SỞ LAO ĐỘNG TBXH TỈNH HÀ NAM TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ HÀ NAM GIÁO TRÌNH MÔN HỌC KINH TẾ VI MÔ NGHỀ KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP TRÌNH ĐỘ CAO ĐẲNG Ban hành kèm theo Quyết định số 285QĐ CĐN ngày 21 tháng 7 năm 20.giáo trình học tập, tài liệu cao đẳng đại học, luận văn tiến sỹ, thạc sỹ
Trang 1SỞ LAO ĐỘNG TB&XH TỈNH HÀ NAM TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ HÀ NAM
GIÁO TRÌNH
MÔN HỌC: KINH TẾ VI MÔ NGHỀ: KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP
TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG
Ban hành kèm theo Quyết định số: 285/QĐ-CĐN ngày 21 tháng 7 năm
2017 của Hiệu trưởng trường Cao đẳng Nghề Hà Nam
Hà Nam, năm 2017
Trang 2TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN
Để đáp ứng nhu cầu học tập và nghiên cứu cho giảng viên và sinh viên cao đẳng nghề Kế toán doanh nghiệp trường Cao đẳng nghề Hà Nam Chúng tôi đã thực hiện biên soạn cuốn giáo trình Kinh tế vi mô
Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình nên các nguồn thông tin có thể được phép dùng nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích về đào tạo và tham khảo
Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh doanh thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm
Dựa theo giáo trình này, có thể sử dụng để giảng dạy cho trình độ trung cấp nghề Kế toán doanh nghiệp
Trang 3LỜI GIỚI THIỆU
Hiện nay nền kinh tế Việt Nam đang phát triển theo mô hình kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước định hướng xã hội chủ nghĩa Bên cạnh vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước, hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp cũng được hết sức coi trọng và phát huy tính tự chủ Để đáp ứng với những thay đổi này, việc trang bị các kiến thức về Kinh tế học vi mô cho sinh viên - những chủ nhân tương lai của đất nước là điều vô cùng quan trọng bởi thành công của các quốc gia đi trước Việt Nam đã cho thấy rằng đội ngũ cán bộ kinh tế trong doanh nghiệp sẽ là nhân tố quyết định nhất đến việc sản xuất kinh doanh có hiệu quả
Kinh tế vi mô được coi là một trong những môn học quan trọng nhất cung cấp các kiến thức nền tảng cho những ai muốn hiểu về sự vận hành của nền kinh
tế thị trường Khác với Kinh tế vĩ mô nghiên cứu kinh tế như một tổng thể, kinh
tế vi mô tập trung vào việc phân tích các hành vi của các chủ thể kinh tế như người sản xuất, người tiêu dùng, thậm chí là chính phủ trên từng thị trường riêng biệt Những tương tác khác nhau của các chủ thể này tạo ra những kết cục chung trên các thị trường cũng như xu hướng biến động của chúng Hiểu được cách mà một thị trường hoạt động như thế nào và ảnh hưởng lẫn nhau giữa các thị trường, trên thực tế là cơ sở để hiểu được sự vận hành của cả nền kinh tế, cắt nghĩa được các hiện tượng kinh tế xảy ra trong đời sống thực, miễn đây là nền kinh tế dựa trên những nguyên tắc thị trường
Giáo trình Kinh tế vi mô là cuốn sách giáo khoa có tính chất nhập môn, trình bày những nội dung cơ bản của môn Kinh tế vi mô Cấu trúc chung của giáo trình bao gồm 6 chương:
Chương I: Tổng quan về kinh tế học
Chương II: Cung – Cầu
Chương III: Lý thuyết hành vi người tiêu dùng
Chương IV: Lý thuyết hành vi của doanh nghiệp
Chương V: Cấu trúc thị trường
Chương VI: Thị trường yếu tố sản xuất
Trong quá trình biên soạn, giáo trình khó tránh khỏi những thiếu sót về nội dung và hình thức Ban biên soạn mong muốn và thực sự cảm ơn những ý kiến nhận xét, đánh giá của các chuyên gia, các thầy cô đóng góp cho việc chỉnh sửa
để giáo trình ngày một hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nam, ngày… tháng… năm 2017
Người biên soạn
ĐINH AN LINH
Trang 4MỤC LỤC
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ HỌC……… 6
1 Nền kinh tế 6
1.1 Các chủ thể nền kinh tế 6
1.2 Các yếu tố sản xuất 7
1.3 Ba vấn đề kinh tế cơ bản 8
1.4 Các mô hình kinh tế 9
1.5 Sơ đồ hoạt động của nền kinh tế 11
2 Kinh tế học 13
2.1 Khái niệm 13
2.2 Kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô 14
2.3 Phương pháp nghiên cứu kinh tế học 16
3 Lựa chọn kinh tế tối ưu 18
3.1 Lý thuyết lựa chọn 18
3.2 Đường giới hạn khả năng sản xuất 21
3.3 Ảnh hưởng của các qui luật kinh tế đối với sự lựa chọn kinh tế tối ưu 23
Chương 2 CUNG - CẦU 26
1 Cầu 26
1.1 Khái niệm 26
1.2 Cầu cá nhân và cầu thị trường 26
1.3 Luật cầu 27
1.4 Các yếu tố hình thành cầu 28
1.5 Sự thay đổi của lượng cầu và của cầu 29
2 Cung 32
2.1 Khái niệm 32
2.2 Cung cá nhân và cung thị trường 32
2.3 Luật cung 32
2.4 Các yếu tố hình thành cung 32
2.5 Sự thay đổi của lượng cung và của cung 34
3 Mối quan hệ cung – cầu 36
3.1 Trạng thái cân bằng 36
3.2 Dư thừa và thiếu hụt 36
3.3 Sự thay đổi trạng thái cân bằng và kiểm soát giá 37
4 Sự co giãn của cung - cầu 38
4.1 Co giãn của cầu 38
4.2 Sự co giãn của cung theo giá 40
Chương 3 LÝ THUYẾT HÀNH VI NGƯỜI TIÊU DÙNG 43
1 Lý thuyết về lợi ích 43
1.1 Một số khái niệm 43
1.2 Qui luật của lợi ích cận biên giảm dần 44
1.3 Lợi ích cận biên và đường cầu 44
2 Lựa chọn tiêu dùng tối ưu 45
2.1 Sở thích của người tiêu dùng 45
2.2 Đường bàng quan 46
2.3 Đường ngân sách 47
2.4 Sự lựa chọn của người tiêu dùng 49
2.5 Ảnh hưởng của các nhân tố đến sự lựa chọn tối ưu 49
Trang 5Chương 4 LÝ THUYẾT HÀNH VI CỦA DOANH NGHIỆP 52
1 Lý thuyết về sản xuất 52
1.1 Hàm sản xuất 52
1.2 Sản xuất trong ngắn hạn 53
1.3 Sản xuất trong dài hạn 54
2 Lý thuyết về chi phí 54
2.1 Chi phí sản xuất 55
2.2 Chi phí ngắn hạn 55
2.3 Chi phí dài hạn 58
3 Lý thuyết về doanh thu và lợi nhuận 65
3.1 Doanh thu 65
3.2 Lợi nhuận 66
Chương 5 CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG 68
1 Cạnh tranh hoàn hảo 68
1.1 Khái niệm, đặc điểm của thị trường và doanh nghiệp trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo 68
1.2 Lựa chọn sản lượng trong ngắn hạn 69
1.3 Đường cung trong ngắn hạn 70
1.4 Lựa chọn sản lượng trong dài hạn 70
2 Độc quyền 71
2.1 Độc quyền bán 71
2.2 Độc quyền mua 73
3 Cạnh tranh độc quyền 74
3.1 Khái niệm và đặc điểm 75
3.2 Đường cầu và doanh thu cận biên 75
3.3 Lựa chọn sản lượng của doanh nghiệp 76
3.4 Cân bằng ngắn hạn và cân bằng dài hạn 77
3.5 Phân biệt giá của doanh nghiệp cạnh tranh độc quyền 77
4 Độc quyền tập đoàn 79
4.1 Khái niệm và đặc điểm 79
4.2 Đường cầu và doanh thu cận biên 80
4.3 Lựa chọn của doanh nghiệp 80
4.4 Cân bằng trong độc quyền tập đoàn 80
Chương 6 THỊ TRƯỜNG YẾU TỐ SẢN XUẤT 83
1 Thị trường lao động 83
1.1 Cầu về lao động 83
1.2 Cung về lao động 84
1.3 Cân bằng về cung cầu lao động 85
2 Thị trường vốn 85
2.1 Giá của tài sản và quyết định đầu tư 86
2.2 Cầu về vốn 87
2.3 Cung về vốn 88
2.4 Cân bằng cung cầu về vốn 88
3 Thị trường đất đai 89
3.1 Cung - cầu về đất đai 89
3.2 Cân bằng trên thị trường đất đai 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
Trang 6GIÁO TRÌNH MÔN HỌC Tên môn học: Kinh tế vi mô
Mã môn học: MH 11
Vị trí, tính chất của môn học:
- Vị trí: Kinh tế học vi mô là một môn khoa học thuộc khối kiến thức cơ sở của nghề kế toán doanh nghiệp, môn học này được bố trí giảng dạy sau môn kinh
tế chính trị và trước các môn cơ sở khác của nghề
- Tính chất: Kinh tế học vi mô là môn học bắt buộc, nghiên cứu cách thức
ra quyết định của các chủ thể kinh tế cũng như sự tương tác của họ trên các thị trường cụ thể, là cơ sở để học các môn chuyên môn của nghề
- Ý nghĩa: Môn học này nhằm trang bị cho người học những kiến thức về lĩnh vực kinh tế vi mô
Mục tiêu môn học:
- Về kiến thức:
Trình bày được các vấn đề kinh tế cơ bản của các chủ thể trong nền kinh tế; cung cầu và sự hình thành giá cả hàng hóa trên thị trường; các yếu tố sản xuất; cạnh tranh và độc quyền
- Về kỹ năng:
+ Phân tích được các vấn đề kinh tế cơ bản của doanh nghiệp;
+ Xác định được cung cầu, giá cả hàng hóa;
+ Giải thích được hành vi của người tiêu dùng và doanh nghiệp;
+ So sánh được thị truờng cạnh tranh và độc quyền;
+ Xác định được thị trường các yếu tố sản xuất;
Trang 7CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ HỌC
Cấu thành một nền kinh tế không thể thiếu các cuộc cách mạng về công nghệ, lịch sử văn minh và tổ chức xã hội, cùng với địa lý và sinh thái, ví dụ cụ thể
là các vùng với các điều kiện về nông nghiệp và cơ hội khai thác tài nguyên thiên nhiên khác nhau, trong số các nhân tố khác
Nền kinh tế (economy) cũng đề cập đến thước đo tăng trưởng sản phẩm của một đất nước hoặc một khu vực
Nền kinh tế là khái niệm dùng để chỉ tất cả các hoạt động kinh tế của một nước, để đánh giá quy mô của một nền kinh tế,người ta thường dùng đại lượng có tên là tổng sản phẩm trong nước, viết tắt là GDP
1.1 Các chủ thể nền kinh tế
Trong nền kinh tế có các chủ thể như: cá nhân, tập thể, xã hội, giai cấp, nhà nước, dân tộc Các chủ thể riêng lẻ trong nền kinh tế, bao gồm các doanh nghiệp,
hộ tiêu dùng, người lao động và chính phủ
Mỗi chủ thể kinh tế đều có mục tiêu để hướng tới, đó là tối đa hóa lợi ích kinh tế của họ Mục tiêu của các doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận, mục tiêu của các hộ tiêu dùng là tối đa hóa mức độ tiêu dùng, mục tiêu của người lao động
là tối đa hóa tiền công và mục tiêu của chính phủ là tối đa hóa lợi ích xã hội
Nhà nước: đảm bảo sự ổn định vĩ mô và tăng trưởng kinh tế Ổn định” ở đây thể hiện sự cân đối, hài hòa các quan hệ nhu cầu, lợi ích giữa người và người, tạo
ra sự đồng thuận xã hội trong hành động vì mục tiêu phát triển của đất nước Tính đúng đắn, hợp lý và kịp thời của việc hoạch định và năng lực tổ chức thực hiện các chính sách phát triển vĩ mô do Nhà nước đảm nhiệm là điều kiện tiên quyết nhất
Trang 8hình thành sự đồng thuận đó Là những công cụ tạo ra sự đồng thuận xã hội, từ đó
mà có ổn định xã hội cho phát triển và tăng trưởng kinh tế, các chính sách, pháp luật của Nhà nước, một mặt, phải phản ánh đúng những nhu cầu chung của xã hội, của mọi chủ thể kinh tế…; mặt khác, phải tôn trọng tính đa dạng về nhu cầu, lợi ích
Các yếu tố sản xuất gồm nhiều yếu tố như: lao động, vốn, tài nguyên, công nghệ, cách quản lý, … Các nhà kinh tế đã gom thành 4 nhóm yếu tố sản xuất chính, thường gọi là 4 yếu tố sản xuất cơ bản, gồm: lao động, vốn, tài nguyên, khoa học
a Tài nguyên: là nguồn lực thiên nhiên như: đất trồng trọt, tài nguyên
rừng, quặng mỏ, nước…Đất có thể có nhiều hình thức khác nhau, từ đất nông nghiệp đến bất động sản thương mại đến các tài nguyên có sẵn từ một mảnh đất
cụ thể
Ví dụ: Trồng trọt hoa màu trên đất của nông dân làm tăng giá trị và lợi ích của nó
Tài nguyên: được hiểu theo nghĩa rộng gồm: vị trí địa lý, diện tích, khí hậu, thời tiết, thổ nhưỡng, tài nguyên…
b Lao động: bao gồm năng lực trí tuệ và thể lực tham gia vào quá trình sản
xuất hàng hóa và dịch vụ
Lao động: được tính gồm cả trí lực và thể lực của con người được sử dụng trong quá trình sản xuất Lao động của một công nhân ít học và không được đào tạo thường được trả với giá thấp Công nhân lành nghề và được đào tạo được gọi
là nguồn nhân lực và được trả lương cao hơn vì họ mang lại nhiều của cải vật chất hơn
c Vốn (còn gọi là đầu tư): nhằm hỗ trợ cho quá trình sản xuất và phân
phối sản phẩm Bao gồm : công cụ máy móc, thiết bị, nhà kho, phương tiện vận tải…
Trang 9Trong kinh tế, vốn thường đề cập đến tiền Nhưng tiền không phải là một yếu tố sản xuất vì nó không liên quan trực tiếp đến việc sản xuất hàng hóa hay dịch vụ Nó được sử dụng trong quy trình sản xuất bằng cách cho phép doanh nghiệp mua hàng hóa, đất đai hoặc trả lương
Vốn: gồm vốn tài chính và các sản phẩm phục vụ cho quá trình sản xuất như: nhà xưởng, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu,…
d Năng lực kinh doanh: là yếu tố kết hợp tất cả các yếu tố sản xuất khác
vào sản phẩm hoặc dịch vụ cho thị trường tiêu dùng
Một cách gọi khác của Năng lực kinh doanh là Quản lý: đó là khả năng điều hành doanh nghiệp.Người quản lý thực hiện các cải tiến trong việc kết hợp các nguồn lực tài nguyên, vốn, lao động để tạo ra hàng hóa và dịch vụ ; đưa ra các quyết định về chính sách kinh doanh; đổi mới sản phẩm, kỹ thuật; cải cách quản
lý
Công nghệ: là kiến thức, trình độ của con người trong việc kết hợp các yếu
tố sản xuất trong quá trình sản xuất
1.3 Các vấn đề kinh tế cơ bản
Để hiểu được sự vận hành của nền kinh tế,chúng ta phải nhận thức được những vấn đề cơ bản mà bất kỳ nền kinh tế nào cũng phải giải quyết Đó là:
- Sản xuất cái gì?
- Sản xuất như thế nào?
- Sản xuất cho ai?
a Quyết định sản xuất cái gì?
Tức sản xuất những loại hàng hóa gì? Với chủng loại ra sao? Số lượng là bao nhiêu?
Bao gồm việc giải quyết một số vấn đề cụ thể như: sản xuất hàng hóa, dịch
vụ nào, số lượng bao nhiêu và thời gian cụ thể nào
Để giải quyết tốt vấn đề này, các doanh nghiệp phải làm tốt công tác điều tra nhu cầu của thị trường Từ nhu cầu vô cùng phong phú và đa dạng, các doanh nghiệp phải xác định được các nhu cầu có khả năng thanh toán để xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh Sự tương tác của cung và cầu, cạnh tranh trên thị trường sẽ hình thành nên giá của hàng hóa và dịch vụ, là tín hiệu tốt cho việc phân bố các nguồn lực xã hội
b Quyết định sản xuất như thế nào?
Bao gồm các vấn đề:
- Lựa chọn công nghệ sản xuất nào
Trang 10- Lựa chọn các yếu tố đầu vào nào
- Lựa chọn phương pháp sản xuất nào
Các doanh nghiệp phải luôn quan tâm để sản xuất ra hàng hóa nhanh, có chi phí thấp để cạnh tranh thắng lợi trên thị trường Các biện pháp cơ bản các doanh nghiệp áp dụng là thường xuyên đổi mới kỹ thuật và công nghệ, nâng cao trình độ công nhân và lao động quản lý nhằm tăng hàm lượng chất xám trong hàng hóa và dịch vụ Chính yêu cầu của khách hàng đối với sản phẩm sẽ giúp các doanh nghiệp xác định được cần phải sử dụng những nguồn lực nào, với số lượng
là bao nhiêu? Kết hợp chúng ra sao để sản xuất ra sản phẩm đáp ứng yêu cầu của khách hàng
c Quyết định sản xuất cho ai?
Tức hàng hóa sản xuất ra để thỏa mãn nhu cầu của đối tượng nào? Nhóm người nào trong xã hội? Vì mỗi đối tượng khách hàng, do thu nhập, trình độ văn hóa, tôn giáo, phong tục tập quan, tuổi tác, giới tính, … sẽ có những nhu cầu khác nhau đối với sản phẩm Bao gồm việc xác định rõ ai sẽ được hưởng và được lợi từ những hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra Trong nền kinh tế thị trường, thu nhập và giá cả xác định ai sẽ nhận hàng hóa và dịch vụ cung cấp Điều này được xác định thông qua tương tác giữa người mua và bán trên thị trường sản phẩm và thị trường nguồn lực
Mỗi nền kinh tế, tùy thuộc vào cơ chế kinh tế mà họ lự chọn, sẽ có cách giải quyết khác nhau đối với ba vấn đề cơ bản của tổ chức kinh tế Căn cứ vào cách giải quyết khác nhau đó, người ta đã phân thành các mô hình kinh tế
1.4 Các mô hình kinh tế
Kinh tế được diễn ra dưới nhiều loại mô hình khác nhau nhằm phù hợp mới hướng đi, mục đích định hướng của từng chủ thể nhất định Xã hội có thể vận dụng nhiều cách thức và cơ chế phối hợp để giải quyết các vấn đề kinh tế Các mô hình của nền kinh tế phân loại dựa trên hai tiêu thức sau:
- Quan hệ sở hữu về nguồn lực sản xuất
- Cơ chế phối hợp và định hướng các hoạt động của nền kinh tế
Có hai quan điểm khác nhau khi phân loại mô hình kinh tế:
- Quan điểm thứ nhất cho rằng có ba mô hình kinh tế đã tồn tại, đó là các mô hình: mô hình kinh tế truyền thống, mô hình kinh tế chỉ huy và mô hình kinh tế hỗn hợp
- Quan điểm thứ hai cho rằng có bốn mô hình kinh tế đã tồn tại, đó là các
mô hình: mô hình kinh tế truyền thống, mô hình kinh tế thị trường, mô hình kinh
Trang 11tế chỉ huy và mô hình kinh tế hỗn hợp Ta sẽ xem xét cách thức giải quyết ba vấn
đề cơ bản của tổ chức kinh tế trong từng mô hình:
Mô hình kinh tế truyền thống: trong mô hình này, việc giải quyết 3 vấn đề cơ bản của tổ chức kinh tế là do cộng đồng người, hoặc do người đứng đầu cộng đồng (như tù trưởng, lãnh chúa) quyết định dựa trên thông lệ, tập tục, tập quán là chính Vì công cụ lao động còn thô sơ, năng suất lao động kém, nên sản phẩm khai thác được, sản xuất được chủ yếu để tự cung = tự cấp
a Mô hình kinh tế thị trường:
Đây là mô hình kinh tế mà cho phép tất cả các hàng hóa được pháp luật cho phép kinh doanh đều được tự do lưu thông trong thị trường, hoàn toàn dựa trên yếu tố cung và cầu Đây là loại mô hình kinh tế có xu hướng tự cân bằng, điều tiết
mà không cần quá nhiều sự tác động điều chỉnh
Ttrong mô hình này, việc giải quyết 3 vấn đề cơ bản của tổ chức kinh tế do quan hệ cầu – cung trên thị trường quyết định, thể hiện qua giá cả của hàng hóa
Sự biến động của giá cả hàng hóa sẽ hướng dẫn các doanh nghiệp sử dụng nguồn lực như thế nào để đáp ứng nhu cầu của thị trường Chẳng hạn, khi giá cả tăng, giả định các yếu tố khác là không đổi, vì thấy có cơ hội tăng lợi nhuận, các doanh nghiệp sẽ tăng sản lượng của hàng hóa đó Ngược lại, khi giá giảm, giả định các yếu tố khác là không đổi, vì thấy lợi nhuận bị giảm, các doanh nghiệp sẽ giảm sản lượng của hàng hóa đó Việc giải quyết 3 vấn đề cơ bản của tổ chức kinh tế tiến hành theo trật tự: Sản xuất cái gì? Cho ai? Và như thế nào?
b Mô hình kinh tế chỉ huy (kế hoạch hóa tập trung):
Loại mô hình này sẽ chịu nhiều sự tác động, điều chỉnh của nhà nước trong việc điều tiết giá cả hay phân phối hàng hóa, dịch vụ trên thị trường Theo đó trong mô hình kinh tế này thì yếu tố cung – cầu không quá được chú trọng và cũng không được diễn ra theo tự nhiên do có sự can thiệp quá nhiều phía nhà nước vào hoạt động kinh tế
Trong mô hình này, việc giải quyết 3 vấn đề cơ bản của tổ chức kinh tế do nhà nước quyết định Cụ thể, giao cho một cơ quan nhà nước, thay mặt nhà nước quyết định Việc giải quyết 3 vấn đề cơ bản của tổ chức kinh tế tiến hành theo trật tự: sản xuất cái gì? Như thế nào? Và sản xuất cho ai?
Ví dụ: Ủy ban Kế hoạch Nhà nước lên kế hoạch mỗi năm sẽ sản xuất những loại sản phẩm nào, với chủng loại, số lượng như thế nào Sau đó, phối hợp với tất cả các Bộ, ngành liên quan để quyết định việc phân bổ nguồn lực sao cho thực hiện đúng kế hoạch đã hoạch định Cuối cùng, hàng hóa sản xuất ra sẽ được quyết định phân phối cho ai, cho đối tượng nào trong xã hội
Trang 12Còn bây giờ, tiếp theo ta quay lại với quan điểm của các nhà kinh tế học
Vì cả hai mô hình trên đều có những nhược điểm nhất định, nên các nhà kinh tế
đã đề xuất mô hình thứ tư: mô hình kinh tế hỗn hợp
c Mô hình kinh tế hỗn hợp: nằm giữa hai thái cực của hai mô hình trên
Hầu hết các quốc gia hiện nay đều vận dụng mô hình kinh tế hỗn hợp Nền kinh
tế hỗn hợp phát huy ưu điểm của nền kinh tế thị trường, đồng thời tăng cường vai trò của chính phủ trong việc điều chỉnh các khiếm khuyết của nền kinh tế thị trường
Trong mô hình này, việc giải quyết 3 vấn đề cơ bản của tổ chức kinh tế chủ yếu do quan hệ cầu – cung trên thị trường quyết định, nhưng có sự tham gia điều tiết của nhà nước Nhà nước sẽ tham gia điều tiết bằng những công cụ gián tiếp cũng như trực tiếp Ví dụ: hình thành hành lang pháp lý định hướng hoạt động của doanh nghiệp, quy định giá của một số mặt hàng thiết yếu (như: xăng dầu, điện,…)… Đây là mô hình kinh tế được áp dụng phổ biến nhất hiện nay Trong bối cảnh toàn cầu hóa, cơ chế thị trường là sự lựa chọn của hầu hết các quốc gia trên thế giới thì áp lực canh tranh ngày càng gay gắt, đồng thời, những khuyết tật của thị trường (như: sự phân hóa giàu nghèo, tài nguyên cạn kiệt, môi trường ô nhiễm,…) bộc lộ ngày càng rõ Nên vai trò điều tiết của chính phủ lại càng được đánh giá cao
(* Mô hình kinh tế xanh: Đây là mô hình kinh tế mới chỉ được thực hiện ở một số nước có nền khoa học công nghệ phát triển mạnh Mô hình kinh tế này phụ thuộc chủ yếu vào các dạng năng lượng tái tạo, nhằm thân thiện với môi trường, hạn chế tối đa lượng khí thải đưa vào không khí Đồng thời tiến hành nghiên cứu để tạo ra các nguồn năng lượng mới thay thế cho những nguồn năng lượng có nguy cơ cạn kiệt, đồng thời góp phần bảo vệ môi trường sống.)
1.5 Sơ đồ hoạt động (chu chuyển) của nền kinh tế
Chủ thể kinh tế thứ nhất: Hộ gia đình Hộ gia đình là nơi cung ứng các yếu
tố sản xuất cho các doanh nghiệp như sức lao động, tài sản cho thuê, vốn, những sáng kiến kinh doanh, kinh nghiệm quản lý Đồng thời, hộ gia đình là nơi tiêu thụ các sản phẩm hàng hóa dịch vụ tiêu dùng mà các doanh nghiệp đã sản xuất Chủ thể kinh tế thứ hai: Doanh nghiệp Các doanh nghiệp sử dụng các yếu tố sản xuất
do các họ gia đình cung ứng để tiến hành hoạt động sản xuất của mình, tạo ra sản phẩm dịch vụ cung ứng cho thị trường
Sơ đồ chu chuyển kinh tế đơn giản: Để đơn giản, trước hết, ta xem xét sơ
đồ chu chuyển kinh tế trong cơ chế thị trường với hai chủ thể chính và hoạt động trên hai thị trường
- Hai chủ thể chính là: các hộ gia đình và các doanh nghiệp
Trang 13- Hai thị trường mà hai chủ thể này hoạt động là: thị trường yếu tố sản xuất
và thị trường sản phẩm
Trước hết, hãy hình dung, các hộ gia đình là người chủ sở hữu các yếu tố sản xuất của nền kinh tế nên họ sẽ cung ứng các yếu tố này cho thị trường yếu tố sản xuất Đổi lại, họ có thư nhập từ việc cung ứng các yếu tố sản xuất, hình thành nên thu nhập của hộ gia đình (mà ta gọi là tiền lương, tiền lãi, tiền cho thuê,…) Có thu nhập các hộ gia đình sẽ mua hàng hóa trên thị trường sản phẩm để thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của hộ gia đình Đương nhiên, khi mua hàng, họ phải trả tiền cho thị trường này Các doanh nghiệp trên cơ sở nghiên cứu nhu cầu và cầu của thị trường sẽ giải quyết được 3 vấn đề cơ bản của tổ chức kinh tế là: sản xuất cái gì? Sản xuất cho ai? Và sản xuất như thế nào? Từ đó, với vốn đầu tư ban đầu, các doanh nghiệp sẽ mua, thuê các yếu tố sản xuất cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình trên thị trường yếu tố sản xuất, để về kết hợp, sử dụng theo những quy trình công nghệ nhất định, tạo ra sản phẩm, bán trên thị trường sản phẩm khi tiêu thụ sản phẩm, họ sẽ thu được tiền, ta gọi đó là doanh thu
Như vậy, trên thị trường sản phẩm, hộ gia đình là người mua, doanh nghiệp là người bán Trên thị trường yếu tố sản xuất, hộ gia đình là người bán, doanh nghiệp là người mua Quá trình mua bán này sẽ hình thành nên hai dòng chu chuyển song song ngược chiều nhau, hình thành nên hai vòng chu chuyển khép kín
Có thể hình dung toàn bộ quá trình này trên sơ đồ sau:
TT SẢN PHẨM
- Sản xuất cái gì?
- Sản xuất cho ai?
- Sản xuất như thế nào?
TT YẾU TỐ SẢN XUẤT
DOANH NGHIỆP
HỘ GIA ĐÌNH
Trang 142 Kinh tế học
2.1 Khái niệm:
Theo một khái niệm chung nhất, kinh tế học là một bộ môn khoa học xã hội
giúp cho con người hiểu về cách thức vận hành của nền kinh tế nói chung và cách thức ứng xử của từng chủ thể tham gia vào nền kinh tế nói riêng Vấn đề khan hiếm nguồn lực yêu cầu các nền kinh tế hay các đơn vị kinh tế phải lựa chọn Các nhà Kinh tế cho rằng: Kinh tế học là "khoa học của sự lựa chọn" Kinh tế học tập trung vào việc sử dụng và quản lý các nguồn lực hạn chế để đạt được thỏa mãn tối đa nhu cầu vật chất của con người Đặc biệt, kinh tế học nghiên cứu hành vi trong sản xuất, phân phối và tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ trong thế giới có nguồn lực hạn chế
Ở mỗi thời điểm nhất định, một doanh nghiệp nói riêng hay nền kinh tế nói chung sẽ chỉ có một lượng các yếu tố sản xuất nhất định, trong khi nhu cầu của con người là vô hạn Nên các yếu tố sản xuất luôn luôn khan hiếm Sự khan hiếm được hiểu theo hai góc độ: khan hiếm tương đối và khan hiếm tuyệt đối Các yếu
tố sản xuất khan hiếm tương đối vì con người luôn muốn có nhiều hơn các yếu tố này so với số lượng hiện hữu của nó Các yếu tố sản xuất khan hiếm tuyệt đối vì
số lượng của các yếu tố là có giới hạn Nên khi con người sử dụng, khai thác các yếu tố sản xuất, thì thực tế đã làm cho các yếu tố này ngày càng cạn kiệt Điều này thể hiện rất rõ qua việc môi trường thiên nhiên của trái đất đang ngày càng xấu đi Dự báo của các nhà khoa học về nguồn trữ lượng dầu của các mỏ dầu sẽ hết trong vài chục năm tới Chính vì các yếu tố sản xuất khan hiếm nên kinh tế học đã ra đời, tồn tại và phát triển, để giúp con người có sự lựa chọn tối ưu, đem lại hiệu quả cao nhất
Như vậy, kinh tế học quan tâm đến hành vi của toàn bộ nền kinh tế tổng thể
và hành vi của các chủ thể riêng lẻ trong nền kinh tế, bao gồm các doanh nghiệp,hộ tiêu dùng, người lao động và chính phủ Mỗi chủ thể kinh tế đều có mục tiêu để hướng tới, đó là tối đa hóa lợi ích kinh tế của họ Mục tiêu của các
doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận, mục tiêu của các hộ tiêu dùng là tối đa
hóa mức độ tiêu dùng, mục tiêu của người lao động là tối đa hóa tiền công và mục tiêu của chính phủ là tối đa hóa lợi ích xã hội Kinh tế học có nhiệm vụ giúp các chủ thể kinh tế giải quyết bài toán tối đa hóa lợi ích kinh tế này
Kinh tế học là môn khoa học xã hội nghiên cứu cách thức con người sử dụng như thế nào các nguồn lực khan hiếm để sản xuất ra các hàng hóa dịch vụ để phân phối chúng cho các thành viên trong xã hội
=> Đối tượng nghiên cứu: “Nghiên cứu hoạt động của con người trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm hàng hóa”
Trang 152.2 Kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô
2.2.1 Kinh tế vi mô
a Khái niệm: Kinh tế vi mô (hay kinh tế tầm nhỏ): là một môn khoa học
chuyên nghiên cứu về hành vi kinh tế của các chủ thể tham gia vào nền kinh tế như người tiêu dùng, nhà sản xuất và cách các chủ thể này tương tác với nhau Hiểu một cách đơn giản nhất, bản chất của kinh tế vi mô là nghiên cứu hành vi của từng cá nhân, doanh nghiệp như người tiêu dùng, người sản xuất, các nhà đầu
tư, các doanh nghiệp và sự tương tác giữa họ trên các thị trường cụ thể
Ví dụ: khi giá của thịt heo tăng lên, người tiêu dùng sẽ giảm số lượng thịt heo mà người đó sẽ tiêu dùng, nhưng người sản xuất lại muốn sản xuất thêm thịt heo Như vậy, đã có một sự mâu thuẫn ở đây, và kinh tế học vi mô sẽ giúp chứng
ta đi tìm mức sản lượng tối ưu là mức sản lượng mà tại đó, người sản xuất có thể đạt được mục tiêu của mình là lợi nhuận tối đa
Kinh tế vi mô giải thích cách thức người tiêu dùng đi đến quyết định mua
và sự thay đổi giá cả thu nhập, thị hiếu có ảnh hưởng tới sự lựa chọn của họ như thế nào? Kinh tế vi mô cũng giải thích cách thức doanh nghiệp quyết định tuyển bảo nhiêu công nhân và cách thức công nhân quyết định làm việc ở đâu và khối lượng công việc là bao nhiêu?
b Mục tiêu:
Kinh tế vi mô có vai trò trong việc xác định giá của một sản phẩm cùng với giá của các yếu tố sản xuất khác như đất đai, nguồn lao động, nguồn vốn, doanh nghiệp trong nền kinh tế (Giá là số tiền mà khách hàng phải trả cho một sản phẩm hoặc dịch vụ)
Các yếu tố tác động:
- Cung - Cầu;
- Giá cả của hàng hóa và dịch vụ;
- Giá của các yếu tố sản xuất;
- Mức tiêu thụ;
- Phúc lợi kinh tế;
- Vai trò của chính phủ trong nền kinh tế thị trường
c Đối tượng, nội dung nghiên cứu:
- Đối tượng:
+ Nghiên cứu các vấn đề kinh tế cơ bản của từng đơn vị kinh tế
Trang 16+ Nghiên cứu tính quy luật và xu hướng vận động tất yếu của các hoạt động kinh tế vi mô
- Kinh tế vi mô tập trung nghiên cứu các nội dung chủ yếu gồm:
+ Kinh tế vi mô và những vấn đề cơ bản của doanh nghiệp
+ Nghiên cứu nội dung cung và cầu, quan hệ cung cầu ảnh hưởng quyết định đến giá cả thị trường và sự thay đổi giá cả trên thị trường ảnh hưởng đến quan hệ cung cầu và lợi nhuận
+ Nghiên cứu sự lựa chọn tối ưu của người tiêu dùng để tối đa hóa lợi
ích
+ Nghiên cứu các vấn đề về nội dung sản xuất và chi phí, cách phối hợp đầu vào trong quá trình sản xuất, lựa chọn đầu vào tối ưu để tối thiểu hóa chi phí
+ Nghiên cứu các mô hình về thị trường: thị trường cạnh tranh hoàn hảo, thị trường độc quyền, thị trường cạnh tranh không hoàn hảo bao gồm cạnh tranh độc quyền và độc quyền tập đoàn
+ Nghiên cứu các vấn đề về cung cầu lao động, vốn và đất đai
+ Nghiên cứu những thất bại của kinh tế thị trường thông qua việc nghiên cứu khuyết tật của kinh tế thị trường và vai trò của Chính phủ
2.2.2 Kinh tế vĩ mô:
a Khái niệm: là môn khoa học quan tâm đến việc nghiên cứu, phân tích,
lựa chọn các vấn đề kinh tế tổng thể của toàn bộ nền kinh tế
Kinh tế học vĩ mô nghiên cứu những vấn đề bao trùm toàn bộ nền kinh tế như sản lượng quốc gia, tăng trưởng kinh tế, thất nghiệp, lạm phát, tổng cung, tổng cầu, các chính sách kinh tế quốc gia, thương mại quốc tế v.v và mối quan hệ giữa các chỉ tiêu này, từ đó, nghiên cứu và đề xuất các chính sách kinh tế để điều tiết nền kinh tế hay thúc đầy tăng trưởng kinh tế Nó nghiên cứu nền kinh tế như một tổng thể thống nhất
b Mục tiêu: Nhằm giải thích mối quan hệ giữa các yếu tố như thu nhập
quốc gia, sản lượng, tiêu dùng, thất nghiệp, lạm phát, tiết kiệm, đầu tư, buôn bán
đa quốc gia và tài chính đa quốc gia
Duy trì ổn định ở mức giá chung và giải quyết các vấn đề chính của nền kinh tế như: lạm phát, giảm phát, tỷ lệ thất nghiệp và đói nghèo ((mức giá chung là mức giá của tất cả hàng hóa, dịch vụ trong một nền kinh tế, thường được tính bằng chỉ số giá tiêu dùng-CPI)
Các yếu tố tác động:
Trang 17- Thu nhập quốc gia;
- Mức giá chung;
- Phân phối việc làm, tỷ lệ thất nghiệp;
- Tiền tệ;
- Vai trò ổn định kinh tế vĩ mô của chính phủ
c Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu tổng thể nền kinh tế bao gồm cả quốc gia và quốc tế Các yếu
tố kinh tế tổng thể như: đầu tư vốn, tỷ lệ thất nghiệp, lạm phát, tổng sản phẩm xã
hội, thu nhập quốc dân
2.2.3 Mối quan hệ giữa kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô
Kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô tuy đối tượng nghiên cứu khác nhau nhưng đều là những nội dung cơ bản của kinh tế học giữa chúng có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau tạo thành hệ thống kiến thức của nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước Theo đó:
- Kết quả kinh tế vĩ mô phụ thuộc vào hành vi của kinh tế vi mô Ngược lại, hành
vi của kinh tế vi mô bị chi phối trực tiếp hay gián tiếp bởi các chính sách kinh tế vĩ mô
- Kinh tế vĩ mô sẽ tạo hành lang, môi trường và tạo điều kiện cho kinh tế vi
mô phát triển
Trong thực tiễn kinh tế và quản lý kinh tế, nếu chỉ giải quyết những vấn đề kinh tế vi mô, quản lý vi mô hay quản lý sản xuất kinh doanh mà không có sự điều chỉnh cần thiết của kinh tế vĩ mô, quản lý vĩ mô hay quản lý Nhà nước về kinh tế thì sẽ làm cho nền kinh tế phát triển không theo mục tiêu định trước
2.3 Phương pháp nghiên cứu Kinh tế học
Kinh tế học là một môn khoa học nên phương pháp nghiên cứu kinh tế học cũng tương tự các môn khoa học tự nhiên như sinh học, hoá học hay vật lý Tuy nhiên vì kinh tế học nghiên cứu hành vi kinh tế của con người, nên phương pháp nghiên cứu kinh tế học nói chung và kinh tế học vi mô nói riêng cũng có nhiều điểm khác với các môn khoa học tự nhiên khác
Phương pháp nghiên cứu của kinh tế học bao gồm:
- Phương pháp mô hình hóa: là quá trình thiết lập và sử dụng mô hình Được thực hiện đầy đủ theo 3 bước cơ bản Quan sát và đo lường; Xây dựng mô hình; Kiểm định mô hình
Bước 1: Quan sát và đo lường
Trang 18Trước khi bắt đầu xây dựng mô hình trong kinh tế học, nhà kinh tế phải tiến hành quan sát thu thập số liệu và đo lường các biến số của nền kinh tế Trong đó những yếu tố cơ bản không thể thay thế khi quan sát và đo lường như: Giá cả hàng hóa,
số lượng hàng hóa tiêu thụ, các chỉ số giá chung, chính sách thuế, các khoản chi tiêu chính phủ, sản lượng hàng hóa, thu nhập và so sánh với các quốc gia khác Bước 2: Xây dựng mô hình
Sau khi đã tiến hành quan sát và đo lường, sẽ tiến hành xây dựng mô hình trong kinh tế học vi mô Quá trình xây dựng mô hình trong kinh tế học vi mô sẽ thực hiện qua 3 bước:
+ Xác định vấn đề nghiên cứu: Đây là quá trình tìm kiếm các câu hỏi cần phải trả lời trong quá trình nghiên cứu Ví dụ Tại sao giá lương thực tăng, giá vàng tăng Nếu trợ giá thì người dân có lợi không Nhà nước có nên bình ổn giá xăng dầu…
+ Xây dựng các mối quan hệ: Là quá trình xây dựng các mối quan hệ dựa trên các giả định đơn giản hóa của vấn đề so với thực tế Người nghiên cứu cần thực hiện các bước đơn giản hóa nhằm dự đoán các mối quan hệ giữa biến số trong nền kinh tế Bởi lẽ hoạt động kinh tế vô cùng phức tạp và chúng ta không thể nghiên cứu tất cả các khía cạnh của vấn đề Tập trung vào một vài khía cạnh quan trọng loại bỏ những chi tiết thừa sẽ giúp tối ưu các giải pháp đưa ra cho nền kinh tế
+ Xác lập giả thuyết kinh tế: Quá trình xác lập giả thuyết kinh tế nhằm mục đích giải thích các vấn đề được nghiên cứu Mô hình sẽ tập trung vào dự báo và tiên đoán các kết quả có thể diễn ra dựa trên các chỉ số nghiên cứu ban đầu Các giả thiết phải dựa trên những thay đổi có thể diễn ra của biến số trong nghiên cứu Bước 3: Kiểm định mô hình
Các nhà kinh tế học sẽ tập hợp các số liệu sau đó tiến hành phân tích và kiểm chứng giả thiết Nếu các kết quả thực nghiệm phù hợp với giả thiết thì giả thiết sẽ được công nhận Lại trong trường hợp kết quả thực nghiệm khác với giả thiết thì các giả thuyết sẽ bị bác bỏ Quá trình này sẽ được thực hiện lọc đi lặp lại nhiều lần Trong trường hợp kết quả thực nghiệm cho kết quả đúng như giả thiết thì chúng ta kết luận rằng đây là một lý thuyết kinh tế Khi các lý thuyết kinh tế được
sử dụng và thừa nhận một cách rộng rãi thì chúng được xem là quy luật của nền kinh tế
Trang 19
- Phương pháp so sánh tĩnh: là sự so sánh trạng thái cân bằng mới với trạng thái cân bằng cũ sau khi có sự thay đổi trong các biến số Phương pháp này không chú ý tới cách thức đạt tới trạng thái cân bằng mới
Theo phương pháp này, các giả thuyết kinh tế về mối quan hệ giữa các biến luôn phải đi kèm với giả định các yếu tố khác không đổi trong mô hình đưa ra
Ví dụ: về xăng dầu, giả định quan trọng của mô hình là thu nhập của người tiêu dùng, giả cả các hàng hóa khác và một vài biến số khác không thay đổi Giả định này cho phép chúng ta tập trung vào mối quan hệ giữa 2 biến số chính yếu: giá xăng dầu và lượng tiêu thụ xăng dầu trong từng tháng
- Phương pháp phân tích cận biên: là hoạt động được thực hiện trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Thông qua việc tính toán các lợi ích tăng thêm của một hoạt động so với các chi phí tăng thêm phát sinh từ chính hoạt động đó Đây là phương pháp đặc thù của kinh tế học nói chung và kinh tế học vi mô nói riêng Nó cũng là phương pháp cơ bản của sự lựa chọn kinh tế tối ưu bởi vì bất cứ
sự lựa chọn nào cũng phải dựa trên sự so sánh giữa lợi ích mang lại và chi phí bỏ
ra Phương pháp phân tích cận biên được sử dụng để tìm ra điểm tối ưu (còn gọi
là điểm cân bằng) của sự lựa chọn Theo phương pháp này, chúng ta phải so sánh lợi ích và chi phí tại mỗi đơn vị hàng hóa, dịch vụ được sản xuất (hoặc tiêu dùng) tăng thêm Lợi ích và chi phí đó được gọi là lợi ích cận biên và chi phí cận biên
3 Lựa chọn kinh tế tối ưu
3.1 Lý thuyết lựa chọn
Việc lựa chọn kinh tế tối ưu trong các hoạt động kinh tế vi mô của doanh nghiệp có ý nghĩa quyết định đến việc bảo đảm hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp
Xây dựng mô hình
- Xác đinh vấn đề ngiên cứu
- Xây dựng các mối quan hệ dựa trên những giả định đơn giản hóa so với thực tế
- Xác lập các giả thuyết kinh tế để giải thích các vấn đề được nghiên cứu
Trang 20trong quá trình kinh doanh Nhưng việc lựa chọn kinh tế tối ưu các hoạt động kinh tế vi mô đều phải dựa trên lý thuyết lựa chọn
Sự lựa chọn kinh tế lý giải cách thức mà các doanh nghiệp sử dụng các yếu
tố sản xuất khác nhau để đưa ra những quyết định của mình, giải thích các hành
vi kinh tế mà các doanh nghiệp, các cá nhân sẽ lựa chọn bằng cách cân nhắc, so sánh những lợi ích do sự lựa chọn đem lại và chi phí cho các cơ hội đã bị bỏ qua
Sự khan hiếm nguồn lực đòi hỏi xã hội, cá nhân phải đưa ra sự lựa chọn Quyết định lựa chọn phải được cân nhắc trên cơ sở xét chi phí cơ hội Bởi lẽ mỗi
cá nhân trong xã hội sở hữu những nguồn lực nhất định (để có thể sản xuất hay tiêu dùng một số hàng hóa nhất định) cho dù cá nhân có nguồn lực dồi dào đi chăng nữa thì sự giới hạn về thời gian và nhân lực chỉ cho phép họ sản xuất và tiêu dùng một số hàng hóa nhất định
Như vậy, khái niệm hữu ích nhất được sử dụng trong lý thuyết lựa chọn là khái niệm chi phí cơ hội Chi phí cơ hội của một thứ là cái mà bạn phải từ bỏ để
có được nó khi ta đưa ra bất kỳ quyết định nào Vậy chi phí cơ hội là gì? Chi phí
cơ hội có thể hiểu theo nghĩa chung nhất là chi phí, lợi ích tiềm tàng bị mất đi do
đã không có sự lựa chọn thay thế nào tốt nhất kế tiếp Đây là thuật ngữ được sử dụng khá nhiều trong hoạt động kinh tế, kinh doanh Chi phí cơ hội được xây dựng dựa trên cơ sở là sự khan hiếm về các nguồn lực Do đó, nó bắt buộc chúng
ta sẽ phải đưa ra sự lựa chọn, đánh đổi từ bỏ lợi ích của phương án này để theo phương án khác
Chi phí cơ hội của một phương án lựa chọn: là cái mà ta từ bỏ (mất luôn không lấy lại được) để có được phương án đó, và là những lợi ích bị mất đi khi
chọn phương án này mà không chọn phương án khác
Chi phí cơ hội luôn xuất hiện khi tình trạng khan hiếm nguồn lực xảy ra vì khi đó người ta phải đánh đổi, nếu tiến hành hoạt động này thì phải bỏ hoạt động khác Chính vì vậy, khi đưa ra bất cứ sự lựa chọn kinh tế nào chúng ta cũng phải cân nhắc so sánh các phương án với nhau dựa theo chi phí cơ hội của các phương
án đó với nguyên tắc chọn phương án có chi phí cơ hội là nhỏ nhất
Mỗi một hoạt động đều có một chi phí cơ hội Ví dụ, khi một bạn nào đó đầu tư 100tr vào bán hàng online thì chính người đó đã bỏ lỡ cơ hội được hưởng
lãi nếu gửi 100tr vào ngân hàng như một khoàn tiền tiết kiệm
Chi phí cơ hội thực tế có thể thấy ở bất cứ đâu bất cứ trường hợp nào, thực tế
mỗi ngày chúng ta đều sẽ trải qua những sự lựa chọn, những quyết định trong cuộc sống của chính bản thân Mọi sự lựa chọn xuất hiện xung quanh trong cuộc sống hàng ngày chúng ta đều sẽ tồn tại loại chi phí này
Trang 21Hiểu rõ cách vận hành của chi phí cơ hội, nắm bắt và biết cách áp dụng nó vào cuộc sống sẽ hỗ trợ rất nhiều trong việc đưa ra những quyết định quan trọng của cuộc đời bạn ở thời điểm hiện tại và cả tương lai Những quyết định này có thể ảnh hưởng trực tiếp tới sự thành công của bạn ở tương lai ngắn hạn hoặc dài hạn,
vì vậy bạn cần xem xét kỹ lưỡng về loại chi phí này trước khi ra quyết định để có thể đưa ra quyết định phù hợp nhất
Ví dụ: Nếu ngày hôm đó bạn có một buổi hẹn đi xem phim cùng với bạn bè của
mình, nhưng bạn quyết định từ chối để ở nhà bổ túc thêm bài tập Giá trị bạn nhận được ở đây là kiến thức tốt cho bản thân, còn giá trị bạn mất đi là bạn đã bỏ lỡ một bộ phim hay, bỏ lỡ thời gian vui chơi với bạn bè Vậy chi phí cơ hội bạn đánh đổi ở đây là thời gian vui chơi, xem phim với bạn bè để nhận lại được những kiến thức có trong bài tập
Tuy nhiên, ví dụ nêu trên chỉ là một lần đánh đổi chi phí này ở mức giá trị bình thường, chưa có quá nhiều ảnh hưởng đến cuộc sống của bản thân Nhưng khi trưởng thành, bước chân vào xã hội bạn sẽ nhận được nhiều cơ hội mang tính quyết định cuộc đời sau này
Ví dụ: chi phí của một học sinh THCS quyết định đi học nghề và không đi học để
đi làm với mức thu nhập 3 triệu đồng/tháng
Đi làm: kiếm tiền được ngay nhưng khả năng tiếp cận với việc làm ổn định,
có thu nhập cao trong tương lai bị thu hẹp CPCH = tiền xăng xe đi lại + kiến thức C3, kiến thức nghề + sự hứa hẹn công việc có thu nhập cao sau khi tốt nghiệp
Học tiếp: mất ít nhất 3 năm, không có tiền ngay, tiếp cận cơ hội việc làm tốt
hơn trong tương lai Ích lợi của nó là nâng cao vốn kiến thức và có những cơ hội làm việc tốt hơn trong cuộc đời, nhưng chi phí của nó là gì? CPCH = tổng số tiền chi tiêu cho học phí, cho sách vở, đi lại … + mức thu nhập 3 triệu đồng/tháng và quan trọng nhất là nó bỏ qua khoản chi phí lớn nhất của việc học - đó là thời gian của bạn (Chi phí cơ hội lúc này không chỉ bao gồm số tiền mà bạn có thể kiếm ra nếu lựa chọn đi làm mà bao gồm cả số tiền học phí, thời gian để học nghề)
Cuộc sống cũng vậy, cuộc sống là một quá trình lựa chọn Khi bạn lựa chọn phương án này nó sẽ dẫn đến kết quả kia, khi bạn lựa chọn phương án kia nó sẽ dẫn đến kết quả này Sáng nay bạn quyết định ăn xôi thì tất nhiên bạn mất đi cơ hội
ăn bánh mì mà bạn cũng rất thích (không phải vì bạn thiếu tiền mà vì dạ dày của bạn có giới hạn)
Công thức: LSSĐM = Giá Trị Mất Đi/ Giá Trị Nhận Được Với: TLSSĐM là Tỷ Lệ So Sánh Được Mất
– Nếu tỷ số trên lớn hơn 1 thì bạn mất đi nhiều hơn bạn nhận được
– Nếu tỷ số trên nhỏ hơn 1 thì bạn nhận được nhiều hơn bạn mất đi
Trang 22VD: Trường hợp 1, bạn đầu tư kinh doanh: Bạn có thể thu về cho mình được lợi nhuận mong muốn hằng tháng là 10 triệu
Trường hợp 2, bạn đi làm kế toán cho công ty, hưởng mức lương cứng là 12 triệu đều đặn hàng tháng
KD: tỷ lệ là 1.2 ĐL: tỷ lệ là 0.8
3.2 Đường giới hạn khả năng sản xuất
Sự khan hiếm tài nguyên làm cho việc sản xuất bị hạn chế về mặt sản lượng Đường giới hạn khả năng sản xuất là đường mô tả những tổ hợp sản lượng hàng hóa tối đa mà nền kinh tế có thể sản xuất được khi sử dụng toàn bộ các nguồn lực sẵn có
Hay là một đường biểu diễn tập hợp tất cả các phương án sản xuất có hiệu quả; Phương án sản xuất có hiệu quả là phương án mà tại đó muốn tăng một đơn vị sản phẩm đâu ra nào dó thì buộc phải cát giảm đi những đơn vị sản phẩm đầu ra khác
Đừng giới hạn khả năng sx cho biết các kết hợp khác nhau của hai (hay nhiều loại hàng hóa) có thể được sản xuất từ một số lượng nhất định của nguồn tài nguyên (khan hiếm) Đường giới hạn khả năng sản xuất minh họa cho sự khan hiếm của nguồn tài nguyên
Để có thể biểu hiện đường này, người ta giả định rằng trên thị trường chỉ có hai món hàng được kinh doanh và nguồn lực là không thay đổi trong mọi thời điểm
Ví dụ, giả sử một nền kinh tế có bốn đơn vị lao động tham gia vào sản xuất thực phẩm và quần áo Số liệu về khả năng sản xuất của nền kinh tế này được trình bày trong bảng 1.1 dưới đây
Trang 23Dựa vào số liệu trong bảng 1.1, ta có thể vẽ nên một đường cong được gọi là đường giới hạn khả năng sản xuất như trong hình 1.2 dưới đây
°H
G°
Hình 1.2 Đường giới hạn khả năng sản xuất (PPF)
Tổng quát, đường giới hạn khả năng sản xuất cho biết sản lượng tối đa của hai (hay nhiều) sản phẩm có thể sản xuất được với một số lượng tài nguyên nhất định
Trên hình 1.2 đường cong nối các điểm từ A tới E được gọi là đường “ Giới hạn khả năng sản xuất” Đường giới hạn khả năng sản xuất cho biết những điểm mà tại đó xã hội sản xuất một cách có hiệu quả vì nó tận dụng hết năng lực
sản xuất Như vậy, hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng
một loại hàng hóa này mà không cắt đi giảm sản lượng một loại hàng hóa khác
Các điểm như điểm G nằm trong đường giới hạn là những điểm không hiệu quả vì ở đây xã hội bỏ phí các nguồn lực Người ta có thể tăng thêm sản lượng của một loại hàng hóa này mà không đòi hỏi phải cắt đi sản lượng một loại hàng hóa khác
Những điểm nằm ngoài giới hạn khả năng sản xuất, như điểm H là không thể đạt được với nguồn lực và công nghệ hiện có, hoặc phải nhập khẩu nguồn lực, hoặc phải liên kết để có đủ nguồn lực
Sự khan hiếm của nguồn lực buộc xã hội và các doanh nghiệp phải chọn các điểm nằm trong hoặc trên đường giới hạn khả năng sản xuất, phải chấp nhận thực tế khan hiếm của các nguồn lực và phải lựa chọn phương án phân bổ các nguồn lực một cách tối ưu
Sự lựa chọn kinh tế tối ưu trước hết phải nằm trên đường giới hạn năng lực sản xuất hiện có, nhưng trên đường năng lực cho phép đó, chúng ta sẽ chọn tại điểm nào thì tối ưu nhất cho mong muốn của chúng ta Điểm có hiệu quả nhất trước hết là điểm nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất và điểm đó thỏa mãn tối đa các nhu cầu của xã hội và con người mong muốn
Từ đó, ta có các đặc trưng lớn của đường giới hạn khả năng sản xuất PPF là: – Đường PPF thể hiện sự đánh đổi giữa các hàng hóa Nếu muốn sản xuất nhiều hơn mặt hàng này, ta phải giảm một số lượng nhất định mặt hàng khác
Trang 24– Những điểm nằm trên đường PPF là những điểm hiệu quả vì tận dụng hết nguồn lực hiện có, không xuất hiện hiện tượng lãng phí
– Những điểm nằm ngoài đường PPF là những điểm không khả thi vì những điểm này yêu cầu nguồn lực lớn hơn nguồn lực sẵn có trong thực tế
– Những điểm nằm trong đường PPF là những điểm không hiệu quả, vì tại những điểm này nguồn lực sẵn có của nền kinh tế không được sử dụng hết
– Càng đi từ trái sang phải thì đường giới hạn khả năng sản xuất PPF sẽ càng dốc xuống. (Đường PPF là đường dốc xuống thể hiện sự đánh đổi (hay chi phí cơ hội)
vì nguồn lực là có giới hạn)
3.3 Ảnh hưởng của các quy luật kinh tế đối với sự lựa chọn kinh tế tối ưu
a Tác động của quy luật khan hiếm
Nhu cầu của con người không ngừng tăng lên và ngày càng đa dạng, phong phú, đòi hỏi hàng hóa và chất lượng dịch vụ ngày càng cao, tiện ích mang lại ngày càng nhiều Tuy nhiên tài nguyên để thỏa mãn những nhu cầu trên ngày càng khan kiếm và cạn kiệt (đất đai, khoáng sản, lâm sản, hải sản )
Quy luật khan hiếm tài nguyên so với nhu cầu của con người ảnh hưởng gây gắt đến sự lựa chọn kinh tế tối ưu trong hoạt động kinh tế vi mô Đối với vấn
đề lựa chọn kinh tế tối ưu đặt ra ngày càng thực hiện rất khó khăn Đòi hỏi doanh nghiệp phải lựa chọn những vấn đề kinh tế cơ bản của mình trong giới hạn cho phép của khả năng sản xuất và sức cạnh tranh ngày càng gia tăng
b Tác động của quy luật lợi suất giảm dần
Quy luật lợi suất giảm dần cho biết khối lượng đầu ra có thêm ngày càng giảm khi ta liên tiếp bỏ thêm những đơn vị bằng nhau của một đầu vào biến đổi (đầu vào khác giữ nguyên)
Quy luật lợi suất giảm dần đòi hỏi trong lựa chọn tối ưu doanh nghiệp phải phối hợp đầu vào sản xuất với một tỷ lệ tối ưu
c Tác động của quy luật chi phí cơ hội ngày càng tăng
Chi phí cơ hội: là chi phí để sản xuất ra một mặt hàng được tính bằng số lượng mặt hàng khác bị bỏ đi để sản xuất thêm một đơn vị mặt hàng đó
Quy luật chi phí cơ hội ngày càng tăng cho biết: khi muốn tăng dần từng đơn vị mặt hàng này, xã hội phải bỏ đi ngày càng nhiều số lượng mặt hàng khác: quy luật đòi hỏi sử dụng tài nguyên vào sản xuất các mặt hàng khác nhau một cách hiệu quả
d Ảnh hưởng của hiệu quả kinh tế
Trang 25Hiệu quả kinh tế là mối quan tâm duy nhất của kinh tế học nói chung, kinh
tế vi mô nói riêng
Hiệu quả, nói khái quát nghĩa là không lãng phí, nhưng nó quan hệ chặt chẽ với việc sử dụng năng lực sản xuất hiện có Một doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả khi nó không thể sản xuất một mặt hàng với số lượng nhiều hơn, mà không sản xuất một mặt hàng khác với số lượng ít hơn, khi nó nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất Mức sản xuất có hiệu quả nằm trên đường năng lực sản xuất, nhưng điểm có hiệu nhất là điểm cho phép vừa sản xuất tối đa các loại hàng hóa theo nhu cầu thị trường và sử dụng đầy đủ năng lực sản xuất Dưới đường năng lực sản xuất là không có hiệu quả vì sử dụng không đầy đủ năng lực sản xuất Ngoài đường năng lực sản xuất là không khả thi
Như vậy, ta có thể nhấn mạnh mấy vấn đề cơ bản về hiệu quả kinh tế theo quan điểm kinh tế học vi mô:
- Tất cả những quyết định sản xuất cái gì trên đường giới hạn năng lực sản xuất là có hiệu quả vì nó tận dụng hết nguồn lực
- Số lượng hàng hóa đạt trên đường giới hạn của năng lực sản xuất càng lớn càng có hiệu quả cao
- Sự thỏa mãn tối đa về mặt hàng, chất lượng, số lượng hàng hóa theo nhu cầu thị trường trong giới hạn của đường năng lực sản xuất cho ta đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất
- Kết quả trên một đơn vị chi phí càng lớn hoặc chi phí trên một đơn vị kết quả càng nhỏ thì hiệu quả kinh tế càng cao
Sự đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất trong khoảng thời gian ngắn nhất cho
ta khả năng tăng trưởng kinh tế nhanh và tích lũy lớn Hiệu quả kinh tế là tiêu chuẩn cao nhất của mọi sự lựa chọn kinh tế của các doanh nghiệp trong nền kinh
tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG I
1 Thế nào là kinh tế vi mô? Phân biệt kinh tế vi mô với kinh tế vĩ mô?
2 Đối tượng và nội dung cơ bản của kinh tế vi mô và các phương pháp nghiên cứu kinh tế vi mô?
3 Trình bày mục tiêu của sự lựa chọn và phương pháp lựa chọn kinh tế tối ưu?
Trang 26BÀI TẬP
1 Hà muốn đi từ Hà Nội vào Vinh Nếu Hà đi máy bay thì sẽ mất 1h, còn nếu đi
ô tô thì sẽ cần 5h Giá vé máy bay từ Hà Nội vào Vinh là 800.000VND, giá vé ô
tô là 200.000VND Nếu không mất thời gian di chuyển, Hà có thể làm việc và kiếm được thu nhập là 200.000VND/giờ
a Tính chi phí cơ hội của Hà khi di chuyển từ Hà Nội vào Vinh bằng xe ô tô
b Nếu Hà đi máy bay thì chi phí cơ hội của Hà là bao nhiêu?
c Hà nên đi từ Hà Nội vào Vinh bằng phương tiện gì?
d Trả lời lại câu hỏi a, b, c nếu bây giờ thu nhập của Hà chỉ là 50.000VND/giờ
-
Trang 27CHƯƠNG II: CUNG - CẦU
Mã chương: 1102 Mục tiêu:
- Trình bày được khái niệm cung cầu và các vấn đề liên quan đến cung cầu
- Thực hiện được các bài tập tình huống và tính toán, xác định cân bằng cung cầu; Xác định ảnh hưởng của các yếu tố đến cung cầu, co giãn cung cầu
- Tích cực, chủ động trong quá trình học tập, nghiên cứu
Nội dung chính:
1 CẦU (Demand)
1.1 Khái niệm:
Cầu: là số lượng hàng hóa và dịch vụ mà người tiêu dùng muốn mua và có
khả năng mua tại mỗi mức giá nhất định, trong một khoảng thời gian nhất định, với các yếu tố khác không đổi
Khái niệm nêu trên cho thấy cầu không phải là một số lượng cụ thể mà là một sự mô tả toàn diện về số lượng hàng hóa mà người mua muốn mua ở mỗi mức giá cụ thể
Cầu chỉ xuất hiện khi có đủ 2 yếu tố đó là:
+ Có khả năng mua:nghĩa là phải có tiền, có đủ ngân sách
+ Sẵn sàng mua: muốn mua, phụ thuộc vào sở thích của người tiêu dùng Cầu không những phụ thuộc vào 2 yếu tố trên mà nó còn phụ thuộc vào giá
và nhiều yếu tố khác nữa Khi giá cả thay đổi thì cần cũng sẽ thay đổi Chúng ta cũng cần phân biệt cầu và nhu cầu Nhu cầu là những nguyện vọng, mong ước vô hạn về hàng hóa, dịch vụ của con người Còn cầu là những mong muốn có thể thực hiện được trong từng điều kiện, hoàn cảnh nhất định
1.2 Cầu cá nhân và cầu thị trường
Cầu cá nhân (hay lượng cầu): là số lượng hàng hóa, dịch vụ cụ thể mà một
cá nhân mong muốn mua và có khả năng mua (sẵn lòng mua) tại một mức giá cụ
thể trong một khoảng thời gian nhất định, với các yếu tố khác không đổi Do đó, lượng cầu chỉ có ý nghĩa khi gắn với một mức giá cụ thể
Ví dụ: Lượng cầu của sôcô la là số lượng sôcôla mà người mua muốn mua tại một mức giá cụ thể Tại mức giá là 20 ngàn đồng, người mua muốn mua 80 thanh
Cầu thị trường: Là tổng cầu cá nhân ở các mức giá Khi cộng lượng cầu cá
nhân ở mỗi mức giá, chúng ta có lượng cầu thị trường tại mỗi mức giá
Trang 28Hay llà tổng khối lượng hàng hóa, dịch vụ mà người tiêu dùng (xã hội) sẵn sàng đưa ra khỏi thị trường tương ứng các mức giá cả khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định với các yếu tố khác không đổi)
Tổng cầu: Cầu của toàn thể các cá nhân đối với tất cả mặt hàng trong nền kinh tế gộp lại
1.3 Luật cầu:
Nếu giá cả của một mặt hàng tăng lên bạn sẽ mua ít hàng đó hơn Thay vào đó bạn sẽ mua một mặt hàng thay thế khác Vì vậy lượng cầu về hàng hóa tăng khi giá giảm và giảm khi giá tăng nên chúng ta nói lượng cầu có quan hệ tỷ lệ nghịch với giá cả
Quy luật cầu được rút ra khi quan sát hành vi, thói quen của người tiêu dùng khi mua các loại hàng hóa và dịch vụ khác nhau Trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, khi giá của một loại hàng hóa tăng lên thì lượng cầu của hàng hóa đó giảm xuống và ngược lại khi giá của hàng hóa giảm xuống thì lượng cầu
hàng hóa đó càng tăng Quy luật cầu có thể được tóm tắt như sau:
P↑ => QD↓ (P: giá; QD: lượng cầu) P↓ => QD↑
Quy luật cầu phản ánh mục tiêu của hành vi mua hàng là tối đa hóa lợi ích Tìm kiếm lợi ích tối đa chi phối mọi hành vi mua hàng của người tiêu dùng Do
đó họ luôn cân nhắc giữa chi phí mà phải trả với ích lợi họ nhận được, hành vi
này được lặp đi lặp lại ở mọi người mua Sự thay đổi nghịch biến giữa giá cả và
lượng cầu được lý giải bởi hai nhân tố:
Thứ nhất, hiệu ứng thay thế: Vì thu nhập của người tiêu dùng là có hạn, khi giá cả hàng hóa này tăng lên so với giá cả hàng hóa thay thế khác, người tiêu dùng sẽ tính toán sử dụng hàng giá rẻ có lợi hơn sử dụng hàng có giá cao Do đó, cầu về hàng hóa tăng giá sẽ giảm xuống và cầu về hàng thay thế sẽ tăng lên
Thứ hai, hiệu ứng thu nhập: Nếu người tiêu dùng có sở thích bộc lộ nhất quán không chuyển sang tiêu dùng hàng hóa khác, mà vẫn trung thành với hàng hóa mình yêu thích, thì khi giá cả hàng hóa tăng lên họ bị mất thu nhập nên phải mua một lượng hàng hóa ít hơn, ngược lại khi giá cả hàng hóa giảm xuống họ được thêm thu nhập nên mua được một lượng hàng hóa nhiều hơn Hai hiệu ứng trên đúng với đa số hành vi người tiêu dùng nhưng không phải là tất cả Do đó, quy luật cầu phản ánh số lớn hành vi của người tiêu dùng, nó không tuyệt đối đúng trong mọi trường hợp
Quy luật cầu: Nếu các điều kiện khác được giữ nguyên, không thay đổi, lượng cầu về một loại hàng hoá điển hình sẽ tăng lên khi mức giá của chính hàng hoá này hạ xuống và ngược lại
Trang 29là hàng hóa thứ cấp VD: Khi thu nhập tăng thì nhu cầu về gạo có chất lượng cao tăng lên còn nhu cầu về khoai, sắn giảm đi
b, Giá cả hàng hóa liên quan: Cầu về hàng hóa không chỉ phụ thuộc vào giá
cả của bản thân hàng hóa đó mà nó còn phụ thuộc vào giá cả của các mặt hàng có
liên quan Ví dụ: như giá cá giảm đi thì người ta sẽ mua nhiều cá hơn Cũng đồng thời thì họ sẽ mua ít thịt lợn hơn, vì cá và thịt lợn là hai món hàng có thể thỏa mãn được những nhu cầu tương tự nhau Khi sự giảm giá của một hàng hóa làm giảm
lượng cầu về một hàng hóa khác, chúng ta gọi chúng là những hàng hóa thay thế Quan hệ giữa các hàng hóa thay thế là giá cả của hàng hóa này có quan hệ đồng biến với cầu hàng hóa kia Khi giá máy lạnh tăng thì cầu về quạt máy tăng, khi giá máy lạnh giảm thì cầu về quạt máy giảm
Ngược lại, khi sự giảm giá của một hàng hóa làm tăng lượng cầu về hàng hóa khác thì hai hàng hóa đó gọi là hàng hóa bổ sung Hàng bổ sung là những loại hàng hóa bổ sung lẫn nhau trong tiêu dùng, tức là có loại hàng hóa này mới sử dụng được hàng kia và ngược lại, ví dụ như đầu đĩa và đĩa; bình gas và bếp gas Quan hệ giữa các hàng hóa bổ sung là quan hệ nghịch biến Với các điều kiện
khác không đổi nếu hàng này tăng giá thì cầu hàng kia sẽ giảm và ngược lại
c, Tâm lý, tập quán, thị hiếu của người tiêu dùng:
Khi hàng hóa sản xuất ra đáp ứng được các đòi hỏi về sở thích, tâm lý, thị hiếu của người tiêu dùng, cầu hàng hóa sẽ tăng lên và ngược lại Trào lưu thích điện thoại di động cảm ứng thông minh làm tăng cầu về điện thoại thông minh và làm giảm cầu của điện thoại di động thông thường Tâm lý thích cơ thể mảnh mai cân đối và khỏe mạnh đã làm tăng cầu về các sản phẩm luyện tập và thực phẩm
ăn kiêng, giảm cầu về các loại thức ăn chứa nhiều chất béo…
Trang 30d, Quy mô dân số: Quy mô dân số phản ánh số lượng dân cư với các điều kiện
khác không đổi, quy mô cầu hàng hóa phụ thuộc vào quy mô dân dư Quy mô dân cư lớn, cầu đối với các mặt hàng sẽ lớn, quy mô dân số nhỏ, cầu đối với các mặt hàng sẽ nhỏ
e, Kỳ vọng của người tiêu dùng: Kỳ vọng là sự mong đợi ở tương lai về
thu nhập, công danh, sở thích, thị hiếu…., cầu hàng hóa, dịch vụ thay đổi phụ thuộc vào kỳ vọng của người tiêu dùng Nếu dự kiến thu nhập trong tháng tới cao hơn, bạn sẽ mua quần áo nhiều hơn trong hiện tại Nếu dự đoán giá vàng sẽ giảm
trong thời gian tới thì bạn sẽ không mua vàng ở hiện tại
g, Các yếu tố khác: Sự thay đổi của cầu đối với hàng hóa, dịch vụ còn phụ
thuộc vào một số yếu tố khác Đó có thể là các yếu tố thuộc về tự nhiên như thời tiết, khí hậu hay những yếu tố chính trị xã hội mà chúng ta không thể dự đoán trước được Cầu về thịt lợn giảm mạnh khi xảy ra dịch bệnh “tả lơn châu Phi” ở
Hà Nam năm 2019 Nếu mùa đông ấm hơn thì cầu về áo ấm sẽ giảm xuống…
Tóm lại, cầu thị trường bị tác động bởi nhiều nhân tố, nghiên cứu nhân tố tác động đến cầu cho ta một bức tranh toàn cảnh về sự hình thành, vận động của cầu thị trường
1.5 Sự thay đổi của lượng cầu và của cầu
Mối quan hệ giữa lượng cầu và giá được gọi là đường cầu, hay đơn giản là cầu Mức độ mà lượng cầu thay đổi liên quan đến giá cả sẽ được gọi là độ co giãn của cầu
a, Hàm cầu :
Với giả định là các yếu tố khác là không đổi, ta có thể biểu diễn lượng cầu đối với một hàng hóa nào đó như là một hàm số của giá của chính hàng hóa đó
như sau: Q D = f(P) (2.1)
Hàm cầu là hàm số biểu diễn mối quan hệ giữa lượng cầu của một mặt
hàng và giá của nó được gọi Để tiện lợi cho việc lý giải các vấn đề cơ bản của
kinh tế học vi mô, người ta thường dùng hàm số bậc nhất (hay còn gọi là hàm số
tuyến tính) để biểu diễn hàm cầu Vì vậy, hàm cầu thường có dạng:
Trang 31b, Biểu cầu:
Có nhiều biến số quyết định lượng cầu về một hàng hóa nào đó trong một khoảng thời gian nhất định Hãy giả định rằng tất cả các biến số này không thay đổi trừ một biến số là giá cả Hãy xem xét giá cả tác động đến lượng cầu của một
cá nhân như thế nào:
VD: Giả sử nhu cầu của cô A đối với sữa trong 1 tháng như sau
Giá (1.000 đồng/ lon) Lượng cầu về sữa
Biểu cầu: là một bảng chỉ số lượng hàng hóa, dịch vụ mà người tiêu dùng sẵn sàng mua và có khả năng mua ở các mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định
c, Đường cầu
Căn cứ sô liệu trong biểu cầu ta có thể minh họa bằng đồ thị
Đường biểu diễn mối quan hệ giữa giá cả và lượng cầu được gọi là đường cầu Theo quy ước: trục tung biểu diễn giá cả, trục hoàng biểu diễn lượng cầu
Đường cầu cho biết lượng cầu về một hàng hóa thay đổi như thế nào khi giá cả của nó thay đổi Đường cong cầu của một mặt hàng bình thường sẽ là một đường dốc xuống phía phải, bởi vì quan hệ giữa giá cả và lượng cầu là quan hệ nghịch Giá cả tăng thì lượng cầu giảm, còn khi giá cả giảm thì lượng cầu sẽ tăng lên
Kinh tế học gọi đó là sự di chuyển dọc theo đường cầu Sự di chuyển trên đường cầu: Khi giá thay đổi làm lượng cầu thay đổi tạo ra sự di chuyển (lên trên hoặc xuống dưới) của các điểm trên một đường cầu, Giá của hàng hóa hoặc dịch
vụ đang nghiên cứu là nhân tố nội sinh (Nguyên nhân gây lên sự di chuyển dọc là
do các yếu tố khác không đổi khi giá thay đổi làm cho lượng cầu thay đổi)
Trang 32Hình 2.1
Sự dịch chuyển của đường cầu: là sự di chuyển toàn bộ đường cầu sang trái hoặc sang phải để hình thành những đường cầu mới song song với đường cầu cũ Nguyên nhân gây nên sự chuyển dịch đường cầu là do giá cả không đổi, khi các nhân tố ngoài giá như: thu nhập, hàng hóa liên quan, kỳ vọng, sở thích….thay đổi, dẫn đến sự thay đổi trong cầu, làm cho đường cầu chuyển dịch Thu nhập, thị hiếu, kỳ vọng, số lượng người tiêu dùng, giá cả hàng hoá liên quan là nhân tố ngoại sinh gây ra sự dịch chuyển của đường cầu
+ Nếu sự thay đổi của các nhân tố này làm lượng cầu tăng lên ở các mức giá thì đường cầu sẽ dịch chuyển sang phải
+ Nếu sự thay đổi của các nhân tố này làm lượng cầu giảm xuống ở các mức giá thì đường cầu dịch chuyển sang trái
Trang 332 CUNG (Supply)
2.1 Khái niệm:
Cung: là số lượng hàng hóa, dịch vụ mà người bán có khả năng bán và sẵn sàng bán tại các mức giá khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định với giả định các nhân tố khác không đổi
Cũng như cầu, cung bao gồm 2 yếu tố cơ bản là khả năng bán và ý muốn sẵn sàng bán Chẳng hạn nếu trong kho của bạn có sẵn hàng hóa nhưng giá quá
rẻ, bạn không muốn bán như vậy cung sẽ bằng số 0 Ngược lại, lúc giá rất cao nhưng trong kho bạn không có hàng và tường hợp này cung của bạn cũng bằng 0
2.2 Cung cá nhân và cung thị trường
Cung cá nhân (Lượng cung): là lượng hàng hoá dịch vụ mà một cá nhân
có khả năng bán và sẵn sàng bán ở mỗi mức giá khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định, giả định các nhân tố khác không đổi
Cung thị trường bằng tổng cung cá nhân tại các mức giá, nó cho biết
lượng hàng hoá dịch vụ mà tất cả những người bán trên thị trường có khả năng bán và sẵn sàng bán ở tất cả các mức giá khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định, giả định các nhân tố khác không đổi
2.3 Luật cung:
Nội dung: giả định các nhân tố khác không đổi, lượng hàng hoá được cung trong khoảng thời gian đã cho tăng lên khi giá của hàng hoá đó tăng lên và ngược lại Như vậy, giá hàng hóa/dịch vụ và lượng cung có quan hệ thuận
P↑ => QS↑ (P: giá; QS: lượng cung)
P↓ => QS↓
Lý giải cho hiện tương P↑ → QS↑ và ngược lại là việc theo đuổi lợi
nhuận của người sản xuất Khi giá cả tăng cao lợi nhuận nhiều các doanh nghiệp trong ngành muốn có nhiều lợi nhuận họ tìm cách tăng cường độ, tăng quy mô,
mở rộng sản xuất làm cho khối lượng hàng hóa, dịch vụ tăng lên Khi giá cả giảm xuống lợi nhuận giảm, dẫn đến thua lỗ, các doanh nghiệp tìm cách giảm sản lượng, thu hẹp quy mô sản xuất.
2.4 Các yếu tố hình thành cung
a, Giá cả của hàng hóa, dịch vụ
Giá cả là một yếu tố quan trọng có ảnh hưởng quyết định đến số lượng sản phẩm mà doanh nghiệp muốn sản xuất và cung ứng Nếu giá cả tăng thì khi bán sản phảm doanh nghiệp sẽ có mức lãi vao hơn Vì vậy DN sẽ làm việc nhiều hơn, mua thêm máy móc thiết bị, thuê thêm nhân công và sản lượng cung ứng sẽ tăng thêm
Trang 34Ngược lại khi giá cả thấp thì mức lãi sẽ giảm xuống vì vậy phải thu hẹp sản xuất, thậm chí có thể ngừng sản xuất hoàn toàn và lượng cung sẽ giảm dần xuống tới 0
b, Giá cả của các yếu tố sản xuất (giá các yếu tố đầu vào)
Để tiến hành sản xuất ra sản phẩm, các doanh nghiệp phải sử dụng nhiều yếu tố đầu vào khác nhau như: nhà xưởng, máy móc thiết bị, lao động, nguyên vật liệu … Nếu giá của một trong các yếu tố đầu vào tăng lên thì chi phí sản xuất
ra một sản phẩm sẽ cao hơn do đó DN sẽ có ít lãi hơn Trong trường hợp này DN
sẽ phải cắt giảm sản lượng sản xuất Ngược lại, nếu giá cả của các yếu tố đầu vào
giảm xuống (VD: tiền lương công nhân, giá nguyên liệu, xăng dầu, v.v trở nên rẻ
hơn) DN sẽ sản xuất nhiều sản phẩm hơn Như vậy, cung về một mặt hàng hóa có mối quan hệ nghịch với giá cả của các yếu tố đầu vào được sử dụng để sản xuất ra hàng hóa đó
c, Trình độ công nghệ được sử dụng
Công nghệ sản xuất cũng là một yếu tố quan trọng quyết định cung Nếu sử
dụng công nghệ sản xuất hiện đại thì năng suất lao động sẽ tăng lên, chi phí để sản xuất một đơn vị sản phẩm sẽ ít đi, chất lượng sản phẩm sẽ cao hơn, DN sẽ có lãi nhiều hơn và do đó số lượng sản phẩm mà DN cung ứng ra thị trường sẽ tăng lên
d, Giá cả của mặt hàng đó trong tương lai (dự báo)
Tương tự như người tiêu dùng, các nhà sản xuất cũng dựa vào sự dự báo giá trong tương lai để ra các quyết định về cung ứng hàng hóa Thông thường, các nhà sản xuất sẽ cung ứng nhiều hơn nếu dự báo giá hàng hóa trong tương lai sẽ giảm xuống và ngược lại sẽ cung ít đi nếu giá tăng, giả sử các yếu tố khác không
đổi Khi giá trong tương lai tăng lên, các doanh nghiệp có lẽ sẽ dự trữ lại hàng
hóa và trì hoãn việc bán trong hiện tại để có thể kiếm được lợi nhuận cao trong tương lai khi giá tăng
e, Chính sách thuế và các quy định của chính phủ
Chính sách thuế của chính phủ là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến cung của các nhà sản xuất Khi chính phủ tăng thuế đối với một ngành sản xuất nào đó, các doanh nghiệp trong ngành sẽ bị gánh nặng thêm chi phí trong sản xuất và ngành này sẽ trở nên kém hấp dẫn Do đó, các doanh nghiệp sẽ cung ứng
ít hơn và một số doanh nghiệp có thể rời khỏi ngành
Ngoài thuế, các quy định, chính sách khác của chính phủ cũng có ảnh hưởng lớn đến cung Chính sách chống ô nhiễm để bảo vệ môi trường sẽ làm giá tăng chi phí của một số ngành công nghiệp như sản xuất xe gắn máy, xe ô tô, v.v
và làm giảm lợi nhuận của các ngành này,có thể làm giảm sản lượng của ngành sản xuất xe gắn máy, xe ô tô, v.v Ngược lại, chính sách hỗ trợ ngành mía đường trong thời gian qua ở nước ta, chẳng hạn, đã làm tăng cung của ngành này
Trang 35e, Điều kiện tự nhiên và các yếu tố khách quan khác
Việc sản xuất của các doanh nghiệp có thể gắn liền với các điều kiện tự
nhiên như đất, nước, thời tiết, khí hậu, v.v Sự thay đổi của các điều kiện này có thể
tác động đến lượng cung của một số loại hàng hóa nào đó trên thị trường Thí dụ, điều kiện tự nhiên có thể là một yếu tố kìm hãm hay thúc đẩy việc sản xuất của các doanh nghiệp kinh doanh nông nghiệp Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cây trồng và vật nuôi Đó là những cơ thể sống nên rất dễ bị tác động bởi điều kiện tự nhiên Các nghiên cứu về sản xuất lúa của nông dân nước ta cho thấy năng suất lúa đạt được một phần do điều kiện tự nhiên quyết định Điều kiện tự nhiên thuận lợi
sẽ tạo ra năng suất cao và ngược lại sẽ làm giảm năng suất Một nền sản xuất nông nghiệp càng lạc hậu thì càng dễ bị tự nhiên chi phối và ngược lại
Sự thay đổi của các yếu tố ảnh hưởng đến cung sẽ làm dịch chuyển đường cung Người bán sẽ thay đổi lượng cung ở mỗi mức giá khi các yếu tố này thay đổi
2.5 Sự thay đổi của lượng cung và của cung
a, Hàm cung
Rõ ràng, số lượng cung của một hàng hóa, dịch vụ nào đó phụ thuộc vào giá của hàng hóa dịch vụ đó Lượng cung của một hàng hóa, dịch vụ nào đó cũng phụ thuộc vào một số các nhân tố khác Giả sử ta xem các nhân tố này là không đổi thì lượng cung cũng là một hàm số của giá, nhưng khác với cầu, lượng cung đồng biến với giá Ta có thể thiết lập được hàm cung như sau:
VD: Biểu cung của nhà cung cấp thứ nhất
Trang 36Biểu cung là một bảng chỉ ra mối quan hệ giữa giá cả của một loại hàng
hóa và lượng cung về hàng hóa đó
c, Đường cung: là đường mô tả mối quan hệ giữa lượng cung và giá cả khi
các biến số khác không đổi
Đường cung cũng có thể được vẽ là một đường thẳng nhưng có độ dốc đi lên Như vậy, độ dốc của đường biểu diễn cung và cầu ngược chiều nhau Các điểm nằm trên đường cung biểu diễn lượng cung của người bán ở các mức giá
nhất định (điểm A) Khi giá tăng, lượng cung tăng lên (điểm B) trên đường cung
Đó là sự di chuyển dọc theo đường cung Sự di chuyển này xảy ra khi giá của
hàng hóa thay đổi
Khi xem xét hình dạng của đường cung, ta cần lưu ý các điểm sau:
- Đường cung thường có hướng dốc lên từ trái sang phải; và
- Đường cung không nhất thiết là một đường thẳng
Hình 2.3
Đường cung dịch chuyển sang phải cho thấy các doanh nghiệp cung ứng hàng
hóa ra nhiều hơn ở mỗi mức giá nhất định.( Sự cải tiến trong công nghệ)
Hình 2.4 (tăng cung)
Trang 37Giá xăng dầu tăng làm cho chi phí sản xuất tăng Đường cung dịch chuyển sang trái: các doanh nghiệp cung ít đi ở mỗi mức giá
Hình 2.5 (giảm cung)
3 MỐI QUAN HỆ CUNG –CÀU
3.1 Trạng thái cân bằng
Trạng thái cân bằng cung cầu là trạng thái mà ở đó lượng hàng hóa, dịch vụ
mà người mua sẵn sằng và có khả năng mua đúng bằng lượng hàng hóa mà người bán sẵn sàng và có khả năng bán Cân bằng cung cầu (thị trường) là một trạng thái lượng cung bằng lượng cầu (Qs = Qd) tại một mức giá nhất định (Pd = Ps)
Và ở trạng thái này ta có mức giá cân bằng Giá cân bằng là mức giá mà tại
đó lượng cầu bằng lượng cung Mức giá cân bằng trên thị trường không được xác định bởi từng cá nhân riêng lẻ mà được hình thành bởi cung cầu của toàn bộ người mua và người bán Thị trường có xu hướng tồn tại tại điểm cân bằng vì tại đó lượng cung bằng với lượng cầu nên không có một áp lực nào làm thay đổi giá Các hàng hóa thường được mua bán tại giá cân bằng trên thị trường Tuy nhiên, không phải lúc nào cung cầu cũng đạt trạng thái cân bằng, một số thị trường có thể không đạt được sự cân bằng vì các điều kiện khác có thể đột ngột thay đổi Sự hình thành giá cả của hàng hóa, dịch vụ trên thị trường như được mô tả ở trên được gọi là cơ chế thị trường
3.2 Dư thừa và thiếu hụt
Trang 38Trạng thái dư thừa hay thiếu hụt của thị trường xảy ra khi giá cả hàng hóa, dịch vụ không bằng với mức giá cân bằng Thị trường có xu hướng tồn tại ở điểm cân bằng E Nếu do một lý do nào đó, giá cả trên thị trường P2 cao hơn giá cân bằng PE, số lượng hàng hóa cung ra trên thị trường sẽ lớn hơn lượng cầu đối với
hàng hóa đó Khi đó, trên thị trường xuất hiện tình trạng dư cung hay dư thừa
hàng hóa (cung lớn hơn cầu) Dư thừa hàng hóa nên giá có xu hướng giảm dần
đến giá cân bằng P E và quay về trạng thái cân bằng Q E
Ngược lại, nếu như giá cả P1 thấp hơn giá cân bằng PE thì sẽ xảy ra hiện tượng cầu lớn hơn cung hay thiếu hụt hàng hóa Do thiếu hàng nên áp lực của cầu
sẽ làm cho giá cả tăng lên bởi vì người tiêu dùng có thể sẵn sàng trả giá cao hơn
để mua hàng hóa Khi giá cả tăng lên thì lượng cầu sẽ giảm dần và lượng cung
tăng lên Như thế, giá cả sẽ tăng dần đến giá cân bằng P E và số hàng hóa được
bán ra trên thị trường sẽ dịch chuyển về Q E
Tóm lại, khi giá cả thị trường cao hơn hoặc thấp hơn mức giá cân bằng thì sẽ xuất hiện sự dư thừa hoặc thiếu hụt hàng hóa trên thị trường, và khi đó người bán và người mua trên thị trường sẽ có sự thay đổi hành vi của mình để đạt tới mức giá cân bằng
3 3 Sự thay đổi trạng thái cân bằng và kiểm soát giá
Ta có thể thấy rằng hành động của người mua và người bán đương nhiên sẽ làm cho thị trường chuyển tới trạng thái cân bằng cung cầu Tuy nhiên trạng thái cân bằng của thị trường không phải là bất biến mà trong thực tế mức giá cân bằng
có thể thay đổi bất cứ lúc nào khi đường cung hoặc đường cầu dịch chuyển
Trạng thái cân bằng mới xuất hiện khi đường cung và đường cầu dịch chuyển
Trên nguyên tắc, giá cả và cả số lượng cân bằng thay đổi là do sự dịch chuyển của ít nhất đường cung hay đường cầu Ở hầu hết các thị trường, đường cung và cầu thường xuyên thay đổi do các điều kiện thị trường thay đổi liên tục
Việc hiểu rõ bản chất các nhân tố tác động đến sự dịch chuyển của đường cung và đường cầu giúp chúng ta dự đoán được sự thay đổi của giá cả của các hàng hóa, dịch vụ trên thị trường khi các các điều kiện của thị trường thay đổi Để
dự đoán chính xác xu hướng và độ lớn của những sự thay đổi, chúng ta phải định lượng được sự phụ thuộc của cung, cầu vào giá và các yếu tố khác Tuy nhiên, trong thực tế điều này không đơn giản
* Kiểm soát giá
Trong thực tiễn của nền kinh tế thị trường, để đảm bảo về lợi ích cho người sản xuất hoặc người tiêu dùng, đôi khi chúng ta thấy chính phủ có nhiều cố gắng
để kiểm soát và điều tiết giá cả hàng hóa, dịch vụ như việc chính phủ quy định
Trang 39mức giá sàn và mức giá trần Tuy nhiên đôi khi việc can thiệp đó không phù hợp với thực tế khách quan dẫn đến những hậu quả xấu
* Giá trần: là mức giá tối đa mà nhà nước buộc những người bán phải chấp hành
Khi thiết lập mức giá trần, mục tiêu của nhà nước là kiểm soát giá để bảo
vệ những người tiêu dùng Khi mức giá cân bằng trên thị trường được xem là quá cao, bằng việc đưa ra mức giá trần thấp hơn, nhà nước hi vọng rằng, những người tiêu dùng có khả năng mua được hàng hoá với giá thấp và điều này được coi là có
ý nghĩa xã hội to lớn khi những người có thu nhập thấp vẫn có khả năng tiếp cận được các hàng hoá quan trọng Chính sách giá trần thường được áp dụng trên một
số thị trường như thị trường nhà ở, thị trường vốn
Nếu chính phủ định mức giá trần thấp hơn mức giá cân bằng, trường hợp này giá trần được coi là một sự ràng buộc trên thị trường do đó mức giá cân bằng phải bằng mức giá trần Ở mức giá mày lượng cầu sẽ vượt quá lượng cung gây ra tình trạng thiếu hụt Chính vì vậy giải pháp này chỉ được coi là giải pháp tình thế
và để khắc phục hạn chế nêu trên cần tìm các biện pháp hỗ trợ để tăng cung
* Giá sàn: là mức giá tối thiểu mà nhà nước áp đặt lên một sản phẩm, trong trường hợp này người mua không thể trả giá thấp hơn Nó được tạo ra để ngăn
không cho giá xuống quá thấp
Nếu chính phủ áp đặt giá sàn cao hơn giá cân bằng, trường hợp này giá sàn
có tính ràng buộc trên thị trường Giá thị trường phải bằng mức giá sàn, tại mức giá này cung vượt quá cầu gây tình trạng dư cung Một mức giá cao yêu cầu những người tiêu dùng phải trả nhiều tiển hơn, làm cho cầu giảm và thậm chí làm cho một số người tiêu dùng bị loại khỏi thị trường Những người cung cấp kiếm nhiều hơn từ sản phẩm của họ vì thế họ tăng cung Việc giảm cầu và tăng cung tạo ra một mức giá mới bắt buộc cao hơn đã tạo ra sự dư thừa sản phẩm Để khắc phục hạn chế này cần phải phối hợp đồng bộ với các biện pháp khác để ổn định thị trường
4 SỰ CO DÃN CỦA CUNG - CẦU
4.1 Sự co giãn của cầu
a, Sự co giãn của cầu theo giá
Sự co dãn của cầu theo giá là sự thay đổi của lượng cầu khi có sự thay đổi của giá Cầu về một hàng hóa được coi là co giãn với giá cả nếu lượng cầu thay đổi mạnh khi giá thay đổi Cầu được coi là không co dãn nếu lượng cầu chỉ thay đổi ít hoặc không thay đổi khi giá thay đổi
Do nhu cầu về một hàng hóa bất kỳ phục thuộc vào sở thích của người tiêu dùng nên mức độ co giãn của cầu phụ thuộc nhiều yếu tố kinh tế, xã hội, tâm lý
Trang 40Ngoài ra còn phụ thuộc vào một số yếu tố khác như sự cần thiết của hàng hóa đó đối với con người Hàng thiết yếu thì cầu không co dãn đối với giá cả, còn hàng
xa xỉ có cầu co dãn Những loại hàng hóa có hàng thay thế gần gũi thường có cầu
co dãn mạnh hơn vì người mua dễ dàng chuyển từ việc sử dụng chúng sang hàng hóa khác
Sử dụng hệ số co dãn để xác định mức độ co giãn của cầu Hệ số co dãn phản ánh mức độ phản ứng của cầu trước sự thay đổi của giá
Hệ số co giãn cầu theo giá (ED) =
Phần trăm thay đổi của lượng cầu Phần trăm thay đổi của giá
VD: 10% thay đổi của giá làm cho lượng kem mà bạn mua giảm 20%, ta có:
Hệ số co giãn cầu = 20%/10% = 2 (hệ số co giãn = 2 cho ta biết rằng sự thay đổi của lượng cầu lớn gấp 2 lần sự thay đổi của giá cả)
Do lượng cầu của một hàng hóa tỷ lệ nghịch với giá của nó nên phàn trăm thay đổi của lượng cầu luôn trái dấu với phần trăm thay đổi của giá Vì vậy khi tính hệ số co dãn của cầu thì kết quả luôn là số âm
Công thức tính hệ số co giãn của cầu giữa 2 điểm (Q1, P1); (Q2, P2) như sau:
E
D =(Q2 – Q1) / (Q2 + Q1) / 2 (P2-P1) / (P2 + P1) /2
b, Sự co dãn của cầu theo giá cả của hàng hóa liên quan
Khi các yếu tố khác không đổi mà giá cả của các hàng hóa liên quan (hàng
bổ sung và hàng thay thế) thay đổi sẽ làm cho lượng cầu về hàng hóa thay đổi
E
D =(Q2x – Q1x) / (Q2x + Q1x) / 2 (P2Y-P1Y) / (P2Y + P1Y) /2 Chú ý: kết quả có dấu âm đối với hàng bổ sung và dương đối với hàng thay thế
VD: ta có biểu cầu về giá thịt lợn Py và lượng cầu về cá Qx như sau:
13.000 15.000
19
23