Cạnh tranh độc quyền

Một phần của tài liệu GIÁO TRÌNH MÔN HỌC KINH TẾ VI MÔ NGHỀ KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP TRÌNH ĐỘ CAO ĐẲNG (Trang 75 - 80)

Chương 5. CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG

3. Cạnh tranh độc quyền

Cạnh tranh: các doanh nghiệp cùng sản xuất và bán một loại hàng hoá có thể thay thế được cho nhau. Đường cầu của doanh nghiệp dốc xuống nhưng rất co giãn, thể hiện sự cạnh tranh và thay thế.

Q B

A P

Pc

Pm

Qm Qc

D(MU) S(AE) ME

O

75

Độc quyền: hàng hoá khác nhau về mẫu mã, chất lượng, uy tín và giá cả. Do đó doanh nghiệp có khả năng điều khiển giá cả sản phẩm trong những điều kiện nhất định.

Cạnh tranh độc quyền là cấu trúc thị trường nằm ở giữa cạnh tranh và độc quyền.

3.1. Khái niệm, đặc điểm

- Khái niệm: Thị trường cạnh tranh độc quyền là dạng cấu trúc thị trường có nhiều doanh nghiệp cùng bán các mặt hàng tương tự nhưng không giống hệt nhau.

- Đặc điểm: Cạnh tranh độc quyền là cấu trúc thị trường nằm ở giữa cạnh tranh và độc quyền;vừa mang đầy đủ tính chất và đặc điểm của thi cạnh tranh, lại vừa mang đầy đủ tính chất và đặc diểm của thị trường độc quyền.

+ Nhiều người bán: có nhiều doanh nghiệp cạnh tranh nhau để thu hút cùng một nhóm khách hàng.

+ Phân biệt sản phẩm: Mỗi doanh nghiệp sản xuất một sản phẩm ít nhất cũng có sự khác nhau chút ít so với sản phẩm của doanh nghiệp khác, chúng có thể thay thế nhưng không thể thay thế hoàn toàn. Như vậy thay vì người chấp nhận giá, mỗi doanh nghiệp phải đối mặt với một đường cầu dốc xuống.

+ Gia nhập tự do: Các doanh nghiệp có thể gia nhập hoặc rút khỏi thị trường dễ dàng mà không gặp trở ngại nào. Vì vậy, trong ngắn hạn, lợi nhuận trong ngành có thể dương, âm hoặc băng không, khi có lợi nhuận sẽ kích thích các doanh nghiệp gia nhập ngành, khi lỗ các doanh nghiệp nhảy ra khỏi ngành, lỗ càng lớn động lực thúc đẩy các doanh nghiệp ra khỏi ngành càng lớn, tình trạng xuất nhập ngành chấm dứt khi lợi nhuận bằng không, trong dài hạn lợi nhuận luôn bằng không. Như vậy số lượng doanh nghiệp được điều chỉnh cho đến khi lợi nhuận kinh tế bằng không.

3.2. Đường cầu và doanh thu cận biên

Trong thị trường cạnh tranh độc quyền đường cầu có xu hướng dốc từ trái sang phải, cầu thị trường co giãn nhiều và đường doanh thu biên luôn nhỏ hơn đường cầu thị trường P = AR > MR.

Tính dị biệt của sản phẩm làm cho đường cầu các sản phẩm khác nhau mang tính khác biệt. Vì vậy, khó xác định đường cầu chung cho tất cả sản phẩm tham gia thị trường

Doanh nghiệp trong thị trường cạnh tranh độc quyền giống nhà độc quyền theo nhiều khía cạnh. Do sản phẩm của nó khác với sản phẩm của các doanh nghiệp khác nên nó phải đối mặt với đường cầu dốc xuống (trái lại doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo đối mặt với đường cầu nằm ngang tại mức giá thị trường).

76

Như vậy doanh nghiệp cạnh tranh độc quyền tuân theo quy luật của nhà độc quyền để tối đa hóa lợi nhuận. Nó chọn mức sản lượng mà tại đó doanh thu cận biên bằng chi phí cận biên và sử dụng đường cầu để tìm ra mức giá phù hợp với sản lượng đó.

3.3. Lựa chọn sản lượng của doanh nghiệp

Doanh ngiệp trong thị trường cạnh tranh độc quyền giống nhà độc quyền theo nhiều khía cạnh. Do sản phẩm của nó khác sản phẩm của các doanh nghiệp khác nên nó phải đối mặt với đường cầu dốc xuống (trái lại DN cạnh tranh hoàn hảo đối mặt với đường cầu nằm ngang tại mức giá thị trường). Như vậy, doanh nghiệp cạnh tranh độc quyền tuân theo quy luật của nhà độc quyền để tối đa hóa lợi nhuận. Nó chọn mức sản lượng mà tại đó doanh thu cận biên bằng chi phí cận biên và sử dụng đường cầu để tìm ra mức giá phù hợp với sản lượng đó.

a. Trong ngắn hạn Doanh nghiệp không thể thay đổi quy mô sản xuất, vì có một ít sức mạnh độc quyền nên đường cầu (D) nghiêng từ trái sang phải, đường doanh thu cận biên nằm dưới đường cầu. Để tối đa hóa lợi nhuận doanh nghiệp cạnh tranh độc quyền chọn sản lượng sản xuất sao cho thỏa mãn điều kiện MR = MC. Từ điểm sản lượng có lợi nhuận cực đại chiếu lên đường cầu ta có giá cả sản phẩm của doanh nghiệp, trong thị trường này giá cả đươc hình thành giống như trên thị trường độc quyền hoàn toàn. Việc quyết định có sản xuất tại sản lượng có lợi nhuận cực đại hay không doanh nghiệp phải so sánh tính hiệu quả giữa giá cả với chi phí sản xuất của doanh nghiệp. Trong ngắn hạn doanh nghiệp có thể chịu lỗ, họ đứng trước hai chọn lưạ:

Một là, Không sản xuất nếu tại sản lượng có lợi nhuận cực đại (MR=MC) giá cả sản phẩm nhỏ hơn chi phí bình quân biến đổi của doanh nghiệp P < AVC lúc đó doanh nghiệp lỗ toàn bộ chi phí cố định và một phần chi phí biến đổi, doanh nghiệp sẽ đóng cửa không sản xuất.

Hai là, Sản xuất nếu tại sản lượng có lợi nhuận cực đại (MR=MC) giá cả sản phẩm lớn hơn hoặc bằng chi phí sản xuất bình quân biến đổi của doanh nghiệp P≥AVC, lúc đó có 4 trường hợp chọn lựa cụ thể sau: Khi P = AVC doanh nghiệp lỗ toàn bộ chi phí cố định. Doanh nghiệp quyết định sản xuất, tuy nhiên đây là giới hạn cuối cùng doanh nghiệp có thể sản xuất trong ngắn hạn.

Khi AVC < P < AC doanh nghiệp lỗ một phần chi phí cố định (lỗ tối thiểu) Khi P = AC doanh nghiệp hòa vốn.

b. Trong dài hạn: Để có lợi nhuận cực đại các doanh nghiệp chọn lựa sản lượng sản xuất theo quy tắc cân bằng doanh thu cận biên bằng chi phí cận biên dài hạn MR = LMC, sau đó dựa vào quan hệ giữa giá cả và chi phí trung bình dài hạn của doanh nghiệp để quyết định, trong dài hạn doanh nghiệp không được lỗ.

77

Không sản xuất, đóng cửa doanh nghiệp nếu P < LAC. Sản xuất nếu giá cả lớn hơn hoặc bằng chi phí trung bình dài hạn, lúc đó doanh nghiệp sẽ ở vào trạng thái hòa vốn hoặc có lợi nhuận dài hạn P ≥ LAC.

3.4. Cân bằng ngắn hạn và cân bằng dài hạn a. Cân bằng ngắn hạn

Cân bằng độc quyền là nơi nhà độc quyền xác định được sản lượng độc quyền tại đó mang lại cho họ lợi nhuận độc quyền cao.

Để đạt tới trạng thái cân bằng trong ngắn hạn, doanh nghiệp sẽ ấn định mức giá và quyết định sản xuất sản lượng theo nguyên tắc:

Khi MR>MC: Mở rộng quy mô sản xuất.

Khi MR<MC: Thu hẹp quy mô sản xuất

Khi MR=MC: Lợi nhuận độc quyền cực đại.

b. Cân bằng dài hạn

Trong dài hạn mục tiêu của doanh nghiệp độc quyền là thiết lập được quy mô sản xuất tối ưu.

Khi có các doanh nghiệp mới nhập ngành làm cho tổng số các doanh nghiệp cung ứng sản phẩm tăng lên. Kết quả là đường cầu của mỗi doanh nghiệp đã tồn tại trước đây sẽ dịch chuyển, chúc xuống về bên trái đồ thị. Mỗi doanh nghiệp sẽ chỉ bán được một số lượng sản phẩm ít hơn trước đây. Mặt khác do nhiều doanh nghiệp cạnh tranh hơn làm chi phí tăng lên, đường LAC chuyển dần lên phía trên. Hai sự dịch chuyển của đường cầu và đường LAC của doanh nghiệp chỉ dừng lại khi LAC tiếp tuyến với đường cầu tại mức sản lượng có MR = MC, kết quả là P = AC hay AR = AC, các doanh nghiệp không lời, không lỗ tạo thế cân bằng dài hạn của doanh nghiệp và của ngành.

Trạng thái cân bằng dài hạn trên thị trường cạnh tranh độc quyền có 2 đặc tính:

- Giống như trưng thị trường độc quyền, giá cả cáo hơn chi phí cận biên (vì việc tối đa hóa lợi nhuận đòi hỏi doanh thu cận bằng bằng chi phí cận binn và do đường cầu dốc xuống, doanh thu cận biên thấp hơn giá cả.

- Giống như trong thị trường cạnh tranh, giá cả bằng tổng chi phí bình quân vì sự gia nhập và rời bỏ ngành tự do làm cho lợi nhuận kinh tế bằng 0.

3.5. Phân biệt giá của doanh nghiệp cạnh tranh độc quyền a. Phân biệt giá cấp một

Phân biệt giá cấp một (hay phân biệt đối xử hoàn hảo) là bán từng đơn vị sản phẩm với giá khác nhau để bất cứ đơn vị sản phẩm nào cũng có P = MR.

78

Hình vẽ trên đây cho thấy khi tính một giá cho tất cả các khách hàng nhà độc quyền sản xuất tại: B với MR = MC sản lượng Q1, giá bán P thu lợi nhuận:

FP1AB

Khi áp dụng chính sách phân biệt giá, nhà độc quyền bán từng sản phẩm với giá khác nhau: sản phẩm đầu tiên: P = E… sản phẩm cuối cùng của Q1: P = P1. Đường cầu trở thành đường MR nhà độc quyền thu lợi nhuận tăng lên bằng P1EA. Như thế nhà độc quyền mở rộng sản xuất đến C với lượng Q2 lợi nhuận gia tăng thêm: BAC

b. Phân biệt giá cấp hai

Là đặt ra các mức giá theo khối lượng hàng hóa hay dịch vụ bán ra, mua nhiều giá hạ, mua ít giá cao.

Hình dưới đây biểu thị 3 khối hàng hóa với 3 mức giá tương ứng P1, P2, P3

cách phân biệt này cho phép nhà độc quyền thu được lợi nhuận cao hơn, đồng thời người tiêu dùng cũng được lợi nhờ mua nhiều, giá hạ. Tuy nhiên phân biệt giá cấp hai chỉ thực hiện được trong điều kiện hiệu suất tăng dần theo quy mô, và các khách hàng của các khối hàng hóa không được bán lại hàng hóa cho nhau.

c. Phân biệt giá cấp ba

AC MC P2

P

Pm

P3

MR

Khối 1 Khối 3

O Khối 2

P1

Q F

E

B

MC

C A P1

Q1 Q2

Q P & MR

O

MR (D)

79

Là đặt ra các mức giá theo các nhóm khách hàng, mỗi nhóm được ấn định với một đường cầu riêng biệt phù hợp.

Đây là hình thức phân biệt giá phổ biến nhất cho phép nhà độc quyền đạt được giá cả độc quyền, khai thác mọi đối tượng.

Phân biệt này đòi hỏi doanh thu cận biên (MR1, MR2) từ các mức sản lượng Q1, Q2 theo các D1, D2 phải bằng nhau và bằng với doanh thu biên chung và chi phí chung. MR1 = MR2 = MRT = MC

Còn số lượng sản phẩm: Q1 + Q2 + … = QT

Một phần của tài liệu GIÁO TRÌNH MÔN HỌC KINH TẾ VI MÔ NGHỀ KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP TRÌNH ĐỘ CAO ĐẲNG (Trang 75 - 80)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(93 trang)