NGUYÊN NHÂN VÀ SINH BỆNH HỌC

Một phần của tài liệu Benh ngoai khoa thu y (Trang 175 - 178)

Rất nhiều học thuyết khác nhau đã được đưa ra; tuy nhiên, những nguyên nhân của sự xuất hiện khối u còn chưa được sáng tỏ. Cho đến những năm gần đây, có hai học thuyết về nguồn gốc của nó được phổ cập: Học thuyết mô phôi của Kongeima và học thuyết kích thích mạn tính của Virkhov. Những học thuyết này và ngay cả những học thuyết khác cố gắng tìm một nguyên nhân thống nhất đối với tất cả các loại khối u, nhưng đã không nhận được những xác nhận có sức thuyết phục.

9.1.1. Học thuyết loạn phát triển (Học thuyết Kongeima)

Học thuyết này đưa ra nguồn gốc của khối u là sự sinh sản dư thừa của những mẩu mô bào phôi thai tách ra khỏi mối liên hệ bình thường (hay còn được gọi là mô bào phôi thai lạc), tồn tại và không bị tiêu biến trong suốt thời gian sống của bào thai. Trong thời gian này, những tế bào khác của bào thai được phân chia và phát triển thành những mô bào và cơ quan bình thường, còn những nhóm tế bào trong những mẩu mô phôi tách ra vẫn tồn tại trong trạng thái yên tĩnh - trạng thái tiềm tàng. Những mẩu mô bào này có thể ở giữa những mô bào giống chúng về mô học, hay bị di chuyển vào giữa những mô bào khác (sai chỗ).

Khi bào thai đạt được sự phát triển hoàn toàn, những mẩu mô phôi đã bị tách ra khi trước có thể vẫn được giữ nguyên (hoàn toàn tiềm ẩn), không thể hiện bằng bất cứ

biểu hiện nào; nó giữ trong mình ở dạng tiềm lực tất cả năng lượng cao không bị tiêu biến của sự phát triển. Nhưng chúng có thể xuất hiện, bùng nổ vào bất kỳ thời điểm nào, dưới tác động của những nguyên nhân này hay nguyên nhân khác (những kích thích từ môi trường bên ngoài hay những rối loạn sự cân bằng gian bào bên trong). Lúc những tế bào đó sinh sản, sẽ tạo ra những tế bào mô phôi trẻ, biệt hóa ít hơn so với tế bào mô bình thường. Tổng cộng những cái đó chính là sự phát triển của khối u.

Tuy nhiên, học thuyết của Kongeima không giải thích tất cả những hiện tượng quan sát được trong khối u; đặc biệt, trong những khối u ác tính, mà chủ yếu giải thích sự xuất hiện của khối u ở động vật đã đứng tuổi và già.

9.1.2. Học thuyết kích thích (Học thuyết Virkhov)

Theo học thuyết kích thích của Virkhov, nguyên nhân của nhiều khối u, đặc biệt ung thư là sự tác động lâu dài đến mô bào bởi những kích thích vật lý, hóa học - các dạng khác nhau của chấn thương: Những tác động của phóng xạ ion hóa, năng lượng mặt trời, những chất hóa học có nguồn gốc vô cơ, hữu cơ hay sinh học (sản phẩm của chưng cất dầu hỏa, chế biến than đá, một số alcaloid, hydratcarbon).

Những ung thư nghề nghiệp ở người và động vật là minh họa tốt cho lý thuyết đã cho. Ví dụ: Ung thư da ở bò thịt, xuất hiện ở xung quanh gốc sừng, chỗ buộc dây thừng.

Ung thư góc miệng ở ngựa, như hậu quả của sự chấn thương bởi chiếc hàm thiếc bằng kim loại. Ung thư da ở những người làm nghề chiếu chụp X - quang. Ung thư phổi của công nhân ở những mỏ cô ban. Ung thư da ở những công nhân sản xuất paraffin và làm việc chưng cất dầu lửa. Sự biến đổi của những nốt loét ở dạ dày, ruột, da thành ung thư cũng có mối nhân quả với kích thích mạn tính.

Ý nghĩa thực tế của học thuyết này ở chỗ, nó giúp đề phòng sự xuất hiện của một số khối u. Tuy nhiên, thuyết này không giải thích cơ chế chuyển những tế bào bình thường thành tế bào khối u; không giải thích được sự phát triển của ung thư trong những trường hợp khi không có bất kỳ quá trình viêm mạn tính nào, không có tác động của những kích thích từ môi trường bên ngoài xảy ra trước sự xuất hiện của nó và cũng không giải thích được ngay cả vấn đề những khối u bẩm sinh và về tất cả những khối u lành tính.

9.1.3. Học thuyết ký sinh trùng

Học thuyết ký sinh trùng dựa trên cơ sở những yếu tố trùng hợp khi trong mô bào của người và động vật có mặt một số ký sinh trùng, cùng với sự xuất hiện khối u. Ví dụ:

Ở gia súc lớn có sừng, xuất hiện ung thư gan khi bị mắc sán lá gan; ở chó và mèo khi bị giun Obistorchis blanchard đường gan - mật. Bằng thực nghiệm, khi nuôi những con chuột xám bằng gián đen, chúng phát triển ung thư lưỡi và dạ dày.

Vai trò nguyên nhân của ký sinh trùng trong sự xuất hiện ung thư ở gan là sự kích thích lâu dài; có thể trong những trường hợp riêng biệt tạo điều kiện cho sự xuất hiện khối u.

Tuy vậy, khi trâu bò một số nước (trong đó có nước ta) bị nhiễm sán lá gan phổ biến nhưng khối u ác tính ở các khí quan nơi chúng ký sinh không có những tỷ lệ tương ứng. Như vậy, khó có thể nói nguyên nhân gây ung thư của ký sinh trùng. Bằng thực nghiệm, trong nhiều trường hợp, ký sinh trùng không gây ung thư. Như vậy, học thuyết ký sinh trùng thực sự không đủ khả năng giải thích sự xuất hiện của ung thư.

9.1.4. Học thuyết virus

Học thuyết nguyên nhân phát sinh ung thư là do virus cũng được chú ý. Quan điểm của học thuyết này ở chỗ, khối u có thể được gây ra bởi những kháng nguyên của virus, lần đầu tiên F. Bosc và A. Borrel (1903) đã nói về điều đó. V. Ellerman và O. Bang (1908) bằng thực nghiệm cũng khẳng định. P. Rous (1911) đã xác định nguyên nhân gây bệnh Bạch huyết và Sac - côm ở gà là do virus.

Một khoảng thời gian dài người ta cho rằng, các virus khối u là những kháng nguyên đã kích thích những mô bào bị tổn thương làm cho chúng sinh sản không có giới hạn và không chịu sự điều khiển. Tuy nhiên, L.A. Zilber (1968) đã trình bày ý kiến khác về virus khối u. Ông cho rằng: Trước tiên, virus một cách di truyền, đã biến tế bào bình thường thành tế bào khối u; thứ hai, chúng không đóng vai trò gì trong sự sinh sản của tế bào khối u đã xuất hiện và thứ ba, sự tác động của virus khối u khác với virus truyền nhiễm về nguyên tắc.

Luận điểm cơ bản của học thuyết virus - di truyền sự ác tính hóa (malignisatio) là sự thống nhất không phá vỡ nổi của hai cội nguồn: virus như một kháng nguyên lạ, gây ra sự sinh sản tế bào và hệ gen riêng của tế bào, xác định tính chất di truyền của nó.

Quan điểm này của L.A. Zilber là cơ sở để ông xây dựng học thuyết về bản chất và cơ chế biến đổi ác tính của mô bào bình thường.

Những người ủng hộ học thuyết virus cho rằng, tất cả những khối u đều được gây ra bởi virus, vai trò của những nhân tố gây ung thư và những kích thích khác chung quy chỉ là sự tạo thành điều kiện cần thiết đối với sự thực hiện tác động của virus gây ung thư.

9.1.5. Học thuyết hormone

Những dẫn liệu thực nghiệm và quan sát lâm sàng chứng tỏ rằng, trong nhiều trường hợp nhân tố hormone có vai trò đối với sự xuất hiện và phát triển của khối u; ví dụ: Khi tiêm oestrogen cho chuột (cái và đực) trong thời gian dài gây ra ung thư tuyến vú. Khi cắt buồng trứng của chuột có chỉ số ung thư cao thì tần số xuất hiện Ung thư tuyến vú giảm một cách đáng kể. Đặc biệt, khối u tuyến vú ít khi xuất hiện ở chó cái thiến; khi thiến những chó cái có khối u, khối u sẽ phát triển chậm hoặc ngừng lại, biến mất hoàn toàn.

9.1.6. Học thuyết đa căn (Học thuyết đa dạng nguyên nhân)

Học thuyết này không hợp nhất tất cả tính đa dạng của khối u vào một nguyên nhân nào đó. Những nhân tố bất kỳ: vật lý, hóa học, sinh học (virus, ký sinh trùng) và

những nhân tố khác, khi tác động đến bộ máy di truyền của tế bào, gây ra sự đột biến;

biến những tế bào bình thường thành khối u.

Như vậy, bằng tổng quan về những nguyên nhân, cơ chế xuất hiện của nhiều dạng khối u đã thấy rõ ràng rằng: Khối u xuất hiện từ những tế bào của những cơ quan và mô bào bất kỳ, dưới tác động của những nhân tố này hay những nhân tố khác mà bản chất của chúng hãy còn chưa được giải thích đến tận cùng.

Cùng với điều đó, về vấn đề này đã hình thành hai hướng trong Ung thư học. Một hướng được lãnh đạo bởi học thuyết chênh lệch sinh hóa những quá trình nội mô, do đó mà những tế bào bình thường biến thành ung thư. Một hướng khác dựa trên cơ sở công nhận nguyên nhân virus của khối u.

Tuy nhiên, trên cơ sở của lý thuyết về sự biến đổi những tế bào bình thường thành tế bào ung thư dưới tác động của sự rối loạn trao đổi chất nội mô hay trên cơ sở học thuyết virus, thì học thuyết này cũng như học thuyết kia đã ghi nhận về những thay đổi sinh học nội mô, tạo điều kiện cho sự phát sinh u nguyên bào.

Học thuyết đa căn của sự xuất hiện khối u không phủ định những học thuyết khác mà giải thích chúng.

Một phần của tài liệu Benh ngoai khoa thu y (Trang 175 - 178)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(347 trang)