1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM KHOA THÚ Y TIỂU LUẬN MÔN QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG CHUYÊN ĐỀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP MIỀN NAM NÀM Giáo viên Nguyễn Thị Hồng Ngọc Nhóm4 Nhóm trưởng Lê Đình Thế Anh – 641658 – K64TYG Thà

10 35 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 371,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM KHOA THÚ Y TIỂU LUẬN MÔN QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG CHUYÊN ĐỀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP MIỀN NAM NÀM Giáo viên Nguyễn Thị Hồng Ngọc Nhóm4 Nhóm trưởng Lê Đình Thế Anh – 641658 – K64TYG Thành viên Đàm Thu Trang – 654037 – K65TYB Nguyễn Thị Mai Thảo – 650300 – K65TYB Nông Văn Nhân – 640763 – K64TYG Nguyễn Thị Phương Anh – 645441 – K64TYC Nguyễn Năng Quang – 631900 – K63TYK Đề bài Trình bày hiện trạng công tác QLMT khu công nghiệp.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG: HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

KHOA: THÚ Y

TIỂU LUẬN MÔN QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG

CHUYÊN ĐỀ: QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP

MIỀN NAM

Giáo viên: Nguyễn Thị Hồng Ngọc

Nhóm4: Nhóm trưởng: Lê Đình Thế Anh – 641658 – K64TYG

Thành viên: Đàm Thu Trang – 654037 – K65TYB

Nguyễn Thị Mai Thảo – 650300 – K65TYB

Nông Văn Nhân – 640763 – K64TYG

Nguyễn Thị Phương Anh – 645441 – K64TYC

Nguyễn Năng Quang – 631900 – K63TYK

Trang 2

Đề bài: Trình bày hiện trạng công tác QLMT khu công nghiệp ở Miền Nam.

Bài làm

LỜI MỞ ĐẦU

Khu công nghiệp đóng vai trò vô cùng quan trọng thúc đẩy quá trình côngnghiệp hóa ở hầu hết các quốc gia trên thế giới đặc biệt là các nước đang phát triển ở châu Á Các khu công nghiệp phát triển nhanh chóng đem lại lợi ích về kinh tế rất lớncho các quốc gia.Tuy nhiên, điều đáng nói nhất là tốc độ phát triển kinh tế của các khu công nghiệp và sự tập trung công nghiệp trong một khu vực nhất đinh đã kéo theo nhiều tác động tiêu cực đối với môi trường, sự phát triển của các KCN, KCX trong thời gian qua đã bộc lộ nhiều hạn chế và yếu kém cần được nghiêm túc khắc phục, đó chính là tình trạng ô nhiễm môi trường do các KCN, KCX gây ra, trong đó đáng kể đến là vấn nạn ô nhiễm nguồn nước

và không khí Trong quá trình vận hành máy móc, thiết bị nhằm phục vụ cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, một bộ phận lớn các DN đã thiếu đi sự quan tâm đúng mức đến vấn đề BVMT trong và ngoài KCN, KCX,đã gây ra những hệ lụy về môi trường nghiêm trọng Bên cạnh đó sự tồn đọng nhiều bất cập trong hệ thống pháp lý

và quản lý lỏng lẻo của các cơ quan, ban, ngành tạo điều kiện cho ô nhiễm càng trầm trọng hơn Bảo vệ môi trường sinh thái trong quá trình tăng trưởng kinh tế chính là yếu tốđảm bảo sự bền vững trong phát triển các KCN, KCX; Là điều kiện tiên quyết để phát triển sản xuất, kinh doanh, đem lại hiệu quả kinh tế cao, bảo đảm cho sự thắng lợi của công cuộc CNH-HĐH và hội nhập thành công Do đó, bên cạnh việc khắc phục những tồn đọng và đẩy nhanh sự phát triển của các KCN một cách toàn diện theo hướng

Trang 3

CNH-HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế, cần coi trọng và giải quyết tốt hơn nữa vấn đề bảo vệ môi trường, nhất là công tác quản lý môi trường khu công nghiệp để đảm bảo cho các KCN có thể phát triển một cách bền vững

Ban hành các chính sách, pháp luật về BVMT đối với KCN Hệ thống pháp luật Việt Nam liên quan đến công tác BVMT nói chung và BVMT trong các KCN từng bước được hoàn thiện, đồng bộ và thống nhất, trong đó có một số văn bản quan trọng: Luật BVMT năm

2014 là cơ sở, nền tảng pháp lý về BVMT trong mọi hoạt động KT - XH; Luật Xây dựng năm 2014; Luật Đầu tư công năm 2019; Luật Đầu tư năm 2014; Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015; Luật Tài nguyên nước 2012 Tính đến tháng 2/2020, Chính phủ đã ban hành 14 Nghị định, Thủ tướng Chính phủ ban hành 17 Quyết định, Bộ TN&MT và các Bộ, ngành liên quan ban hành 54 Thông tư, Thông tư liên tịch, 48 quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường (QCVN) là công cụ để quản lý và kiểm soát ô nhiễm KCN, bao gồm: Nghị định số 82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 của Chính phủ về quản lý KCN, khu kinh tế (KKT); Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định về quy hoạch BVMT, đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC), đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và kế hoạch BVMT; Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu; Nghị định số 80/2014/NĐ-CP ngày 6/8/2014 của Chính phủ về thoát nước và XLNT; Nghị định số 40/2019/NĐ-CP ngày 13/5/2019 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật BVMT, Thông tư số 35/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 của Bộ trưởng Bộ TN&MT về BVMT KKT, KCN, khu chế xuất, khu công nghệ cao; Thông tư số 25/2019/TT-BTNMT ngày 31/12/2019 của Bộ trưởng Bộ

TN&MT quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 40/2019/NĐ-CP ngày 13/5/2019 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật BVMT và quy định quản lý hoạt động dịch vụ quan trắc môi trường

Trang 4

Việc thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong công tác BVMT đã thực hiện theo hướng đồng bộ và toàn diện, đồng thời tiệm cận với các thông lệ, hiệp ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, góp phần thu hút đầu tư vào các KCN

Tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực quản lý BVMT và đẩy mạnh kiểm tra, thanh tra, xử lý

vi phạm pháp luật về BVMT đối với KCN Tổ chức bộ máy quản lý BVMT tại KCN ở các địa phương cơ bản đã được hình thành và phân cấp thực hiện chức năng quản lý theo thẩm quyền Ban Quản lý (BQL) KCN có chức năng quản lý nhà nước trực tiếp đối với KCN; quản lý và tổ chức thực hiện chức năng cung ứng dịch vụ hành chính công, dịch vụ

hỗ trợ khác liên quan đến hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh cho nhà đầu tư thứ cấp trong KCN BQL KCN có thẩm quyền trực tiếp quản lý về đầu tư, quản lý KCN theo hướng dẫn của các Bộ và theo sự ủy quyền của các cơ quan có thẩm quyền trên một số lĩnh vực: Thương mại, xây dựng, lao động Các BQL KCN đều bố trí nhân sự làm công tác BVMT Trên cả nước hiện có 258 công chức, viên chức làm công tác BVMT tại các BQL KCN Nhiều địa phương có Quy chế phối hợp giữa BQL KCN và các ngành chức năng có liên quan trong công tác quản lý nhà nước về môi trường Về cơ bản, các BQL KCN đã cố gắng trong thực thi nhiệm vụ của mình, trong đó có công tác BVMT tại các KCN Các doanh nghiệp kinh doanh hạ tầng KCN đều có bộ phận phụ trách về môi trường, hoặc bố trí cán bộ chuyên trách có chuyên môn phù hợp để quản lý, vận hành hệ thống xử lý chất thải, kiểm soát môi trường Các doanh nghiệp đầu tư thứ cấp trong KCN

có bộ phận chuyên môn, hoặc nhân sự có chuyên môn phù hợp phụ trách về BVMT tùy theo quy mô hoạt động và các vấn đề môi trường phát sinh Các doanh nghiệp kinh doanh

hạ tầng KCN và doanh nghiệp đầu tư thứ cấp trong KCN thực hiện theo sự quản lý và hướng dẫn của BQL KCN và Sở TN&MT địa phương

Những bất cập, tồn tại trong xây dựng, tổ chức thực hiện chính sách pháp luật về BVMT tại các KCN Bên cạnh những kết quả trên, công tác quản lý môi trường đối với các KCN cũng bộc lộ một số bất cập, tồn tại như: Công tác BVMT trong KCN chịu sự chi phối của nhiều luật liên quan, dẫn đến sự thiếu đồng bộ, thống nhất trong quá trình triển khai thực hiện, gây khó khăn cho công tác quản lý nhà nước; Các loại thuế, phí về môi trường chưa

Trang 5

phát huy được vai trò công cụ kinh tế; chưa tạo hành lang pháp lý và môi trường thuận lợi để khuyến khích phát triển dịch vụ môi trường, sản phẩm thân thiện với môi trường; Việc phân loại, tái chế, tái sử dụng chất thải, tiến tới mô hình KCN không phát thải, cũng như phát triển KCN sinh thái, hoặc khuyến khích xã hội hóa trong một số hoạt động BVMT KCN chậm triển khai trong thực tế Công tác lập, triển khai quy hoạch KCN chưa phù hợp, gây áp lực cho công tác BVMT Đặc biệt, nhận thức của chính quyền địa

phương, BQL KCN, doanh nghiệp về công tác BVMT tại các KCN hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu của thực tiễn Tại các địa phương, có 65% KCN đã đi vào hoạt động, nhưng chưa được cấp giấy xác nhận hoàn thành công trình BVMT; một số doanh nghiệp đầu tư thứ cấp trong các KCN chưa hoàn thiện hồ sơ, thủ tục pháp lý về BVMT Đến nay, 10,7% KCN trên cả nước đã đi vào hoạt động, thu hút đầu tư, nhưng chưa xây dựng hệ thống XLNT tập trung; việc đấu nối, thu gom, XLNT, thoát nước mưa tại một số KCN khó kiểm soát; chất lượng nước thải không ổn định, có thời điểm không đạt quy chuẩn xả thải Tại một số KCN, hệ thống XLNT tập trung vận hành chưa hiệu quả, mạng lưới thu gom và hệ thống thoát nước mưa, nước thải, XLNT chưa được duy tu, bảo dưỡng định kỳ; nhiều KCN chưa có công trình phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường theo quy định của Nghị định số 40/2019/NĐ-CP và Thông tư số 25/2019/TT-BTNMT Nhiều KCN dù

đã xây dựng hệ thống XLNT tập trung, nhưng lượng nước thải thu gom quá ít, không đủ

để vận hành thường xuyên; công tác dự báo phát sinh nước thải, xây dựng hệ thống XLNT chưa sát với tình hình thực tế, gây lãng phí nguồn lực đầu tư Bên cạnh đó, việc quản lý khí thải tại KCN còn nhiều bất cập Một số doanh nghiệp đầu tư thứ cấp sử dụng công nghệ cũ, nguy cơ gây ô nhiễm không khí cao Một số địa phương chưa quy hoạch địa điểm lưu giữ, xử lý chất thải nguy hại; công tác theo dõi, kiểm tra, giám sát việc thu gom, xử lý chất thải còn hạn chế, tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường Qua thanh tra, kiểm tra cho thấy, còn 12,4% số KCN chưa đầu tư lắp đặt hệ thống quan trắc môi trường tự động, liên tục và truyền dữ liệu về Sở TN&MT; một số KCN đã đầu tư hệ thống quan trắc, nhưng chưa truyền dữ liệu về Sở TN&MT theo quy định Hệ thống quan trắc tự động, liên tục của các cơ sở thiếu tính ổn định, chế độ duy tu, bảo dưỡng chưa thường xuyên Tại một số địa phương, công tác kiểm tra, thanh tra việc chấp hành quy

Trang 6

định pháp luật về BVMT chưa được thực hiện thường xuyên và chưa có giải pháp hữu hiệu trong xử lý điểm nóng về ô nhiễm môi trường Một số cơ sở sản xuất chưa thực hiện nghiêm túc kết luận thanh tra, kiểm tra, giám sát của các cơ quan có thẩm quyền, chậm khắc phục hậu quả Trong khi đó, đầu mối quản lý về môi trường KCN ở một số địa phương còn phân tán, không thống nhất về việc giao thẩm quyền cho BQL KCN và Sở TN&MT Nhiều địa phương chưa xây dựng, ban hành Quy chế phối hợp giữa BQL KCN với các ngành chức năng liên quan trong công tác quản lý nhà nước về môi trường, hoặc

đã ban hành, nhưng Quy chế không bảo đảm sự phối hợp, quản lý tốt giữa doanh nghiệp kinh doanh hạ tầng KCN với doanh nghiệp đầu tư thứ cấp trong công tác BVMT Nhân lực làm công tác quản lý về BVMT ở các BQL KCN doanh nghiệp đầu tư thứ cấp trong KCN còn thiếu, chưa bố trí đủ biên chế theo quy định…; Nguồn lực tài chính đầu tư cho công tác BVMT nói chung và đầu tư cho BVMT các KCN nói riêng còn hạn chế Chi sự nghiệp BVMT Trung ương bố trí không lớn, nhưng kết quả giải ngân vốn thấp; còn không ít địa phương bố trí chi sự nghiệp BVMT không đạt tỷ lệ theo quy định Trong khi vẫn chưa có quy định tỷ lệ chi từ nguồn thu thuế BVMT được sử dụng để đầu tư trực tiếp cho công tác BVMT, quy định về sử dụng nguồn vốn dự phòng từ NSTW ưu tiên bố trí cho các chương trình, dự án BVMT các KCN Việc đầu tư xây dựng các KCN tại một số địa phương còn bất cập, năng lực tài chính xây dựng kết cấu hạ tầng hạn chế, chưa ưu tiên đầu tư hạ tầng kỹ thuật BVMT Một số BQL KCN chỉ tập trung thu hút đầu tư, chưa quan tâm đúng mức đến công tác BVMT của KCN Một số chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng KCN, hoặc nhà đầu tư thứ cấp chưa nhận thức đầy đủ trách nhiệm BVMT theo quy định pháp luật; nhiều cơ sở chưa kịp thời cập nhật các quy định pháp luật về BVMT

Công tác bảo vệ môi trường tại các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Long A

Tỉnh Long An thuộc vùng phát triển kinh tế trọng điểm phía Nam, là cửa ngõ từ

TP Hồ Chí Minh về vùng đồng bằng sông Cửu Long rộng lớn và nhiều tiềm năng,

đã phát huy tốt lợi thế này để thu hút đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội Đặc biệt,

Trang 7

ngành TN&MT tỉnh luôn tăng cường công tác theo dõi, kiểm tra, giám sát các hoạt động liên quan đến lĩnh vực môi trường,

Quan tâm đầu tư BVMT

Hiện nay, toàn tỉnh có 35 khu công nghiệp (KCN) , trong đó 16 KCN đang hoạt động với diện tích 2.323,03 ha, tỷ lệ lấp đầy khoảng 87,6% Các KCN đã thu hút được 1.622

dự án đầu tư, trong đó có 793 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư 4.543,6 triệu USD và 829 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư 92.219 tỷ đồng Đối với khu kinh tế cửa khẩu có 2 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư 75 triệu USD, diện tích 21,2 ha và 2 dự án đầu tư trong nước với diện tích thuê đất là 0,66 ha Hầu hết, các KCN được cấp Giấy xác nhận hoàn thành các công trình, biện pháp BVMT phục vụ giai đoạn vận hành theo báo cáo tác động môi trường (ĐTM) được phê duyệt bao gồm: Long Hậu, Thịnh Phát, Hải Sơn, Nhựt Chánh, Cầu Tràm, Thái Hòa, Tân Đức, Đức Hòa 1, Phúc Long, Tân Kim, Thuận Đạo Qua kiểm tra, hầu hết hệ thống XLNT của các KCN đều xử

lý đạt quy chuẩn cho phép xả thải theo quy định và hiện tại, các công trình xử lý chất thải tại các KCN vận hành ổn định và công suất vận hành đều thấp hơn công suất thiết kế nên chưa có hiện tượng quá tải và còn thừa công suất để xử lý tổng lượng nước thải của KCN (ước tính tổng lưu lượng nước thải phát sinh thực tế khoảng 50.000 m3 /ngày, đêm) Tất

cả các khu công nghiệp đều đã lắp đặt và vận hành hệ thống quan trắc tự động nước thải

và truyền dữ liệu về Sở TN&MT để theo dõi

Về thu gom, xử lý rác tại các KCN trên địa bàn tỉnh đều chưa bố trí trạm trung chuyển, rác sinh hoạt phát sinh của các đơn vị thứ cấp trong KCN do Công ty tự hợp đồng thu gom xử lý (đa số là Công ty Công trình đô thị của huyện) Công tác thu gom, xử

lý rác thải công nghiệp được các Doanh nghiệp thực hiện khá tốt, tỷ lệ thu gom chất thải rắn công nghiệp ước tính đạt khoảng 90% (khoảng 10% chất thải rắn công nghiệp còn lại Doanh nghiệp tái sử dụng hoặc lưu kho).Về xử lý chất thải nguy hại ngoài Công ty TNHH Ngọc Tân Kiên là đơn vị đầu tiên trên địa bàn tỉnh được cấp giấy phép đang hoạt động tại KCN Đức Hòa 1 còn có 4 doanh nghiệp khác cũng được cấp giấy phép xử lý chất thải công nghiệp nguy hại là Công ty Cổ phần Công nghệ Môi trường Trái Đất Xanh

Trang 8

và Công ty TNHH Nguyệt Minh 2 tại KCN Xuyên Á, Công ty TNHH môi trường Chân

Lý tại CCN Hoàng Gia và Công ty TNHH MTV SX TM DV XLCTNH Tùng Nguyên H.S tại KCN Hải Sơn nên chất thải nguy hại phát sinh từ các doanh nghiệp trong các KCN đã đi vào hoạt động được mang đến xử lý tại 5 đơn vị này hoặc hợp đồng với Công

ty có chức năng vận chuyển đưa đi xử lý tại nơi khác.Ngoài ra, các KCN như Đức Hòa 1, Xuyên Á, Tân Đức, Hải Sơn, Thuận Đạo, Phúc Long, Thịnh Phát, Long Hậu, Cầu Tràm đều có hệ thống xử lý nước thải tập trung hoạt động liên tục và lượng bùn thải trong quá trình xử lý được ép thành bùn khô cũng được thu gom, xử lý đúng theo quy định

Toàn tỉnh hiện có 63 CCN theo quy hoạch, với tổng diện tích 3.367,5 ha, trong đó 22 CCN đang hoạt động với tỷ lệ lấp đầy đạt 77,6%; thu hút 622 dự án với diện tích đất đã cho thuê 756,4 ha Trong 22 CCN đi vào hoạt động, có 19 CCN đã xây dựng hệ thống xử

lý nước thải theo quy định Chất thải rắn sinh hoạt do các CCN phát sinh được các doanh nghiệpthu gom và hợp đồng với các Công ty công trình đô thị vận chuyển và xử lý Công tác thu gom, xử lý rác thải công nghiệp được các doanh nghiệp thực hiện khá tốt, hiệu quả thu gom đạt khá cao, với biện pháp xử lý chủ yếu là tái chế, tái sử dụng và ký hợp đồng chuyển giao cho đơn vị có chức năng xử lý

Chú trọng công tác quản lý về môi trường

Để nâng cao hiệu quản công tác quản lý về BVMT tại các KCN/CCN trên địa bàn tỉnh, SởTN&MT thường xuyên tổ chức thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định pháp luật về BVMTđối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, KCN/CCN đang hoạt động trên địa bàn tỉnh; triển khai và theo dõi chặt chẽ tiến độ thực hiện các nội dung theo Kế hoạch số 104/KH-UBND của UBND tỉnh ngày 16/5/2019 về quản lý thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn trên địa bàn tỉnh từ năm 2019 đến năm 2025; đôn đốc các KCN/CCN, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nằm ngoài KCN thuộc đối tượng phải lắp đặt hệ thống quan trắc nước thải, khí thải tự động liên tục và truyền số liệu trực tiếp về Sở TN&MT để theo dõi, quản lý

Trang 9

Cùng với đó, Sở TN&MT cũng thường xuyên phối hợp với các tổ chức đoàn thể xã hội tăng cường công tác truyền thông, tuyên truyền về BVMTcho cộng đồng, nhất là chủ đầu tư hạ tầng các KCN/CCN và các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh

để gọi cộng đồng doanh nghiệp, người dân nâng cao ý thức, cùng chung tay góp sức BVMT sạch, đẹp vì mục tiêu phát triển bền vững

Nhìn chung, mặc dù vẫn còn một vài KCN/CCN có các điều kiện hạ tầng kỹ thuật chưa đồng bộ, một một số doanh nghiệp đi vào hoạt động sản xuất chưa thực hiện tốt các công trình, giải pháp giảm thiểu ô nhiễm gây ảnh hưởng tới công tác BVMT chung Tuy nhiên hầu hết các KCN/CCN có nhiều chuyển biến tích cực, đã đẩy nhanh tiến độ lắp đặt

hệ thống quan trắc tự động và truyền số liệu trực tiếp về Sở TN&MT để theo dõi, giám sát; các chủ đầu tư hạ tầng, các Doanh nghiệp hoạt động trong KCN/CCN ngày càng nâng cao nhận thức, vai trò, trách nhiệm BVMT trong quá trình hoạt động sản xuất

Tăng cường kiểm tra, giám sát

Trong thời gian tới, Sở TN&MT sẽ tiếp tục tăng cường công tác kiểm tra, giám sát công tác BVMT tại các KCN/CCN và các cơ sở đang hoạt động ngoài KCN/CCN Trong

đó, tập trung kiểm soát chặt chẽ các hoạt động phát thải gây ô nhiễm môi trường nước và không khí, tăng cường quản lý rác thải công nghiệp, rác thải nguy hại, rác thải sinh hoạt, tập trung giải quyết ô nhiễm tại KCN/CCN chưa hoàn chỉnh hạ tầng kỹ thuật Trong công tác tiếp nhận đầu tư, Sở TN&MTkiên trì quan điểm tham mưu UBND tỉnh chỉ tiếp nhận các dự án có thiết bị, công nghệ sản xuất tiên tiến, hiện đại và thân thiện với môi trường,

vị trí dự án phù hợp bảo đảm đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương; hạn chế việc tiếp nhận các dự án đầu tư ngoài KCN/CCN, ngoại trừ các ngành nghề dịch vụ, mang tính chất đặc thù; kiên quyết không cho đầu tư mở rộng, nâng công suất đối với các

dự án đầu tư không thực hiện tốt công tác BVMT

Bên cạnh đó, Sở TN&MT tăng cường công tác hậu kiểm sau khi phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, xác nhận kế hoạch BVMT; thực hiện nghiêm các biện

Trang 10

pháp phòng ngừa, ngăn chặn việc nhập khẩu, đưa các công nghệ lạc hậu, thiết bị cũ có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường vào sử dụng; thanh tra, kiểm tra tình hình thực hiện công tác BVMT sẽ chú trọng các cơ sở sản xuất phát sinh các nguồn thải lớn Đồng thời, đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm về môi trường; tiếp tục đầu tư hệ thống trạm quan trắc môi trường tự động và trang thiết bị quan trắc trên địa bàn tỉnh; vận hành, bảo trì hệ thống giám sát các trạm xử lý nước thải tập trung

Trong tương lai không xa, với hàng loạt các KCN/CCN mới và sẽ đi vào hoạt động; tuyến đường 830 - tuyến đường động lực của tỉnh kết nối hầu hết KCN trong tỉnh với Cảng quốc tế Long An (mới đưa vào hoạt động); tuyến đường động lực của vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam (đường 827E, song song với Quốc lộ 1) kết nối TP Hồ Chí Minh -Long An - Tiền Giang sắp được xây dựng, tỉnh -Long An đang không ngừng tiếp tục tăng tốc, bứt phá Những động thái tích cực đã, đang triển khai trong phát triển hạ tầng giao thông, phát triển kinh tế song song với BVMT chặt chẽ hứa hẹn sẽ mang lại kết quả khả quan, hiện thực hóa mục tiêu thúc đẩy phát triển công nghiệp gắn liền với BVMT vì sự

phát triển bền vững Nguồn tin: Tạp chí Môi

trường,số 3/2021

Ngày đăng: 07/05/2022, 15:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w