic 96%, liều 25ml/100kg TT, pha loãng thành nồng độ 30-40%,tiêm chậm vào tĩnh mạch Sau đó dùng cloral hydrat 8g/100kg TT, pha thành nồng

độ 10% trong dung môi (Glucose 10%, natri clorid 0,9% hoặc natri xitrat 5%), tiêmtĩnh mạch  Con vật mê kéo dài 1-1,5 giờ

2.4 Gây mê bằng natri thiopental

Natri thiopental là thuốc mê dạng bột, liều gây mê cho loài nhai lại là1,5g/100kg TT, pha trong nước muối sinh lý, đạt nồng độ 5%, tiêm chậm vào tĩnhmạch (không được lọt ra ngoài tĩnh mạch) Thời gian mê kéo dài khoảng 1 giờ

Chú ý: Theo dõi sát sao hành vi của con vật, quá trình mê đến rất nhanh con

vật có thể đổ vật xuống ngay khi chưa kết thúc tiêm thuốc

Trang 11

2.5 Gây mê bằng rượu ngon

Dùng rượu ngon (30-40%) cho trâu, bò cái, bê, nghé uống, liều200-300ml/100kg TT  Đạt được mức độ chếnh choáng ở vật nuôi, cho phép tiếnhành các thủ thuật chỉnh xương khớp

3 Gây mê cho lợn

Thuốc tiền mê dùng cho lợn là amilazin, liều 0,5mg/1kg TT, tiêm dưới dahoặc bắp thịt

3.1 Gây mê bằng natri thiopental

Liều 1,5g/100kg TT, pha trong nước muối sinh lý đạt nồng độ 5%, tiêm tĩnhmạch (không được để thuốc lọt ra ngoài) Quá trình mê kéo dài khoảng 1 giờ

3.2 Gây mê bằng cloral hydrat

Liều 10g/100kg TT, pha thành nông độ 10% trong dung môi (glucose 10%,natri clorid 0,9%, natri xitrat 5%), tiêm tĩnh mạch hay phúc mạc Thời gian mê kéodài khoảng 1,5 giờ

3.3 Gây mê bằng combelen

Combelen là thuốc mê dạng nước, liều dùng 5ml/100kg TT, tiêm tĩnh mạch,con vật mê mức độ nông

4 Gây mê cho chó, mèo

Thuốc tiền mê cho chó, mèo là atropin sulfat 0,1%, liều 1ml/10kg TT, tiêmdưới da trước khi dùng thuốc mê 10-15 phút

4.1 Gây mê bằng zoletil

Zoletil là thuốc mê dạng bột, của hãng Virbac sản xuất, có 3 sản phẩm, tùytheo hàm lượng hoạt chất trong chế phẩm: zoletil 25, zoletil 50, zoletil 100 Sảnphẩm bán có dung môi kèm theo Pha dung môi vào thuốc bột, dùng ngay, để lâukém tác dụng Liều dùng trung bình (sau khi pha thuốc) của zoletil 50 là 1ml/10kg

TT, tiêm dưới da hay tiêm tĩnh mạch đều được Với chó tiêm tĩnh mạch cho kết quảtốt hơn, với mèo tiêm vào đâu cũng cho kết quả như nhau

Trang 12

4.2 Gây mê bằng natri thiopental

Dùng natri thiopental, liều 15mg/1kg TT, pha thành nồng độ 5% trong nướcmuối sinh lý, tiêm tĩnh mạch, thời gian mê trung bình 1 giờ

Có thể tăng liều lên 30mg/1kg TT thời gian mê kéo dài tới 2 giờ

4.3 Gây mê bằng rompun kết hợp với ketamin

Rompun 0,5ml/10kg TT, tiêm dưới da hay tiêm bắp

Ketamin 0,5ml/10kg TT, tiêm tĩnh mạch, dưới da hay tiêm bắp

 Thời gian mê kéo dài khoảng 1 giờ

4.4 Gây mê bằng ketamin

Ketamin 1ml/10kg TT, tiêm tĩnh mạch, con vật mê khoảng 1 giờ

-1.3 Quá trình mê

Quá trình mê hay triệu trứng của động vật xảy ra khi gây mê, được chia ra làm 4 giai đoạn.

- Giai đoạn giảm đau: xuất hiện ngay sau khi đưa thuốc mê vào cơ thể động vật Động vật có biểu hiện bồn chồn, lo lắng, không yên tĩnh Cảm giác đau và các cảm giác khác bắt đầu giảm

Hô hấp trở nên sâu và đều Mạch nhanh nhưng vẫn đầy Nhãn cầu vận động tùy tiện Đồng tử dãn

ra 1 chút Phản xạ và trương lực cơ bắt đầu bị hạn chế.

- Giai đọan hưng phấn: Các cảm giác tiếp tục giảm Xuất hiện tình trạng mất tri giác, nhưng các phản xạ lại tăng cường Động vật biểu hiện sợ sệt rõ rệt, thét lên những tiếng thất thanh Trương lực cơ tăng cường, vật giãy đạp mạnh Đầu lắc lư, bốn chân lảo đảo, xiêu vẹo Ngựa và trâu,

bò có hiện tượng giật nhãn cầu, đồng tử tiếp tục giãn Tăng tiết các tuyến: tuyến nước bọt, tuyến

lệ, tuyến phế quản Xuất hiện nôn và nấc Mạch nhanh và đầy, tăng huyết áp Hô hấp nhanh không đều Giai đoạn này có nguy cơ xảy ra các tai biến, song cũng được lợi dụng để chỉnh xương khớp.

- Giai đoạn mê: Con vật ngày càng mê sâu hơn Hô hấp đều hơn rồi thưa dần và nông dần, ngày càng trở nên thưa hơn và nông hơn Tim đập chậm và yếu dần, mê càng sâu thì nhịp tim càng thưa, càng yếu hơn Mạch thưa và không đầy, mê sâu rất khó bắt được mạch Sự tiết dịch giảm dần rồi ngừng hẳn Trương lực cơ giảm dần, rồi đột ngột mất hẳn Cơ mềm ra, nhẽo ra; nếu gây

mê ở tư thế đứng con vật mất khả năng trụ có thể ngã vật xuống Các phản xạ giảm dần rồi mất hẳn Lưỡi khô và thè ra ngoài Nhãn cầu xoay xuống dưới, đồng tử co đến giới hạn Tình trạng của động vật trở nên nguy hiểm hơn khi hô hấp nông và ngắt quãng, mạch chỉ hoặc không bắt được mạch, huyết áp tụt, niêm mạc bắt đầu xanh, tím tái, đồng tử dãn ra, thân nhiệt giảm

- Giai đoạn cuối phụ thuộc vào tác dụng của thuốc tiếp tục hay ngừng lại Thuốc hết tác động, con vật dần dần tỉnh lại, biểu hiện của con vật ngược lại với quá trình mê; được gọi là thoát mê Khi đã mê sâu nhưng thuốc mê vẫn tiếp tục tác động, con vật bị trúng độc do thuốc mê Con vật

Trang 13

có những biểu hiện: thở thưa dần rồi ngừng thở, tim đập thoi thóp rồi cũng ngừng hẳn, kết cục dẫn đến cái chết của động vật.

TIẾT 3:

PHƯƠNG PHÁP GÂY TÊ CỤC BỘ

I Khái niệm

- Gây tê cục bộ là dùng thuốc để làm mất tạm thời cảm giác đau, cảm giác

nhiệt, cảm giác xúc giác và các cảm giác khác ở tổ chức cục bộ vùng định phẫuthuật

- Những chất gây tê thường dùng là: Novocain, lidocain, dicain… ở nước tathông dụng là novocain va lidocain, trong thú y thường dùng novocain vì nó rẻ tiềnhơn Người ta pha novocain trong nước cất hay nước muối sinh lý ở các nồng độkhác nhau 0,125-10%, nồng độ thông dụng là 0,25-3%

Trang 14

+ Để tăng cường tác dụng của novocain, người ta cho adrenalin 0,1%

vào dung dich novocain, với tỷ lệ 2ml adrenalin 0,1%/ 1 lít dung dịch novocain ởnồng độ nào đó

+ Để có thêm tác dụng tiệt trùng thêm rivanol vào dung dịch novocain

đạt nồng độ 0,1%

+ Để kéo dài thời gian tê và giảm chảy máu trong phẫu thuật thêm

huyết thanh vào dung dịch gây tê

+ Để kéo dài sự tê (có khi đến 2 ngày) pha thuốc tê trong dầu thực vật,

dầu cá làm chậm sự hấp thu thuốc tê  Kéo dài thời gian tê

II Các phương pháp gây tê

1 Phương pháp gây tê bề mặt

Sử dụng để gây tê niêm mạc, tương mạc, màng hoạt dịch…

- Để gây tê niêm mạc mắt, ta nhỏ vào niêm mạc mắt vài giọt novocain 5-10%

- Gây tê niêm mạc miệng, mũi, hầu, cơ quan sinh dục hay các niêm mạc khác,dùng dung dịch novocain 5-10% tẩm vào cục bông rồi thấm vào niêm mạc

- Gây tê niêm mạc bàng quang, dùng novocain 0,25-0,5%, bơm vào trong bàngquang sau khi đã giải thoát hết nước tiểu

- Gây tê màng hoạt dịch, dùng novocain 4-6% bơm vào sau khi đã rút hết dịchtrong nó Tùy theo từng dung tích xoang, người ta có thể bơm vào 5-50ml dungdịch thuốc tê

- Gây tê phúc mạc, dùng novocain 2-4%, đưa thuốc vào bằng kim tiêm, cho vậtnuôi nhỏ khoảng 20ml Với vật nuôi lớn không có ý nghĩa vì phúc mạc của chúngquá lớn

- Bề mặt da không thấm hút các dung dịch nước, vì vậy người ta gây tê nó bằngphương pháp giảm thể nhiệt: chườm lạnh hay tưới dung dịch bay hơi nhanh nhưethyl clorid

2 Phương pháp gây tê thấm

Trang 15

- Dùng thuốc tê tiêm vào từng lớp tổ chức của vùng phẫu thuật từ ngoài vàotrong: nội bì, dưới da, tổ chức liên kết và các lớp nằm sâu hơn, thuốc tê thấm vào tổchức cắt đứt sự dẫn truyền kích thích các đầu mút thần kinh hoặc dây thần kinh ởvùng được gây tê.

Thường dùng novocain 0,25-1%, lượng dùng từ 50-500ml hoặc hơn nữa, tùythuộc vùng phẫu thuật lớn hay nhỏ

- Khi phẫu thuật ở diện rộng, người ta dùng phương pháp này gây tê thấmphong tỏa, tiêm xung quanh vùng phẫu thuật với nhiều điểm tiêm

3 Phương pháp gây tê dẫn truyền

- Gây tê dẫn truyền là dùng thuốc tê tiêm vào tổ chức xung quanh dây thầnkinh chi phối vùng định phẫu thuật, làm cho dây thần kinh đó mất khả năng dẫntruyền kích thích từ vùng phẫu thuật đến trung khu thần kinh

- Dùng dung dịch gây tê có nồng độ cao hơn so với gây tê thấm (novocain 3%) do các dây thần kinh có tổ chức liên kết thưa và lớp mỡ bao bọc

2 Liều từ 52 20 ml tùy thuộc vào độ dày của dây thần kinh và vị trí nằm nông,sâu của nó

- Khi tiêm cần chú ý tránh tiêm vào mạch máu vì dây thần kinh thường đikèm với mạch máu

Trang 16

- Khi thực hiện gây tê dẫn truyền thường phải kết hợp với gây tê thấm haygây tê bề mặt, vì tại mô bào cục bộ có nhiều đầu mút của các dây thần kinh khácnhau chi phối.

4 Phương pháp gây tê xoang ngoài màng cứng tủy sống

Xoang ngoài màng cứng là xoang ở giữa màng cứng của tuỷ sống và màng

xương bên trong của xương sống Dùng thuốc tê tiêm vào xoang ngoài màng cứng

sẽ cắt đứt dẫn truyền kích thích của thần kinh cạnh sống đi qua xoang ấy

Gây tê ngoài màng cứng tủy sống được xem như một loại gây tê dẫn truyềntrung tâm Căn cứ vào vị trí tiêm thuốc tê mà người ta chia ra:

+ Gây tê thắt lưng (lumbalis): Điểm giữa đốt sống hông 1 và 2

+ Gây tê hông khum (lumba-sacralis): Điểm giữa đốt sống hông cuối vàđốt sống khum đầu tiên

+ Gây tê đốt sống đuôi (sacralis): Điểm giữa đốt sống đuôi thứ nhất vàđốt sống đuôi thứ 2

Phương pháp gây tê đốt sống đuôi (sacralis):

Phương pháp này được chỉ định khi phẫu thuật vùng: cơ quan sinh dục ngoài, âm đạo, chân sau, đuôi, hậu môn, trực tràng

- Tùy lượng thuốc tê đưa vào ít hay nhiều mà người ta chia ra: gây tê sacralisthấp và gây tê sacralis cao

+ Gây tê sacralis thấp: Tiêm một lượng thuốc tê không lớn lắm đạt tớigiới hạn của xương khum và nó phong bế các gốc của dây thần kinh cạnh sốngvùng khum Các vùng được gây tê là: đuôi, hậu môn, trực tràng, cơ quan sinh dục,phần gần nhất của mông, đùi Có thể phẫu thuật gia súc ở tư thế đứng

+ Gây tê sacralis cao: Tiêm một lượng thuốc tê nhiều hơn, thuốc vượtquá giới hạn phần xương khum Tùy thuộc lượng thuốc đưa vào nó có thể đạt tớivùng hông, lưng, phong bế dây thần kinh cạnh sống chi phối cả phần sau cơ thể,bao gồm cả bụng và chân sau Phương pháp này làm liệt chân tạm thời, vì vậy thựchiện phẫu thuật vật nuôi ở trạng thái nằm

Trang 17

- Thuốc tê thường dùng gây tê xoang ngoài màng cứng tủy sống là novocain 2%.

- Cách xác định liều lượng:

+ Đối với vật nuôi lớn: đo khoảng cách từ mỏm hông xương cánh chậuđến u ngồi, đơn vị tính là cm Lấy số đo đó chia cho 3 được bao nhiêu sẽ tươngđương với số ml novocain 2% để gây tê sacralis thấp Gây tê sacralis cao cần tiêmnhiều hơn số đó

(ví dụ: ta đo khoảng cách từ mỏm hông xương cánh chậu đến u ngồi là 51cm, chia cho 3 được 17  để gây tê sacralis thấp cần tiêm17ml novocain 2%, gây tê sacralis cao cần tiêm nhiều hơn 17ml novocain 2%).

+ Đối với vật nuôi nhỏ: đo khoảng cách từ xương chẩm đến gốc đuôi,được bao nhiêu chia cho 10, thương số chính là số ml novocain 2% để gây têsacralis thấp, gây tê sacralis cao cần tiêm nhiều hơn

- Gây tê ngoài màng cứng thời gian tê kéo dài 1,5-2 giờ

- Cách tiêm:

+ Một tay cầm đuôi lắc qua, lắc lại, một tay sờ phía trên gốc đuôi tìm khớp.+ Đâm kim chếch một góc 450, cảm giác qua khung xương sống, chạmthành đốt sống thì rút lại một chút Đầu kim tự do, bơm thuốc chậm, thấynhẹ tay ấn lên pittông

Chú ý: Nhiệt độ của thuốc tiêm phải tương đương với thân nhiệt vật nuôi.

10

Trang 18

-Tiết 4:

CHẢY MÁU VÀ CẦM MÁU

Máu có vai trò quan trọng, tham gia vào rất nhiều quá trình sinh lý của cơ thể:

Vai trò hô hấp: máu vận chuyển oxi từ phổi tới mô bào và khí các-bo-nic từ

mô bào tới phổi để thải ra ngoài

Vai trò dinh dưỡng: máu vận chuyển các chất dinh dưỡng hấp thu được từ

đường tiêu hoá, cung cấp năng lượng và nguyên liệu cho tất cả các phản ứng của

mô bào

Vai trò bài tiết: máu nhận các sản phẩm cuối cùng của trao đổi chất mô bào

như CO2, urê, axit uric… và đem tới phổi, da, thận… để thải ra ngoài

Vai trò điều tiết thân nhiệt, cân bằng nội môi: Khi nhiệt độ môi trường thấp

thì mạch máu co lại, máu được dồn vào trong để giữ nhiệt cho cơ thể và ngược lại

Trang 19

khi nhiệt độ môi trường cao thì mạch máu ngoại biên giãn ra để máu đi ra ngoại biênthải nhiệt Ngoài ra, máu còn điều hoà sự cân bằng nước, pH, ASTT của cơ thể.

Chức năng điều hoà thể dịch: máu vận chuyển hormone từ cơ quan sinh ra tới

cơ quan đích

Chức năng bảo vệ: nhờ bạch cầu và kháng thể có trong máu.

1 Tác hại gây ra do mất máu trong phẫu thuật

- Lượng máu trong cơ thể gia súc phụ thuộc vào loài và khối lượng cơ thể giasúc Ở lợn khối lượng máu bằng 9,6% trọng lượng cơ thể, trâu bò là 8%, ngựa là9,8%, chó là 8-9% Khi khối lượng máu trong cơ thể giảm đi do chảy máu trongphẫu thuật sẽ gây ra những phản ứng không có lợi cho gia súc

+ Nếu mất máu nhanh, thì dù với một lượng máu không lớn lắm cũng có thểlàm cho con vật suy hô hấp, trụy mạch, hạ huyết áp mà chết

+ Nếu mất máu nhiều, chậm có thể không làm cho con vật chết nhưng dothiếu máu, tất cả các hoạt động sinh lý của cơ thể bị ảnh hưởng, cơ thể bệnh súc sẽ

bị trúng độc, suy dinh dưỡng, giảm sức đề kháng, điều này sẽ làm ảnh hưởng tớiquá trình lành của vết thương sau phẫu thuật

- Trong quá trình phẫu thuật, nếu máu chảy ra nhiều sẽ làm che lấp các tổchức, gây khó khăn cho các thao tác phẫu thuật, đồng thời có thể gây tâm lý hoangmang, lo lắng cho phẫu thuật viên

 Vì vậy, nếu làm tốt việc đề phòng mất máu trong phẫu thuật, thì chúng ta

sẽ bảo vệ được sức khoẻ cho bệnh súc, dễ dàng thực hiện các thao tác phẫu thuật vàquá trình lành của vết thương sau phẫu thuật cũng nhanh hơn, tốt hơn

2 Các loại xuất huyết và đặc điểm

2.1 Căn cứ vào mạch máu bị tổn thương có thể chia thành các loại xuất huyết sau.

- Xuất huyết động mạch: Do các động mạch bị tổn thương, máu chảy nhanh,

màu đỏ tươi, phun lên theo nhịp đập của tim

- Xuất huyết tĩnh mạch: Do các tĩnh mạch bị tổn thương, máu chảy chậm, màu

sẫm, máu tuôn ra từng dòng lúc nhanh lúc chậm theo nhịp hô hấp

Trang 20

- Xuất huyết mao mạch: Do các mao mạch (phân bố ở da, cơ, mô liên kết, cân

mạc, bao cơ, bao gân) bị tổn thương, máu chảy rướm đều trên bề mặt vết thương Maomạch phân bố xen kẽ giữa mao mạch động mạch và mao mạch tĩnh mạch, do đó khi bịtổn thương máu chảy ra có màu pha trộn giữa màu đỏ tươi và màu đỏ sẫm Loại xuấthuyết này dễ cầm, nó có thể ngừng chảy nhờ cơ chế tự đông máu của cơ thể

- Xuất huyết nhu mô: Xuất hiện khi tổn thương hoặc khi phẫu thuật ở các cơ

quan có cấu trúc nhu mô (dạ dày, ruột, tử cung…) Trong các cơ quan nội tạng maomạch được phân bố nhiều hơn ở da, cơ, mô liên kết, và tốc độ dòng chảy cũng lớnhơn Khi nó bị cắt đứt, máu chảy ra đều khắp toàn bộ vết thương hay vết mổ nhưxuất huyết mao mạch, nhưng tốc độ nhanh hơn nhiều Màu cũng là màu pha trộngiữa màu đỏ sẫm và màu đỏ tươi Loại xuất huyết này rất khó cầm máu

2.2 Căn cứ vào nơi xuất huyết mà người ta chia xuất huyết ra làm hai loại.

- Xuất huyết ngoại: Máu chảy từ cơ thể tràn ra bề mặt da hay các niêm mạc, có

thể nhìn thấy được Loại xuất huyết này dễ phát hiện và dễ xử lý

- Xuất huyết nội: Xuất hiện khi các cơ quan nằm sâu (dưới lớp che phủ) bị tổn

thương, nhưng lớp che phủ bên ngoài cơ thể không bị tổn thương, hoặc sau phẫuthuật mà da đã được khâu kín Máu không chảy ra ngoài cơ thể mà tích tụ lại trongcác xoang của cơ thể, mắt thường không nhìn thấy được Xuất huyết dạng này khóphát hiện, khó xử lý

- Xuất huyết kẽ mô: Là những trường hợp tổn thương mạch quản, máu thoát ra

ngoài mạch quản nhưng tích lại giữa các lớp tổ chức tạo thành các u máu

2.3 Căn cứ vào lần xuất huyết chia xuất huyết thành 2 loại.

- Xuất huyết nguyên phát: Xuất hiện ngay sau khi mạch máu bị tổn thương.

- Xuất huyết thứ phát: Xuất hiện sau khi xuất huyết nguyên phát đã thực hiện

biện pháp cầm máu nhưng không triệt để Nó phát triển do sự suy yếu và tuột nútchỉ thắt mạch quản hay sự tan rã của cục máu đông

Trang 21

3 Các phương pháp cầm máu

Tuỳ vào tính chất của cuộc phẫu thuật, điều kiện thực tế, tính chất cá thể màchúng ta có thể chỉ tiến hành cầm máu trong quá trình phẫu thuật hay kết hợp cầmmáu dự phòng với cầm máu trong quá trình phẫu thuật

3.1 Cầm máu dự phòng

Có thể thực hiện cầm máu dự phòng toàn thân kết hợp cầm máu dự phòng cục

bộ hoặc chỉ dùng 1 trong 2 phương pháp trên Đa số các phương pháp cầm máu dựphòng toàn thân hay cục bộ đều với nguyên tắc cung cấp cho cơ thể bệnh súc yếu

tố đông máu, cung cấp thêm máu, làm co mạch hoặc tăng độ nhớt máu…

Cầm máu dự phòng toàn thân:

- Phương pháp cầm máu dự phòng toàn thân tốt nhất đó là tiếp máu Không

những cung cấp trực tiếp tế bào máu để bù lại lượng máu mất trong phẫu thuật, tiếpmáu còn cung cấp tất cả những yếu tố đông máu Việc tiếp máu có thể thực hiệntrước, trong và sau phẫu thuật Đối với đại gia súc có thể tiếp 500-2000 ml, tiểu giasúc tiếp 200-300 ml, chó, mèo 20-50 ml

- Tiêm dung dịch CaCl2 10%, dung dịch này cung cấp inon Ca++ một yếu tố trongquá trình đông máu, đồng thời CaCl2 còn làm bền vững thành mạch, cả hai tác dụngnày đều làm tăng quá trình đông máu, giảm lượng máu chảy trong quá trình phẫuthuật Tiêm tĩnh mạch dung dịch CaCl2 10%: vật nuôi lớn: 50-100 ml, vật nuôi nhỏ:20-30 ml, chó, mèo: 2-4 ml (cần phải chú ý kỹ thuật tiêm, không để thuốc lọt vào da

có thể gây áp-xe) Hiện nay có nhiều chế phẩm của Ca++ như Gluconat Canxi, Canxifort có ưu điểm hơn là không gây áp-xe nếu tiêm dưới da, tiêm bắp

- Tiêm dưới da dung dịch Gelatin 2%, vật nuôi lớn: 100-200 ml, vật nuôi nhỏ:10-20 ml dung dịch này vừa có tác dụng làm tăng độ nhớt của máu, do đó máuchảy chậm hơn, tiểu cầu dễ vỡ hơn, quá trình đông máu dễ xảy ra, hơn nữa nó còncung cấp ion Ca++cũng làm tăng quá tình đông máu

- Dùng huyết thanh ngựa bình thường, tiêm dưới da hay tĩnh mạch cho ngựa,liều 100-150 ml/con trưởng thành

Trang 22

- Dùng Adrenalin 0,1% tiêm bắp, tĩnh mạch hoặc thấm trên bề mặt đang chảymáu làm co mạch máu, giúp cầm máu.

- Tiêm vitamin K trước khi phẫu thuật 1-2 ngày Vitamin K thúc đẩy quá trìnhtổng hợp prothrombin ở gan là chất tham gia vào quá trình đông máu

Cầm máu dự phòng cục bộ:

- Đặt garo là phương pháp tốt nhất để đề phòng chảy máu cục bộ, khi phẫu thuật

ở 4 chân và đuôi Dùng dây cao su, băng cuộn, dây vải… buộc vòng quanh cơquan, phía trên vùng phẫu thuật, theo hướng dòng chảy của động mạch

- Không được thắt dây garo quá lỏng hoặc quá chặt Về mùa hè không được thắtgaro quá 2 giờ, mùa đông không quá 1 giờ Nếu phẫu thuật kéo dài, sau mỗi 30phút, nới garo 30-60 giây, sau đó thắt lại

3.2 Cầm máu trong quá trình phẫu thuật

Cầm máu trong quá trình phẫu thuật gồm các phương pháp sau:

- Phương pháp thấm ép: dùng vải gạc vô trùng, ép chặt lên thiết diện vết mổ từ

10-15 giây Vải gạc có khả năng thấm hút máu, khi ta ép xuống tạo tiền đề cho sựhình thành cục nghẽn, vít mạch quản bị đứt

- Phương pháp dùng panh kẹp mạch máu: Dùng panh kẹp chặt đầu mạch quản

đứt, nhẹ nhàng xoắn 2-3 vòng theo trục dọc của nó, rồi tháo panh ra Mạch máu tohơn, máu chảy nhiều, ta kẹp lưu panh một thời gian (5-10 phút)

- Phương pháp xoắn vặn: Áp dụng khi thiến vật nuôi còn non Mạch máu ở

thừng dịch hoàn của con đực và mạch máu vùng ống dẫn trứng của con cái chưadai chắc lắm Sau khi bộc lộ được thừng dịch hoàn và buồng trứng dùng panh kẹpmạch máu, kẹp ngang qua thừng dịch hoàn hay ống dẫn trứng Cầm dịch hoàn haybuồng trứng xoắn vặn cho đến khi đứt thừng dịch hoàn hay ống dẫn trứng

- Phương pháp thắt bằng chỉ: Dùng chỉ thắt ngang mạch quản bị đứt kể cả động

mạch và tĩnh mạch, lớn hay nhỏ Trước tiên dùng panh kẹp mạch máu, kẹp đầumạch quản bị đứt, kéo ra một chút rồi dùng kim chỉ xuyên qua thành mạch máu

Trang 23

(nếu mạch máu lớn), vòng sợi chỉ quanh mạch quản vài vòng rồi thắt lại Sợi chỉ đi

có hình số tám, được gọi là nút số 8 Đây là phương pháp cầm máu triệt để nhất

- Phương pháp vật lý:

+ Dùng nhiệt độ thấp: Tưới nước lạnh, áp túi đá vào nơi đang chảy máu,

làm nhiệt độ cục bộ vùng đang chảy máu bị giảm thấp, các mạch máu co lại, hạnchế chảy máu

+ Dùng nhiệt độ cao: Nung nóng thanh kim loại, mỏ hàn điện… áp vào nơi

đang chảy máu Nhiệt độ cao làm cháy các tổ chức trên bề mặt, tạo điều kiện cho

sự hình thành các cục nghẽn, vít các mạch quản bị đứt

- Phương pháp hóa học: Sử dụng các thuốc có tác dụng tại cục bộ, dùng các

dung dịch như: H2O2, adrenalin 0,1%, antipirin 10-20%, tẩm bông bôi vào vếtthương chảy máu mao mạch, có tác dụng làm co mạch quản Hoặc dùng gelatin10%, dầu cá, dầu thực vật bôi vào vết thương, cản trở chảy máu mao mạch

-Tiết 5:

PHƯƠNG PHÁP KHÂU TRONG PHẪU THUẬT

I Mục đích của phương pháp khâu trong phẫu thuật

- Ðảm bảo sự tiếp xúc của các tổ chức, giúp cho vết thương, phẫu thuật lànhnhanh hơn, tốt hơn

- Hạn chế sự tác động của các yếu tố ngoại cảnh tới vết thương như khí hậu, visinh vật, côn trùng…

- Giúp cho sự cầm máu của vết mổ, hoặc vết thương

II Dụng cụ và nguyên liệu để khâu

Trang 24

- Kim cong thân tròn: toàn bộ thân kim có hình trụ tròn, dùng để khâu cơ

Khi cố định kim sao cho mặt phẳng của kim vuông góc với mặt phẳng củakìm, tại vị trí 1/3 của mũi kìm và 1/3 của mũi kim Đối với kim cong 3 cạnh, kẹptại vị trí tiếp giáp giữa đoạn 3 cạnh và đoạn tròn

+ Chỉ có nhiều cỡ to nhỏ khác nhau, tùy theo sự dày mỏng và sức căng của

mô bào mà lựa chọn cỡ chỉ cho phù hợp, thông thường dùng chỉ số 7/0 đến số 7

+ Chỉ tự tiêu được nhà sản xuất tiệt trùng sẵn và bảo quản trong gói, ghihạn sử dụng đầy đủ Khi sử dụng chỉ việc mở bao gói lấy chỉ ra dùng

+ Trong cơ thể gia súc, tùy từng loại chỉ mà thời gian tiêu chỉ kéo dài từ

7-30 ngày, vì thế chỉ còn được ghi rõ là chỉ tiêu nhanh hay tiêu chậm

- Chỉ không tiêu:

+ Là chỉ được sản xuất từ nguyên liệu có nguồn gốc khác nhau: sợi bông,sợi lanh, sợi gai, tơ tằm, ny-lon, pha ny-lon… các loại chỉ này dùng để khâu da, đếnhạn phải cắt chỉ

Trang 25

+ Chỉ không tiêu cũng được đánh số như chỉ tiêu, nhưng nhà sản xuất chưahấp tiệt trùng, nên phải xử lý trước khi sử dụng Cuốn chỉ vào giá thể theo hìnhthức cuốn thưa, để tiệt trùng triệt để hơn bằng các phương pháp: luộc, hấp ướt, hayhấp cao áp (tốt nhất).

III Các phương pháp khâu trong phẫu thuật

Có hai phương pháp khâu trong phẫu thuật là khâu liên tục và khâu rời rạc

1 Khâu liên tục

Khâu liên tục được dùng để khâu những tổ chức mềm, có độ đàn hồi nhỏ, vếtkhâu khép kín các xoang, dễ thao tác, không tốn chỉ Tuy nhiên, nếu chẳng may bị đứtmột nút chỉ thì toàn bộ đường khâu sẽ tuột hết

Có các phương pháp khâu liên tục sau:

1.1 Khâu vắt liên tục

Phương pháp này thường được dùng để khâu niêm mạc, phúc mạc hoặc là cơcủa các cơ quan trong đường tiêu hoá, tiết niệu, sinh dục

1.2 Khâu liên tục thùa khuy áo

Thường dùng để khâu da chó meo, ở những vết mổ thẳng

1.3 Khâu gấp mép (gấp nếp)

Là phương pháp khâu bổ xung cho phương pháp khâu vắt liên tục ở những khíquan có cấu tạo xoang, khi dùng phương pháp này để khâu thì sau khi rút chỉ, đườngkhâu sẽ gấp vào trong, tránh hiện tượng nhiễm trùng và viêm dính vết khâu với các tổchức khác Trong khi khâu gấp mép phải chú ý không được khâu xa miệng vết mổ nếukhông sẽ làm cho xoang của tổ chức hẹp lại, không đảm bảo được chức năng sinh lýcủa nó

1.4 Khâu rút túi

Dùng để cố định trực tràng, âm đạo trong trường hợp lòi dom, âm đạo lộn rangoài, tử cung lộn bít tất Sau khi cho các bộ phận này vào vị trí cũ ta dùng đườngkhâu rút túi để cố định chúng lại không cho tụt ra nữa

2 Khâu rời rạc

Trang 26

Dùng để khâu những tổ chức có sức căng lớn, tuy có nhược điểm là phảithao tác nhiều, tốn chỉ nhưng có ưu điểm là nếu chẳng may có bị đứt một nút chỉ thìvẫn còn các nút khác, do đó quá trình lành của vết mổ cũng ít bị ảnh hưởng, hoặctrong trường hợp khâu vết khâu có nhiều dịch rỉ viêm thì có thể cắt bớt 1-2 nút đểdịch rỉ viêm thoát ra mà không ảnh hưởng gì tới vết mổ

2.1 Khâu nút đơn

Sau khi đã khâu được một vòng chỉ (xâu chỉ qua hai mép của đường khâu),

ta thắt nút chỉ và cắt chỉ thừa ngay Nút đơn dùng để khâu da, cơ, khi khâu da, mũikim đâm vào và mũi kim đâm ra đặt cách mép đường khâu 0,5-1cm

2.2 Khâu tình thế (khâu chia đôi)

Là khâu nút đơn, được sử dụng khi đường khâu dài hoặc không thẳng Ởnhững đường khâu quá dài hay không thẳng , nếu cứ khâu lần lượt từ đầu này sangđầu kia sẽ có hiện tượng so le mép Để khắc phục tình trạng này người ta khâubằng cách khâu tình thế (khâu chia đôi), bắt đầu khâu một nút ở giữa đường khâu,chia đôi đường khâu thành 2 đoạn sao cho không bị so le giữa hai mép Nếu haiđoạn của đường khâu vẫn còn dài, tiếp tục khâu chia đôi chúng, cứ khâu như vậycho đến khi thấy hết khả năng bị lệch mép đường khâu Vì vậy khâu tình thế cònđược gọi là khâu chia đôi

2.3 Khâu nút chữ U

Được sử dụng ở nơi cơ hay da có sức căng bề mặt tương đối lớn, ở những

mô bào đó nếu ta khâu những nốt đơn như thường, do sức căng bề mặt lớn gây rahiện tượng sứt mép đường khâu Để khắc phục tình trạng này, chúng ta dùngphương pháp khâu nút chữ U Bản chất của phương pháp này là chúng ta khâughép 2 nút đơn Sau khi khâu được một vòng chỉ, quay mũi kim khâu theo chiềungược lại, đường đi của sợi chỉ có hình chữ U, thắt lại ở một phía Khoảng cáchgiữa hai vòng chỉ là 0,5-1cm tùy theo mô bào day hay mỏng, sức căng nhỏ đểkhoảng cách ngắn hơn và ngược lại

2.4 Khâu giảm sức căng

Trang 27

Ðược sử dụng ở vết mổ có da dày, sức căng lớn Dùng chỉ đôi, mũi kim đâmvào tổ chức cách miệng vết mổ 2-3cm Đặt mỗi mỗi bên mép khâu một cục đệmbằng cao su hay nhựa mềm (đường kính 0,5 cm, dài 1,5cm) lồng vào giữa hai sợichỉ, thắt chặt lại.

2.5 Khâu nút số 8

Dùng để thắt mạch máu, thừng dịch hoàn, ống dẫn trứng, nhằm mục đích cốđịnh sợi chỉ vào mô bào cần khâu, tránh tuột chỉ khi áp lực dòng chảy ép mạnh lênsợi chỉ

- Nếu sức căng của gân tròn quá lớn, chúng ta phải khâu cố định sợi chỉ từ xa

so với mép gân bị đứt, và phân tán sức căng của nó ra nhiều điểm bằng cách khâuvòng qua, vòng lại một số đường khâu cùng trên một đầu gân, rồi mới khâu nối vớiđầu gân bên kia và tiếp tục khâu giảm sức căng ở đầu gân bên kia

 Sau khi khâu xong phải bó bột thạch cao (nẹp) để tránh trường hợp chỉ bị đứt

IV Những vấn đề cần chú ý khi khâu

- Trước khi khâu phải lấy hết các vật lạ, mẩu tổ chức chêt, cục máu đông,chất bẩn trong xoang vết thương, vết mổ

- Cầm máu hoàn toàn trong vết mổ, vết thương, đề phòng chảy máu thứ phát

- Khi khâu cố gắng đặt sự tiếp xúc hoàn toàn giữa các mô bào, trên toàn bộ

độ dài vết thương, tránh sự hình thành các hang, ổ, túi

- Đề phòng sự thiếu máu ở đường khâu: Nút chỉ không đặt quá sát mép của

nó, thắt chặt vừa phải, không dùng chỉ quá to so với độ dày của mô bào

Trang 28

- Phải đảm bảo nguyên tắc vô trùng cho vết mổ Tay người mổ, dụng cụ,nguyên liệu khâu phải được sát trùng, tiêu độc kỹ.

- Các mũi khâu bên trong thì phải cắt chỉ ngắn hơn 2mm

- Ðối với những vết mổ có miệng rộng, phải khâu nhiều nút thì nên khâu ở giữa trước giúp cho vết khâu phẳng không nhăn nhúm (khâu tình thế hay khâu chia đôi)

- Thiến gia súc còn là biện pháp loại bỏ những con đực không đủ phẩm chấtlàm giống

II Các bước tiến hành

1 Cố định gia súc.

Trang 29

- Trâu, bò trưởng thành cố định đứng trong giá 4 trụ, buộc chặt đầu gia súc,hai chân sau được buộc hình số 8 Có hệ thống giá đỡ không cho gia súc nằmxuống và có dây chằng trên không cho con vật nhảy dựng lên khi đang phẫu thuật.

- Vật nuôi nhỏ (bê, nghé, dê, cừu) vật nằm, cột hay giữ chặt bốn chân

- Lợn con thường được thiến vào lúc 3-21 ngày tuổi, cố định nằm nghiênghoặc người phẫu thuật có thể kẹp lợn vào giữa 2 đầu gối của mình, vừa cố định vừathao tác

- Những vật nuôi được chỉ định gây mê, cố định nằm nghiêng hay nằm ngửasau khi thuốc mê có tác dụng

2 Vệ sinh

Rửa kỹ bao dịch hoàn, bẹn và các vùng lân cận, lau khô, sau đó sát trùng baodịch hoàn hai lần (một lần trước khi gây tê, một lần trước lúc rạch (cắt) nhát daođầu tiên) bằng cồn Iod 5%

Nếu có các ổ nhiễm trùng cũ phải xử lý khỏi mới được tiến hành phẫu thuật

3 Gây mê và gây tê

- Gây mê:

+ Chó, mèo: Khi thiến chó, mèo đực chỉ định gây mê tuyệt đối Nếu thiếnchó, mèo đực không gây mê rất nguy hiểm Chó, mèo là vật nuôi ăn thịt có hệ thầnkinh rất mẫn cảm, con vật không chịu được đau đớn nên phản ứng rất dữ dội, có thểgây tổn thương cho người và chính bản thân nó, nguy cơ chảy máu nhiều và nhiễmtrùng cao

+ Ngựa: Có thần kinh tương đối linh hoạt, khả năng chịu đựng đau cũngkém, vì thế khi thiến ngựa đực tốt nhất là có chỉ định gây mê Thời gian phẫu thuậtthường thực hiện trong vòng 20-30 phút, vì thế chỉ cần gây mê nông là đủ thời gianthực hiện

+ Loài nhai lại: Có hệ thần kinh trì trệ, khả năng chịu đau lớn khi thiến chỉcần cố định chắc, kết hợp với các biện pháp gây tê cục bộ

Trang 30

+ Lợn: Với lợn nhỏ không cần gây mê, gây tê, chỉ cần cố định chắc làđược Khi thiến những con lợn to lớn, hung dữ, khó cố định, cần thiết chỉ định gây

mê hay gây tê

- Gây tê:

Gây tê dẫn truyền dịch hoàn bằng cách tiêm 3-5ml novocain 3% vào mỗibên thừng dịch hoàn Khi tiêm ép sát thừng dịch hoàn sang một bên bằng đầu ngóntay cái và đầu ngón tay trỏ của bàn tay không cầm bơm tiêm

Gây tê thấm bằng cách tiêm novocain 0,25% vào dưới da ở phần giữa haidịch hoàn (vị trí vết mổ) Ðợi 10 phút cho thuốc tê tác dụng rồi phẫu thuật

4 Vị trí và cách tiến hành

- Bóp căng hai dịch hoàn: Tay trái cầm thật chắc phía trên, mặt dưới của baodịch hoàn, dồn toàn bộ da bao dịch hoàn vào lòng bàn tay, làm cho hai dịch hoàncăng ra

- Mổ dịch hoàn:

+ Tay phải dùng dao rạch một đường thẳng, dứt khoát vào rãnh giữahai dịch hoàn, vết mổ bắt đầu từ 1/3 phía dưới bao dịch hoàn xuốnghết đáy, vết mổ cắt đứt lớp da, màng cơ và cơ

+ Sau đó cầm chắc một dịch hoàn, mổ đứt giáp mạc chung

- Bộc lộ dịch hoàn và thừng dịch hoàn: Dùng tay bóp mạnh cho dịch hoàn lòi

ra Bóc tách lớp giáp mạc chung ra khỏi dịch hoàn, vuốt ngược lên phía trên thừngdịch hoàn, bộc lộ hoàn toàn dịch hoàn và một phần thừng dịch hoàn

- Thắt thừng dịch hoàn: Dùng chỉ chắc gập đôi và kim xâu qua thừng dịchhoàn rồi thắt thật chặt, cắt chỉ nhưng phải để dài

- Cắt thừng dịch hoàn: Người phụ mổ cầm đầu chỉ, người mổ chính cắt đứtthừng dịch hoàn, vết cắt cách nút thắt 2cm

- Sát trùng: Dùng cồn Iod 5% sát trùng đầu thừng dịch hoàn bị cắt Nếu cắtxong không thấy có máu chảy từ thừng dịch hoàn thì cắt chỉ ngắn đi rồi thả chothừng dịch hoàn chui vào xoang bụng, nếu máu có chảy thì thắt nút thứ 2 cách nút

Trang 31

thứ nhất về bên trên 1-2cm Phải đảm bảo cho máu không chảy từ thừng dịch hoàn

ra nữa thì mới buông tay cho thừng dịch hoàn chui vào xoang bụng

- Dịch hoàn còn lại cũng tiến hành tương tự

- Sau khi phẫu thuật xong vuốt hết máu ở trong bao dịch hoàn ra, cho thuốckháng sinh vào bao dịch hoàn Dùng cồn Iod 5% sát trùng bên ngoài dịch hoàn

Ngoài ra chúng ta có thể dùng phương pháp thiến kín: là phương pháp dùng kìm phá huỷ thừng dịch hoàn hoặc dùng hóa chất (hỗn hợp fomalin 38% với cồn

96 0 theo tỷ lệ 4:1) tiêm vào thừng dịch hoàn gây ra quá trình viêm không nhiễm trùng làm hủy hoại thừng dịch hoàn mà không cần phải phẫu thuật Nhưng phương pháp này chỉ tiến hành được với những gia súc non, gia súc già cho kết quả không chắc chắn.

III Hộ lý, chăm sóc

- Từ khi thiến cho tới khi vết mổ lành lại không cho gia súc đầm ao, hồ, chuồng trại phải quét dọn sạch sẽ

- Phải thường xuyên theo dõi vết mổ, nếu vết mổ bị nhiễm trùng thì phải xử

lý như vết thương nhiễm trùng

- Ngoài ra khi loại thải các con lợn nái, thiến để nâng cao chất lượng thịt

2 Chuẩn bị lợn thiến

- Với lợn con mới lớn nên thiến vào trước lúc động dục lần đầu Lợn lớn thìthiến vào thời điểm con vật không động dục

Trang 32

- Cho lợn nhịn đói ít nhất 12h.

- Nếu ở trang trại có nhu cầu thiến nhiều lợn cái cùng một lúc, cần chuẩn bịcác ô chuồng để nuôi riêng lợn sau khi thiến Không nhốt chung lợn thiến với lợnkhỏe mạnh Các ô chuồng nuôi lợn sau khi thiến cần được vệ sinh sạch sẽ Lợnthường ở bẩn, nếu thấy cơ thể lợn quá bẩn phải tắm rửa sạch cho lợn trước khithiến

3 Các bước tiến hành

- Cố đinh: Với lợn dưới 30kg có thể mổ hông hoặc mổ bụng Nếu mổ hông,

cố định lợn nằm nghiêng, nếu mổ bụng cố định lợn nằm ngửa Với lợn lớn, khôngthiến bằng phương pháp mổ bụng được, phải cố định lợn nằm nghiêng để mổ hông

- Vệ sinh:

Cắt lông vùng phẫu thuật, rửa sạch, lau khô, sát trùng bằng cồn iod 5%

- Gây mê và gây tê:

Thiến lợn cái không cần chỉ định gây mê và gây tê, trừ những trường hợptiến hành ở những cá thể to lớn và hung dữ Lợn lớn hung dữ rất khó cố định, nếuxét thấy cần thiết, chúng ta chỉ định gây mê nông

- Vị trí và cách tiến hành:

+ Ph ươ ng pháp mổ hông : Vị trí vết mổ cách mỏm hông xương cánh chậu

và mỏm ngang của các đốt sống hông 3cm mỗi chiều, chếch từ trên xuống dưới, từtrước ra sau, độ dài từ 5-7cm Với những con lợn lớn nặng 100-200kg, độ dài vết

mổ có thể lên tới 15cm, vì không thể tiếp cận buồng trứng bằng một ngón tay màphải đưa cả bàn tay vào

+ Ph ươ ng pháp mổ bụng : Vị trí vết mổ nằm giữa đường trắng, ngang mứcđôi hàng vú cuối cùng Phương pháp này không áp dụng được ở những lợn lớn, vìbụng của chúng có lớp mỡ dày

Trang 33

- Mổ một đường thẳng dài khoảng 5-7cm, chéo từ trên xuống dưới, từ trước

ra sau Vết mổ làm đứt hoàn toàn lớp da, dùng ngón tay trỏ để tách các lớp cơ ởvách bụng cho tới phúc mạc

- Dùng ngón tay trỏ và ngón tay cái cấu thủng phúc mạc (không đâm thẳng

vì có thể làm thủng tới ruột) Khi phúc mạc thủng, dịch phúc mạc chảy ra

- Cho ngón tay trỏ vào trong xoang bụng để tìm buồng trứng Không dùngngón tay ngoáy lung tung trong xoang bụng mà phải tìm lần lượt từ dưới vết mổvào trong xoang chậu, trước cửa xoang chậu, trước bàng quang

- Khi tìm được buồng trứng, cong ngón tay trỏ lại luồn vào cuống buồngtrứng, áp sát vào thành bụng, kết hợp với ngón tay cái ở ngoài tỳ mạnh vào thànhbụng để đưa buồng trứng ra ngoài vết mổ

- Dùng panh kẹp ngang qua ống trứng rồi xoắn buồng trứng từ chậm đếnnhanh, khi buồng trứng bị xoắn đứt

- Lấy cồn Iod 5% sát trùng vào cuống buồng trứng đã đứt, rồi nhét sừng tửcung vào trong xoang bụng

- Buồng trứng còn lại đối xứng với buồng trứng đã xoắn đứt Cũng làm nhưtrên để lấy ra

- Sau khi lấy được cả hai buồng trứng phải cho toàn bộ sừng tử cung vàotrong xoang bụng

- Rắc kháng sinh vào trong xoang bụng

- Khâu phúc mạc và khâu da lại

Trang 34

Việc nuôi chó, mèo đẻ rất vất vả nhưng lại không mang lại lợi ích gì nhiều cho các gia đình Mặt khác, chó cái đến kỳ động dục thường thải ra các chất tiết và máu từ khe sinh dục, gây mùi khó chịu, nhất là đối với không gian chật hẹp ở thànhphố Mèo cái động dục, chưa gặp được bạn tình thì gào suốt đêm, thêm vào đó thời gian động dục của chúng không phải ít ngày (trên dưới 10 ngày) Vì vậy cách tốt nhất là thiến chúng đi.

2 Các bước tiến hành

- Gây mê: Chỉ định gây mê bắt buộc

- Cố định vật nuôi nằm ngửa trên bàn mổ

- Vệ sinh trong phẫu thuật: Cắt và cạo lông thật sạch vùng bụng rộng hơn gấp 2-3 lần so với vùng phẫu thuật Rửa sạch bằng xà phòng và nước sạch Lau khôbằng vải gạc hay khăn bông đã được tiệt trùng Sát trùng 2 lần bằng cồn iod 5%

- Vị trí vết mổ: nằm giữa đường trắng, ngang mức đôi hàng vú áp cuối cùng,

xu hướng nhích lên phía đầu Khi khó tiếp cận với buồng trứng, cần mở rộng vết

mổ thì rạch về phía đầu con vật

- Sau khi rạch cắt da, tìm đường trắng và rạch chính giữa nó Do mô liên kết của vùng này của chó, mèo rất lỏng lẻo, vì thế vết mổ da ở chính giữa bụng, dưới

nó chưa hẳn đã là đường trắng, mà đường trắng thường lệch về một phía nào đó Đường trắng rất mỏng, ngay dưới nó là phúc mạc

- Rạch phúc mạc: Phúc mạc rất mỏng, không nên chọc thủng bằng tay, vì làm như vậy rất khó khâu sau này, dùng kẹp nhấc phúc mạc lên rồi dùng kéo cắt đứt nó một cách cẩn thận Khi cắt phúc mạc chú ý không cắt vào ruột

- Tìm sừng tử cung và tìm buồng trứng: Buồng trứng của chó, mèo rất nhỏ

và được bọc kín trong loa kèn dày chắc, rất khó cảm nhận và phân biệt được khi sờ

nó trong xoang bụng Vì vậy muốn tiếp cận được buồng trứng phải sờ tìm từ sừng

tử cung Sừng tử cung có cấu trúc hình ống nhỏ, thẳng và nhợt màu hơn ruột non, lần tay về phía đuôi con vật, gặp ngã ba tử cung, lần về phía đầu sẽ gặp ống dẫn trứng và buồng trứng

Ngày đăng: 27/03/2014, 22:28

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình   bán   cầu,   cứng chắc,   giới   hạn   với xung quanh không rõ - Bài Giảng Bệnh Ngoại Khoa Thú Y
nh bán cầu, cứng chắc, giới hạn với xung quanh không rõ (Trang 41)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w