TỔN THƯƠNG CƠ GIỚI HỞ (VẾT THƯƠNG)
3.7. ĐIỀU TRỊ ĐỘNG VẬT BỊ THƯƠNG
3.7.3. Điều trị cục bộ vết thương nhiễm trùng
Những trường hợp vết thương ngẫu nhiên không được cắt bỏ hoàn toàn phát triển viêm nhiễm trùng mủ cấp tính. Hiện tượng thực bào và những quá trình phân hủy men tăng lên. Trong vết thương tích lũy dịch mủ và sự hấp thu mủ diễn ra, dẫn đến tình trạng sốt hấp thu mủ của động vật bị thương (con vật có biểu hiện thân nhiệt tăng cao, nhịp tim và hô hấp cũng nhanh hơn). Tiếp theo, những chỉ tiêu trên ngày càng tăng, trong khi sức khỏe của động vật lại xấu đi.
* Trong pha thứ nhất của quá trình vết thương
Trong pha này phải sử dụng tổng hợp các biện pháp nhằm hướng tới đề phòng nhiễm trùng, giải phóng vết thương khỏi mô bào chết bằng sử dụng kết hợp vô trùng hóa học, vật lý học, sinh học trước và sau khi xử lý ngoại khoa vết thương. Cần xử lí các hang, ổ, túi, loại bỏ những mô bào chết bằng cách cắt từng phần. Khi cần thiết có thể mở rộng vết thương đảm bảo cho sự thoát dịch - mủ tự do (không tích tụ trong vết thương).
Rửa bằng dung dịch sát trùng. Căn cứ vào kết quả kiểm tra vết thương, lựa chọn dung dịch sát trùng thích hợp sẽ cho khả năng điều trị có hiệu quả hơn.
Nếu pH của vết thương <7, dùng các dung dịch sát trùng có phản ứng kiềm để rửa (natri hydrocarbonat 4 - 5%, chloramin B 2%, nước xà phòng 5%,…).
Hình 3.7. Vết thương nhiễm trùng ở mèo
Nếu pH của vết thương >7, dùng các dung dịch sát trùng có phản ứng axit nhẹ để rửa (nước ôxy già 3%, thuốc tím 0,5 - 1%, cloraxit 2%,…).
Vết thương có hiện tượng thủy thũng nặng rửa bằng các dung dịch ưu trương (magie sulphat 20 - 40%, natri sulphat 20 - 40%, natri clorid 5%, thuốc tím 5%).
Vết thương có nhiều mủ, dùng rivanol 0,1%.
Vết thương sâu, miệng hẹp, dùng thuốc tím 1%, nước ôxy già 3%.
Sau khi đã xử lý ngoại khoa vết thương, cầm máu cẩn thận, cho vào trong xoang vết thương hỗn hợp bột kìm hãm sự phát triển của vi khuẩn hoặc đặt dẫn lưu với các huyễn dịch, dung dịch ưu trương. Xoang vết thương rộng đặt dẫn lưu mềm, vết thương sâu đặt dẫn lưu ống. Sử dụng các hỗn hợp sau bơm vào vết thương sâu để đặt dẫn lưu.
- Công thức 1: Tinh dầu thông - 3ml; cồn iod 5% - 1ml; dầu cá - 100ml.
- Công thức 2: Pix liquida - 3g; iodoform - 5g; dầu cá - 100ml.
- Công thức 3: Iodoform - 1 phần; ether ethylic - 10 phần.
Chú ý: Chỉ đặt dẫn lưu đến khi xuất hiện mô hạt, sử dụng kháng sinh và sulfamid với mục đích đề phòng nhiễm trùng lan tỏa.
Hình 3.8. Vết thương nhiễm trùng có dòi
* Trong pha thứ hai của quá trình vết thương
Điều trị bằng phương pháp hở. Khi có mặt mô hạt với sắc thái nhợt nhạt sử dụng axit liệu pháp. Khi quan sát thấy mô hạt có dạng các hạt lớn với màu đỏ sử dụng kiềm liệu pháp. Bằng cách đó sẽ tăng cường được quá trình tiêu nước và cải thiện sự tạo hạt và biểu bì hóa vết thương.
Đặt dẫn lưu cùng với sử dụng hợp lý hỗn hợp: pix liquida 3 phần, xeroform 3 phần, dầu thầu dầu 94 phần; có thể thay thế bằng hỗn hợp gồm: ichthyol, bismuth subnitrat và dầu cá.
Nếu không điều trị đúng đắn, vết thương có thể biến chứng nhiễm trùng hiếu khí chủ yếu do Staphylococcus và Streptococcus. Do đó, trong vùng vết thương xuất hiện phù mạnh và thấm nhiễm tế bào, rìa vết thương căng có khi lật ra ngoài. Trong vết thương tích lũy khối lượng lớn mủ, mô bào chết, hình thành các ổ, túi. Chạm vào vùng vết thương, con vật có cảm giác đau nhiều; có thể xuất hiện những dấu hiệu của viêm hạch và mạch lympho. Động vật bị ức chế, chán ăn, giảm nhai lại (không nhai lại khi bị
nặng), giảm đột ngột lượng sữa vắt được trong một ngày đêm. Ở ngựa, chó và những động vật khác thân nhiệt tăng cao 2C và hơn nữa. Mạch đập nhanh hơn đáng kể. Hô hấp nông và nhanh. Động vật có sừng thường bị sốt nhẹ, nhưng nhịp tim và nhịp thở nhanh hơn đáng kể. Ở tất cả các loại động vật, số lượng hồng cầu, hemoglobin, bạch cầu giảm, công thức bạch cầu nghiêng trái.
Chỉ định bắt buộc dùng kháng sinh kết hợp với sulfamid khi vết thương biến chứng nhiễm trùng hiếu khí và những liệu pháp khác bao gồm các biện pháp chống nhiễm khuẩn và điều trị triệu chứng.
b. Điều trị cục bộ vết thương nhiễm trùng yếm khí
Vết thương nhiễm trùng yếm khí có đặc trưng là những dấu hiệu của phlegmone yếm khí hay hoại thư sinh hơi.
Phải sử dụng biện pháp điều trị tổng hợp đối với nhiễm trùng ngoại khoa yếm khí dựa trên những nét đặc biệt sinh học của vi khuẩn yếm khí, thành phần vi khuẩn trong vết thương, sinh bệnh học và những dạng thể hiện bệnh.
Trước tiên, sử dụng các biện pháp điều trị ngoại khoa kết hợp với điều trị sinh bệnh học cùng với liệu pháp thẩm thấu ôxy. Các biện pháp điều trị được thực hiện càng sớm càng tốt, tốt nhất là trước khi những biểu hiện lâm sàng của nhiễm trùng xuất hiện..
Nó tạo ra điều kiện không thuận lợi đối với vi khuẩn, nên quá trình loạn dưỡng thần kinh và hoại thư không xảy ra và lực lượng phòng vệ của cơ thể không bị ức chế.
Đối với vết thương nhiễm trùng yếm khí, xử lý ngoại khoa vừa có ý nghĩa điều trị vừa có ý nghĩa dự phòng, và đóng vai trò rất quan trọngTrong nhiều trường hợp nó là biện pháp điều trị chủ yếu. Ở những vết thương dù mới nhưng sâu với vùng tổn thương mô cơ rộng lớn hay nhiễm bẩn bởi đất, phân thì xử lý ngoại khoa là điều nên làm
Nuôi cách ly và tiến hành những liệu pháp điều trị động vật có những dấu hiệu lâm sàng của nhiễm trùng yếm khí trong các phòng riêng biệt, không liên quan với khu nội trú khác của động vật.
Mở rộng các vết thương sâu, miệng hẹp, lấy hết các cục máu đông, mô bào chết, ngoại vật.
Sau khi thực hiện các thủ thuật ngoại khoa, phải thu dọn tất cả những mô bào cắt bỏ, dịch rỉ, ngay cả những dụng cụ ngoại khoa sử dụng 1 lần (bông, băng, vải gạc), tiêu hủy theo đúng qui định của vệ sinh thú y.
Rửa vết thương, vết mổ bằng nước muối ưu trương (5 - 10%), nóng tới 40C, có bổ sung nước ôxy già đến 3%, thuốc tím đến 1% hoặc chloramin - T đến 2%, với thời gian rửa kéo dài 20 phút.
Đặt dẫn lưu mềm, tẩm hỗn hợp gồm: 100ml muối ăn 20%, 100ml nước ôxy già 3%, 10ml dầu cá hay dầu thực vật. Thay cho đặt dẫn lưu, có thể cho vào vết thương, vết mổ chất kìm khuẩn gồm: axit boric 6g, iodoform 2g, ampicillin 0,5g hoặc những bột thuốc kìm khuẩn khác.
Không được khâu vết thương lại.