HOẠI TỬ, HOẠI THƯ, LOÉT, LỖ RÒ
7.4.6. Một số trường hợp lỗ rò thường gặp ở vật nuôi
Vỡ vai trâu, bò thường gặp ở trâu, bò cày kéo. Bệnh hay phát sinh sau những vụ cày bừa khẩn trương để kịp thời vụ, trâu, bò phải làm việc quá nhiều.
- Nguyên nhân: Do sự không phù hợp của vai cày, vai bừa (ách) với vai của trâu, bò; mô bào vùng vai của trâu, bò, nơi tiếp xúc với ách thường xuyên bị cọ sát (chấn thương cơ giới) mà bị tổn thương; ngoài ra, do chất lượng của vai cày, vai bừa không tốt (không được nhẵn) trực tiếp gây tổn thương vai trâu, bò.
- Triệu chứng: Thường biểu hiện 3 giai đoạn.
+ Mô bào vùng vai của trâu, bò sau khi bị tổn thương xuất hiện viêm nhẹ, mô bào dưới da tăng sinh bị cứng lại, thượng bì da bong ra, lông rụng hết. Bề mặt của lớp thượng bì bong ra, lúc đầu có màu đỏ thẫm, trên bề mặt của nó có dịch thấm xuất trong suốt màu vàng, đọng lại như giọt sương.
+ Mô bào vùng vai con vật sau khi bị tổn thương, có sự xâm nhập của vi khuẩn hiếu khí, quá trình nhiễm trùng mủ phát triển. Trường hợp nhẹ, quá trình viêm mủ chỉ giới hạn ở nang nông, nặng hơn sẽ hình thành mụn nhọt hay các áp xe lớn hơn.
+ Khi vai trâu, bò đã bị viêm nhiễm trùng nhưng vẫn phải tiếp tục làm việc (vai cày, vai bừa tiếp tục cọ xát vào mô bào vùng vai của bệnh súc), quá trình bệnh lý nặng nề hơn. Vùng tổn thương sưng to, nhiệt độ cục bộ tăng cao, đau đớn kịch liệt. Nhiễm vi
khuẩn sinh mủ, hình thành những áp xe lớn, khi không có can thiệp kịp thời, áp xe đó vỡ ra, hình thành lỗ rò mủ.
- Điều trị
Khi vai trâu, bò bị xây xát, lớp biểu bì bong ra, trên bề mặt của nó có dịch thấm xuất đọng lại như giọt sương, dùng cồn tím giemtian 2% hay cồn xanh methylen 2% bôi lên vùng bệnh, ngày 2 lần.
Khi đã hình thành các mụn mủ thì điều trị như nhiễm trùng ngoại khoa hiếu khí.
Khi đã hình thành lỗ rò thì điều trị như đã giới thiệu trên, khi phẫu thuật để điều trị thì vết mổ có hình chữ thập vì ổ mủ nằm về cả 2 phía của cột sống cổ.
- Phòng bệnh
Vai cày, vai bừa phải vừa vặn, nhẵn. Không bắt trâu, bò cày kéo quá mức; khi phát hiện động vật bị tổn thương cần cho nghỉ việc, điều trị kịp thời, không để biến chứng nhiễm trùng mủ và không để hình thành lỗ rò vì điều trị hết sức phức tạp.
b. Bệnh Phạm yên ở ngựa
Ngựa dùng để cưỡi, thồ hàng hoặc kéo xe; khi yên ngựa không phù hợp với lưng ngựa (quá chật hay quá lỏng) sẽ gây ra chấn thương cơ giới. Da và mô bào dưới da của ngựa (vùng tiếp giáp với yên) bị tổn thương gọi là phạm yên ngựa.
- Nguyên nhân: Có nhiều nguyên nhân làm cho ngựa bị phạm yên khi làm việc:
+ Hình dáng của lưng ngựa không bình thường: Do lưng ngựa nhô cao khác thường, khi ngựa vận động gây ra độ xóc lớn, đè ép lên lưng ngựa với các lực khác nhau, yên ngựa sẽ cọ xát mạnh vào da vùng lưng tiếp xúc với yên ngựa, nhất là ở những chỗ nhô lên cao hơn. Lưng ngựa bị lõm xuống, lực tác động lúc này lại tập trung vào phía trước và sau của yên (do yên không đặt thăng bằng được trên lưng ngựa), vùng tổn thương sẽ gần với u vai hay đốt sống vùng hông. Lưng ngựa quá dài: Ngựa có lưng dài thường yếu, không phù hợp với những yên ngựa thửa sẵn (phù hợp với kích thước phổ biến), khi cọ xát nhiều sẽ gây tổn thương.
+ Vòng cung xương sườn của ngựa không bình thường (tròn hay bằng phẳng).
+ Hình thái của gáy ngựa không bình thường (gáy cao hay gáy thấp).
+ Kích thước, hình thái của yên ngựa không phù hợp với lưng ngựa.
+ Bảo quản yên ngựa không tốt.
+ Điều kiện làm việc của ngựa không tốt.
- Triệu chứng: Yên ngựa gây ra xây xát trên bề mặt da, lông vùng da tổn thương rụng hết. Lớp tế bào thượng bì bong ra để lộ bề mặt màu đỏ, có dịch thẩm xuất trong suốt, màu vàng ngà đọng lại như những giọt sương buổi sớm. Sau đó dịch tiết đông lại đóng thành vảy màu vàng sẫm, dính với lông xung quanh vùng tổn thương. Khi vùng tổn thương sâu thì dịch thẩm xuất có màu hồng, con vật tỏ rõ sự đau đớn. Khi tổn thương nặng hơn có thể bị vỡ mạch máu và mạch lympho, hình thành u máu hay u
lympho. Khi bị nhiễm trùng (thường nhiễm vi khuẩn sinh mủ) sẽ hình thành mụn nhọt hay các ổ áp xe, phlegmone, có thể biến chứng nhiễm trùng huyết. Nếu không được điều trị kịp thời, áp xe tự vỡ, hình thành lỗ rò mủ.
- Điều trị
Khi mới tổn thương phần biểu bì: Bôi các dung dịch 2 - 3% xanh methylen hay tím giemtian pha trong cồn 90%.
Khi có biểu hiện viêm da cấp tính: Ngày đầu tiên dùng phương pháp chườm lạnh, những ngày tiếp theo sử dụng các liệu pháp nóng (chườm nóng, băng cồn khô, đắp lá ngải cứu sao nóng hay gừng, riềng giã nát trộn với 1 ít rượu sao nóng), bôi các loại thuốc kích thích tiêm viêm, sử dụng thuốc kháng viêm, kháng histamin. Khi đã hình thành những ổ áp xe hay phlegmone, các biện pháp điều trị giống như điều trị áp xe hay phlegmone (đã được giới thiệu ở nội dung phần: Nhiễm trùng ngoại khoa). Khi đã hình thành lỗ rò phải sử dụng phẫu thuật để điều trị.
CÂU HỎI ÔN TẬP 1. Khái niệm: Hoại tử, Hoại thư, Loét, Lỗ rò?
2. Đặc điểm của Hoại thư khô và Hoại thư ướt?
3. Phương pháp điều trị Hoại thư khô và Hoại thư ướt?
4. Loét: nguyên nhân, sinh bệnh học, triệu chứng, phương pháp điều trị?
5. Lỗ rò: khái niệm, nguyên nhân, sinh bệnh học, phân loại, triệu chứng, phương pháp điều trị?
6. Bệnh vỡ vai trâu, bò: nguyên nhân, triệu chứng, phương pháp điều trị?
7. Bệnh phạm yên ở ngựa: nguyên nhân, triệu chứng, phương pháp điều trị?
Chương 8