Sự thay đổi trạng thái cân bằng và kiểm soát giá

Một phần của tài liệu GIÁO TRÌNH MÔN HỌC KINH TẾ VI MÔ NGHỀ KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP TRÌNH ĐỘ CAO ĐẲNG (Trang 38 - 44)

3. Mối quan hệ cung – cầu

3.3. Sự thay đổi trạng thái cân bằng và kiểm soát giá

Ta có thể thấy rằng hành động của người mua và người bán đương nhiên sẽ làm cho thị trường chuyển tới trạng thái cân bằng cung cầu. Tuy nhiên trạng thái cân bằng của thị trường không phải là bất biến mà trong thực tế mức giá cân bằng có thể thay đổi bất cứ lúc nào khi đường cung hoặc đường cầu dịch chuyển.

Trạng thái cân bằng mới xuất hiện khi đường cung và đường cầu dịch chuyển.

Trên nguyên tắc, giá cả và cả số lượng cân bằng thay đổi là do sự dịch chuyển của ít nhất đường cung hay đường cầu. Ở hầu hết các thị trường, đường cung và cầu thường xuyên thay đổi do các điều kiện thị trường thay đổi liên tục.

Việc hiểu rõ bản chất các nhân tố tác động đến sự dịch chuyển của đường cung và đường cầu giúp chúng ta dự đoán được sự thay đổi của giá cả của các hàng hóa, dịch vụ trên thị trường khi các các điều kiện của thị trường thay đổi. Để dự đoán chính xác xu hướng và độ lớn của những sự thay đổi, chúng ta phải định lượng được sự phụ thuộc của cung, cầu vào giá và các yếu tố khác. Tuy nhiên, trong thực tế điều này không đơn giản.

* Kiểm soát giá

Trong thực tiễn của nền kinh tế thị trường, để đảm bảo về lợi ích cho người sản xuất hoặc người tiêu dùng, đôi khi chúng ta thấy chính phủ có nhiều cố gắng để kiểm soát và điều tiết giá cả hàng hóa, dịch vụ như việc chính phủ quy định

38

mức giá sàn và mức giá trần. Tuy nhiên đôi khi việc can thiệp đó không phù hợp với thực tế khách quan dẫn đến những hậu quả xấu.

* Giá trần: là mức giá tối đa mà nhà nước buộc những người bán phải chấp hành.

Khi thiết lập mức giá trần, mục tiêu của nhà nước là kiểm soát giá để bảo vệ những người tiêu dùng. Khi mức giá cân bằng trên thị trường được xem là quá cao, bằng việc đưa ra mức giá trần thấp hơn, nhà nước hi vọng rằng, những người tiêu dùng có khả năng mua được hàng hoá với giá thấp và điều này được coi là có ý nghĩa xã hội to lớn khi những người có thu nhập thấp vẫn có khả năng tiếp cận được các hàng hoá quan trọng. Chính sách giá trần thường được áp dụng trên một số thị trường như thị trường nhà ở, thị trường vốn.

Nếu chính phủ định mức giá trần thấp hơn mức giá cân bằng, trường hợp này giá trần được coi là một sự ràng buộc trên thị trường do đó mức giá cân bằng phải bằng mức giá trần. Ở mức giá mày lượng cầu sẽ vượt quá lượng cung gây ra tình trạng thiếu hụt. Chính vì vậy giải pháp này chỉ được coi là giải pháp tình thế và để khắc phục hạn chế nêu trên cần tìm các biện pháp hỗ trợ để tăng cung.

* Giá sàn: là mức giá tối thiểu mà nhà nước áp đặt lên một sản phẩm, trong trường hợp này người mua không thể trả giá thấp hơn. Nó được tạo ra để ngăn không cho giá xuống quá thấp.

Nếu chính phủ áp đặt giá sàn cao hơn giá cân bằng, trường hợp này giá sàn có tính ràng buộc trên thị trường. Giá thị trường phải bằng mức giá sàn, tại mức giá này cung vượt quá cầu gây tình trạng dư cung. Một mức giá cao yêu cầu những người tiêu dùng phải trả nhiều tiển hơn, làm cho cầu giảm và thậm chí làm cho một số người tiêu dùng bị loại khỏi thị trường. Những người cung cấp kiếm nhiều hơn từ sản phẩm của họ vì thế họ tăng cung. Việc giảm cầu và tăng cung tạo ra một mức giá mới bắt buộc cao hơn đã tạo ra sự dư thừa sản phẩm. Để khắc phục hạn chế này cần phải phối hợp đồng bộ với các biện pháp khác để ổn định thị trường.

4. SỰ CO DÃN CỦA CUNG - CẦU 4.1. Sự co giãn của cầu

a, Sự co giãn của cầu theo giá

Sự co dãn của cầu theo giá là sự thay đổi của lượng cầu khi có sự thay đổi của giá. Cầu về một hàng hóa được coi là co giãn với giá cả nếu lượng cầu thay đổi mạnh khi giá thay đổi. Cầu được coi là không co dãn nếu lượng cầu chỉ thay đổi ít hoặc không thay đổi khi giá thay đổi.

Do nhu cầu về một hàng hóa bất kỳ phục thuộc vào sở thích của người tiêu dùng nên mức độ co giãn của cầu phụ thuộc nhiều yếu tố kinh tế, xã hội, tâm lý.

39

Ngoài ra còn phụ thuộc vào một số yếu tố khác như sự cần thiết của hàng hóa đó đối với con người. Hàng thiết yếu thì cầu không co dãn đối với giá cả, còn hàng xa xỉ có cầu co dãn. Những loại hàng hóa có hàng thay thế gần gũi thường có cầu co dãn mạnh hơn vì người mua dễ dàng chuyển từ việc sử dụng chúng sang hàng hóa khác.

Sử dụng hệ số co dãn để xác định mức độ co giãn của cầu. Hệ số co dãn phản ánh mức độ phản ứng của cầu trước sự thay đổi của giá

Hệ số co giãn cầu theo giá (ED) =

Phần trăm thay đổi của lượng cầu Phần trăm thay đổi của giá

VD: 10% thay đổi của giá làm cho lượng kem mà bạn mua giảm 20%, ta có:

Hệ số co giãn cầu = 20%/10% = 2 (hệ số co giãn = 2 cho ta biết rằng sự thay đổi của lượng cầu lớn gấp 2 lần sự thay đổi của giá cả).

Do lượng cầu của một hàng hóa tỷ lệ nghịch với giá của nó nên phàn trăm thay đổi của lượng cầu luôn trái dấu với phần trăm thay đổi của giá. Vì vậy khi tính hệ số co dãn của cầu thì kết quả luôn là số âm.

Công thức tính hệ số co giãn của cầu giữa 2 điểm (Q1, P1); (Q2, P2) như sau:

ED =

(Q2 – Q1) / (Q2 + Q1) / 2 (P2-P1) / (P2 + P1) /2

b, Sự co dãn của cầu theo giá cả của hàng hóa liên quan

Khi các yếu tố khác không đổi mà giá cả của các hàng hóa liên quan (hàng bổ sung và hàng thay thế) thay đổi sẽ làm cho lượng cầu về hàng hóa thay đổi.

ED =

(Q2x – Q1x) / (Q2x + Q1x) / 2 (P2Y-P1Y) / (P2Y + P1Y) /2

Chú ý: kết quả có dấu âm đối với hàng bổ sung và dương đối với hàng thay thế.

VD: ta có biểu cầu về giá thịt lợn Py và lượng cầu về cá Qx như sau:

Py (đ) Qx (tấn)

13.000 15.000

19 23

40

Ta có:

ED =

(23-19) / (23+19)/2

= 1,33 (15.000-13.000) / (15000+13.000/2

Như vậy: Giá thịt tăng lên 1% thì lượng cầu về cá sẽ tăng lên 1,33%.

c, Sự co dãn của cầu theo thu nhập

Sự co dãn của cầu theo thu nhập là sự thay đổi của lượng cầu về hàng hóa, dịch vụ khi thu nhập của người tiêu dùng thay đổi (Khi các yếu tố khác không đổi).

ED =

(Q2x – Q1x) / (Q2x + Q1x) / 2 (I2-I1) / (I2 + I1) /2

Chú ý: Đối với hàng thứ cấp thì kết quả sẽ âm. Đối với hàng thông thường thì kết quả dương. Nếu là hàng thiết yếu thì hệ số co giãn nằm trong khoảng (0 ->

1); còn các hàng cao cấp thì kết quả lớn hơn 1.

VD: Ta có số liệu điều tra về mức thu nhập bình quân của các hộ gia đình trong năm và lượng cầu về máy giặt như sau:

Nhóm thu nhập Mức thu nhập bình quân năm (triệu đồng)

Lượng cầu về máy giặt (1.000 cái)

Thừ nhất 56 20

Thứ hai 60 24

Ta có:

ED =

(24-20) / (24+20) /2

= 2,63 (60-56) / (60+56) /2

Như vậy, khi thu nhập của các hộ gia đình tăng lên 1% sẽ làm cho nhu cầu về máy giặt tặng 2,63%.

4.2. Sự co giãn của cung theo giá

Co giãn của cung Khác với độ co giãn cầu, độ co giãn cung không được áp dụng rộng rãi vì vậy các nhà kinh tế lấy độ co giãn cung theo giá làm độ co giãn cung, bỏ qua việc nghiên cứu lượng hóa đo lường các yếu tố khác

41

Độ co giãn cung theo giá đo lường phản ứng (nhạy cảm) của người sản xuất biểu hiện qua % thay đổi lượng cung hàng hóa, dịch vụ khi giá cả thay đổi 1% với các điều kiện khác không đổi.

Công thức:

Hệ số co giãn cung (ES) =

Phần trăm thay đổi của lượng cung Phần trăm thay đổi của giá

Độ co giãn cung (ES) luôn dương vì giá cả và lượng cung đồng biến, căn cứ vào kết quả tính toán của độ co giãn cung nếu:

ES > 1 tức là phần trăm thay đổi lượng cung (%ΔQS) lớn hơn phần trăm thay đổi của giá cả (%ΔPS) ta nói cung co giãn nhiều. Phản ứng của nhà sản xuất (nhạy cảm) đáng kể trước biến đổi của giá cả.

ES < 1 tức là phần trăm thay đổi lượng cung (%ΔQS) nhỏ hơn phần trăm thay đổi của giá cả (%ΔPS) ta nói cung ít co giãn. Phản ứng của nhà sản xuất (nhạy cảm) nhẹ trước sự thay đổi của giá cả.

ES = 1 tức là phần trăm thay đổi của lượng cung (%ΔQS) bằng phần trăm thay đổi của giá cả (%ΔPS) ta nói cung co giãn bằng một đơn vị.

ES = 0 tức là phần trăm thay đổi lượng cung (%ΔQS) bằng không so với phần trăm thay đổi của giá cả (%ΔPS) ta nói cung hoàn toàn không co giãn.

ES = ∞ tức là phần trăm lượng cung thay đổi vô hạn, giá không thay đổi, ta nói cung hoàn toàn co giãn.

CÂU HỎI ÔN TẬP

1. Nêu khái niệm cung - cầu, các nhân tố ảnh hưởng đến cung cầu.

2. Thế nào là cầu cá nhân? Thế nào là cầu thị trường?

3. Thế nào là trạng thái cân bằng, dư thừa và thiếu hụt của thị trường?

4. Hãy cho biết sự co giãn của cầu.

BÀI TẬP

BT1. Một nghiên cứu thống kê cho biết hàm cung của một loại hàng hóa là như sau: QS = 1800 + 240P; hàm cầu đối với loại hàng hóa này là: QD = 2580 – 150P.

Câu hỏi:

42

1. Hãy xác định điểm cân bằng của loại hàng hóa này trên thị trường?

2. Giả sử do một nguyên nhân nào đó (không phải là do sự thay đổi của giá cả của hàng hóa này) người tiêu dùng quyết định mua thêm 195 đơn vị hàng hóa này.

Hãy cho biết giá cả và số lượng cân bằng mới của hàng hóa này trên thị trường?

BT2. Cung – cầu về gạo ở địa phương A trong năm 2018

P (đồng/tấn) 3 5 7 9 11 13

QD (triệu /tấn) 20 19 18 17 16 15

Qs(triệu /tấn) 14 19 24 29 34 39

Câu hỏi:

1. Từ số liệu bảng trên hãy vẽ đồ thị cân bằng cung - cầu về gạo địa phương A năm 2018, các định điểm cân bằng?

2. Nếu chính phủ áp đặt mức giá gạo:

a, P1 = 9 triệu đồng / tấn b, P2 = 4 triệu đồng/ tấn Thì điều gì sẽ xảy ra?

Một phần của tài liệu GIÁO TRÌNH MÔN HỌC KINH TẾ VI MÔ NGHỀ KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP TRÌNH ĐỘ CAO ĐẲNG (Trang 38 - 44)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(93 trang)