Vật có nguồn gốc vô cơ và hữu cơ rơi vào trong cơ thể động vật khi bị thương, đi vào cùng với thức ăn hay được đưa vào với mục đích điều trị bệnh trở thành vật lạ đối với cơ thể. Ngoại vật thường gặp ở động vật là: kim tiêm, kim băng, đinh, trâm cài, cặp tóc, rễ cây, mẩu gỗ, đoạn dây thép hay dây thép gai; trong những vết thương hỏa khí là:
mảnh đạn, mảnh bom, mìn, đầu đạn và “đạn thứ cấp” - , mẩu sắt, gỗ, gạch…
Ở động vật có sừng thường gặp ngoại vật đi vào đường tiêu hóa gây ra tổn thương cho các cơ quan nằm trong xoang bụng, xoang ngực, với triệu chứng viêm phúc mạc và viêm bao tim được thể hiện 1,5 - 2% số đầu con. Sự hiện diện của những vật kim loại trong dạ tổ ong (đinh, đoạn dây thép, mẩu sắt, kim tiêm, kim băng) chiếm >80% ở bò. Ngoại vật (khoai tây, củ cải, giẻ rách, mẩu dây thép, đinh) đôi khi mắc kẹt ở thực quản gây ra tắc. Tắc thực quản thường quan sát được ở trâu, bò; đôi khi ở ngựa, dê cừu. Lợn bị tắc thực quản khi chúng ăn quá vội vàng những miếng đầu tiên hay dưới ảnh hưởng đột ngột của những kích thích bên ngoài khi đang ăn (tiếng quát tháo ầm ĩ, cú đánh bằng roi vọt, bị trâu hay bò húc). Ở chó và mèo, tắc thực quản do ngoại vật tương đối phổ biến, mặc dù những động vật này ăn uống rất cẩn thận, ở chúng phần lớn các trường hợp ngoại vật (thường là xương) mắc ở phần cổ của thực quản.
Người học cần nắm vững tất cả nội dung của chương này.
5.1. SINH BỆNH HỌC VÀ TRIỆU CHỨNG
Mức độ tổn thương mô bào, rối loạn chức năng, những triệu chứng lâm sàng gây ra bởi ngoại vật phụ thuộc vào vị trí và mức độ xâm nhập, kích thước, hình thái, chất lượng, đặc điểm tổn thương, tính chất của mô bào, loài động vật, sức đề kháng của cơ thể và những điều kiện khác.
Sau khi xâm nhập vào mô bào, ngoại vật đôi khi di chuyển dưới ảnh hưởng dòng chảy của máu, sự co cơ và những nhân tố khác. Đôi khi, ngoại vật nằm trong những ống tổn thương viêm mủ - lỗ rò di chuyển đi xa với khoảng cách đáng kể. Có khi các mẩu kim tiêm di chuyển tới các bộ phận khác của cơ thể động vật, cách xa vị trí tiêm.
Ngoại vật có thể là: Chỉ khâu tự tiêu, những mẩu mô bào cấy ghép, đinh cố định xương tự tiêu… được đưa vào cơ thể với mục đích điều trị sẽ được hấp thu hoàn toàn do quá trình thực bào của tế bào đại thực bào và tiểu thực bào hay những tế bào khổng lồ.
Những mảnh kim loại nhỏ, đầu đạn, đạn chì, kim tiêm và những ngoại vật khác có nguồn gốc vô cơ hay hữu cơ ở trong cơ không gây ra những rối loạn đặc biệt về cấu trúc và chức năng, nếu không bị nhiễm trùng thì sẽ được kết nang. Thoạt đầu, ngoại vật được bao phủ bởi fibrin và ở trong mô bào mà xung quanh bao bọc bởi đám thấm nhiễm. Sau đó mô liên kết sẹo phát triển, hình thành nang chắc xung quanh ngoại vật.
Nang hóa ở động vật có sừng mạnh hơn ở ngựa và chó.
Ngoại vật được nang hóa trong những mô mềm, mặc dù có tới 70 - 75% trường hợp bị nhiễm vi khuẩn gây bệnh nhưng suốt thời gian dài không biểu hiện quá trình nhiễm trùng, chỉ là những ổ nhiễm trùng tiềm tàng. Những viên đạn chì mắc kẹt trong mô mềm có thể được nang hóa, nhưng dần dần nó tiết chì vào vỏ bọc mô liên kết gây ra những thay đổi hình thái đặc biệt trong chúng. Ngoại vật bằng đồng luôn gây ra sự thấm nhiễm, hoại tử trong mô bào chứa chấp và ức chế quá trình tái sinh.
Ngoại vật với kích thước lớn ở trong não bộ, tủy sống, yết hầu, thực quản, khí quản, khớp, túi hoạt dịch (bursa), bao gân hay gần những mạch quản lớn và dây thần kinh lớn có thể gây ra rối loạn nặng nề và gây nguy hiểm nghiêm trọng đối với sức khỏe bệnh súc. Trong xoang bụng, ngoại vật gây ra phản ứng viêm dữ dội, tạo thành cặn và điểm nối fibrin rõ rệt. Khi ở trong xương, ngoại vật gây loãng xương do viêm, làm cho vách (trabukel) xương bị xọp xuống đồng thời gây loãng xương.
Những ngoại vật không được nang hóa thường dẫn đến chảy mủ kéo dài, khi vết thương hồi phục chậm sẽ tạo thành túi tích mủ, áp xe, phlegmone, lỗ rò lâu/ không lành.
Nguyên nhân của các triệu chứng đó là do mô bào bị giập nát, cục máu đông, ngoại vật nhiễm trùng, sức đề kháng yếu ớt của cơ thể.
Ngoại vật ở lớp nông của cơ thể động vật thường gây ra áp xe, khi chúng tự vỡ sẽ tạo thành lỗ rò. Trong vết thương lớn và khi ngoại vật nhiễm trùng nằm sâu trong cơ, phlegmone giữa cơ và dưới cân mạc được hình thành, xuất hiện túi tích đọng mủ. Ngoại vật nhiễm trùng gây hoại tử mô bào lâu dài, dịch rỉ - mủ tạo điều kiện phát triển mô hạt bệnh lý, tạo thành lỗ rò mủ. Sự sinh mủ kéo dài làm thoái hóa dạng tinh bột những cơ quan có cấu trúc nhu mô, nhiễm độc mạn tính bởi những sản phẩm phân hủy mô bào và kiệt sức do thương tích.
Những vật lạ được nuốt phải nếu có hình dạng tù hay tròn như đai ốc (êcu), vòng đệm (rông đen), tiền bằng kim loại thì không gây hại đặc biệt cho sức khỏe động vật, nó tự do đi qua đường dạ dày - ruột và thải ra ngoài cùng với phân. Những ngoại vật nhọn hay sắc có thể gây ra vết thương ở lưỡi, má, thực quản nên nguy hiểm hơn.
Ngoại vật nằm trong dạ tổ ong của động vật nhai lại, khi dạ tổ ong co bóp để xáo trộn thức ăn, ngoại vật sẽ liên tục thay đổi vị trí, từ ngang sang dọc hay xiên. Những vật bằng kim loại nhọn và nằm dọc trong dạ tổ ong, dưới ảnh hưởng của co bóp, nó có thể xuyên thủng thành trước của dạ tổ ong và đảo lộn hướng lung tung. Phụ thuộc vào hướng đâm có thể gây ra viêm phúc mạc, viêm màng ngoài tim, viêm cơ hoành, viêm gan và những quá trình viêm khác. Vì ngoại vật bằng kim loại luôn luôn nhiễm bẩn nặng nên sự tổn thương mô bào và cơ quan nội tạng sẽ tạo thành túi tích mủ, ổ mủ lớn và làm phân hủy thối rữa mô bào. Ngoại vật đầu nhọn có khuynh hướng nằm ngang dưới đáy dạ tổ ong sẽ xuyên vào những lớp niêm mạc gây ra viêm phản ứng thành dạ tổ ong, gây ra rối loạn tính nhịp điệu nhu động và ức chế rõ pha thứ 2 của quá trình co bóp. Khi ngoại vật đâm ở hướng xiên thì lỗ thủng không lớn, do lực co bóp yếu nên ngoại vật không đâm sâu vào mô bào. Từ phía niêm mạc, nhanh chóng ngưng đọng fibrin, viêm dính phát triển xung quanh lỗ đâm. Về sau, thành dạ tổ ong thường dính với những cơ quan nằm kế cận gây rối loạn nhu động.
Những ngoại vật có nguồn gốc thực vật (cỏ khô, rơm, rạ, chẽ nguyên vẹn và râu cứng của thực vật họ hòa thảo hay những thực vật khác) ở trong xoang miệng động vật gây ra tổn thương đơn hay hỗn hợp niêm mạc lưỡi, má, phần dưới lưỡi, ống dẫn nước bọt. Tiếp theo, có thể gây hoại tử niêm mạc, biến chứng nhiễm xạ khuẩn lưỡi, lợi và những phần khác ở đầu của bệnh súc.
Khi động vật bị tắc thực quản sẽ có biểu hiện rút ngắn co thắt cơ ở đoạn tương ứng. Ngoại vật lưu giữ lâu dài trong thực quản, tại chỗ tắc xuất hiện liệt nhẹ cơ và những thay đổi bệnh lý ở thành. Trong những trường hợp như thế, mô liên kết thưa ở gần và xung quanh thực quản phát triển quá trình viêm thối, gây ra tình trạng nhiễm trùng toàn thân. Khi tắc phần ngực của thực quản và thành thực quản bị chọc thủng có thể phát triển viêm màng phổi mủ thối, có thể dẫn đến cái chết của bệnh súc.
Sau khi vật gây tắc lưu giữ lâu trong thực quản, với kết cục thuận lợi của quá trình, tại chỗ tắc cũ về sau này, phát triển sự giãn thực quản.
5.2. ĐIỀU TRỊ VÀ DỰ PHÒNG
Loại bỏ ngoại vật trong vết thương cần tính đến nhiều yếu tố và trong mỗi trường hợp cụ thể phải chú ý: Đặc điểm tổn thương, trạng thái của động vật và tính nguy hiểm thực sự của biến chứng; Cần thiết và khẩn trương loại bỏ ngoại vật trong những trường hợp khi nó đe dọa tính mạng động vật (ngoại vật trong thực quản, yết hầu, não bộ và tủy sống).
Để loại bỏ những ngoại vật phân bố trên bề mặt, ở trong xoang khớp, bao gân, trực tràng, âm đạo, xoang miệng không cần thiết phải rạch những vết bổ sung, loại bỏ chúng qua vết thương sau khi làm vệ sinh.
Khi ngoại vật có sinh mủ kéo dài hay lỗ rò lâu không liền thì không nên loại bỏ sớm. Khi ngoại vật nằm sâu trong mô bào với lỗ vào hẹp và khi những ngoại vật nhỏ xâm nhập vào mô bào mà không gây đau, gây viêm thì không cần vội vàng loại bỏ.
Không vội vàng loại bỏ ngoại vật đang được nang hóa không gây rối loạn chức năng và nhiễm trùng. Trong trường hợp cần thiết, cắt bỏ ngoại vật đang nang hóa cùng với vỏ bọc mô liên kết của nó.
Khi loại bỏ những ngoại vật nằm sâu trong mô bào, để đỡ mất công tìm kiếm và ít gây tổn thương phát sinh cho mô bào cần xác định chính xác vị trí của nó bằng cách sờ nắn, thông vết thương, vẽ sơ đồ lỗ rò, X - quang. Phương pháp đơn giản nhất để nghiên cứu vết thương là thông vết thương, nhưng khi tiến hành không cẩn thận có thể gây hậu quả nghiêm trọng. Thông những vết thương mới chỉ thực hiện ngay trước can thiệp phẫu thuật. Rất nguy hiểm khi thông vết thương mới trong vùng khớp, bao gân, hộp sọ.
Vì phần lớn các trường hợp, ngoại vật trong vết thương đã bị nhiễm vi khuẩn nên sau khi xử lý ngoại khoa thì sử dụng đường khâu nút một, chừa lại một vài nút ở chỗ thấp nhất để tạo dòng chảy tự do của dịch rỉ viêm. Đặt dẫn lưu mềm hay dẫn lưu ống, thay dẫn lưu hàng ngày cho đến khi xuất hiện mô hạt mạnh khỏe, ít dịch rỉ.
Loại bỏ ngoại vật trong dạ tổ ong bằng phương pháp mổ dạ cỏ (Xem giáo trình Phẫu thuật ngoại khoa thú y). Cần chú ý rằng, phẫu thuật này nên thực hiện ở giai đoạn sớm, giai đoạn cấp tính của viêm phúc mạc chấn thương. Trong trường hợp muộn hơn, khi có nhiều chỗ dính, những ổ mủ to, phẫu thuật không đảm bảo an toàn. Với mục đích dự phòng ngoại vật trong dạ tổ ong, sử dụng phương pháp kết hợp thỏi và ống thông có đầu nam châm được khuyến cáo.
Mục đích cơ bản trong điều trị tắc thực quản là khôi phục sớm chức năng sinh lý của nó bằng cách loại bỏ ngoại vật mắc ở trong. Những phương pháp điều trị bảo tồn và phẫu thuật đã được giới thiệu. Phương pháp điều trị bảo tồn dựa trên cơ sở sử dụng thuốc và chất tạo điều kiện cho sự dịch chuyển của vật mắc kẹt đi từ thực quản vào dạ dày (chất nhầy, làm mềm) hay đưa nó từ thực quản ra ngoài (gây nôn). Phương pháp phẫu thuật dựa trên cơ sở sử dụng sự thích ứng khác nhau, có thể rút vật mắc trong thực quản ra hoặc đẩy nó vào dạ dày, hay tiến hành phẫu thuật mở thực quản. Vào những giờ đầu tiên sau khi tắc thực quản, tốt nhất là sử dụng phương pháp điều trị bảo tồn, sử dụng phẫu thuật chỉ trong trường hợp khi điều trị bảo tồn không có kết quả.
Dự phòng tắc thực quản phải tuân thủ nghiêm khắc quy định chuẩn bị thức ăn và cho ăn. Để tránh cho động vật liếm phải những vật lạ khác nhau và bất ngờ nuốt chúng vào, cần luôn luôn có muối ăn (đá liếm) ở chỗ vật nuôi kiếm ăn.
Khi ngoại vật là thực vật, việc điều trị thường tốn nhiều công sức. Điều trị bao gồm: Loại bỏ ngoại vật xâm nhập nhìn thấy và hàng ngày phải rửa xoang miệng 2 - 3 lần, trong vòng 4 - 6 ngày. Can thiệp phẫu thuật được khuyến cáo khi biến chứng nhiễm xạ khuẩn và sinh mủ. Với mục đích dự phòng, thức ăn chứa đựng chẽ nguyên vẹn và có râu cứng của thực vật họ hòa thảo cần được xử lý thích hợp (nghiền nát, nấu chín).
CÂU HỎI ÔN TẬP
1. Sinh bệnh học và triệu chứng khi ngoại vật xâm nhập vào cơ thể?
2. Phương pháp điều trị và dự phòng sự xâm nhập của ngoại vật vào cơ thể vật nuôi?
Chương 6