BỆNH CỦA XƯƠNG, KHỚP
10.1.3. Gẫy xương (Bone fracture)
Gẫy xương là sự hủy hoại một phần hay hoàn toàn tính toàn vẹn của xương dưới tác động của những chấn thương cơ giới nào đó, kèm theo tổn thương những mô mềm.
Có nhiều mức độ gẫy xương khác nhau, từ sự rạn nứt với kích cỡ nhỏ không nhìn được bằng mắt thường đến sự gẫy rời hai đầu xương ra khỏi vị trí giải phẫu. Gẫy xương có thể chỉ xảy ra ở một vị trí hoặc ở nhiều vị trí trên cùng một xương hay nhiều xương khác nhau. Trong nhiều trường hợp những mảnh xương, đầu xương gẫy có thể đâm lồi ra khỏi cơ, da xung quanh nó (gẫy xương hở). Khi xương bị gẫy làm ảnh hưởng tới chức năng của các mô bào xung quanh như: gân, cơ, mạch máu, thần kinh, da.
b. Nguyên nhân
Có nhiều nguyên nhân gây ra gẫy xương, trong đó chiếm tỷ lệ nhiều nhất là do các tác động cơ giới cả từ bên ngoài lẫn nội tại của con vật. Trâu, bò nhốt trong chuồng nuôi với các vách ngăn giữa các ô, khi đứng lên, chân có thể vướng vào các vách ngăn mà gây ra gẫy xương. Khi chăn thả trên bãi chăn, sự sụt hố, đánh nhau, trượt ngã cũng có thể xảy ra tai nạn gẫy xương. Nguyên nhân gẫy xương đối với chó, mèo hầu hết là do tai nạn giao thông và rơi từ trên cao xuống. Ở nước ta, chó, mèo được thả rông, không có sự quản lý, vì thế, khi ra đường rất dễ bị tai nạn dẫn đến gẫy xương. Các tác động cơ giới từ bên ngoài vào như: bị người ta đánh đập, gia súc đánh nhau cũng là một trong những nguyên nhân gây ra gẫy xương. Những gia súc có trọng lượng cơ thể lớn, quá béo có nguy cơ bị gẫy xương cao hơn so với các gia súc có thể hình bình thường hoặc gầy. Đối với bê, nghé sơ sinh, khi vùng vẫy để thoát ra khỏi tử cung, âm đạo của mẹ có thể bị gẫy xương bàn chân. Bệnh có thể do kế phát từ một số bệnh: Xốp xương, Viêm xương, Ung thư xương hoặc Rối loạn sinh sản xương, Trật khớp.
c. Phân loại
- Căn cứ vào thời gian xuất hiện:
+ Gẫy xương bẩm sinh: Xương bị gẫy từ khi còn là bào thai.
+ Gẫy xương mắc phải: Gẫy xương xảy ra trong quá trình sống và hoạt động của động vật.
- Căn cứ vào sự tổn thương và mô bào kế cận:
+ Gẫy xương kín: Xương gẫy vẫn còn được bao bọc bởi các lớp bên ngoài nó (cơ, da, niêm mạc).
+ Gẫy xương hở: Xương gẫy kèm theo cả sự rách các lớp mô bào nằm ngoài nó.
Lúc này có thể nhìn thấy đầu xương gẫy lòi ra ngoài.
- Căn cứ vào mức độ tổn thương của xương:
+ Gẫy xương hoàn toàn: Hai đầu gẫy của xương tách rời nhau.
+ Gẫy xương không hoàn toàn: Hai đầu gãy của xương chưa tách khởi nhau hoàn toàn.
- Căn cứ vào hướng của vết gẫy với trục của xương:
+ Gẫy ngang: Vết gẫy nằm ngang trục dọc của xương bị gẫy.
+ Gẫy dọc: Vết gẫy nằm dọc theo trục dọc của xương bị gẫy.
+ Gẫy chéo: Vết gẫy nằm chéo theo trục dọc của xương bị gãy.
+ Gẫy xoắn: Vết gẫy có dạng vặn vỏ đỗ theo trục dọc của xương bị gẫy.
+ Gẫy răng cưa: Vết gẫy không bằng phẳng mà có dạng lồi lõm.
+ Gẫy phức tạp: Kết hợp của các dạng gẫy nêu trên hay gẫy hình thành các mảnh xương vụn.
d. Triệu chứng
Triệu chứng đầu tiên của gẫy xương là đau. Trong bất kỳ tình huống gẫy xương nào, dù là gẫy xương kín hay hở, gãy xương đơn giản hay phức tạp, gẫy xương to hay nhỏ, gẫy xương rời hay còn dính thì cảm giác đau đều đến rất nhanh. Gẫy xương có thể dẫn đến chảy máu, chảy máu trong hay chảy máu ngoài phụ thuộc vào loại gẫy xương hở hãy gẫy xương kín.
Thay đổi hình dạng giải phẫu sinh lý của xương có thể xảy ra nếu là gẫy xương rời, sự thay đổi vị trí giải phẫu của xương phụ thuộc vào mức độ, thể loại gẫy xương và vị trí xương gẫy. Nếu xương chỉ bị rạn nứt thì bằng mắt thường không thể phát hiện được sự thay đổi vị trí giải phẫu của xương. Khi bị gẫy xương mà đầu xương rời ra thì bằng mắt thường có thể phát hiện được sự thay đổi vị trí của xương. Tuy nhiên, điều này có thể không đúng với một số xương không chịu lực như xương vùng đầu, còn đối với xương chịu lực như xương chày, xương bàn, xương cánh tay thì dễ phát hiện hơn.
Phù nề vùng mô bào xung quanh chỗ xương bị gẫy. Nếu là do ngoại lực tác động gây gẫy xương thì các mô bào xung quanh như cơ, mạch máu cũng chịu sự tổn thương.
Các tổn thương này có thể gồm dập nát, thâm tím, hoại tử. Mức độ của các tổn thương trên phụ thuộc vào mức độ tác động của ngoại lực, vị trí xương bị gẫy. Nếu bị gẫy xương đùi thì mức độ sưng, phù nề sẽ lớn hơn khi bị gẫy ở xương bàn, ngón.
Ảnh hưởng tới cơ năng của mô bào mà xương chi phối: Điều này phụ thuộc vào vị trí và mức độ xương bị gẫy và ngoại lực tác động. Nếu xương bị gẫy càng chi phối nhiều cơ quan trong cơ thể thì mức độ ảnh hưởng càng lớn. Gẫy xương sống sẽ làm cho con vật không thể đứng lên được. Nếu gẫy xương đùi việc đi lại là rất khó khăn với động vật lớn như trâu, bò; trái lại với chó, mèo thì vẫn có thể đi đứng được bằng 3 chân.
Nếu gẫy xương bàn ngón thì chó, mèo vẫn đi lại được dễ dàng. Xương chỉ bị rạn nứt vẫn duy trì được chức năng chống đỡ, vận động. Khi xương bị gẫy rời thì chức năng này mất hoàn toàn. Lực tác động mạnh thì không những chỉ gây ra gẫy xương mà còn ảnh hưởng tới các mô bào khác nên sẽ làm tăng thêm mức độ rối loạn cơ năng của vùng xương bị gẫy. Con vật có thể kêu rên, tỉnh táo hoặc sốc, hôn mê; tất cả đều phụ thuộc vào mức độ tổn thương, lực tác động, vị trí xương gẫy, giống loài, cơ địa, thần kinh của nó. Như vậy, các triệu chứng của gẫy xương biến động từ nhẹ đến nặng, từ chỗ không có biểu hiện triệu chứng bên ngoài, đến trường hợp các triệu chứng điển hình như ở trên đều bộc lộ.
e. Quá trình hàn gắn xương bị gẫy
Quá trình hàn gắn của xương cũng bắt đầu từ khi nó bị gẫy. Máu chảy từ trong vết xương gẫy và các mô xung quanh dần sẽ đông lại, nằm giữa các xương bị gẫy. Trong vài ngày mạng mạch máu mới sẽ phát triển và mang các tế bào thực bào đến khu vực bị tổn thương để tiến hành dọn dẹp những tế bào bị chết. Các mạch máu mới hình thành cũng mang các tế bào sợi tới, các tế bào này sẽ tăng sinh nhiều lần và sản sinh ra các sợi collagen. Bằng cách này các cục máu đông sẽ được thay thế bằng mạng lưới collagen.
Tính chất đàn hồi của collagen sẽ giữ cho các mảnh xương vỡ ít chuyển động hơn dưới ngoại lực tác động.
Hình 10.3. Quá trình hàn gắn xương bị gẫy
Sợi collagen tạo ra từ các tế bào sợi tự động liên kết với nhau tạo thành mạng lưới xương giúp cho sự hình thành của tinh thể xương. Các tinh thể xương có bản chất là canxi hydroxyapatite không hòa tan, lắng đọng trong trong mạng lưới xương được tạo ra. Sự khoáng hóa của hệ lưới collagen sẽ làm cho nó cứng lên và biến nó thành xương.
Thực tế xương là hệ thống lưới collagen được khoáng hóa.
Trên đây là quá trình hình thành xương xốp. Xương xốp không có những đặc tính cơ học như xương trưởng thành hay các xương chắc. Phải trải qua quá trình phát triển bồi đắp thì xương xốp mới trở thành các tấm xương vững chắc. Thông thường, điều này xảy ra sau khoảng 18 tháng kể từ khi xương bị gẫy. Tuy vậy, chỉ cần sau khoảng 3 tháng là sức chịu đựng của xương mới hình thành đã bằng khoảng 80% xương bình thường. Sự hình thành xương ở động vật non nhanh hơn ở động vật trưởng thành.
g. Chẩn đoán
Với những trường hợp gẫy xương hở thì rất dễ chẩn đoán. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là không cần sử dụng các phương pháp chẩn đoán hiện đại khác. Bằng phương pháp quan sát có thể thấy được xương gẫy, nhưng không biết được những gì xảy ra ở bên trong mô xương bị gẫy. Thông thường, khi gẫy xương hở, các mô bào xung quanh như: dây chằng, thần kinh, mạch máu, cơ đều bị tổn thương, có thể có những mảnh xương vỡ nằm trong mô bào xung quanh. Vì vậy, dù là gẫy xương kín hay
hở, phức tạp hay đơn giản, hay chỉ là nghi ngờ gẫy xương, cũng đều phải dùng phương pháp chẩn đoán bằng hình ảnh X - quang.
Hình 10.4. Hình ảnh X - quang gẫy xương ngón chân ở chó
h. Điều trị
Điều trị gẫy xương nhằm khôi phục lại sự toàn vẹn của xương và đạt được mục tiêu giúp cho những chức năng vốn có của nó trở lại như ban đầu. Có hai phương pháp dùng để điều trị gẫy xương ở gia súc và được chia thành 2 nhóm đó là bảo tồn và phẫu thuật.
Dù là dùng phương pháp nào thì việc đầu tiên cần phải làm là giảm đau, hạn chế sự chuyển động của gia súc. Con vật phải được gây mê vì khi sờ nắn xương, di chuyển đưa vào vị trí cũ sẽ gây đau đớn quá sức chịu đựng của con vật. Nên dùng một số thuốc giảm đau như: ibuprofen, acetaminophen, codein, ngoài ra, dùng lidocain, novocain phong bế dây thần kinh chi phối khu vực gẫy xương hoặc phong bế xung quanh vùng xương bị gẫy.
- Phương pháp điều trị bảo tồn
Đây là các phương pháp cố định xương gãy như bó bột, nẹp ngoài da. Phương pháp này chỉ áp dụng với những trường hợp gẫy xương đơn giản, xương rạn, nơi mà xương nằm tiếp giáp ngay với da (xương cẳng tay, cẳng chân và xương bàn, ngón).
Với chẩn đoán hình ảnh sẽ biết được chắc chắn những gì xảy ra ở trong vết gẫy, liệu có mảnh xương nhỏ nào không, nằm ở chỗ nào, chiều hướng ra sao. Sau khi biết được những cấu trúc ở bên trong vết gẫy, tiến hành nắn, chỉnh để đưa xương vào vị trí sinh lý giải phẫu ban đầu. Sau đó sử dụng nẹp hay băng bột để cố định phần xương bị gẫy sao cho nó không thể di động được. Nếu là bó nẹp, sau một số ngày, khi sự sưng, phù giảm đi hoặc không còn nữa, phải tiến hành nẹp lại để bảo đảm sự chắc chắn, nhằm bảo vệ vết thương cho đến khi việc hàn gắn xương hoàn thành.
Ưu điểm của phương pháp này là rẻ, đơn giản hơn so với phương pháp phẫu thuật.
Phương pháp chỉ áp dụng đối với những trường hợp gẫy xương đơn giản, rạn, nứt, gẫy xương kín, không có những mảnh xương nhỏ nằm trong mô bào bị thương. Ngoài ra, nó rất nguy hiểm nếu trong quá trình sờ nắn có thể làm cho xương chưa gẫy hoàn toàn trở thành gẫy hoàn toàn, hoặc làm cho các đầu xương gẫy rời cắt đứt các mô bào xung quanh. Đối với những vết xương gẫy không thể nắn cho hai đầu chạm vào nhau thì rất lâu lành và có thể sẽ không bao giờ lành. Hơn nữa, không thể đảm bảo được hai đầu xương gẫy có thể được đưa vào đúng vị trí sinh lý giải phẫu của nó nếu không có trợ giúp của chẩn đoán hình ảnh, nó sẽ làm cho phức tạp thêm, tốn thời gian hơn nếu lại phải điều chỉnh lại, hoặc trong trường hợp xương không liền thì lại phải cần đến phương pháp phẫu thuật.
- Phương pháp phẫu thuật điều trị xương bị gẫy
Phương pháp này được sử dụng khi phương pháp cố định không có hiệu quả hoặc có thể là phương pháp được lựa chọn đầu tiên, ví dụ khi bị gẫy xương đùi. Gãy xương đùi nếu không giải quyết tốt có thể gây ra huyết khối ở các mô bào lân cận, tắc mạch máu, những biến chứng nguy hiểm hơn so với thực hiện phẫu thuật ngoại khoa. Khi gẫy xương ở gần ổ khớp cũng thế, cần phải sử dụng biện pháp ngoại khoa để đưa đầu xương về vị trí giải phẫu và đảm bảo sự trơn nhẵn của khớp xương.
Nhiễm trùng xương thường rất nguy hiểm, do ở xương có ít mạch máu (yêu cầu về chuyển hóa ở xương không cao). Chính vì đặc điểm này, khi xương bị nhiễm trùng, rất ít tế bào bạch cầu được đưa đến để làm nhiệm vụ thực bào, nên khi làm phẫu thuật để chữa trị xương bị gẫy phải đảm bảo được yếu tố vô trùng và sử dụng kháng sinh là điều tất yếu (oxacillin, cloxacillin, cephazolin, clindamycin, vancomycin, ciprofloxacin).
(a) (b)
Hình 10.5. Cố định xương gãy
Ghi chú: a. Cố định xương gãy bằng đóng đinh nội tủy; b. Cố định xương gãy bằng đóng nẹp bên ngoài xương
Tùy vào tình hình thực tế của xương bị gẫy mà sử dụng các biện pháp cố định xương khác nhau. Có thể đóng đinh nội tủy, bó nẹp ở ngoài màng xương, kết hợp phương pháp đóng đinh nội tủy với nẹp ngoài màng xương, sử dụng khung định vị, đinh vít, đinh ghim, dây kim loại để cố định xương dãy.
Gần đây, các giá làm bằng các chất liệu tự nhiên hoặc nhân tạo có cấu trúc giống như xương xốp của động vật được nghiên cứu sử dụng. Các giá này dùng để nuôi cấy tế bào nền tủy xương hoặc các tế bào gốc trung mô lấy từ tủy xương, cuống rốn, dịch ối hoặc mô mỡ trong 2 - 5 tuần. Sau thời gian nuôi cấy, các tế bào mầm sẽ phát triển, biệt hóa thành các tế bào xương, tế bào sợi và cuối cùng được cấy vào vị trí xương bị khuyết để giúp cho quá trình tái tạo của xương diễn ra nhanh hơn. Phương pháp này có ưu điểm là thời gian hồi phục của xương nhanh hơn các phương pháp khác. Tuy nhiên, nó mới chỉ được thực hiện trong trường hợp xương bị mất một phần cấu trúc chứ không phải là đã gẫy lìa. Hơn nữa phương pháp này vẫn còn trong quá trình trình nghiên cứu, chưa được áp dụng rộng rãi trong điều trị lâm sàng.
Hình 10.6. Sử dụng giá thể nuôi cấy tế bào nền tủy xương trong điều trị gẫy xương